Kỷ yếu Hội thảo khoa học quản trị và kinh doanh
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HỘI DOANH NHÂN TRẺ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KỶ YẾU
HỘI THẢO KHOA HỌC
QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
CONFERENCE ON
MANAGEMENT AND BUSINESS
(COMB 2014)
Đà Nẵng, tháng 9 năm 2014
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
BAN TỔ CHỨC
TRƢỞNG BAN
GS. TS. Trƣơng Bá Thanh
PHÓ TRƢỞNG BAN
TS. Đào Hữu Hòa
Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng
P. Hiệu trƣởng - Trƣờng Đại học Kinh Tế
Chủ tịch Hội doanh nhân trẻ Đà Nẵng
Ông Lê Văn Hiểu
TS. Nguyễn Thanh Liêm
Trƣởng khoa QTKD - Trƣờng Đại học Kinh Tế,
ĐHĐN
ỦY VIÊN
TS. Đoàn Ngọc Phi Anh
TS. Đƣờng Thị Liên Hà
Ông Phan Hải
Trƣởng phòng KH, SĐH&HTQT
P. Phòng KH, SĐH&HTQT
P. Chủ tịch Hội doanh nhân trẻ Đà Nẵng
Trƣởng phòng HC-TH
TS. Dƣơng Anh Hoàng
Ông Lý Đình Quân
TS. Trƣơng Hồng Trình
Giám đốc hỗ trợ và phát triển DNNVV
Phó khoa QTKD
2
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
BAN BIÊN TẬP
TRƢỞNG BAN
GS. TS. Trƣơng Bá Thanh
PHÓ TRƢỞNG BAN
PGS. TS. Lê Thế Giới
PGS. TS. Võ Xuân Tiến
ỦY VIÊN
Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng
Phó Giám đốc Trung Tâm GDTX, ĐHĐN
Trƣởng Ban Đào tạo SĐH, ĐHĐN
TS. Đoàn Ngọc Phi Anh
TS. Đoàn Gia Dũng
Trƣởng phòng KH, SĐH&HTQT
Trƣởng ban TCCB – ĐHĐN
TS. Lê Thị Minh Hằng
TS. Nguyễn Hiệp
Trƣởng bộ môn Quản trị Kinh doanh tổng quát
Trƣởng ban Tài chính - ĐHĐN
TS. Đào Hữu Hòa
P. Hiệu trƣởng – Trƣờng ĐH Kinh Tế, ĐHĐN
Phó Viện trƣởng – Viện NC PTKT Đà Nẵng
Trƣởng P. Đào tạo
TS. Nguyễn Văn Hùng
PGS. TS. Lê Văn Huy
TS. Nguyễn Đình Huỳnh
TS. Phạm Thị Lan Hƣơng
TGĐ Công ty công nghệ hóa chất ĐN
Trƣởng bộ môn Marketing
PGS.TS. Trần Đình Khôi Nguyên Trƣởng khoa Kế toán
TS. Hồ Kỳ Minh
Bí thƣ quận ủy Q. Cẩm Lệ, Thành viên tổ tƣ vấn
phát triển Miền Trung
TS. Nguyễn Phúc Nguyên
TS. Nguyễn Xuân Lãn
Phó phòng Đào tạo
Phó khoa QTKD
TS. Nguyễn Thanh Liêm
PGS.TS. Nguyễn Văn Phát
PGS.TS.Nguyễn Trƣờng Sơn
PGS.TS. Nguyễn Mạnh Toàn
TS. Võ Quang Trí
Trƣỏng khoa QTKD
Hiệu trƣởng Trƣờng Đại học Kinh Tế, ĐH Huế
Phó Ban Đào tạo SĐH, ĐHĐN
P. Hiệu trƣởng – Trƣờng ĐH Kinh Tế, ĐHĐN
Bộ môn Marketing
TS. Trƣơng Hồng Trình
TS. Nguyễn Quốc Tuấn
TS. Đỗ Thị Thanh Vinh
Phó khoa QTKD
Trƣởng bộ môn Nguồn nhân lực
Trƣởng khoa Kinh Tế - Đại học Nha Trang
3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
MỤC LỤC
LIÊN KẾT VÀ TÁI CẤU TRÖC KINH DOANH – GÓC NHÌN CHỦ ĐỘNG
1
GS.TS. Trương Bá Thanh
4
5
CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP NỘI ĐỊA
KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
ThS. Hà Thị Cẩm Vân, ThS. Lê Mai Trang
THÖC ĐẨY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ THAM GIA HOẠT ĐỘNG
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VIỆT NAM
17
24
35
TS. Huỳnh Thanh Điền
PHÁT HUY TÍNH LIÊN KẾT VÀ DỠ BỎ RÀO CẢN NHẰM PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG
Nguyễn Việt Bình
NGHIÊN CỨU PHƢƠNG THỨC XÂM NHẬP THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM CỦA
CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA VÀO VÀO LĨNH VỰC BIA - RƢỢU – NƢỚC
GIẢI KHÁT
ThS. Phùng Mạnh Hùng
47
PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CHO CÁC
THÀNH PHỐ DU LỊCH Ở VIỆT NAM. TRƢỜNG HỢP THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG
ThS. Lê Thị Liên, Nguyễn Thị Ngọc Ly
CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH ĐIỆN - ĐIỆN TỬ VIỆT NAM – CƠ HỘI
VÀ THÁCH THỨC MỚI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
56
64
72
Vũ Thị Thanh Huyền
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở MỘT SỐ
QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Trần Kim Anh
TÍNH MINH BẠCH CỦA MÔI TRƢỜNG KINH DOANH CẤP TỈNH DƢỚI
GÓC NHÌN CỦA DOANH NGHIỆP KHẢO SÁT TẠI VÙNG KINH TẾ
TRỌNG ĐIỂM TRUNG BỘ
PGS. TS. Nguyễn Trường Sơn
JAPANESE SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES UNTIL 1990S AND
THAI SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES AT PRESENT:WHAT AND
HOW DO THE VIETNAMESE LEARN FROM BOTH COUNTRIES?
