Thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với quản trị nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam

THÁCH THỨC CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐỐI VỚI  
QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
PGS.TS. Trần Việt Lâm  
Đại học Kinh tế Quốc dân  
Tóm tắt :  
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tác động nhiều mặt đến kinh doanh và quản trị kinh doanh  
của doanh nghiệp. Nếu như thực chất của quản trị kinh doanh là quản trị hoạt động của con  
người trong sản xuất kinh doanh thì tác động quan trọng nhất và lâu dài nhất của cách mạng  
công nghiệp 4.0 đối với doanh nghiệp chính là tác động đến nguồn nhân lực và quản trị  
nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Thực trạng quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp  
Việt Nam hiện nay như thế nào? Có những thách thức gì từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0  
đến quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp Việt Nam? và có những giải pháp gì để giúp  
doanh nghiệp Việt Nam vượt qua những thách thức này? Đó là những câu hỏi mà bài viết cố  
gắng tìm câu trả lời.  
Từ khóa : Cách mạng công nghiệp 4.0, quản trị nguồn nhân lực , những thách thức của cách  
mạng công nghiệp 4.0 đối với quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp.  
Abstract  
The fourth industrial revolution has made a huge impact on business and business  
administration. If the nature of business administration is the management of human activity  
in business production then the most significant and lasting impact of the fourth industrial  
revolution on the enterprise is the impact on human resources and human resource  
management of enterprise.What is the current status of human resource management in  
Vietnamese enterprises? What are the challenges from the industrial revolution 4.0 to the  
human resource management of Vietnamese enterprises? And what solutions to support  
Vietnamese enterprises overcome these challenges? These are the questions that the article  
tries to find the answer.  
Keywords : the fourth industrial revolution, human resource management, the challenges  
from the industrial revolution 4.0 to the human resource management of Vietnamese  
enterprises.  
1. Đặt vấn đề  
Quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) của doanh nghiệp được hiểu là tổng thể các hoạt động  
quản trị công tác tuyển dụng, công tác sử dụng và công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực  
của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp và của người lao động trong  
doanh nghiệp. QTNNL nghiên cứu những việc có thể thực hiện hay nên thực hiện để người  
lao động làm việc có năng suất và cảm thấy hài lòng với công việc hơn (John M.Ivancevich  
,2010). Ba mục tiêu cụ thể mà QTNNL cần đạt được là :  
265  
-
-
-
Hiệu quả của công việc cao  
Chi phí sử dụng lao động hợp lý  
Sự hài lòng của người lao động.  
Nếu bản chất của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) là sự tối ưu hóa các quy  
trình, các phương thức sản xuất dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công  
nghệ thông mình thì CMCN 4.0 sẽ tác động rất mạnh đến quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực của  
doanh nghiệp và do vậy sẽ tác động rất lớn đến QTNNL của doanh nghiệp. Những tác động  
này kết hợp với những hạn chế trong QTNNL của doanh nghiệp đã đặt ra những thách thức  
rất lớn cho doanh nghiệp Việt Nam. Để tìm ra giải pháp vượt qua những thách thức này cần  
đánh giá thực trạng QTNNL của doanh nghiệp Việt Nam, phân tích tác động của cuộc CMCN  
4.0 đến nguồn nhân lực và QTNNL của doanh nghiệp Việt Nam.  
2. Thực trạng quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp Việt NamNG LỰC  
Phù hợp với mục tiêu của QTNNL, chúng ta sẽ sử dụng 3 nhóm chỉ tiêu để đánh giá  
thực trạng QTNNL của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đó là các chỉ tiêu về năng suất lao  
động, các chỉ tiêu về chi phí sử dụng lao động và các chỉ tiêu về mức độ hài lòng của người  
lao động.  
Ở tầm vĩ mô, năng suất lao động của các quốc gia được đánh giá qua chỉ tiêu GDP bình  
quân trên 1 lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc. Theo cách tính này, năng suất lao động  
của Việt Nam là rất thấp so với các quốc gia trong khu vực. Theo Tổng cục Thống kê, tính  
theo sức mua tương đương năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 là 9.894  
USD, chỉ bằng 7% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của  
Indonesia; 56,7% của Philippines và bằng 87,4% năng suất lao động của Lào (Bạch Dương,  
2017).  
Ở phạm vi doanh nghiệp, năng suất lao động có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu như  
giá trị gia tăng (GTGT) bình quân một lao động hay lợi nhuận trước thuế (LNTT) bình quân  
một lao động.  
Bảng 1 : Đánh giá năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam  
giai đoạn 2011-2015  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
Bình quân chung của các doanh nghiệp  
-
-
GTGT bình quân 1 lao động (tr.đồng)  
LNTT bình quân 1 lao động (tr.đồng)  
248  
31  
264  
32  
269  
42  
281  
46  
290  
43  
Doanh nghiệp Nhà nước  
-
GTGT bình quân 1 lao động (tr.đồng)  
So với bình quân chung của các doanh nghiệp (%)  
LNTT bình quân 1 lao động  
521  
210  
87  
729  
276  
106  
331  
735  
273  
121  
288  
733  
261  
120  
261  
726  
250  
115  
267  
-
So với bình quân của chung của các doanh nghiệp  
281  
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước  
266  
-
-
GTGT bình quân 1 lao động (tr.đồng)  
175  
71  
172  
65  
154  
57  
168  
60  
190  
66  
So với bình quân chung của các doanh nghiệp (%)  
LNTT bình quân 1 lao động (tr.đồng)  
13  
10  
11  
17  
20  
So với bình quân chung của các doanh nghiệp (%)  
42  
31  
26  
37  
47  
DN có vốn đầu tư nước ngoài  
-
GTGT bình quân 1 lao động (tr.đồng)  
254  
102  
41  
243  
92  
302  
112  
68  
317  
113  
72  
319  
110  
65  
So với bình quân chung của các doanh nghiệp (%)  
LNTT bình quân 1 lao động (tr.đồng)  
-
44  
So với bình quân chung của các doanh nghiệp (%)  
132  
138  
162  
157  
151  
Nguồn : Tính toán từ Niên giám thống kê 2016 & Tổng cục Thống kê (2016).  
