Giới thiệu về nền kinh tế chia sẻ và định hướng cho Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
GIỚI THIỆU VỀ NỀN KINH TẾ CHIA SẺ
VÀ ĐỊNH HƢỚNG CHO VIỆT NAM
ThS Vũ Thị Thúy Hằng
Đại học Thƣơng Mại
TÓM TẮT
Mô hình kinh tế chia sẻ hay còn gọi là mô hình kinh tế cộng tác là một mô hình ở
giữa sở hữu và tặng quà, trong đó đề cập đến mạng ngang hàng phối hợp với các dịch vụ trực
tuyến dựa vào cộng đồng. Trên thực tế, mô hình kinh tế chia sẻ đã có từ rất lâu, nó khởi điểm
tại Mỹ, ban đầu có tính chất “chia sẻ ngang hàng” nhưng không rõ rệt. Tới năm 1995, khi
Internet lan rộng, mô hình kinh doanh này mới thực sự phát triển. Trong bài viết của mình,
tác giả giới thiệu sơ lược về lý thuyết của kinh tế chia sẻ như các cách hiểu về kinh tế chia
sẻ, đặc điểm, các nguyên tắc cơ bản, phân loại, chu kỳ phát triển, lợi ích, khó khăn và mô
hình thu phí của nền kinh tế chia sẻ. Sau đó tác giả tìm hiểu thực trạng và đánh giá thực
trạng phát triển nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam. Hiệu quả của mô hình này là đẩy mạnh ứng
dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hướng tới xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, hòa nhập với xu hướng phát triển cuộc cách mạnh công nghiệp 4.0 của thế
giới.
Từ khóa: Kinh tế chia sẻ, Tiêu dùng cộng tác, Kinh tế cho thuê, Kinh tế truy cập,
Mạng ngang hàng P2P, Cộng đồng mở
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN NỀN KINH TẾ CHIA SẺ
1.1. Một số cách hiểu về nền kinh tế chia sẻ
Theo từ điển Oxford, kinh tế chia sẻ (sharing economy) là một nền kinh tế mà tài sản
hoặc dịch vụ được chia sẻ miễn phí hoặc mất phí giữa các cá nhân thông qua internet. Nhờ có
kinh tế chia sẻ, mọi người có thể dễ dàng cho thuê xe cộ, căn hộ, thậm chí cả wifi nếu không
sử dụng thường xuyên.
Theo Investopedia, kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh tế trong đó các cá nhân có thể
đi mượn hoặc đi thuê tài sản thuộc sở hữu của người khác. Mô hình kinh tế chia sẻ thường
được sử dụng khi giá của một tài sản nào đó quá cao hoặc tài sản đó không được sử dụng
trong một thời gian dài.
Theo Wikipedia, kinh tế chia sẻ hay còn gọi là tiêu dùng cộng tác (collaborative
consumption, online sharing) là một cụm từ có nghĩa rất rộng, thường sử dụng miêu tả một
nền kinh tế có các hoạt động xã hội liên quan đến các giao dịch trực tuyến. Ban đầu, mô hình
này phát triển theo hướng cộng đồng mở (open-source community) dựa trên mạng ngang hàng
P2P, tập trung chủ yếu vào việc chia sẻ tài sản, sản phẩm, dịch vụ. Hiện nay, thuật ngữ này
được sử dụng theo nghĩa rộng hơn, dùng để miêu tả bất kỳ giao dịch bán hàng nào thông qua
thị trường trực tuyến, chứ không chỉ trong P2P.
Theo Harvard Business Review, kinh tế chia sẻ được hiểu theo nghĩa rộng là nền kinh
tế truy cập (access economy). Khi hoạt động chia sẻ là trung tâm của thị trường, khi doanh
nghiệp đóng vai trò trung gian giữa những người tiêu dùng thì hoạt động này không đơn thuần
là chia sẻ mà thay vào đó, người tiêu dùng phải trả tiền để tiếp cận hàng hóa và dịch vụ của
người khác.
Theo CleverISM, nền kinh tế chia sẻ vẫn là một khái niệm không rõ ràng. Mô hình
kinh tế này là bước phát triển từ mô hình thông thường, không tập trung vào quyền sở hữu mà
tiếp cận theo hướng tài sản hoặc nguồn lực. Mô hình kinh tế chia sẻ giải quyết các vấn đề về
sản xuất, phân phối, tiêu thụ, cung và cầu của hàng hóa và dịch vụ. Mô hình nhấn mạnh vào
khái niệm chia sẻ và ứng dụng của nó đối với các quy trình.