Yoshiaki Takahashi (Chuo University)
81
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH CHẾ BIẾN THỰC PHẨM
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
97
ThS. Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt
NHẬP KHẨU HÀNG TRUNG QUỐC CỦA VIỆT NAM: NHÌN NHẬN VÀ
ĐÁNH GIÁ
108
ThS. Phạm Thị Dự
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH ĐẮK LẮK
118
4
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
Lê Thế Phiệt
VAI TRÕ CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC TRONG XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC
KINH DOANH ĐIỆN TỬ
128
135
ThS. Trần Thị Trương
HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DOANH NHÂN TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA VIỆT NAM
ThS. Nguyễn Lan Anh, ThS.Nguyễn Thị Hạnh Duyên
143
144
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
CHIẾN LƢỢC HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG
TS. Lê Thị Minh Hằng
UNDERSTANDING SUPPLY CHAIN COLLABORATION IN ITS
DEFINITION AND APPLICATION
151
157
Nguyen Thanh Liem, PhD., Phan Minh Phuoc
ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT TRONG CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM THỦY
SẢN XUẤT KHẨU TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG NƢỚC TA
ThS. Vũ Văn Thịnh
TIẾP CẬN CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP
172
184
ThS. Phan Đình Quyết, Vũ Thị Thùy Linh
PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC LIÊN
KẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CÁC DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
Võ Thị Phương, Nguyễn Thị Minh Chi
MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG DI
ĐỘNG VÀ NGÂN HÀNG – ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN CHO THANH
TOÁN DI ĐỘNG Ở VIỆT NAM
194
Lê Xuân Cù
TÁI CẤU TRÖC CHUỖI CUNG ỨNG - HƢỚNG ĐI MỚI CHO XUẤT KHẨU
DỆT MAY VIỆT NAM
203
215
225
ThS. Lê Mai Trang
CƠ CHẾ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG MỰC ỐNG -
TRƢỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN CAFICO VIỆT NAM
Nguyễn Thị Trâm Anh – Nguyễn Thị An
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Ở VIỆT NAM: TRƢỜNG HỢP NGÀNH CƠ KHÍ TỈNH ĐỒNG NAI
ThS. Lưu Tiến Dũng (NCS), Nguyễn Văn Dũng, Vũ Ngọc Quyết
233
234
QUẢN TRỊ MARKETING
TÍNH VỊ CHỦNG CỦA GIỚI TRẺ TẠI THỊ TRƢỜNG MIỀN TRUNG
TS. Ngô Thị Khuê Thư, Lê Thị Xinh
CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ THẺ ATM CỦA NGÂN HÀNG BIDV– GÓC NHÌN
243
TỪ SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, HÀ NỘI
ThS. Nguyễn Đắc Thành, NCS. Vũ Tuấn Hiệp
5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HÌNH ẢNH LÍ TRÍ VÀ HÌNH ẢNH CẢM XÖC: NGHIÊN CỨU SO SÁNH
GIỮAHAI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG VÀ NHA TRANG
256
267
278
TS. Nguyễn Thị Bích Thủy, TS. Phạm Thị Lan Hương
SỰ ƢA THÍCH CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM ĐẠO ĐỨC:
TRƢỜNG HỢP SỮA RỬA MẶT PHỤ NỮ
ThS. Trần Triệu Khải
BÀN VỀ ĐO LƢỜNG TÀI SẢN THƢƠNG HIỆU ĐỊNH HƢỚNG KHÁCH
HÀNG TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ CUNG ỨNG CHO DOANH NGHIỆP.
TS. Phạm Thị Lan Hương, TS. Nguyễn Thị Bích Thủy
PR CỘNG ĐỒNG - TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN KINH DOANH MỘT SỐ
ĐỀ XUẤT CHO NGÀNH SỮA TƢƠI VIỆT NAM
286
303
TS. Đường Thị Liên Hà, TS. Võ Quang Trí
ĐỘNG CƠ THAM GIA VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG ĐỒNG SÁNG TẠO CỦA
NGƢỜI TIÊU DÙNG TẠI THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM - ỨNG DỤNG TRONG
MÔI TRƢỜNG TRỰC TUYẾN
Ngô Thanh Sang, Th.S Trương Trần Trâm Anh
TRUYỀN THÔNG NHẬN DIỆN THƢƠNG HIỆU ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH QUA
CÁC WEBSITE - TRƢỜNG HỢP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
316
328
TS. Nguyễn Thị Bích Thủy, ThS. Phạm Ngọc Ái
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NIỀM TIN CỦA NGƢỜI
TIÊU DÙNG VIỆT ĐỐI VỚI VIỆC MUA SẮM TRÊN INTERNET
TS. Đường Thị Liên Hà, TS. Võ Quang Trí
339
340
QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
CÁC HÌNH THỨC TÀI TRỢ TRÊN CHUỖI CUNG ỨNG VÀ THỰC TRẠNG
TÀI TRỢ TRÊN CHUỖI CUNG ỨNG TẠI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
ThS. Nguyễn Thị Nhã Uyên
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ
RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM
350
Thái Thị Thanh Duyên, TS. Trương Hồng Trình
TÀI TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
ThS. Nguyễn Thanh Thảo, ThS. Đoàn Thị Liên Hương
359
370
LỆCH PHA TRONG THỊ TRƢỜNG VỐN VAY DÀNH CHO DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ VÀ SỰ BẤT HỢP LÝ CỦA CÁC CHƢƠNG TRÌNH BẢO
LÃNH TÍN DỤNG CỦA NHÀ NƢỚC
ThS. Đoàn Thị Liên Hương, Kỹ sư Lê Trường Kỹ - Dinco Corp.
MÔ HÌNH CHO VAY TRỰC TUYẾN PEER – TO – PEER: KÊNH HUY ĐỘNG
VỐN CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
382
392
409
ThS. Hoàng Công Huân, ThS. Lê Đắc Anh Khiêm
THE OWNERSHIP STRUCTURE OF VIETNAMESE LISTED COMPANIES
Trinh Thuy Huong
QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
6
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
410
HOẠT ĐỘNG M&A VÀ NHẬN DIỆN CÁC BIẾN ĐỘNG NHÂN LỰC SAU
CÁC HOẠT ĐỘNG M&A TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÖC DOANH
NGHIỆP
ThS. Vũ Thị Minh Xuân
ĐÀO TẠO VÀ THU HÖT LAO ĐỘNG CHẤT LƢỢNG CAO TRÊN ĐỊA BÀN
TÂY NGUYÊN
417
425
432
Nguyễn Thị Huyền Ngân
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƢỢNG CAO CHO VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG
Ngô Thùy Dung
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN
LỰC CHO DOANH NGHIỆP
Ngô Duy Tùng
DANH MỤC NĂNG LỰC HÀNH VI CỐT YẾU
Nguyễn Quốc Tuấn
436
443
KỸ NĂNG MỀM - ĐÁP ỨNG NHU CẦU DOANH NGHIỆP, NHU CẦU XÃ
HỘI HIỆN NAY
Phạm Minh Nở
ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ CÔNG VIỆC ĐIỂM – NHÂN TỐ
TRONG XÂY DỰNG CẤU TRÖC TIỀN LƢƠNG
450
ThS. Nguyễn Thị Loan
7
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
LIÊN KẾT VÀ TÁI CẤU TRÚC KINH DOANH – GÓC NHÌN CHỦ ĐỘNG
BUSINESS LINKAGE AND REENGENEERING – THE PROACTIVE APPROACH
GS.TS. Trương Bá Thanh
Đại học Đà Nẵng
Kính thƣa quí vị đại biểu tham dự Hội thảo!
Thay mặt Ban Tổ chức hội thảo, chúng tôi nhiệt liệt chào đón các nhà khoa học,
quí doanh nghiệp tham dự Hội thảo Khoa học về Quản trị và Kinh doanh 2014
(COMB 2014).
Kính thƣa quí vị!
Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trƣớc những thách thức lớn trong việc
định hình lại chiến lƣợc và cơ cấu kinh doanh nhằm thích ứng với những biến đổi của
môi trƣờng. Các biến động của các chính sách kinh tế vĩ mô những năm vừa qua, sự
sút giảm của dòng vốn đầu tƣ trong nƣớc và quốc tế, áp lực cạnh tranh gia tăng từ quá
trình hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào thị trƣờng khu vực cũng nhƣ các biến động
chính trị - xã hội trong khu vực thời gian qua đang đặt ra cho các doanh nghiệp yêu
cầu đánh giá lại mô hình kinh doanh hiện tại và tìm kiếm phƣơng thức hợp tác và
cạnh tranh mới. Không chỉ các tập đoàn nhà nƣớc đang phải đối mặt với việc tái cấu
trúc và tổ chức lại hoạt động theo hƣớng tinh gọn và hiệu quả, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa cũng phải tích cực đổi mới cách thức kinh doanh và hoàn thiện hệ thống quản
trị, đặc biệt là tìm kiếm các mô hình liên kết, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau nhằm gia tăng
năng lực cạnh tranh trong điều kiện mới. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc kinh doanh
này vẫn còn gặp khá nhiều các cản trở và thách thức đến từ nhiều phía, năng lực của
doanh nghiệp, điều kiện môi trƣờng và cơ chế chính sách, đặc biệt là tinh thần chủ
động và quyết tâm thay đổi của các nhà quản trị cấp cao. Trong tình hình này, các
nghiên cứu đánh giá tình hình kinh doanh và các khuynh hƣớng thay đổi của thị
trƣờng, các ý tƣởng áp dụng các mô hình kinh doanh mới, các công nghệ quản trị hiệu
quả cũng nhƣ các bài học kinh nghiệm sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng các
doanh nghiệp Việt Nam.
Với sứ mệnh kết nối nền khoa học quản trị tiên tiến của thế giới với thực tiễn
kinh doanh năng động tại Việt Nam và hƣởng ứng tinh thần ―Năm Doanh nghiệp Đà
Nẵng 2014‖. Tiếp nối sự thành công và kế thừa các hiệu ứng tích cực từ hai hội thảo
COMB 2012 và COMB 2013, Trƣờng đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng và Hội
doanh nhân trẻ thành phố Đà Nẵng đồng tổ chức Hội thảo về Khoa học Quản trị lần 3
(COMB 2014) vào ngày 27 tháng 09 năm 2014 với chủ đề “Liên kết và tái cấu trúc
kinh doanh – Góc nhìn chủ động”. Mục tiêu của hội thảo là nhằm tạo ra một môi
trƣờng trao đổi học thuật và chia sẻ kinh nghiệm giữa các nhà khoa học, các doanh
nhân và các nhà quản lý chính sách về các cơ hội và thách thức trong đổi mới kinh
doanh, chủ động thay đổi nhằm thích ứng với các biến động của môi trƣờng kinh tế -
chính trị - xã hội của Việt Nam trong những năm tới.
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Trọng tâm của hội thảo COMB 2014 tập trung vào sự chuyển đổi mô hình kinh
doanh và quản trị của các doanh nghiệp từ việc tái cấu trúc thị trƣờng và nguồn cung
ứng đến việc tái tổ chức các hoạt động bên trong doanh nghiệp và định vị thị trƣờng.
Ngoài ra, hội thảo lần này cũng hƣớng sự quan tâm của cộng đồng vào các mô hình
liên kết kinh doanh, phát triển nguồn nhân lực nhƣ là một giải pháp tiềm năng cho các
vấn đề hiện tại của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và
vừa.
Tại Việt Nam, khoa học Quản trị là lĩnh vực khá non trẻ so với thế giới, tiếp cận
tiến bộ của khoa học Quản trị vào thực tiễn Kinh doanh là con đƣờng thúc đẩy nền
kinh tế phát triển hội nhập quốc tế. Hội thảo khoa học về Quản trị và Kinh doanh là
dịp để các nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách cùng
nhau thảo luận về những vấn đề, những xu hƣớng và thức thách đặt ra trong thực tiễn
kinh doanh, bao gồm:
(1) Khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong những năm qua đã tác động đến tốc độ
tăng trƣởng, doanh nghiệp gặp khó khăn về thị trƣờng, nguồn vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh. Cùng với xu hƣớng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và gia nhập
hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dƣơng (TTP) đòi hỏi các doanh nghiệp chủ
động đổi mới công nghệ, gia tăng năng lực quản lý trong môi trƣờng hội nhập quốc tế.
(2) Sự liên kết và chiến lƣợc hợp tác trong chuỗi cung ứng, liên kết doanh
nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, liên kết giữa doanh nghiệp trong nƣớc và
nƣớc ngoài trên cơ sở hợp tác và cạnh tranh nhằm khai thác năng lực và sáng tạo giá
trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
(3) Những thách thức môi trƣờng kinh doanh và xu hƣớng liên kết đòi hỏi
doanh nghiệp chủ động tiếp cận thị trƣờng, nguồn vốn, thay đổi công nghệ và cách
thức quản lý theo hƣớng hội nhập quốc tế. Tiếp cận chủ động mở rộng phạm vi thay
đổi về vai trò của nhân viên, các hiệp hội, nhà quản lý nhằm chủ động với những thời
cơ và thách thức của môi trƣờng kinh doanh.
(4) Nguồn nhân lực đóng vai trò trọng tâm trong các quá trình thay đổi và liên
kết kinh doanh. Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi nâng cao năng lực quản lý của doanh
nghiệp, phát triển kỹ năng của nhân viên, thúc đẩy đào tạo nhân lực chất lƣợng cao
gắn với nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp.
Hội thảo đã thu hút sự tham gia của hơn 200 học giả, các nhà nghiên cứu, doanh
nghiệp đến từ hơn 20 trƣờng đại học, viện nghiên cứu trong nƣớc và quốc tế. Các bài
viết đƣợc chia thành 5 lĩnh vực khác nhau, bao gồm:
- Quản trị chiến lƣợc,
- Quản trị chuỗi cung ứng,
- Quản trị Marketing,
- Quản trị tài chính,
- Quản trị nguồn nhân lực,
Để tổ chức thành công hội thảo, Ban tổ chức đã nhận đƣợc 63 bài viết tham gia.
Trong số đó, 46 bài viết đƣợc Ban biên tập đánh giá và lựa chọn đăng trong kỷ yếu
hội thảo khoa học. Trong khuôn khổ hội thảo lần này, Ban tổ chức tập trung thảo luận
2
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
các vấn đề liên quan đến liên kết doanh nghiệp, vai trò của các hiệp hội trong hoạt
động doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ban tổ chức xin chân thành cảm ơn sự tham gia nhiệt tình đầy trách nhiệm của
các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cho sự phát triển của cộng đồng kinh doanh tại
Việt Nam. Với số lƣợng lớn ngƣời tham gia, chúng tôi tin hy vọng hội thảo là một sự
kiện lớn cho cộng đồng các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trao đổi những ý tƣởng
mới, cách thức giải quyết và kinh nghiệm thực tiễn với cộng đồng doanh nghiệp ở
trong và ngoài nƣớc.
Nhân dịp này, chúng tôi xin cảm ơn đơn vị đồng tổ chức Hiệp hội doanh nhân
trẻ thành phố Đà Nẵng, các nhà tài trợ, cơ quan thông tin báo chí đã đƣa tin về hội
thảo, các đơn vị phối hợp là: Trƣờng đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, Trƣờng đại học
kinh tế TP HCM, Trƣờng đại học thƣơng mại, Trƣờng đại học kinh tế - Đại học Huế,
Trƣờng đại học Nha Trang, Viện nghiên cứu và phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng đã
tích cực tham gia chuẩn bị nội dung và vận động viết bài cho Hội thảo.
Ban tổ chức cũng xin gửi đến tất cả quí vị đại biểu tham dự Hội thảo, những
ngƣời tham gia viết bài cho hội thảo lời cảm ơn chân thành nhất. Chúc các đại biểu
sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Chúc cho hội thảo thành công tốt đẹp!