Nghiên cứu của ILO (2016) cho thấy năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam  
trong lĩnh vực dệt, may, da giày và lĩnh vực chế biến, chế tạo thấp hơn rất nhiều so với các  
doanh nghiệp cùng lĩnh vực của Thái Lan, Philippin và Indonesia. Tính theo USD hiện hành,  
năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam năm 2013 trong lĩnh vực chế biến, chế tạo và  
trong lĩnh vực dệt, may, da giày lần lượt là 4.112 và 1.741, con số này đối với doanh nghiệp  
Thái Lan là 21.512 và 8.178, đối với doanh nghiệp Philippin là 17.634 và 4.646, đối với  
doanh nghiệp Campuchia năm 2012 là 2.296 và 1.848, đối với doanh nghiệp Indonesia năm  
2014 là 11.623 và 4.149.  
Hình 1 : Năng suất lao động trong lĩnh vực dệt, may, da giày và lĩnh vực  
chế biến, chế tạo của một số nước ASEAN (tính theo USD hiện hành)  
Nguồn : ILO (2016)  
Có thể thấy trong giai đoạn 2011-2015 năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam,  
đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước có xu hướng tăng lên song có sự chênh lệch lớn giữa các  
khu vực DN. Năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp Nhà nước gấp 2-3 lần năng suất  
lao động bình quân chung trong khi năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà  
nước chỉ bằng 50-60% năng suất lao động bình quân chung. Hiện tại, hơn 95% số doanh  
267  
nghiệp thuộc khu vực ngoài Nhà nước, vì vậy có thể nói năng suất lao động của đại bộ phận  
các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là rất thấp.  
Chi phí sử dụng lao động là toàn bộ chi phí kinh doanh phát sinh gắn với quá trình sử  
dụng lao động của DN. Để đánh giá tính hợp lý của chi phí sử dụng lao động người ta thường  
phân tích so sánh các chỉ tiêu như thu nhập bình quân (TNBQ) của một lao động/doanh thu  
thuần bình quân (DTTBQ) của một lao động hay thu nhập bình quân (TNBQ) của một lao  
động/lợi nhuận trước thuế bình quân (LNTTBQ) của một lao động.  
Bảng 2 : Đánh giá chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp Việt Nam  
giai đoạn 2011-2015  
2011  
2012  
2013 2014 2015  
Bình quân chung của các doanh nghiệp  
-
-
TNBQ của lao động/DTTBQ của lao động  
TNBQ của lao động/LNTTBQ của lao động  
0,058  
1,772  
0,063 0,065 0,066 0,069  
1,961 1,613 1,613 1,887  
Doanh nghiệp Nhà nước  
- TNBQ của lao động/DTTBQ của lao động  
- TNBQ của lao động/LNTTBQ của lao động  
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước  
0,054  
1,039  
0,053 0,057 0,058 0,058  
0,909 0,833 0,926 1,000  
- TNBQ của lao động/DTTBQ của lao động  
- TNBQ của lao động/LNTTBQ của lao động  
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  
- TNBQ của lao động/DTTBQ của lao động  
- TNBQ của lao động/LNTTBQ của lao động  
Nguồn : Tính toán từ Niên giám thống kê 2016.  
0,054  
3,537  
0,061 0,062 0,064 0,068  
5,263 4,762 3,704 3,704  
0,073  
1,367  
0,079 0,077 0,078 0,079  
1,587 1,136 1,099 1,333  
Có thể thấy chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng tăng lên  
trong giai đoạn 2010-2015, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài nhà nước và các doanh nghiệp  
có vốn đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2017) cho thấy tiền công và  
tiền lương của doanh nghiệp trung vị Việt Nam ở mức khoảng 2.739 USD trên một lao động,  
cao khoảng gấp đôi so với Lào, Myanmar, Malaysia và hơn khoảng 30% đến 45% so với  
Campuchia, Thái Lan và Phillipin. Tiền lương phản ánh điều kiện thị trường lao động tại địa  
phương, tiền lương cao khi nguồn cung lao động thấp hơn so với nhu cầu. Mức lương đóng  
vai trò quan trọng để duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp bởi vì doanh nghiệp vẫn có  
thể duy trì được năng lực cạnh tranh khi năng suất lao động thấp nếu tiền lương thấp hơn đáng  
kể. Khi năng suất lao động thấp, tiền lương cao, doanh nghiệp Việt Nam rất khó duy trì năng  
lực cạnh tranh của mình. Đơn giá công lao động được định nghĩa là tỷ lệ giữa chi phí lao động  
và giá trị gia tăng. Đơn giá công lao động cao hơn khi chi phí lao động cao không được phản  
ánh đầy đủ ở mức năng suất cao. Cũng theo WB (2017), đơn giá giá công lao động của doanh  
nghiệp trung vị của Việt Nam là 28% cao hơn so với Trung Quốc, Philippin, Malaysia nhưng  
268  
thấp hơn so với Thái Lan, Lào, Campuchia và Myanmar. Điều này cho thấy chi phí lao động  
cao của doanh nghiệp Việt Nam không tách rời khỏi việc năng suất lao động thấp.  
Tiền lương của doanh nghiệp trung vị của Việt Nam là cao nhưng tiền lương tháng bình  
quân của lao động Việt Nam lại đang ở nhóm thấp trong khu vực. Điều đó nói lên sự không  
đồng đều về tiền lương tháng bình quân của lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam. Theo  
ILO (2014), tiền lương tháng bình quân của lao động Việt Nam năm 2013 là 197 US$ trong  
khi của Indonesia là 183 US$, Philippines là 215 US$, Thái Lan là 391 US$, Trung Quốc là  
613US$, Malaysia là 651 US$ và Singapore là 3.694 US$ . Áp lực tăng lương cho người lao  
động trong các doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn, mặc dù trong giai đoạn 2004-2015, khác  
với nhiều quốc gia trong khu vực, tốc độ tăng lương trung bình của Việt Nam cao hơn tốc độ  
tăng của năng suất lao động.  
Bảng 3 : Tăng lương trung bình và tăng năng suất lao động của Việt Nam  
và các nước Châu Á giai đoạn 2004-2015  
Đơn vị : %  
Quốc gia  
Trung Quốc  
Tốc độ tăng  
Tốc độ tăng  
năng suất lao động  
lương trung bình  
9,1  
3,6  
2,1  
2,6  
1,8  
2,7  
4,4  
8,8  
2,6  
2,5  
0,4  
1,2  
3,5  
5,8  
Indonesia  
Malaysia  
Philippin  
Singapore  
Thái Lan  
Việt Nam  
Nguồn : VEPR&JICA ,2017.  