586
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
Theo Belk (2007) kinh tế chia sẻ là hành động và quá trình phân phối những gì chúng
ta cho người khác sử dụng và tiếp nhận hoặc lấy cái gì đó từ người khác để sử dụng. Cũng
theo Belk (2014), hành động chia sẻ có thể bao gồm việc vay mượn một cái gì đó, tặng quà,
chuyển giao quyền sở hữu đối tượng, hoặc trao đổi lẫn nhau. Và, kinh tế chia sẻ bao gồm hoạt
động điều phối việc mua lại và phân phối nguồn tài nguyên với mức phí hoặc những khoản
khác không bằng tiền.
Theo ông Yuhei Okakita, Phó Giám đốc Bộ phận chính sách thông tin kinh tế - Bộ
Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản, kinh tế chia sẻ được hiểu là hoạt động tái thiết
kinh tế, trong đó các cá nhân ẩn danh có thể sử dụng các tài sản nhàn rỗi (bao gồm cả các tài
sản vô hình như kỹ năng cá nhân và thời gian), được sở hữu bởi các cá nhân khác thông qua
các nền tảng kết hợp trên Internet.
1.2. Lịch sử ra đời của nền kinh tế chia sẻ
Khi eBay ra mắt vào năm 1995, thế giới đã chứng kiến sự thay đổi trong cách thức
mọi người tiếp cận với hàng hoá và lưu thông trên thị trường. Sự tiến bộ không ngừng của
công nghệ, đặc biệt những thứ liên kết và tương tác xã hội góp phần vào sự chuyển động
nhanh chóng của hàng hóa và dịch vụ. Công nghệ tăng trưởng nhanh đến nỗi thị trường phải
tìm cách để theo kịp nó.
Khái nệm hoạt động kinh tế trong xã hội chia sẻ (shared social and economic activity)
được đưa ra lần đầu tiên trong cuốn sách “What‟s Mine Is Yours: The Rise of Collaborative
Consumption” xuất bản vào năm 2010 của Rachel Botsman và Roo Rogers. Theo họ, cuộc
cách mạng xã hội yêu cầu các nguồn lực chia sẻ trên nhiều nền tảng để tạo ra hoặc thu được
giá trị đem lại nhiều lợi ích cho cộng đồng. Theo Bostman, nền kinh tế chia sẻ được phát triển
trên nền tảng niềm tin vững chắc. Nếu không tin tưởng, sự hợp tác sẽ không thể thực hiện
được và nền kinh tế chia sẻ sẽ không thành công.
1.3. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản và phân loại nền kinh tế chia sẻ
Việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực là rất quan trọng trong bất kỳ nền kinh tế nào,
dưới đây là một số nguyên tắc cơ bản khi chia sẻ trong nền kinh tế:
- Phải có niềm tin: Bostman đã nhắc về tầm quan trọng của sự tin tưởng trong việc tạo
dựng danh tiếng và xây dựng các mối quan hệ trong một nền kinh tế chia sẻ. Để trao đổi công
bằng, để thành công, các bên giao dịch hoặc trao đổi với nhau phải đáng tin cậy. Một nhà
cung cấp phải có niềm tin người tiêu dùng của mình sẽ trả tiền và ngược lại một người tiêu
dùng phải có niềm tin nhà cung cấp sẽ cung cấp những gì đã được thỏa thuận. Sự bất tín của
bất kỳ bên nào khi tham gia giao dịch sẽ dẫn đến sự thất bại của cả giao dịch.
- Quyền sở hữu: như đã đề cập ở trên, quyền sở hữu không còn bị giới hạn vào việc
phải mua sản phẩm, dịch vụ mà người dùng có thể hưởng thụ lợi ích của một hàng hóa thông
qua việc thuê mướn hoặc mượn nó.
- Không để lãng phí giá trị: giá trị không sử dụng thường được coi là giá trị bị lãng
phí. Trong nền kinh tế chia sẻ, tận dụng tối đa giá trị sử dụng của hàng hóa để tránh nhàn rỗi
và lãng phí tài nguyên.
- Minh bạch và cởi mở: chủ yếu được đề cập khi chia sẻ thông tin, cho phép người
dùng có thể truy cập vào tài nguyên có sẵn.