3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
CHIẾN LƢỢC
KINH DOANH
4
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP NỘI ĐỊA
KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
LINKAGES BETWEEN FDI COMPANIES AND DOMESTIC FIRMS - LESSONS
FROM THAILAND FOR VIETNAM
ThS. Hà Thị Cẩm Vân, ThS. Lê Mai Trang
Khoa Kinh Tế-Luật – Trường Đại Học Thương Mại
TÓM TẮT
Trong quá trình toàn cầu hóa, các Công ty đa quốc gia (MNC) đóng vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Khoảng cách về chất lượng sản phẩm
và đổi mới công nghệ của FDI và các doanh nghiệp nội địa là khá lớn. Một mặt, doanh nghiệp FDI là
nguồn cung ứng trí thức mới và công nghệ, có thể chuyển giao cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặt
khác, có những thách thức từ phía FDI là loại các doanh nghiệp nội ra khỏi cuộc chơi. FDI không chỉ là
dòng vốn, mà còn là chuyển giao các giá trị quan trọng như năng lực quản lý, điều hành doanh nghiệp,
công nghệ, tính doanh nghiệp và khả năng tiếp cận thị trường. Do vậy, tăng cường liên kết các doanh
nghiệp nội địa với tập đoàn đa quốc gia là một trong những hướng đi đúng đắn cho các doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm phát triển liên kết FDI – doanh nghiệp nội địa của
Thái Lan và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Từ khóa: FDI; công ty đa quốc gia; hợp tác
ABSTRACT
During globalization process, Multinational companies (MNC) holds a pivotal role in accelerating the
growth of Small and Medium Enterprises (SME). There is a large distance between product quality and
FDI technology innovation within local companies. FDI holds potential source of knowledge and
technology, yet creates many obstacles discouraging newcomers to the field. Thus, strengthening the
relationship between domestic firms and multinational corporations is a right directions for Vietnamese
firms. The article aims to present results from a research of FDI collaboration in Thailand and its
application to Vietnam.
Keywords: FDI; Multinational companies; collaboration
1. Cơ Sở Lý Thuyết Của Việc Liên Kết Giữa Doanh Nghiệp Fdi Và Doanh Nghiệp Nội
Địa
Quá trình toàn cầu hóa mạng lƣới sản xuất đang xảy ra rất nhanh và rộng khắp trong
những năm gần đây, đặc biệt là sự tăng nhanh về thƣơng mại và đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong quá
trình này các doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của
các doanh nghiệp nội địa. Các quốc gia đang phát triển muốn gia tăng giá trị nội tại, tăng nội
địa hóa cần tăng cƣờng liên kết với các tập đoàn đa quốc gia. Việc các doanh nghiệp trong
nƣớc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các FDI thể hiện rõ nét nhất ở hai khía cạnh.
Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thƣơng: chuỗi giá trị toàn cầu cho phép
sản xuất hàng trung gian và hàng tiêu dùng cuối cùng có thể đƣợc thuê ngoài, do đó dẫn tới sự
gia tăng thƣơng mại thông qua hoạt động xuất nhập khẩu và sự gia tăng nhanh chóng lƣợng
đầu vào trung gian trao đổi giữa các nƣớc. Thứ hai, sản xuất ngày càng dựa vào đầu vào của
nƣớc ngoài, do kết quả của việc ngày càng gia tăng quan hệ thƣơng mại toàn cầu giữa các
nƣớc, tỷ lệ giá trị sản xuất đƣợc tạo ra bởi một nƣớc nào đó có xu hƣớng ngày càng giảm
xuống.Về cơ bản, có năm hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội
địa:
Liên kết ngược với nhà cung cấp. Phần lớn các doanh nghiệp FDI là các tập đoàn
MNC (công ty đa quốc gia) cần có các sản phẩm nguyên liệu đầu vào chất lƣợng cao và đƣợc
cung ứng đúng lúc. Các MNC không thể sản xuất tất cả các nguyên phụ liệu và thiết bị đầu
5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
vào, họ cần các nhà cung ứng bên ngoài hiệu quả. Thuê ngoài là xu hƣớng ngày càng phổ
biến với quy mô ngày càng gia tăng.
Liên kết xuôi với khách hàng. Các tập đoàn đa quốc gia có thể phát triển các mối liên
kết xuôi với khách hàng. Mối liên kết quan trọng nhất là kết nối với mạng lƣới phân phối. Các
tập đoàn đa quốc gia chính là khách hàng và mở ra thị trƣờng rộng lớn cho các doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở trong nƣớc. Đặc biệt, các MNC thuê hệ thống phân phối các thƣơng hiệu nổi
tiếng thƣờng tập trung đầu tƣ cho mạng lƣới marketing nhƣ các đại lý bán xe, trạm xăng dầu,
chuỗi cửa hàng. Một dạng liên kết xuôi chiều khác chính là liên kết với các khách hàng công
nghiệp. Rất nhiều các nhà sản xuất máy móc thiết bị hoặc hàng hóa trung gian (công nghiệp
hỗ trợ) cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là khách hàng của họ,
đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.
Liên kết với đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực cơ bản cho sự đổi mới và học
hỏi về công nghệ. Các tập đoàn đa quốc gia thâm nhập vào thị trƣờng các nƣớc đang phát
triển làm phát sinh cạnh tranh, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp điạ phƣơng cải tiến nhanh
hơn. Các doanh nghiệp FDI có thể thiết lập tiêu chuẩn mới cho ngành và hình thành cạnh
tranh lành mạnh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong ngành. Mặt khác, nếu các doanh nghiệp
cạnh tranh địa phƣơng chậm trễ so với các tiêu chuẩn của các tập đoàn MNC họ sẽ bị loại
khỏi ngành.
Liên kết với đối tác công nghệ. Một số MNC thành lập các dự án liên doanh với các
đối tác SME bản xứ. Các dự án này có thể là các liên kết công bằng hoặc không công bằng
bao gồm cả doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên minh chiến
lƣợc. Một số quốc gia yêu cầu các MNC thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa địa phƣơng vào
các đối tác liên kết hoặc ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp địa
phƣơng. Trong trƣờng hợp khác liên kết với đối tác công nghệ trên nguyên tắc tự nguyện, vì
cả hai bên xác định hỗ trợ và chia sẻ lợi ích từ liên kết.
Các tác động lan tỏa khác. Các MNC đôi khi chuyển giao công nghệ, tri thức cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa, mà không phải là nhà cung cấp trực tiếp cho họ. Hai tác
động gián tiếp (lan tỏa) quan trọng là: i) hiệu quả phô trương xuất hiện khi MNC giới thiệu
cách thức thực hiện một công việc, điều này trƣng bày cách thức cho đổi mới sáng tạo. Bằng
cách là học hỏi và sao chép các chiến lƣợc của MNC các doanh nghiệp địa phƣơng có thể bắt
chƣớc đƣợc các sản phẩm và kỹ năng quản lý của MNC, phát triển các cách thức mới về phối
hợp các bộ phận trong doanh nghiệp hay tiếp cận các thị trƣờng phi truyền thống; ii) Tác động
lan tỏa về nguồn vốn con người xảy ra khi các MNC đào tạo lao động cho nhu cầu của họ. Vì
các MNC có máy móc thiết bị, hệ thống sản xuất hiện đại, kỹ năng quản lý tiến tiến cũng nhƣ
tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa, họ có nhu cầu cao về
lực lƣợng lao động và đào tạo nhiều hơn. Một số MNC chính là ―cơ sở đào tạo ảo‖ để hình
thành các kỹ năng cho lao động địa phƣơng.