Để đồng thời tăng lương cho người lao động, giảm chi phí sử dụng lao động cho doanh  
nghiệp các doanh nghiệp phải tăng năng năng suất lao động. Tăng năng suất lao động là thách  
thức lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.  
Làm cho người lao động hài lòng với công việc, hài lòng với doanh nghiệp là một trong  
những mục tiêu quan trọng của QTNNL. Ít hài lòng thì ít cống hiến, kém sáng tạo, hiệu quả  
công việc thấp. Kết quả điều tra của Viện Công nhân và Công đoàn năm 2017 cho thấy có tới  
32,5% số người lao động có bức xúc về nơi làm việc. Năm nhóm vấn đề mà người lao động  
bức xúc nhất, đó là tiền lương, phúc lợi thấp so với công sức bỏ ra (46%), làm việc quá mệt  
mỏi, căng thẳng (37,2%), những vướng mắc về quyền lợi không được giải quyết (31,2%),  
thiếu bảo đảm an toàn vệ sinh lao động (19,8%), thiếu tôn trọng người lao động (18,3%).  
(Báo lao động thủ đô, 16-7-2017). Khi người lao động không hài lòng với doanh nghiệp, tỷ lệ  
lao động dời bỏ doanh nghiệp sẽ tăng, doanh nghiệp thiếu lao động, năng suất lao động sụt  
giảm, chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp tăng lên.  
269  
Bảng 4 : Tỷ lệ nghỉ việc của doanh nghiệp trong nước  
và doanh nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2015  
Đơn vị : %  
2015  
2011  
18,8  
15,0  
2012  
16,9  
13,0  
2013  
17,1  
12,2  
2014  
17,2  
12,7  
DN trong nước  
17,0  
DN có vốn đầu tư nước ngoài  
Nguồn : Talentnet&Mercer ,2017.  
13,7  
Theo Cục Quan hệ Lao động và Tiền lương, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, từ  
2010 đến 2017 cả nước có 2.131 cuộc đình công, trong đó hơn 80% cuộc đình công xảy ra tại  
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 54% cuộc đình công có nguyên nhân vì lương  
thấp. Rõ ràng, để người lao động hài lòng với công việc, gắn kết với doanh nghiệp giải pháp  
đầu tiên là các doanh nghiệp phải tăng lương, tăng phúc lợi cho người lao động. Như vậy,  
việc đánh giá QTNNL của doanh nghiệp qua ba tiêu chí hiệu quả của công việc, chi phí sử  
dụng lao động và sự hài lòng của người lao động có thể kết luận, QTNNL của các doanh  
nghiệp Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế. Thách thức lớn nhất đối với QTNNL là phải giúp  
cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng năng suất lao động, giảm chi phí sử dụng lao động, tăng  
sự hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp.  
3.  
Thách thức của cuộc Cách mạng 4.0 với quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp Việt  
Nam  
Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư hay cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0  
(CMCN 4.0) đang diễn ra còn được gọi là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như  
Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội, điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn… để  
chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số. Cuộc CMCN 4.0 đã và đang tạo ra những  
thay đổi đột phá, có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế -xã hội ở mỗi quốc gia, trên  
từng khu vực và toàn cầu. Các doanh nghiệp số xuất hiện dựa trên việc kết nối các chuỗi giá  
trị trong và ngoài doanh nghiệp, số hóa quá trình sản xuất và dịch vụ và tạo ra những mô hình  
kinh doanh mới. Nhờ sử dụng mạng máy tính diện rộng, Internet và điện toán đám mây doanh  
nghiệp có thể kết nối tích hợp thông tin xuyên suốt toàn bộ doanh nghiệp bất kể quy mô lớn  
hay nhỏ. doanh nghiệp có thể số hóa toàn bộ quá trình hoạt động, từ sản xuất, kinh doanh đến  
quản trị.  
Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con  
người trong nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn lao động và nghề nghiệp cũ sẽ mất đi, đồng thời xuất  
hiện nhiều nghề nghiệp mới trong lĩnh vực kỹ thuật số, lập trình, bảo vệ dữ liệu,…Những yếu  
tố mà doanh nghiệp Việt Nam đã và đang coi là có ưu thế như lực lượng lao động thủ công  
trẻ, dồi dào sẽ không còn là thế mạnh nữa, thậm chí bị đe dọa nghiêm trọng. Trong tương lai,  
người lao động có thể mất việc làm bởi những lĩnh vực mà công nghệ robot có thể tác động  
tới. Nghiên cứu của ILO (2016) cho thấy đến năm 2025, 70% số việc làm Việt Nam có rủi ro  
do quá trình tự động hóa, trong khi con số này của Campuchia là 57%, của Indonesia là 56%,  
của Philippin là 49% và của Thái Lan là 44%. Việc làm có rủi ro được hiểu là những việc làm  
270  
có thể bị thay thế bởi các hệ thống máy móc tự động hóa. Tại Việt Nam, việc làm có rủi ro có  
trong tất cả các ngành (ngành cấp 1 theo phân loại của Liên Hiệp Quốc) với mức cao nhất là  
ngành khách sạn và nhà hàng và mức thấp nhất là ngành giáo dục và đào tạo.  