Kinh tế chia sẻ là một hệ sinh thái kinh tế xã hội (social economic) được xây dựng
xung quanh sự chia sẻ tài sản của con người. Từ các nguyên tắc cơ bản trên, nền kinh tế chia
sẻ được phân loại theo các cấp độ sau:
- Cấp độ đơn giản: các hoạt động diễn ra ngẫu nhiên, không có chủ đích ví dụ chúng
ta được ai đó nhờ làm gì và họ trả cho chúng ta một khoản tiền. Cấp độ này giúp người chia
sẻ có thêm thu nhập nhưng không ổn định.
- Cấp độ thứ nhất: người dùng có một trang mạng xã hội với rất nhiều bạn bè và muốn
tận dụng những tài sản mà hiện chưa sử dụng để sinh lời. Họ kết nối với bạn bè và tìm ra thị
trường cho những tài sản đó.
587
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
- Cấp độ thứ hai: nền kinh tế chia sẻ hình thành qua mô hình của các doanh nghiệp.
Các công ty dạng như Airbnb, Uber…hoạt động dựa trên sự chia sẻ tài sản giữa người dùng
với nhau. Người có nhu cầu đi lại, tìm chỗ ở, thuê tài sản, ăn uống… sẽ tìm trên mạng lưới
một người khác đang có xe, có phòng phù hợp, có tài sản cho thuê, có đồ ăn tự nấu… và
muốn chia sẻ, cho thuê hoặc bán. Doanh nghiệp đứng giữa kết nối hai người sẽ thu một khoản
nhỏ phí nếu hai bên giao dịch thành công. Với người muốn sử dụng dịch vụ, lợi ích là họ sẽ
có thêm rất nhiều lựa chọn phong phú, và thường phải trả chi phí thấp hơn so với dịch vụ của
công ty cho thuê ô tô, khách sạn chuyên nghiệp. Còn người cho thuê tài sản, lợi ích là tăng
thêm thu nhập từ những tài sản ít hoặc không sử dụng tới.
1.4. Các hình thức thu phí trong nền kinh tế chia sẻ
Với các tổ chức và doanh nghiệp khác nhau, nền kinh tế chia sẻ không có một mô hình
duy nhất. Trên thực tế, việc chia sẻ diễn ra linh hoạt, vì vậy các tổ chức và doanh nghiệp có
thể tùy chỉnh quy trình của mình.
Theo PwC tiến hành nghiên cứu vào năm 2014 thì chu kỳ ứng dụng các sản phẩm,
dịch vụ trong nền kinh tế chia sẻ theo 5 giai đoạn là thị trường ngách (niche), đến đột phá
(breakthrough), giai đoạn bình thường hóa (normalised), giai đoạn chín muồi (mature) và cuối
cùng là giai đoạn ổn định, trên đà suy thoái hoặc tái sinh (decline or rebirth) theo hình sau:
Hình 1. Chu kỳ ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế chia sẻ
(Nguồn: Nghiên cứu của PwC công bố năm 2014)
Từ đó có thể hệ thống được một số mô hình thu phí cơ bản trong nền kinh tế chia sẻ
như sau:
- Mô hình phí dịch vụ
Mô hình này là mô hình chia sẻ cơ bản nhất, đòi hỏi tổ chức hoặc công ty hoạt động
như một doanh nghiệp trung gian kết hợp người tiêu dùng hoặc người mua với người bán
hoặc các nhà cung cấp dịch vụ/hàng hóa. Nếu giao dịch thành công thì doanh nghiệp trung
gian sẽ thu một khoản phí nhất định. Hình thức thu phí này xuất hiện ở cả 5 giai đoạn ứng
dụng của nền kinh tế.
Ví dụ: AirBnB đều là mô hình thuê nhà trọ. Nhằm giúp AirBnB nỗ lực hơn trong kết
nối với khách hàng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sẽ thu một phí từ khách đặt phòng từ 6%
đến 12% nếu giao dịch thành công. Và AirBnB cũng thu từ nhà cung cấp dịch vụ phòng/chủ
nhà phí dịch vụ là 3% trên tổng giá.
-
Mô hình Freemium
Mô hình Freemium là mô hình thu phí hoạt động dựa trên nguyên lý miễn phí (free)
các dịch vụ cơ bản để có được nhiều khách hàng thông qua hình thức truyền miệng hoặc tìm
kiếm, sau đó thu phí các tính năng cao cấp (premium). Mô hình Freemium được ứng dụng
nhiều trong lĩnh vực game online và game mobile. Người dùng đăng ký và chơi miễn phí.