2. Liên Kết Giữa Fdi Và Doanh Nghiệp Nội Địa Ở Thái Lan
2.1. Thu hút FDI ở Thái Lan
Xuất khẩu và đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là động lực cho tăng trƣởng chính của
Thái Lan, nhất là ngành công nghiệp. Tỷ trọng ngành công nghiệp chế tạo trong GDP đã tăng
từ từ 26% năm 1987 lên 34,8 % trong năm 2006.Thái Lan hấp dẫn đối với FDI nhất là do mức
lƣơng thấp, sự sẵn có của lực lƣợng lao động có tay nghề cao. FDI của Thái Lan tập trung vào
lĩnh vực có hàm lƣợng vốn tƣơng đối nhƣ ô tô, điện và điện tử, máy móc, thiêt bị.
6
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
Trong giai đoạn 1987 – 2010, Thái Lan vƣợt lên các nƣớc láng giềng trong khu vực trở
thành điểm đến hấp dẫn đối với các khoản đầu tƣ nƣớc ngoài. Đây đƣợc xem là nguồn lực
thúc đẩy tăng trƣởng tại nƣớc này. (Hình 1)
Hình 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thái Lan
Phần lớn FDI tại Thái Lan tập trung vào các ngành sản xuất, đặc biệt là sản xuất và lắp
ráp các loại sản phẩm cao cấp thay vì tập trung vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao
động với chi phí thấp hay cấp thấp vốn rất phổ biến ở Trung Quốc hoặc ở ở một số nƣớc lân
cận khác. Trong lĩnh vực sản xuất, phân ngành máy móc và thiết bị vận tải thu hút phần lớn
lƣợng FDI và chiếm tới 59,4% trong tổng FDI năm 2012 tại nƣớc này. Sau máy móc và thiết
bị vận tải, ngành thiết bị điện và điện tử lần lƣợt chiếm tỷ lệ 34,6% và 13,8% trong tổng FDI
năm 2012.
Các nƣớc đầu tƣ vào Thái Lan phần lớn là từ các nƣớc công nghiệp phát triển và NICs.
Trƣớc đây, các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào Thái Lan bởi chi phí lao động thấp và kết
cấu cơ sở hạ tầng công cộng tốt. Diễn đàn kinh tế thế giới (2011) xếp hạng Thái Lan thứ 46
trong số các nƣớc có cơ sở hạ tầng công cộng tốt nhất. Vai trò của các doanh nghiệp đa quốc
gia (MNC) ngày càng đóng vai trò quan trọng. Năng suất và khả năng công nghệ của các công
ty nƣớc ngoài vƣợt xa những công ty địa phƣơng.Do vậy, hoạt động có công nghệ phức tạp
chủ yếu đƣợc thực hiện bởi các công ty nƣớc ngoài. Họ có nguồn tri thức và công nghệ, một
số trong đó có thể đƣợc sao chép hoặc chuyển giao cho các nhà cung cấp trong nƣớc, qua đó
nâng cao các tiêu chuẩn và năng suất của nhiều doanh nghiệp trong nƣớc, bao gồm cả doanh
nghiệp nhỏ. Sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp đa quốc gia sản xuất Thái Lan cũng là cơ hội
để đánh giá lại mối liên kết MNC - SME và tác động đến sự phát triển củadoanh nghiệp nhỏ
và vừa. Các SMEs ở Thái Lan tạo ra khoảng 34 % của GDP của ngành công nghiệp và 67 %
lực lƣợng lao động sản xuất. Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ Thái Lan, cũng nhƣ ở các nƣớc
đang phát triển khác chƣa đƣợc hiện đại hóa. Nhận thức đƣợc những thay đổi nhanh chóng
trong toàn cầu hóa và cạnh tranh khốc liệt hơn từ các nƣớc chi phí lao động thấp hơn, tầm
nhìn của chính phủ Thái Lan là tạo ra các SME năng động và dựa trên tri thức. Hoạt động để
tăng cƣờng liên kết kinh doanh và mạng lƣới sản xuất, cũng nhƣ xây dựng năng lực, hiện
đang đƣợc trải khai rất tích cực .
2.2. Liên kết MNC và các doanh nghiệp nội địa ở Thái Lan
Trong các ngành công nghiệp ngành ô tô, dệt may Thái Lan đã thiết lập đƣợc mạng
lƣới kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp đa quốc và các hoạt động của
chính phủ có liên quan. Ngành công nghiệp ô tô Thái Lan là rất phù hợp vì nó đã bị áp lực
phải tăng cƣờng liên kết với các doanh nghiệp đa quốc gia, là cụm ngành công nghiệp lớn
nhất sản xuất bộ phận và linh kiện cho sản xuất ô tô Nhật Bản trong ASEAN. Trong khi
ngành ô tô là trƣờng hợp điển hình chuỗi giá trị theo nhà sản xuất (nhà sản xuất đóng vai trò
chủ đạo), ngành may mặc là một ngành công nghiệp lý tƣởng cho việc phát triển chuỗi giá trị
do ngƣời mua kiểm soát. Nhiều bằng chứng từ các nghiên cứu cho thấy rằng mối liên kết và
7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
lan tỏa giữa các doanh nghiệp đa quốc gia và các nhà cung cấp địa phƣơng trong ô tô và
ngành công nghiệp phần mềm, dệt may đã đƣợc cải thiện đáng kể so với trƣớc đây. Mạng lƣới
giữa các cấp thấp hơn các nhà cung cấp địa phƣơng trở nên quan trọng hơn trong mạng lƣới
sản xuất toàn cầu hiện nay. Trong ngành công nghiệp quần áo, hợp đồng phụ với doanh
nghiệp đa quốc gia tƣơng tự nhƣ giúp doanh nghiệp trong nƣớc tiếp cận tốt hơn với công
nghệ, thông tin tiếp thị, và di chuyển lên bậc thang chất lƣợng cao hơn. Ngƣợc lại với các mối
liên kết theo chiều dọc và kết nối mạng, liên kết theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp nhỏ
thấp tầng đƣợc tìm thấy là yếu kém trong cả ngành công nghiệp. Các nghiên cứu cho thấy,
trong ngắn hạn, mạng lƣới và hợp đồng phụ với các doanh nghiệp lớn (MNC) có thể là con
đƣờng ngắn nhất để tăng cƣờng khả năng cạnh tranh SME. Trên bức tranh toàn cảnh, thƣơng
mại tự do và đầu tƣ, cũng nhƣ sự phát triển nhanh chóng của thông tin và công nghệ truyền
thông (ICT) đã làm thay đổi môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu, trong đó doanh nghiệp đa quốc
gia hoạt động. Thầu phụ hiện nay bao gồm các hoạt động chế biến có giá trị cao và sản xuất,
công nghệ phức tạp hơn. Những thay đổi này đã mở rộng khả năng và con đƣờng cho sự tham
gia của SME. Liên kết với các doanh nghiệp đa quốc có thể là cách thức ngắn nhất cho doanh
nghiệp nhỏ để vƣợt qua các rào cản và khó khăn. Lợi ích hợp đồng phụ cho các SME bao
gồm nâng cao kỹ năng, tiêu chuẩn và công suất đƣợc cải thiện, tiếp cận với hỗ trợ kỹ thuật
cho chất lƣợng sản phẩm và nâng cấp, hỗ trợ quản lý, hỗ trợ tài chính, cung cấp lớn, đơn đặt
hàng ổn định. Ngoài ra, liên kết với các doanh nghiệp đa quốc và các doanh nghiệp lớn có thể
là một tài sản có giá trị của công nghệ hiện đại cũng nhƣ tiếp cận thị trƣờng nƣớc ngoài, tiếp
thị và thông tin kênh phân phối. Sự hiện diện gia tăng của doanh nghiệp đa quốc gia và tự do
hóa thƣơng mại không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích doanh nghiệp nhỏ. Các doanh
nghiệp đa quốc hoặc các chi nhánh của nó có thể ra cạnh tranh với các công ty địa phƣơng và
lấn át đầu tƣ. Họ không nhất thiết phải chọn nhà cung cấp địa phƣơng để cung cấp cho họ với
các sản phẩm và dịch vụ. Các chi nhánh nƣớc ngoài có thể thuê ngoài từ cung ứng toàn cầu
của riêng mình. Dây chuyền hay những nhà sản xuất nơi khác, chứ không phải là các nhà
cung ứng trong nƣớc. SME cũng đang phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt hơn quốc tế.