Bảng 5 : Tỷ trọng việc làm có rủi ro do tác động của quá trình tự động hóa  
chia theo phân ngành cấp 1  
Tỷ trọng  
Số  
TT  
Ngành cấp 1  
việc làm  
có rủi ro (%)  
93,0  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Khách sạn và nhà hàng  
Hoạt động bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy  
Nông, lâm, ngư nghiệp  
84,1  
83,3  
74,4  
68,9  
50,4  
49,9  
46,5  
45,6  
40,9  
40,6  
39,8  
35,4  
32,2  
31,7  
27,4  
25,6  
17,9  
16,9  
13,1  
9,0  
Chế tạo, chế biến  
Nghệ thuật, giải trí  
Điện, khí đốt, ga và điều hòa không khí  
Không xác định, không phân loại được  
Cung cấp nước sạch, quản lý rác và nước thải, các h.đ.sửa chữa  
Các hoạt động tài chính và bảo hiểm  
10 Các hoạt động bất động sản  
11 Xây dựng  
12 Hành chính và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ  
13 Quản lý Nhà nước, quốc phòng, bảo hiểm xã hội bắt buộc  
14 Thông tin và truyền thông  
15 Khai khoáng  
16 Các hoạt động khoa học và kỹ thuật  
17 Các hoạt động của các cơ quan và tổ chức ở nước ngoài  
18 Vận tải và kho bãi  
19 Các hoạt động dịch vụ khác  
20 Chăm sóc sức khỏe và công tác xã hội  
21 Các hoạt động của hộ gia đình khi sử dụng lao động giúp việc  
22 Giáo dục và đào tạo  
7,6  
Nguồn : Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2016)  
Những thay đổi trong công việc đòi hỏi những kỹ năng quan trọng mà đội ngũ lao động  
của doanh nghiệp cần phải có. Nghiên cứu của ILO (2016) đã chỉ ra tầm quan trọng của các  
kỹ năng và sự cân đối giữa các loại kỹ năng mà doanh nghiệp của các quốc Asean cần phải có  
trước những áp lực của cuộc CMCN 4.0. Tầm quan trọng của các kỹ năng như làm việc theo  
nhóm, giao tiếp, tư duy chiến lược, sáng tạo và những kỹ năng mềm đặc biệt đối với các  
doanh nghiệp Việt Nam là cao hơn so với mức trung bình của các doanh nghiệp Asean.  
271  
Hình 2 : Những loại kỹ năng quan trọng nhất  
đối với doanh nghiệp hiện nay  
Đơn vị : %  
Nguồn : ILO (2016)  
(TVET : giáo dục và đào tạo hướng nghiệp kỹ thuật). Như vậy, cuộc CMCN 4.0 sẽ làm thay  
đổi cơ cấu đội ngũ lao động của doanh nghiệp cả về ngành nghề và các loại kỹ năng. Nhiều  
lao động sẽ bị mất việc làm do quá trình robot hóa đồng thời doanh nghiệp phải tuyển dụng,  
đào tạo nhiều lao động với những ngành nghề và kỹ năng mới. Quá trình đó phải được triển  
khai một cách có chiến lược, phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong bối  
cảnh toàn cầu hóa và cuộc CMCN 4.0. Một thách thức rất lớn đối với an sinh xã hội, đối với  
công tác tuyển dụng, đào tạo và phát triển lao động của DN.  
Đã có nhiều nghiên cứu lý giải nguyên nhân năng suất lao động của doanh nghiệp Việt  
Nam thấp song có hai nguyên nhân chủ yếu, dễ dàng nhận ra, đó là quy mô hoạt động sản  
xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam nhỏ bé và chất lượng nguồn nhân lực của doanh  
nghiệp Việt Nam thấp. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến 4- 2017 cả nước có khoảng  
612.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Mặc dù số doanh nghiệp tăng lên trong mấy năm gần  
đây song số lao động bình quân một doanh nghiệp là nhỏ bé và đang có xu hướng giảm ngoại  
trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  
272  
Bảng 6 : Số lao động bình quân một doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015  
Đơn vị : Người  
2011  
34  
2012  
32  
2013  
31  
2014  
30  
2015  
29  
Bình quân chung của các doanh nghiệp  
Doanh nghiệp nhà nước  
510  
21  
496  
20  
519  
19  
504  
18  
483  
18  
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước  
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  
283  
303  
298  
312  
315  
Nguồn : VCCI ( 2017) & Niên giám Thống kê 2016  
Theo tiêu chí phân loại doanh nghiệp của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30-6-2009,  
trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động năm 2015, 72,82% doanh nghiệp thuộc loại  
siêu nhỏ, 23,45% doanh nghiệp thuộc loại nhỏ. Khi quy mô nhỏ bé, doanh nghiệp Việt Nam  
không khai thác được tính kinh tế của quy mô để giảm chi phí sản xuất kinh doanh, dẫn tới  
giá trị gia tăng thấp, năng suất lao động bình quân thấp. Chất lượng nguồn nhân lực của các  
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng rất thấp.  
Bảng 7 : Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động Việt Nam  
giai đoạn 2011-2015  
Đơn vị : %  
2011  
100  
2012  
100  
2013  
100  
2014  
100  
2015  
100  
Tổng số  
Không có trình độ chuyên môn kỹ  
84,4  
83,2  
81,8  
81,4  
79,7  
thuật  
Dạy nghề  
4,0  
3,7  
1,8  
6,1  
4,7  
3,7  
2,0  
6,4  
5,4  
3,7  
2,0  
7,1  
4,9  
3,7  
2,2  
7,8  
5,0  
4,0  
2,7  
8,6  
Trung cấp chuyên nghiệp  
Cao đẳng  
Đại học trở lên  
Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017)  
Năm 2015 Ngân hàng Thế giới đã tiến hành khảo sát đánh giá chất lượng nguồn nhân lực  
của một số quốc gia trong khu vực. Việt Nam xếp thứ 11 trong 12 quốc gia được khảo sát, cụ  
thể với thang điểm 10, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam được đánh giá là 3,79 điểm  
trong khi Hàn Quốc là 6,91 điểm, Ấn Độ là 5,76 điểm, Malaysia là 5,59 điểm (Trọng  
Nhân,2016).  