Nhưng khi cần mua những đồ giá trị thì phải trả tiền. Mô hình này khác với mô hình dùng thử
588
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
miễn phí (free trial), mô hình freemium là miễn phí một số dịch vụ không thời hạn nên người
dùng có thời gian trải nghiệm để hiểu rõ về giá trị của sản phẩm, dịch vụ, sau đó sẽ suy nghĩ
đến việc nâng cấp khi cần. Tỷ lệ chuyển đổi bình quân vào khoảng 2-5%. Nghĩa là, cứ 100
người dùng thì có 2-5 người dùng chấp nhận bỏ tiền ra nâng cấp dịch vụ. Lợi ích của mô hình
này là chi phí marketing rất thấp, dễ lan truyền nếu dịch vụ tốt, có cơ hội kiếm tiền từ cộng
đồng khi số lượng người dùng tăng mạnh. Nhưng rủi ro với người bán là nếu không tạo ra các
tiện ích phù hợp thì người dùng sẽ không bỏ tiền để nâng cấp, trong khi chi phí để duy trì hệ
thống cơ bản thì lại rất lớn. Hình thức thu phí này xuất hiện ở cả giai đoạn ứng dụng thứ 3,4,5
của nền kinh tế.
Ví dụ: Skype miễn phí các dịch vụ trên internet và thu phí dịch vụ VoIP. Dropbox
miễn phí 2GB dung lượng lưu trữ, sau đó tính phí 9,99$/tháng cho 100GB.
-
Re-cycle and sell
Mô hình này còn gọi là mô hình On-Sale. Trong mô hình này, các công ty mua sản
phẩm dịch vụ của khách hàng, sau đó cải tiến, tái chế và bán lại chúng với giá trị cao hơn.
Ví dụ: Gazelle.com mua điện thoại di động và thiết bị điện tử của khách hàng để tái
chế. Sau đó bán lại nó cho nhóm đối tượng khách hàng khác với mức giá thấp hơn các sản
phẩm mới.
1.5. Lợi ích thu đƣợc từ nền kinh tế chia sẻ
Nền kinh tế chia sẻ có một số lợi ích cơ bản sau:
- Đẩy nhanh sự lưu thông tài nguyên: không chỉ dừng lại ở lưu thông tài nguyên mà
nền kinh tế chia sẻ còn khuyến khích tài nguyên tuần hoàn và luân phiên nhau được sử dụng
cho tới hết chu kỳ sống.
- Tận dụng tối đa các nguồn lực: các sản phẩm theo hình thức chia sẻ trong nền kinh
tế chủ yếu tập trung khai thác những nguồn lực sẵn có trong xã hội. Những nguồn lực này có
thể không sử dụng hoặc đang sử dụng chưa hết công suất. Thông qua nền tảng thông tin, các
nhà kinh doanh tiến hành phân bổ lại nguồn lực cho những người có nhu cầu. Chính vì vậy,
sản phẩm này mang lại lợi ích khá lớn cho quốc gia, cho nhà đầu tư và cho cả người tiêu
dùng. Cũng chính nhờ vào sự chia sẻ của nền kinh tế, mà không còn năng lực nhàn rỗi hay
nguồn lực bị lãng phí. Tài nguyên được tối đa hóa và lãng phí không đáng kể, tiêu dùng được
giảm thiểu, thậm chí loại bỏ được tư hữu.
- Phát triển một nền văn hóa tiêu dùng bằng niềm tin: nền kinh tế chia sẻ nâng tầm
quan trọng của việc xây dựng niềm tin, ngay cả giữa các đối thủ. Khi nền kinh tế được hình
thành trên sự tin tưởng thì người tham gia mô hình hay các bên liên quan cũng sẽ tăng cường
mối quan hệ.
- Tăng biến thể của các sản phẩm dịch vụ: khi sản phẩm dịch vụ ngày càng được chia
sẻ nhiều thì để duy trì tính cạnh tranh, xã hội sẽ khuyến khích các doanh nghiệp hoặc tổ chức
đưa ra nhiều dạng của sản phẩm dịch vụ để người dùng được lựa chọn tốt hơn.
- Đa dạng hóa vai trò cho các tổ chức và doanh nghiệp: trước kia, một doanh nghiệp
có thể chỉ nhận dạng là một nhà cung cấp dịch vụ hay nhà sản xuất. Với nền kinh tế này, vai
trò của doanh nghiệp được mở rộng hơn, đôi khi trở thành những nhà cố vấn đáng tin cậy.