Trong nhiều lĩnh vực, cạnh tranh đã khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ thất bại trong kinh doanh.
Nói chung, các SME không đƣợc chuẩn bị tốt cho các điều kiện thị trƣờng mới và cạnh tranh
mạnh mẽ hơn trong các thị trƣờng xuất khẩu. Do đó, chỉ có một vài trong số họ có thể đƣợc
hƣởng lợi từ toàn cầu hóa.
2.3. Chính sách liên kết giữa doanh nghiệp đa quốc (FDI) và SME ở Thái Lan:
Các chính sách và biện pháp của chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng
cƣờng các mối liên kết và tác động lan tỏa. Chính sách để hạn chế FDI và áp đặt nội dung địa
phƣơng, cấp phép công nghệ, vốn chủ sở hữu yêu cầu đƣợc coi là phản tác dụng, nhƣ là
trƣờng hợp của ngành công nghiệp ô tô Thái Lan. Tuy nhiên, chỉ đơn giản là tự do hóa chính
sách đầu tƣ và cung cấp các ƣu đãi để thu hút FDI là không đủ để phát triển mạng sản xuất và
liên kết với các doanh nghiệp đa quốc. Để nâng cao lợi ích của mối liên kết và lan tỏa giữa
các doanh nghiệp đa quốc và doanh nghiệp nhỏ địa phƣơng, chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy
mối liên kết với doanh nghiệp đa quốc là rất cần thiết .
Tại Thái Lan, cải thiện năng lực hoạt động của các SME trong sản xuất hoặc SME là
một phần của chính sách thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ. Hai đơn vị chính quyền chính đóng vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy liên kết kinh doanh và thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ
trợ là Văn phòng Hỗ trợ phát triển công nghiệp (BSID ) thuộc Bộ Công nghiệp và Ủy ban đầu
tƣ (BOI) .
Bắt đầu từ năm 1994, Văn phòng Hỗ trợ phát triển công nghiệp (BSID ) thuộc Bộ Công
nghiệp đã đƣợc hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ Nhật Bản để thúc đẩy các ngành công nghiệp
8
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
hỗ trợ ở Thái Lan. Các ngành công nghiệp hỗ trợ bao gồm một loạt các hoạt động sản xuất
cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho ngành công nghiệp khác. Thông thƣờng, nhiều công ty
trong ngành công nghiệp hỗ trợ có kích thƣớc nhỏ và có hình thức thầu phụ với ngƣời mua,
ngƣời chủ yếu là các công ty lớn hoặc doanh nghiệp đa quốc gia.
Hoạt động chính của BSID tập trung vào: i) cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các
ngành công nghiệp hỗ trợ;ii) thiết kế và phát triển sản phẩm nguyên mẫu, chẳng hạn nhƣ điện
tử rời để xử lý nhiệt thép, và iii) thúc đẩy các hệ thống thầu phụ, chẳng hạn nhƣ tổ chức ngƣời
mua hàng (Buyer‘s Village). Trong việc thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ, BSID tập
trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp phụ tùng ô tô và các ngành công nghiệp sản xuất
các bộ phận cho các thiết bị và máy móc điện và điện tử, đặc biệt là khuôn, mẫu và các sản
phẩm đúc. Để phát triển ngành công nghiệp khuôn mẫu, với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật
Bản, BSID đã tổ chức một "Dự án Phát triển Công nghệ Công cụ và Khuôn", mà tìm cách
cung cấp hỗ trợ về dữ liệu, tiếp thị, công nghệ, xúc tiến đầu tƣ, và phối hợp. Một dự án nghiên
cứu BSID là "Sản xuất khuôn mẫu cho ngành nhựa‖. Gần đây, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật
Bản đồng ý cung cấp thiết bị để sản xuất khuôn nhựa cho đào tạo và các dịch vụ của các
chuyên gia Nhật Bản đến BSID. Khu vực tƣ nhân, vẫn chƣa thấy hiệu quả của chƣơng trình
BSID, đặc biệt là những ngƣời liên quan đến các dịch vụ hƣớng dẫn, kiểm tra, thanh tra, Ban
Đầu tƣ (BOI) là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm quản lý ƣu đãi và khuyến khích đầu tƣ
trong lĩnh vực ƣu tiên. BOI Phát triển Liên kết Công nghiệp (BUILD) là một dịch vụ định
hƣớng thị trƣờng bắt đầu vào năm 1992. Đơn vị này đƣợc tạo ra để khuyến khích các công ty
lớn mua nguồn phụ tùng địa phƣơng và các thành phần, cũng nhƣ để giúp các nhà cung cấp
địa phƣơng nâng cao chất lƣợng, hiệu quả sản xuất và năng suất. Mối liên kết giữa bộ phận
các nhà cung cấp địa phƣơng và các công ty lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia, cả ở Thái Lan
và các nƣớc khác đƣợc triển khai. Các đề án BUILD cung cấp cho các nhà đầu tƣ không có ƣu
đãi về thuế ƣu đãi, nhƣng chủ yếu là hƣớng dịch vụ. Trong giai đoạn đầu của việc thực hiện
chƣơng trình, BOI tập hợp thông tin về các ngành công nghiệp hỗ trợ hiện tại ở Thái Lan. Sau
đó phân tích đầu vào cần thiết để bắt đầu xây dựng nhà máy sản xuất ở Thái Lan, và giúp thiết
lập các giao dịch giữa các bên liên quan trong quá trình này . Một trong những hoạt động
thành công của BUILD là nhà cung cấp chƣơng trình Gặp gỡ khách hàng (VMC). Chƣơng
trình VMC đã đƣợc tạo ra để kích thích thầu phụ nội địa đối với các bộ phận và linh kiện.
Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, BUILD tổ chức các cuộc thảo luận và tour thăm
quan nhà máy sản xuất cho các nhà cung cấp và lắp ráp có đăng ký với BUILD, làm đầu mối
cho các liên kết kinh tế về sau. Trong ngành công nghiệp ô tô, các nhà lắp ráp tham gia
chƣơng trình vào chƣơng trình này là là General Motors (Thái Lan), Toyota Motor (Thái
Lan), Auto Alliance (Thái Lan), và Mitsubishi Motor (Thái Lan). Trong ngành công nghiệp
điện và điện tử bao gồm Fujitsu (Thái Lan) và Delta Electronics (Thái Lan). Số lƣợng nhà
cung cấp tham gia trong mỗi cuộc tham quan khác nhau. Số lƣợng lớn nhất cho đến nay là
91, tại cuộc thăm quan General Motors (Thái Lan) trong tháng Giêng năm 1998 . Từ năm
1999, các nhà cung cấp địa phƣơng đã tham gia vào chƣơng trình này đã tổ chức một "Câu
lạc bộ xúc tiến thầu phụ" (SPC). Các thành viên của nó bao gồm khoảng 40 nhà cung cấp đã
đáng ký với BUILD, chủ yếu là các nhà cung cấp cấp 2 và 3 cho ngành công nghiệp điện và
điện tử và ngành công nghiệp ô tô. Năm 2003, câu lạc bộ này đã trở thành Hiệp hội xúc tiến
thầu phụ Thái Lan. Hiện nay, Hiệp hội có khoảng 250 thành viên từ bốn ngành công
nghiệp: các bộ phận kim loại (đúc, dập và ép), nhựa, polymer và các sản phẩm cao su, bộ
phận điện và điện tử, và đóng gói, hậu cần.
Ngoài ra, BUILD chịu trách nhiệm cho việc phát triển và phổ biến cơ sở dữ liệu công
nghiệp hỗ trợ ASEAN. Cơ sở dữ liệu này sẽ giúp thúc đẩy mối liên kết giữa các nƣớc thành viên
ASEAN và các thị trƣờng toàn cầu. Năm 2007, số lƣợng các công ty đăng ký trong ASID là
9
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
20.198 doanh nghiệp. Trong số các công ty này có 13.534 công ty là nhà cung cấp ở Thái Lan.
ASID phân loại các công ty thành năm ngành công nghiệp chính là ô tô, điện và điện tử, khuôn và
mẫu, hóa dầu và nhựa. Các ngành công nghiệp hỗ trợ của Thái Lan có khoảng 1.419 công ty cung
cấp cho ngành công nghiệp ô tô, 1393 công ty cho các ngành công nghiệp điện và điện tử, 2141
cho ngành công nghiệp hóa dầu, 616 cung cấp sản phẩm khuôn và mẫu, và 7965 công ty trong các
ngành công nghiệp khác .
Một biện pháp khác để thúc đẩy thành công các mối liên kết kinh doanh giữa nhà sản
xuất sản phẩm cuối cùng trong khu vực và trên toàn thế giới và các nhà cung cấp địa phƣơng
là tổ chức triển lãm lần đầu Nhà thầu phụ, gọi là SUBCON Thái Lan . Trong năm 2007, triển
lãm tạo ra khoảng 1.000 giao dịch kinh doanh trị giá 1.200 triệu Bạt. Kể từ đó đã có một kế
hoạch tổ chức SUBCON Thái Lan mỗi năm. BUILD cũng khuyến khích các nhà cung cấp địa
phƣơng quảng bá sản phẩm của họ ở nƣớc ngoài bằng cách cung cấp hỗ trợ tài chính .
Từ các hoạt động này, BUILD đã đạt đƣợc một danh tiếng tốt và đƣợc xem nhƣ là một
tổ chức có hiệu quả của cả hai khu vực tƣ nhân và công cộng. Nó đóng một vai trò quan trọng
nhƣ một trung gian, điều phối và cung cấp thông tin cho các mối liên kết phi chính thức giữa
các doanh nghiệp. Cho dù đã thành công, nhƣng tác động của các chƣơng trình BUILD vẫn
còn hạn chế vì kích thƣớc nhỏ của các đơn vị hoạt động và ngân sách hạn chế .
Một số doanh nghiệp nhỏ đã quyết định thành lập Câu lạc bộ xúc tiến thầu phụ (SPC)
với sự hỗ trợ ban đầu của BUILD . Sáng kiến khu vực tƣ nhân này tạo ra mạng lƣới các SME
Thái Lan trong các ngành công nghiệp điện tử, nhựa, kim loại và polymer để tăng cƣờng khả
năng của mình để phục vụ nhu cầu của các MNC. Hoạt động trong câu lạc bộ; là cơ hội để các
doanh nghiệp chia sẻ thông tin, huy động nguồn lực, và cải tiến tiếp thị và phân phối.
Cần lƣu ý rằng các chƣơng trình xúc tiến liên kết, nhƣ trong trƣờng hợp của Thái Lan,
đã nêu bật vai trò của nhiều cơ quan tạo điều kiện nâng cấp tiềm năng của các nhà cung cấp
địa phƣơng hoặc các ngành công nghiệp hỗ trợ. Để tạo ra một chƣơng trình phối hợp, một số
tổ chức trung gian phải đƣợc giải quyết. Ở Thái Lan, Văn phòng Xúc tiến SME (OSMEP)
tổng hợp các chức năng này và đã phối hợp tất cả các bên liên quan trong việc thúc đẩy phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
3. Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
3.1. Thực trạng liên kết FDI với doanh nghiệp nội địa ở Việt Nam
Tình hình đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài trong khu vực và trên thế giới trong những năm gần đây. Số vốn FDI đăng ký và
thực hiện trong nhiều năm trở lại đây tăng lên mạnh mẽ, đặc biệt là giai đoạn 2006-2009.
Bảng 1. Tổng số vốn FDI vào VN giai đoạn 2000-2013
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Tổng số dự án
Số vốn ĐK
3,142.8
Vốn thực hiện
2,450.5
555
808
2,998.8
2,591.0
791
3,191.2
2,650.0
811
4,547.6
2,852.5
970
6,839.8
3,308.8
987
12,004.0
21,347.8
4,100.1
1,544
8,030.0
10
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
2008
2009
2010
2011
2012
2013
1,557
1,208
1,237
1,186
1,110
1,275
71,726.0
23,107.3
19,886.1
15,598.1
16,351.2
21,600.0
11,500.0
10,000.0
11,000.0
11,000.0
10,460.0
11,500.0
Nguồn: Tổng cục Thống kê, www.gso.gov.vn
Trong thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, từ chỗ chỉ chiếm gần 6% tổng FDI vào
khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 1990-2000, đến giai đoạn 2005-2010, Việt Nam đã
chiếm trên 10,29% tổng FDI vào khu vực. Giai đoạn trƣớc khi gia nhập WTO, FDI vào Việt
Nam theo một xu hƣớng tăng rõ rệt, tuy nhiên ở mực độ vừa phải. Giai đoạn từ 2001 đến
2006, tổng số vốn FDI đăng ký tăng từ 3.1 tỷ USD đến 12 tỷ USD, tăng lên gấp 4 lần trong 5
năm, vốn thực hiện cũng tăng tƣơng ứng từ 2.4 tỷ đến 4.1 tỷ USD trong 5 năm này. Giai đoạn
sau khi gia nhập WTO, do những cơ hội đầu tƣ sản xuất kinh doanh tại Việt Nam đƣợc mở
rộng và triển vọng tốt của nền kinh tế cũng nhƣ tâm lý quá lạc quan của các nhà đầu tƣ trong
và ngoài nƣớc, số vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng ở các mức kỷ lục. Năm 2008, tổng số vốn
FDI đăng ký đạt mức kỷ lục là hơn 71 tỷ USD, tuy nhiên số vốn thực hiện chỉ đạt khoảng
11.5 tỷ, mặc dù đây cũng là con số kỷ lục trong nhiều năm qua, nhƣng chỉ chiếm trên 15%
tổng số vốn đăng ký, điều đó cho thấy về tính chƣa ổn định của môi trƣờng đầu tƣ tại Việt
Nam.