Với những thành tựu của cuộc CMCN 4.0 doanh nghiệp sẽ có khả năng tiếp nhận nhu cầu  
của khách hàng và truyền ngay tới phân xưởng sản xuất, các dây chuyền sản xuất sẽ tự động  
kết hợp với nhau để sản xuất sản phẩm mới đơn chiếc với mức giá thấp. Thời đại sản xuất một  
loại sản phẩm với số lượng lớn sẽ dần kết thúc, thời đại sản xuất hàng loạt sản phẩm đơn  
chiếc theo nhu cầu của khách hàng sẽ dần thay thế. Vì vậy, giải pháp mang tính chiến lược để  
nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sử dụng lao động đối với doanh nghiệp Việt Nam  
là nâng cao trình độ đội ngũ lao động để triển khai áp dụng những thành tựu của cuộc CMCN  
273  
4.0 trong sản xuất kinh doanh. Phải nâng cao trình độ đội ngũ lao động khi thị trường lao  
động đang có nhiều biến động về cung cầu đã đặt ra những thách thức rất lớn cho công tác  
tuyển dụng lao động, công tác đào tạo và phát triển đội ngũ lao động của doanh nghiệp. Hiện  
tại, nhiều doanh nghiệp Việt Nam không xác định được nhu cầu về nguồn nhân lực cả trong  
ngắn hạn. Đại bộ phận các doanh nghiệp nhỏ và vừa không lập kế hoạch nhân lực dài hạn, xác  
định nhu cầu tuyển dụng lao động dựa trên số lượng lao động cần thay thế. Do những thay đổi  
về cơ cấu của thị trường lao động trước sự tác động của cuộc CMCN 4.0, do trào lưu khởi  
nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ, do việc không thỏa mãn về thù lao, về văn hóa DN, các doanh  
nghiệp ngày càng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm lao động thay thế. Tại Hội thảo  
“Nguồn nhân lực và công nghệ cho kỷ nguyên số tại Việt Nam” được tổ chức ngày 14-11-  
2017, ManpowerGroup, tập đoàn chuyên cung cấp giải pháp nhân sự toàn cầu, khi khảo sát  
42.000 doanh nghiệp tại Đông Nam Á trong các năm 2016-2017 đã cho biết có đến 40% số  
doanh nghiệp gặp khó khăn trong công tác tuyển dụng lao động, 53% số doanh nghiệp chọn  
cách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiện tại, 28% số doanh nghiệp tìm các chiến lược  
tuyển dụng mới thay thế chiến lược tuyển dụng truyền thống (Báo Nhân dân điện tử,14-11-  
2017).  
Tóm lại, thực trạng QTNNL của các doanh nghiệp hiện nay và những áp lực của cuộc  
CMCN 4.0 đã đặt ra những thách rất lớn cho công tác tuyển dụng lao động, công tác đào tạo  
và phát triển lao động của doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam phải tăng  
năng suất lao động, tăng lương cho người lao động, giảm chi phí sử dụng lao động thông qua  
việc tuyển dụng lao động, đào tạo và phát triển lao động để áp dụng những thành tựu của cuộc  
CMCN 4.0 trong sản xuất kinh doanh. Các công việc trên phải được triển khai theo chiến lược  
nguồn nhân lực và chiến lược nguồn nhân lực phải là một chiến lược chức năng của chiến  
lược phát triển doanh nghiệp trong thời đại công nghiệp 4.0.  
4. Giải pháp về quản trị nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp Việt Nam  
Những phân tích trên đã chỉ ra tầm quan trọng của chiến lược nguồn nhân lực đối với  
doanh nghiệp Việt Nam. Các giải pháp được đề xuất ở đây nhằm giúp doanh nghiệp Việt  
Nam hoạch định và triển khai thành công chiến lược nguồn nhân lực của mình trước những  
tác động của CMCN 4.0.  
- Lãnh đạo doanh nghiệp cần chuyển từ triết lý quản trị nhân viên sang triết lý quản  
trị nguồn nhân lực  
Quản trị nhân lực của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào triết lý kinh doanh của lãnh  
đạo doanh nghiệp, phụ thuộc vào tầm nhìn dài hạn về sự phát triển của DN. Triết lý kinh  
doanh là những quan điểm triết học của lãnh đạo doanh nghiệp về kinh doanh, nó trả lời cho  
câu hỏi mục đích kinh doanh của doanh nghiệp là gì? doanh nghiệp sử dụng những phương  
tiện gì để đạt được những mục đích đó? Triết lý kinh doanh cũng là cơ sở để doanh nghiệp sử  
dụng, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực của DN. Phù hợp với những thay đổi của triết lý  
kinh doanh, quản trị nhân lực trong doanh nghiệp đã đi từ quản trị nhân viên đến QTNNL và  
bước tiếp theo là từ QTNNL đến quản trị nhân tài. Quản trị nhân viên (Personnel  
274  
management) được bắt đầu nghiên cứu vào năm 1900 tại Mỹ dựa trên Lý thuyết quản trị khoa  
học của Frederick Taylor. Chức năng của quản trị nhân viên trong doanh nghiệp là rất rộng, từ  
việc đưa ra lời khuyên cho những hoạt động tuyển mộ và lựa chọn nhân viên, thực hiện đánh  
giá nhân viên, đào tạo và phát triển nhân viên đến việc xây dựng hệ thống trả lương và trợ  
cấp, quan hệ lao động,…Quản trị nguồn nhân lực (Human resource management) được định  
nghĩa như là một hệ thống những hoạt động và chiến lược, tập trung vào việc quản trị thành  
công người lao động ở tất cả các cấp của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu của doanh  
nghiệp. Thuật ngữ QTNNL được Peter Drucker sử dụng lần đầu tiên vào năm 1950. QTNNL  
có những đặc trưng sau : được liên kết với quản trị chiến lược của doanh nghiệp; đòi hỏi sự  
cam kết với các mục tiêu chiến lược; tập trung vào nhu cầu của cá nhân hơn là nhu cầu của  
các nhân viên chung chung; cho phép tổ chức ủy quyền và trở nên linh hoạt hơn; nhấn mạnh  
rằng con người là tài sản được doanh nghiệp sử dụng một cách rõ ràng.  
Bảng 8 : Sự khác nhau giữa quản trị nhân viên và quản trị nguồn nhân lực  
Tiêu chuẩn  
Quản trị nhân viên  
Quản tri nguồn nhân lực  
Thời gian và kế hoạch hóa Khoảng thời gian ngắn, thụ Khoảng thời gian dài, chủ  
động, ngoài lề  
Sự tuân thủ  
động, chiến lược, tích hợp  
Sự tận tâm  
Hợp đồng về tâm lý  
Hệ thống kiểm soát  
Quan hệ nhân viên  
Từ bên ngoài  
Tự kiểm soát  
Kiêm nhiệm, tập thể, sự tin Chuyên trách, cá nhân, sự tin  
cậy thấp cậy cao  
Cơ cấu và hệ thống  
Vai trò  
Quan liêu/hành chính, được Hữu cơ, ủy quyền, linh hoạt  
tập trung, hình thức  
Chuyên gia/chuyên nghiệp  
Tích hợp ở mức độ lớn thành  
chuyên ngành quản trị  
Tiêu chí đánh giá  
Nguồn : Guest, D. (1987)  
Cực tiểu hóa chi phí  
Sự sử dụng tối đa (kế toán tài  
sản con người)  
Để doanh nghiệp xây dựng được kế hoạch dài hạn về tuyển dụng lao động, về đào tao và phát  
triển lao động, lãnh đạo doanh nghiệp phải nhìn nhận lại triết lý kinh doanh của mình, nhìn  
nhận lại sứ mệnh và tầm nhìn của doanh nghiệp, chuyển quản trị nhân lực của doanh nghiệp  
từ quản trị nhân viên sang QTNNL. Với việc chuyển quan điểm từ quản trị nhân viên sang  
QTNNL, lãnh đạo doanh nghiệp sẽ nhận thức được tầm quan trọng của chiến lược kinh  
doanh, quản trị chiến lược kinh doanh trong đó có một chiến lược chức năng quan trọng cho  
doanh nghiệp, đó là chiến lược nguồn nhân lực.  