Điều này giúp cho các tổ chức tiến gần hơn với thị trường mục tiêu, hiểu hơn về khách hàng
và thị trường của doanh nghiệp. Ví dụ, AirBnB ban đầu chỉ đơn giản là một đơn vị trung gian
cung cấp dịch vụ nhà trọ. Giờ đây, AirBnB đã đảm nhận thêm vai trò cố vấn, cung cấp các
dịch vụ bổ sung giúp khách hàng lựa chọn tốt nhất và có giá trị nhất khi tìm nhà để thuê.
- Giảm chi phí cho xã hội, giảm ô nhiễm môi trường: do tận dụng được nguồn tài
nguyên có sẵn trong xã hội, các nhà kinh doanh không cần khai thác thêm nguồn tài nguyên
mới, tiết kiệm được chi phí sản xuất. Phát triển mô hình này còn giảm bớt tình trạng xả thải ra
môi trường, làm cho môi trường bớt ô nhiễm hơn.
- Giảm khoảng cách giàu nghèo: sản phẩm dịch vụ theo nền kinh tế chia sẻ thường
phù hợp với những người có thu nhập trung bình và thấp trong xã hội. Đối với những người
chủ sở hữu các nguồn lực sẵn có khi tham gia vào việc cung ứng sản phẩm dịch vụ, thu nhập
589
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
của họ sẽ tăng lên. Đối với những người sử dụng sản phẩm dịch vụ thì có cơ hội tiếp cận với
nhiều loại sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp.
- Tăng cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cho các nhà kinh doanh: dựa trên hệ thống công
nghệ thông tin hiện đại, các nhà kinh doanh có thể cung cấp sản phẩm dịch vụ mà không cần
bỏ ra nhiều chi phí. Với ý tưởng kinh doanh phù hợp, thông qua việc thiết lập nền tảng công
nghệ, doanh nghiệp có thể nắm bắt được nhu cầu “cần” và “có” của thị trường.
- Tăng lợi ích cho người tiêu dùng: dòng sản phẩm dịch vụ theo hình thức chia sẻ với
chi phí thấp và chất lượng không kém các sản phẩm truyền thống. Do đó, người tiêu dùng có
cơ hội thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nhiều hơn. Không chỉ thỏa mãn nhu cầu về số lượng mà
còn mang lại trải nghiệm độc đáo, thú vị.
1.6. Khó kh n khi phát triển nền kinh tế chia sẻ
Bất lợi lớn nhất của nền kinh tế chia sẻ cũng xuất phát từ chính sự chia sẻ. Do đó, nó
gặp phải các khó khăn như sau:
- Tạo áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp truyền thống cung cấp sản phẩm dịch
vụ cùng loại: do tận dụng nguồn lực sẵn có đang lãng phí nên các nhà kinh doanh sản phẩm
dịch vụ chia sẻ tiết kiệm khá nhiều chi phí, theo đó giá cung cấp dịch vụ cũng thấp đi. Điều
này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp kinh doanh truyền
thống.
- Vấn đề về chính quyền: các sản phẩm dịch vụ theo hình thức chia sẻ không phải lúc
nào cũng được các nhà quản lý chấp nhận, đôi khi có thể vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của
chính quyền địa phương.
- Vấn đề bảo mật: rủi ro này liên quan đến yếu tố tin cậy. Nếu một bên không giao
hàng hoặc chấm dứt hợp đồng sẽ có những hậu quả nghiêm trọng cần được giải quyết. Thực
tế việc sử dụng và chia sẻ thông tin trên internet không chỉ là thông tin thanh toán mà còn liên
quan thông tin cá nhân người dùng phải tiết lộ để được tham gia vào thị trường.
- Vấn đề tranh chấp: rủi ro này cao hơn với các doanh nghiệp hoạt động như bên thứ
ba hoặc trung gian trong các giao dịch của bên thứ hai. Các vấn đề liên quan đến hiệu lực bảo
hiểm nếu cướp bóc hoặc các vấn đề hình sự xảy ra, khi đó vai trò của doanh nghiệp trung gian
cần phải được làm rõ ràng. Ví dụ, AirBnB đưa ra chính sách bảo hiểm 50.000 USD nếu có
các hành vi trộm cắp, phá hoại dẫn đến thiệt hại tài sản của các cá nhân tham gia sử dụng dịch
vụ của doanh nghiệp.