Trong những năm sau đó, FDI đăng ký vào Việt Nam giảm mạnh, đặc biệt từ năm 2008
đến năm 2009, vốn FDI đăng ký giảm từ 71 tỷ USD xuống còn trên 23 tỷ và xu hƣớng giảm
này còn tiếp tục đến những năm sau đó, tƣơng ứng là 19.8 tỷ năm 2010 và 15.5 tỷ năm 2011.
Sự suy giảm đáng kể này phần lớn là do tác động của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu
làm cho các nƣớc chủ đầu tƣ gặp khó khăn và cần cân nhắc các quyết định đầu tƣ của mình.
Thêm vào đó, dƣới tác động của khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam cũng rơi vào suy thoái
và làm giảm đi tính hấp dẫn của môi trƣờng đầu tƣ từ đó việc thu hút FDI trở nên khó khăn
hơn. Năm 2013, tình hình có vẻ khả quan hơn từ những triển vọng tăng trƣởng trở lại của sản
xuất trong nƣớc và dòng vốn FDI tăng nhẹ từ 10,4 tỷ USD năm 2012 lên 11,5 tỷ năm 2013
cho thấy dấn hiệu khả quan của sản xuất nội địa nói chung.
Liên kết giữa doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài với doanh nghiệp nội địa ở
Việt Nam
Mặc dù thu hút FDI vào Việt Nam và những đóng góp của khu vực này cho tăng trƣởng
kinh tế đất nƣớc đƣợc coi nhƣ một điểm sáng trong bức tranh kinh tế của Việt Nam trong
những năm gần đây, nhƣng việc liên kết giữa doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp nội địa
lại đƣợc xem nhƣ một vấn đề chƣa đƣợc khai thác một cách xứng đáng. Sự kém phát triển của
các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ đã làm cho mối liên kết giữa các
doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp nội địa trở nên mờ nhạt. Các doanh nghiệp nội không
những không tận dụng đƣợc những lợi thế mà FDI mang lại mà ngày càng tụt hậu xa hơn so
với các doanh nghiệp FDI không chỉ trên thƣơng trƣờng quốc tế mà ngay cả ở thị trƣờng
trong nƣớc.
Theo điều tra của Tổ chức thúc đẩy thƣơng mại Nhật Bản (JETRO), tỷ lệ nội địa hóa
của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam rất thấp. Năm 2012, tỷ lệ này là 27.9%, năm
2013 đã tăng lên 32.2% nhƣng vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình chung và tỷ lệ này
của các nƣớc trong khu vực.
11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Bảng 2. Tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam và các nước trong khu vực năm
2013 Đơn vị tính: %
Tên nước
Tỷ lệ
Trung Quốc
Thái Lan
Indonesia
60.8
52.9
43.3
32.2
47.8
Việt Nam
Trung bình chung của khu vực
Nguồn: JETRO Việt Nam
Nhƣ vậy, tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam thấp hơn mức
trung bình chung của các nƣớc trong khu vực 15.6%, thấp hơn tỷ lệ này ở Trung Quốc là
28.6%, thấp hơn Thái Lan là 20.7%, thấp hơn Indonesia là 11.1%. Điều này đƣợc lý giải bởi
nguyên nhân xuất phát từ sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ của Việt Nam, một trong
những hạn chế của môi trƣờng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cần phải đƣợc cải thiện trong thời
gian tới để có thể hấp dẫn các nhà đầu tƣ tiếp tục đầu tƣ vào Việt Nam.
Tỷ lệ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu cho các doanh FDI lớn ở việt Nam ở mức thấp,
chỉ mới chiếm khoảng 30%, 70% linh phụ kiện còn lại là các doanh nghiệp FDI phải nhập
khẩu từ nƣớc ngoài.
Bảng 3. Tỷ lệ nhà cung cấp linh phụ kiện của một số doanh nghiệp FDI ở Việt Nam (%)
Tên DN
Toyota
Samsung
Toshiba
Canon
Tỷ lệ nhà cung cấp nội địa
Tỷ lệ nhà cung cấp nước ngoài
35
30
33
30
65
70
67
70
Nguồn:JETRO Việt Nam và tổng hợp của tác giả
Các nhà cung cấp linh phụ kiện cho các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chủ yếu là các
doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô đầu tƣ nhỏ và hệ thống máy móc lạc hậu nên khó có thể
đáp ứng đƣợc yêu cầu về độ chính xác và chất lƣợng cao mà các doanh nghiệp FDI yêu cầu.
Đây cũng chính là lý do mà tính liên kết của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa
còn lỏng lẻo.Hiện nay, tại Việt Nam có hơn 50 doanh nghiệp lắp ráp ô tô (gồm cả doanh
nghiệp trong nƣớc và có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài), trình độ sàn sàn nhƣ nhau, giá trị gia tăng
thu đƣợc chủ yếu thông qua khâu sơn, hàn, lắp ráp… Trong khi đó, số doanh nghiệp trong
nƣớc sản xuất phụ tùng, linh kiện phụ trợ mới có khoảng 60 đơn vị. Bình quân mỗi doanh
nghiệp lắp ráp ô tô chƣa đến 2 nhà sản xuất linh kiện phụ trợ cho mình. Hơn 90% linh kiện,
phụ tùng ô tô lắp ráp hiện nay vẫn do các công ty mẹ hoặc từ TNCs nƣớc ngoài cung cấp.
Thực trạng phát triển thiếu tính ổn định, bền vững của ngành công nghiệp ô tô hiện nay một
phần quan trọng là do công nghiệp phụ trợ chƣa phát triển mạnh.
Ngành công nghiệp điện tử cũng không sáng sủa gì hơn. Trong số vài trăm doanh
nghiệp đang hoạt động, chỉ có khoảng ¼ số đơn vị tham gia sản xuất phụ tùng, linh kiện,
phần lớn trong số này là doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, sản xuất phục vụ xuất
khẩu là chủ yếu, tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm mới chỉ đạt 20%.
Ở Việt Nam cho đến nay sản phẩm công nghiệp phụ trợ chủ yếu do các doanh nghiệp
nhà nƣớc sản xuất, phần lớn cung cấp những sản phẩm có chật lƣợng kém và giá thành cao
nên chỉ tiêu thụ đƣợc trong nội bộ khu vực kinh tế nhà nƣớc. Một bộ phận khác, phần lớn là
những sản phẩm công nghiệp phụ trợ cấp thấp, do các hộ kinh doanh cá thể sản xuất cũng
gặp khó khăn về vốn, công nghệ. Kết quả điều tra của Tổ chức Xúc tiến thƣơng mại Nhật
Bản (JETRO) đầu năm 2006 cho thấy, ngay cả những địa bàn tập trung các doanh nghiệp
12
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Kỷ yếu Hội thảo khoa học quản trị và kinh doanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ky_yeu_hoi_thao_khoa_hoc_quan_tri_va_kinh_doanh.pdf