-
Doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược nguồn nhân lực  
Có hai khái niệm liên quan với nhau và thực tế hiện nay thường được sử dụng thay thế  
cho nhau, đó là chiến lược nguồn nhân lực (Human Resource Strategy) và quản trị nguồn  
nhân lực chiến lược (Strategic Human Resources Management). Về mặt lý thuyết, chiến lược  
275  
nguồn nhân lực là một chiến lược chức năng của chiến lược kinh doanh, với trọng tâm là hệ  
thống các hoạt động về nguồn nhân lực để nguồn nhân lực của doanh nghiệp có kỹ năng, thái  
độ và hành vi, thực hiện thành công chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị nguồn  
nhân lực chiến lược có trọng tâm là vốn nhân lực với sự tích hợp và thích nghi rộng lớn để  
đảm bảo rằng: (1) QTNNL được tích hợp một cách đầy đủ với chiến lược và nhu cầu kinh  
doanh chiến lược của doanh nghiệp; (2) các chính sách nguồn nhân lực gắn kết các chính sách  
theo lĩnh vực và các chính sách theo phân cấp; (3) các hoạt động nguồn nhân lực được nhà  
quản trị, người lao động điều chỉnh, chấp nhận và sử dụng như một phần của công việc hàng  
ngày (Randall S.Schuler, 1992). Xu hướng gần đây khi xây dựng chiến lược nguồn nhân lực  
là sự tích hợp giữa chiến lược nguồn nhân lực với quản trị nguồn nhân lực chiến lược, chú  
trọng đồng thời vốn nhân lực và hệ thống quản trị nguồn nhân lực để đạt được các mục tiêu  
chiến lược của doanh nghiệp. Vì vậy, chiến lược nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hiểu  
là một hệ thống các chính sách, các hoạt động và các quy trình QTNNL được thiết kế cho các  
nhóm nguồn nhân lực hoặc nhóm công việc cụ thể trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng và thực  
hiện các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp cũng như hiệu quả hoạt động ở cấp độ công  
việc và tổ chức. Mô hình chiến lược nguồn nhân lực bao gồm 5 thành phần (mô hình 5P), đó  
là triết lý nguồn nhân lực (Philosophy), các chính sách nguồn nhân lực (Policies), các chương  
trình (Programs), các hoạt động (Practices) và các quy trình QTNNL (Process). Triết lý nguồn  
nhân lực là một tuyên bố cho biết doanh nghiệp quan tâm đến nguồn nhân lực của mình như  
thế nào, nguồn nhân lực đóng vai trò gì trong toàn bộ thành công của doanh nghiệp trong kinh  
doanh và họ được đối xử và quản trị như thế nào. Chính sách nguồn nhân lực cung cấp những  
nguyên tắc chỉ đạo hành vi của con người trong các vấn đề có liên quan đến kinh doanh và  
những nguyên tắc chỉ đạo cho sự phát triển những chương trình nguồn nhân lực, những hoạt  
động nguồn nhân lực. Được định hướng bởi các chính sách nguồn nhân lực, các chương trình  
nguồn nhân lực trình bày những nỗ lực được phối hợp của nguồn nhân lực hướng tới việc  
khởi xướng, phổ biến và duy trì sự thay đổi chiến lược của doanh nghiệp do những đòi hỏi  
của nhu cầu kinh doanh chiến lược. Các hoạt động nguồn nhân lực, một cách chung nhất có  
thể hiểu là cơ cấu nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo, các nhà quản trị, những người tác nghiệp  
trong việc thúc đẩy những nhu cầu kinh doanh chiến lược của doanh nghiệp. Các qui trình  
nguồn nhân lực cần phải trả lời những hoạt động quản trị nguồn nhân lực chiến lược quan  
trọng được nhận biết, được trình bày rõ ràng và được thực hiện đầy đủ như thế nào. Xây dựng  
chiến lược nguồn nhân lực là cách thức liên kết giữa những nhu cầu kinh doanh chiến lược  
của doanh nghiệp và các hoạt động quản trị nguồn nhân lực chiến lược của doanh nghiệp.  
276  
Hình 3 : Liên kết giữa nhu cầu kinh doanh chiến lược với các hoạt động  
quản trị nguồn nhân lực chiến lược  
t
Nguồn : Randall S.Schuler (1992)  
- Doanh nghiệp cần triển khai áp dụng phương pháp Thẻ điểm cân bằng  
Để triển khai chiến lược nguồn nhân lực, gắn kết chiến lược nguồn nhân lực với các hoạt  
động khác của doanh nghiệp một cách chiến lược, doanh nghiệp Việt Nam phải triển khai áp  
dụng phương pháp Thẻ điểm cân bằng. Thẻ điểm cân bằng bao gồm các khía cạnh tài chính,  
khách hàng, quá trình nội bộ, đào tạo và phát triển là một công cụ quan trọng để doanh  
nghiệp triển khai thực hiện các mục tiêu chiến lược. Mỗi một khía cạnh được đo lường bằng  
nhiều thước đo và mỗi một thước đo lại được đo lường, đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu. Hệ  
thống các thước đo đảm bảo sự đo lường cân bằng giữa khách quan và chủ quan, bên trong  
và bên ngoài, trước mắt và lâu dài, hiệu suất và kết quả. Khía cạnh đạo tạo và phát triển bao  
gồm 3 thành phần chủ yếu là năng lực người lao động, năng lực của hệ thống thông tin và  
động lực phấn đấu, giao trách nhiệm, khả năng liên kết của người lao động. Khía cạnh đào  
tạo và phát triển sử dụng các thước đo như sự hài lòng của người lao động, khả năng giữ  
chân người lao động, năng suất của người lao động để đánh giá năng lực của người lao động.  