II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để phục vụ cho nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu tài
liệu và phương pháp tổng luận ý tưởng (opinion paper) với cách trình bày khá rõ ràng. Để có
được cơ sở lý luận và những số liệu thống kê trên, các tài liệu thứ cấp được sử dụng bao gồm
các công trình nghiên cứu về kinh tế chia sẻ của tác giả nước ngoài, các bài báo đăng tải trên
các trang web, các viết tạp chí kinh tế và các bài viết chia sẻ thông tin của một số chuyên gia
trong nước.
Sau khi thu được cơ sở lý luận một cách đầy đủ và có hệ thống, tác giả tiến hành đánh
giá thực trạng phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam. Đây là một mô hình kinh tế mới, hiện
rất hiếm các số liệu thống kê về hoạt động này tại Việt Nam, nên tác giả sử dụng nghiên cứu
của Nielsen năm 2014.
III. ĐỊNH HƢỚNG CHO VIỆT NAM
3.1. Thực trạng phát triển nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Không đứng ngoài xu thế chung của toàn cầu, một số mô hình kinh tế chia sẻ đã bước
đầu xuất hiện ở Việt Nam. Theo một nghiên cứu của Nielsen vào năm 2014, người tiêu dùng
khu vực Đông Nam Á đang hình thành nhiều cộng đồng kinh doanh theo hình thức chia sẻ tài
sản cá nhân. Khu vực này đón nhận hình thức kinh doanh chia sẻ khá nhanh và hiệu quả.
Người tiêu dùng tại Indonesia đứng thứ 2 và Philippines đứng thứ 4 trên toàn thế giới về việc
thuê hoặc chia sẻ các sản phẩm, dịch vụ từ mô hình kinh doanh này. 87% người tiêu dùng tại
590
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
Indonesia cho rằng họ sẵn sàng tận dụng các sản phẩm và dịch vụ chia sẻ. Tỉ lệ này chiếm
85% tại Philippines, 84% tại Thái Lan, 76% tại Việt Nam, 74% tại Malaysia, 67% tại
Singapore và 66% đối với người tiêu dùng toàn cầu. Singapore là thị trường khó tính nhất với
mô hình kinh doanh này với 32% được hỏi chưa sẵn sàng chia sẻ tài sản cá nhân, ngang bằng
với tỉ lệ trung bình trên toàn thế giới (trong việc chưa sẵn sàng).
Các sản phẩm điện tử là thứ được người tiêu dùng trong khu vực Đông Nam Á sẵn
sàng chia sẻ hoặc thuê nhất. Tại Việt Nam, 42% người tiêu dùng sẽ thuê các sản phẩm điện
tử. Tỉ lệ này ở Indonesia là 37%, Philippines là 33%, ở Thái Lan là 31%, Singapore là 26% ở
và Malaysia là 24% (Nielsen, 2014). Ngoài ra, nhiều nơi còn chia sẻ cả các khóa học, dịch vụ,
xe hơi, thậm chí là xe gắn máy. Sự kết nối giữa những người tiêu dùng với nhau là yếu tố
chính cho mô hình kinh doanh chia sẻ, do đó, mô hình này có thể phát triển ở mức độ cao hơn
trong những năm sắp tới.
Vài năm gần đây, sự xuất hiện và phát triển lớn mạnh của 2 hãng cung ứng dịch vụ
vận chuyển hành khách nổi tiếng trên thế giới là Grab và Uber tại Việt Nam đã “tiếp lửa” cho
sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế chia sẻ ở nước ta. Sự xuất hiện của 2 hãng dịch vụ này
đã khiến cho các hãng vận tải hành khách lớn như Mai Linh, Vinasun, Taxi Group phải lập
tức thay đổi cách vận hành. Tháng 8/2015, Mai Linh giới thiệu ứng dụng di động cho phép
gọi xe taxi không cần thông qua tổng đài. Cuối năm đó, Vinasun cũng nâng cao khả năng
cạnh tranh bằng cách tung ra ứng dụng gọi xe Vinasun. Cùng lúc, hãng này còn công bố dịch
vụ đưa đón bằng đội xe Fortuner, Innova đời mới không có nhãn hiệu hay biển taxi, với hình
thức thanh toán như thông thường. Trong dịp tết Nguyên Đán 2016, Taxi Group cũng tung ra
gói dịch vụ đi ghép xe cho những hành khách đi đường dài nhằm tiết kiệm chi phí cho người
dùng. Tuy nhiên, nhiều khách hàng phàn nàn về chất lượng dịch vụ chia sẻ tại Việt Nam chưa
đảm bảo. Đây là biển hiện thường thấy đối với bất cứ cộng đồng nào khi tiếp xúc với mô hình
kinh doanh mới.
Ngoài các tên tuổi từ nước ngoài như Uber, Grab, Airbnb, tại Việt Nam cũng xuất hiện
rất nhiều các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (start-up) trong nước theo đuổi mô hình này
như Ahamove.com, Jupviec.vn, Commenau.com, Dobody.vn, Fastsell.vn, Timtro.vn,
Dichung.vn, Freelancerviet.vn, EBIV, Loanvi.com,…
3.2. Đánh giá thực trạng phát triển nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
- Ƣu điểm:
Theo Nguyễn Duy Khang (2016), Việt Nam là nơi có lực lượng tiêu dùng trẻ hùng hậu
với sự nhạy cảm về công nghệ, về cái mới. Việt Nam luôn là mảnh đất màu mỡ cho các mô
hình kinh tế tồn tại và phát triển. Trong làng xã, người Việt Nam sống đoàn kết, chia sẻ với
nhau nhiều của cải, chung tay thực hiện nhiều công việc do đó họ sẽ đón nhận mô hình kinh tế
chia sẻ khá dễ dàng. Hơn nữa, Việt Nam là đất nước có môi trường kinh doanh thuận lợi, đảm
bảo hài hòa lợi ích giữa các mô hình kinh doanh, kiểm soát minh bạch về thông tin và một số
vấn đề xã hội khác nảy sinh như lao động, việc làm và an sinh xã hội.
- Nhƣợc điểm:
Tại Việt Nam, mô hình này không có xu hướng chững lại, nhưng chỉ có hiệu quả khi
đạt được số người tham gia đủ lớn để tạo ra giá trị bền vững. Bốn khó khăn chính khi phát
triển mô hình này là (Nguyễn Duy Khang, 2016):
+ Doanh nghiệp truyền thống như taxi, khách sạn cho rằng các doanh nghiệp theo mô
hình kinh tế chia sẻ không đảm bảo dịch vụ của họ đạt tiêu chuẩn, không phải qua kiểm duyệt
nên giá sản phẩm mới rẻ đi. Họ cho rằng đây là cạnh tranh không lành mạnh.
+ Chính quyền đưa ra những quy định cấm đoán, cản trở đối với kinh tế chia sẻ, lập
luận tương tự như doanh nghiệp. Vì kinh tế chia sẻ là một khái niệm mới và nhiều cơ quan
quản lý không quen thuộc với mô hình kinh doanh này. Nhiều công ty kinh doanh chia sẻ
đóng vai trò là những doanh nghiệp trung gian cung cấp nền tảng cho người tiêu dùng hơn là
591
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
cung cấp dịch vụ trực tiếp, do đó phải kiểm soát chất lượng sản phẩm dịch vụ mà các doanh
nghiệp, cá nhân chia sẻ.
+ Thanh toán trực tuyến làm cho người bán/người cung cấp dịch vụ phải trả một
khoản phí cho ngân hàng.
+ Khó khăn khác như khó khăn trong cân bằng cung cầu; khó khăn tới từ niềm tin
người dùng, người dùng chưa quen với việc tin tưởng người khác qua nền tảng công nghệ,
dẫn đến các doanh nghiệp phải để mức bảo hiểm cao; khó khăn với tiếp cận công nghệ. Bên
cạnh đó, có thể thấy nền kinh tế chia sẻ chưa tới được với đối tượng nghèo trong xã hội Việt
Nam - đối tượng không có thứ gì có thể chia sẻ.
3.3. Một số gợi ý cho Việt Nam
Xuất phát từ những lợi ích và khó khăn trên, tác giả gợi ý hướng phát triển cho Việt
Nam như sau:
Thứ nhất, Các nhà quản lý Việt Nam nên sớm đưa ra các quy định, tạo điều kiện cho
kinh tế chia sẻ hoạt động trong tương lai. Xác định quản lý hoạt động kinh tế chia sẻ dựa trên
nguyên lý cung cấp dịch vụ.