Khía cạnh đào tạo và phát triển sử dụng các thước đo như mức độ sẵn có của các thông tin  
277  
chiến lược, tỷ lệ cung cấp thông tin chiến lược để đánh giá năng lực của hệ thống thông tin.  
Khía cạnh đào tạo và phát triển sử dụng các thước đo như những ý kiến đề xuất và thực hiện,  
thước đo mức độ tiến bộ, thước đo khả năng liên kết của cá nhân với tổ chức, thước đo hiệu  
quả hoạt động của nhóm,…để đánh giá động lực phấn đấu, giao trách nhiệm, khả năng liên  
kết của người lao động. Các thước đo của khía cạnh đào tạo và phát triển sẽ được sử dụng để  
đánh giá sự thành công của doanh nghiệp trong QTNNL. Thành công về QTNNL có mối  
quan hệ chặt chẽ với thành công của doanh nghiệp về mặt tài chính, khách hàng và quy trình  
nội bộ cả trước mắt và lâu dài.  
Hình 4 : Bốn khía cạnh của Phiếu điểm cân bằng  
TÀI CHÍ NH  
Mục tiêu  
Thước đo  
Chỉ tiêu  
Giải pháp  
QUY TRÌ NH  
NỘI BỘ  
Mục tiêu  
Thước đo  
Chỉ tiêu  
KHÁ CH HÀNG  
Mục tiêu  
Thước đo  
Chỉ tiêu  
TẦM NHÌN  
và  
CHIẾN LƯỢC  
Giải pháp  
Giải pháp  
ĐÀO TẠO  
VÀ PHÁT TRIỂN  
Mục tiêu  
Thước đo  
Chỉ tiêu  
Giải pháp  
Nguồn : Xây dựng dựa theo Robert S.Kaplan & David P.Norton ( 2011)  
Cho đến nay chưa có điều tra đánh giá việc sử dụng Thẻ điểm cân bằng của các doanh  
nghiệp Việt Nam. Khảo sát của Vietnam Report tháng 1-2009 với 500 doanh nghiệp lớn nhất  
Việt Nam cho thấy chỉ có 7% doanh nghiệp đã áp dụng và 36% doanh nghiệp đang có kế  
hoạch áp dụng. Có hai nguyên nhân chính dẫn tới việc chưa có nhiều doanh nghiệp Việt  
Nam triển khai áp dụng phương pháp Thẻ điểm cân bằng. Thứ nhất, đó là nhận thức của ban  
lãnh đạo doanh nghiệp về Thẻ điểm cân bằng còn nhiều hạn chế. Khi tầm nhìn chiến lược  
hạn chế, triết lý quản trị nhân lực của doanh nghiệp mới chỉ ở mức quản trị nhân viên, ban  
lãnh đạo doanh nghiệp chưa thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết phải triển khai phương  
pháp Thẻ điểm cân bằng. Thứ hai, đó là trình độ quản trị, điều hành yếu kém của đội ngũ cán  
bộ quản trị. Khi doanh nghiệp đã nhận thức được sự cần thiết phải triển khai áp dụng phương  
pháp Thẻ điểm cân bằng, việc xây dựng Thẻ điểm cân bằng phù hợp với điều kiện cụ thể của  
doanh nghiệp là một công việc không dễ dàng. Đó là một quá trình và sự thành công của quá  
trình đó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, vào năng lực quản trị điều hành của đội ngũ cán bộ  
quản trị DN.  
278  
- Đào tạo đội ngũ chuyên gia quản trị nhân lực  
Doanh nghiệp cần phải có một đội ngũ chuyên gia quản trị nhân lực có chất lượng, đủ khả  
năng vượt qua những thách thức của cuộc CMCN 4.0. Theo Michael Losey, Sue Meisinger,  
Dave Ulrich (2011), chuyên gia quản trị nhân lực của thế kỷ 21 cần phải có 4 tố chất (4 C),  
đó là có khả năng (competent), ham học hỏi (curious), dũng cảm (courageous) và biết quan  
tâm (caring). Bốn tố chất này sẽ giúp cho chuyên gia quản trị nhân lực của doanh nghiệp  
trang bị đủ kiến thức và kỹ năng để hoạch định và triển khai thành công chiến lược nguồn  
nhân lực của doanh nghiệp trước những thách thức của cuộc CMCN 4.0. Chuyên gia quản trị  
nhân lực không phải chỉ hiểu biết sâu sắc lĩnh vực quản trị nhân lực của mình mà còn phải có  
khả năng như những chuyên gia kinh doanh. Họ phải có sự đóng góp mang tính chiến lược  
cho DN, tức là phải nhận diện được vấn đề, thiết lập được chiến lược và lựa chọn được các  
đề xuất thay thế trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên những thành tựu của  
cuộc CMCN 4.0. Như ILO đã chỉ ra, kỹ năng tư duy chiến lược là một trong những kỹ năng  
rất cần thiết cho chuyên gia quản trị nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam. Chuyên gia  
quản trị nhân lực là những người hoạt động ở cấp độ chiến lược vì vậy họ phải biết rất rõ  
những gì đang diễn ra trong doanh nghiệp, trong ngành kinh doanh cũng như những xu thế  
mới của môi trường kinh doanh toàn cầu, đặc biệt là những thay đổi về công nghệ dựa trên  
những thành tựu của cuộc CMCN 4.0. Chuyên gia quản trị nhân lực phải có khả năng cung  
cấp các dịch vụ nhân lực thành công cho doanh nghiệp trước những thay đổi của thị trường  
lao động. Họ phải hiểu biết và sử dụng thành thạo những công nghệ liên quan đến lĩnh vực  
quản trị nhân lực để hoàn thành xuất sắc chức năng nhiệm vụ của mình. Các kiến thức về  
công nghệ là một kỹ năng có tính quyết định đối với các chuyên gia quản trị nhân lực và đội  
ngũ lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam.  