Thứ hai, Chính phủ cần nghiên cứu ban hành Luật điều chỉnh và quản lý đối với kinh
tế chia sẻ tại Việt Nam. Làm rõ vai trò và trách nhiệm việc tìm kiếm và trừng phạt các vi
phạm. Các cơ quan chức năng cần xử lý các lo ngại về tăng giá, đóng thuế và minh bạch.
Thứ ba, đối với các chủ thể muốn khởi nghiệp với mô hình kinh tế chia sẻ, cần có
những bước chuẩn bị về nguồn cung, đào tạo nhân lực và xây dựng niềm tin để tạo dựng
thương hiệu. Các doanh nghiệp tham gia vào kinh tế chia sẻ cần nhận biết rõ các rủi ro để
đảm bảo quyền của họ khi tham gia nền kinh tế này.
Thứ tư, cần đảm bảo tính bảo mật tài khoản thanh toán trực tuyến, cả về số lượng và
chất lượng. Khi chưa có sự phát triển mạnh mẽ của internet tại Việt Nam thì không thể có một
nền tảng tốt cho sự phát triển và thành công của kinh doanh chia sẻ.
IV. KẾT LUẬN
Nếu nền kinh tế truyền thống tạo nên một mô hình tập trung về mặt địa lí thì nền kinh
tế chia sẻ lại được duy trì bởi mô hình tập trung về mặt nhu cầu. Con người là trung tâm của
nền kinh tế chia sẻ. Những người tham gia nền kinh tế chia sẻ là các cá nhân, cộng đồng dân
cư, các công ty, tổ chức, hiệp hội, tất cả đều được đặt trong một hệ thống chia sẻ hiệu quả cao
và các đóng góp đều được hưởng lợi từ đó. Có thể thấy, nguyên tắc hoạt động cơ bản của nền
kinh tế chia sẻ là hạn chế mua và sở hữu tài sản, tích cực đi thuê hoặc cho thuê, dùng và trả
tiền theo nhu cầu. Đối với Việt Nam, khó khăn lớn nhất cho sự phát triển của kinh tế chia sẻ
không phải từ hạ tầng và mức độ phổ cập của công nghệ mà đến từ sự e ngại của người dân và
chất lượng dịch vụ. Do đó nếu muốn nền kinh tế chia sẻ phát triển mạnh mẽ tại thị trường
Việt Nam thì các doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up) không thể sao chép y hệt mô hình của
nước ngoài, mà cần có những sáng tạo riêng nhằm phù hợp với tâm lý và thị trường của người
Việt.
592
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Mai Hương Giang, 2015, Một số mô hình của nền kinh tế chia sẻ và vấn đề đặt ra
đối với nhà quản lý, Tạp chí Tài chính và Ngân hàng quốc tế số 5 (Q1), 43-49
[2] Nguyễn Duy Khang, 2016, Giới thiệu nền kinh tế chia sẻ và khả năng phát triển ở
Việt Nam
[3] Nielsen, 2014, Người tiêu dùng Đông Nam sẵn sàng với mô hình kinh doanh
chia sẻ, October 06
TIẾNG ANH
[1] Belk, R. (2014b), You are what you can access: Sharing and collaborative
consumption online, Journal of Business Research, 67(8), 1595–1600.
[2] Botsman, R. (2013), The Sharing Economy Lacks A Shared Definition, Fast
Company, November 21, 2013.
[4] www.pwc.com
OVERALL OF SHARING ECONOMY AND ORIENTATION FOR VIETNAM
ABSTRACT
A sharing economic model is a model in between ownership and gift giving model,
which deals with peer-to-peer collaboration with community-based online services. In fact,
the sharing economic model has existed for a long time, beginning in the United States,
initially with a "peer-to-peer" nature, but not as explicit. In 1995, when the Internet spread,
this business model really developed. In my article, I present briefly the theories of sharing
economics as shared understandings of economics, characteristics, basic principles,
classification, development cycles and fee model of sharing economy. Then I explore and
analyze the development of sharing economy in Vietnam. The effectiveness of this model is
to accelerate the application of advanced science and technology towards national
construction in the direction of industrialization and modernization, integrating with the
development trend of the world's 4.0 industrialization. .
Keywords: Sharing economy, Colloborative comsumption, Freelancer economy,
Access economy, Peer to peer, Open-source community
593
Bạn đang xem tài liệu "Giới thiệu về nền kinh tế chia sẻ và định hướng cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
gioi_thieu_ve_nen_kinh_te_chia_se_va_dinh_huong_cho_viet_nam.pdf