Để có được tư duy chiến lược, kiến thức công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và những  
tác động của cuộc CMCN 4.0. chuyên gia quản trị nhân lực của doanh nghiệp phải là người  
ham học hỏi, ham hiểu biết. Do môi trường kinh doanh luôn biến động nên chuyên gia quản  
trị nhân của doanh nghiệp chịu áp lực rất lớn khi triển khai các phương pháp mới, các mô  
hình mới trong quản trị nhân lực. Để triển khai những điều mới đó, chuyên gia quản trị nhân  
lực phải có lòng dũng cảm, một sự dũng cảm dựa trên sự thành thạo trong công việc, sự ham  
hiểu biết, học hỏi. Sự dũng cảm của chuyên gia quản trị nhân lực sẽ góp phần tạo ra môi  
trường làm việc trung thực cho doanh nghiệp, nhân viên sẽ trung thành hơn, năng suất lao  
động sẽ cao hơn và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ cao hơn.  
Việc đánh giá người lao động và sự đóng góp của họ cho doanh nghiệp luôn là  
một chức năng quan trọng của chuyên gia quản trị nhân lực. Chuyên gia quản trị nhân lực  
không được phạm lỗi hoặc giảm nhẹ vai trò của mình khi thực hiện chức năng này. Điều đó  
đòi hỏi chuyên gia quản trị nhân lực của doanh nghiệp phải có một phẩm chất nữa, đó là sự  
quan tâm đến mọi người. Khi quan tâm đến mọi người, chuyên gia quản trị nhân lực sẽ đưa  
ra những quyết định, những đề xuất chiến lược dựa trên sự hiểu biết đầy đủ về tác động của  
những quyết định, những đề xuất này đối với người lao động như thế nào. Nhờ uy tín cá  
279  
nhân dựa những kết quả đạt được, các kỹ năng cá nhân vững chắc và hiệu quả trong giao  
tiếp, chuyên gia quản trị nhân lực mới có thể đưa ra được những giải pháp tối ưu trên cơ sở  
luôn đảm bảo rằng mọi người lao động được đối xử công bằng và được tôn trọng. Sự quan  
tâm đến mọi người của chuyên gia quản trị nhân lực, việc thay mặt người lao động làm điều  
đúng sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng khả năng giữ chân người lao động, tăng mức độ tham  
gia của người lao động vào việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp để hỗ trợ thực hiện thành  
công chiến lược phát triển doanh nghiệp.  
5. Kết luận  
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra và tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống  
xã hội đất nước, đem đến nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra không ít thách thức cho mỗi doanh  
nghiệp. Để thích ứng và phát triển bền vững trong cơ chế thị trường hội nhập và cạnh tranh  
quyết liệt, các doanh nghiệp Việt Nam cần mạnh dạn đổi mới triết lý quản trị nguồn nhân lực;  
Xây dựng chiến lược nguồn nhân lực thích ứng gắn kết chặt chẽ với các hoạt động khác; Đẩy  
mạnh công tác đào tạo đội ngũ chuyên gia quản trị nhân lực có chất lượng bắt kịp với tác  
động của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0.  
...........................................................................................................................................................  
Tài liệu tham khảo  
Bạch Dương (2017), Năng suất lao động người Việt thua Lào, bằng 7% Singapore, truy cập  
lần cuối ngày 5 tháng 7 năm 2018 từ http://vneconomy.vn/tong-cuc-thong-ke-nang-  
suat-lao-dong-nguoi-viet-thua-lao-bang-7-singapore-20171227161950647.htm  
Báo Lao động thủ đô, 16-7-2017, “32,5% công nhân thường xuyên có bức xúc về nơi làm  
việc”.  
Báo Nhân dân điện tử, 14-11-2017, Hội thảo khoa học “ Nguồn nhân lực và công nghệ cho kỷ  
nguyên số tại Việt Nam”.  
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2016), Đánh giá về cơ hội, thách thức, tác động của  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến lĩnh vực lao động, việc làm ở Việt Nam,  
truy cập lần cuối ngày 5 tháng 7 năm 2018 từ  
Bộ Kế hoạch (2017), Báo cáo điều tra lao động việc làm 2016.  
Guest, D., (1987), Human Resource Management and Industrial Relations, Joournal of  
Management Studies, Volume 24, Issue 5, Page 503-521;  
ILO (2014), Tiền lương khu vực Châu Á-Thái Bình Dương: Phát triển năng động nhưng  
không đồng đều, Báo cáo tiền lương toàn cầu 2014/15.  
ILO & ADB (2014), Asean Community 2015 : Managing integration for better jobs and  
shared prosperity.  
ILO (2016), Asean in transformation, How technology is changing jobs and enterprises  
John M.Ivancevich (2010), Human Resource Management, McGraw-Hill Companies, Inc.  
Michael Losey, Sue Meisinger, Dave Ulrich (2011) , The Future of human respurce  
management, Bản dịch của Nhà xuất bản Thời Đại, Hà Nội.  
280  
Robert S.Kaplan & David P.Norton (2011), Thẻ điểm cân bằng biến chiến lược thành hành  
động, Nhà xuất bản Trẻ, 2011.  
Randall S.Schuler (1992), Strategic Human Resources Management : Linking the People with  
the Strategic Needs of the Business, Organizational Dynamics, Summer 1992, pp 18-  
32.  
Talentnet&Mercer (2017), Tóm lược báo cáo khảo sát lương 2016, truy cập lần cuối ngày 5-  
Tổng cục Thống Kê (2016), Năng suất lao động Việt Nam : Thực trạng và giải pháp.  
Trọng Nhân (2016), WB : Việt Nam xếp 11/12 nước khảo sát về chất lượng lao động,  
Viettimes ngày 16-8-2016, truy cập lần cuối ngày 5-7-2018 từ https://viettimes.vn/.  
VCCI (2017), Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2016.  
VEPR&JICA (2017), Tăng trưởng tiền lương và năng suất lao động ở Việt Nam, Hội thảo  
khoa học, Hà Nội 13-9-2017.  
WB (2017), Việt Nam: tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp vừa và nhỏ.  
281  
pdf 17 trang Thùy Anh 15760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với quản trị nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthach_thuc_cua_cuoc_cach_mang_cong_nghiep_4_0_doi_voi_quan_t.pdf