Giải pháp mở rộng vùng hấp dẫn cảng Hải Phòng theo hướng phát triển các cảng cạn khu vực miền Bắc Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÙNG HẤP DẪN CẢNG HẢI PHÕNG THEO HƢỚNG
PHÁT TRIỂN CÁC CẢNG CẠN KHU VỰC MIỀN BẮC VIỆT NAM.
Th.s Nguyễn Quang Đạt
Khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh, Trƣờng ĐH Hải Phòng.
TÓM TẮT
Ngày nay, năng lực cạnh tranh của cảng là một vấn đề rất quan trọng, đặc biệt trong
bối cảnh container hóa toàn cầu. Trong một cuộc khảo sát được tiến hành giữa các hãng tàu
lớn, chất lượng kết nối nội địa là tiêu chí quan trọng thứ hai đối với khả năng cạnh tranh của
một cảng, chỉ sau các yếu tố về chi phí. Tuy nhiên, các cảng biển dù lớn hay nhỏ đều hay bị
tắc nghẽn ở khu vực kết nối nội địa hay còn gọi là vùng hấp dẫn của cảng.
Các cảng cạn (ICD) kết nối với cảng biển bằng hệ thống đường bộ, đường sắt hoặc
thủy nội địa. Nếu như một hệ thống các ICD có năng lực tốt sẽ hình thành lên mạng lưới gom
hàng cho cảng biển, đồng thời các ICD cũng sẽ là các trung tâm phân phối khi rút hàng khỏi
cảng với hàng hóa nhập khẩu.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mở rộng vùng hấp dẫn cảng Hải Phòng theo hướng
phát triển các cảng cạn khu vực miền Bắc.
Từ khóa: Vùng hấp dẫn, cảng cạn.
1. MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang đến nhanh chóng, trước tiên, sẽ tác
động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất, tạo nên sự thay đổi lớn trong phương thức sản xuất, sự
hội tụ giữa ứng dụng vật lý và ứng dụng kỹ thuật số tạo nên sự xuất hiện Internet vạn vật sẽ
thay đổi nhanh chóng, sâu rộng toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu phát triển đến sản xuất,
logistics đến dịch vụ khách hàng, giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuyển. Trong bối cảnh
đó, các thành phố cảng sẽ có rất nhiều những chuyển biến tích cực và xu thế mở rộng vùng
hấp dẫn của cảng là tất yếu. Cảng Hải Phòng là cảng trọng điểm quốc gia, là đầu mối giao
thông quan trọng. Viêc mở rộng vùng hấp dẫn của cảng Hải Phòng có tính cấp bách và cần
thiết, trong đó, cần chú ý đến giải pháp phát triển các ICD ở miền Bắc Việt Nam, nâng cao
chất lượng dịch vụ vận tải nội địa.
2. NỘI DUNG
2.1. Các khái niệm cơ bản
Vùng hấp dẫn của cảng là một khái niệm trong địa lý vận tải. Hiểu theo nghĩa hẹp thì
vùng hấp dẫn cảng là khu đất thuộc thành phố hoặc cảng từ đó có thể thu hút khách hàng
nhằm cung cấp các dịch vụ đối với hàng hóa qua cảng, còn nghĩa rộng hơn thì vùng hấp dẫn
cảng là nơi mà cảng có thể thu thú được hàng hóa qua cảng.
- Vùng hấp dẫn của cảng được chia làm 02 loại:
- Vùng hấp dẫn chính: nơi mà cảng có vị trí độc quyền thu hút hàng hóa
- Vùng hấp dẫn bên ngoài: là vùng cạnh tranh, nơi có từ 2 cảng cạnh tranh phục vụ
hàng hóa.
Quan niệm của một số nước và các tổ chức quốc tế Trên thế giới hiện nay có nhiều
cách gọi khác nhau: Inland Container Depot, Inland Clearance Depot, Inland Port, Dry Port,
Intermodal Terminal.... và cách gọi tắt hay tên viết tắt vì vậy cũng rất đa dạng: ICD, ID, DR,
IT.... Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) sử dụng tên tiếng Anh
là Inland Container Depot, tiếng Việt có nghĩa là “Cảng container nội địa”; một số nước lại sử
dụng là Inland Clearance Depot, tiếng Việt có nghĩa là “Địa điểm thông quan nội địa”, cả hai
đều viết tắt là ICD. Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc
(ESCAP) lại sử dụng tên Dry port (cảng khô, cảng cạn). ESCAP cũng dẫn chiếu nhiều nguồn
tham khảo và đưa ra một định nghĩa như sau: Một cảng cạn cung cấp dịch vụ cho việc xếp dỡ
270
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
và lưu giữ tạm thời các loại hàng hóa bằng container, hàng bách hóa và/hoặc hàng rời đến
hoặc rời cảng cạn bằng bất kỳ phương thức vận tải nào gồm đường bộ, đường sắt, đường thuỷ
nội địa, đường hàng không. Cảng cạn phải đảm bảo luôn sẵn sàng cung cấp dịch vụ hải quan
đầy đủ và các dịch vụ cần thiết khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu. Mặc
dù còn có một số khái niệm hay cách gọi tên khác nhau về cảng cạn, nhưng xét về bản chất và
chức năng hoạt động có thể sử dụng định nghĩa chung về cảng cạn như sau: “Cảng cạn là một
khu vực/công trình kết nối đa phương thức vận tải nằm trong nội địa, cung cấp dịch vụ xếp
dỡ, lưu kho tạm thời và làm thủ tục hải quan cho hàng container, kết nối bằng các phương
thức vận tải khác nhau tới cảng biển. Mục đích chính của cảng cạn là phát huy hiệu quả của
vận tải container nội địa đối với vận tải đa phương thức quốc tế. Cảng cạn cũng có thể tạo ra
lợi ích tiết kiệm chi phí khi làm tăng tỉ lệ container hóa. Thủ tục hải quan có thể được hoàn
tất tại cảng cạn và các công ty vận tải thường chỉ phát hành một vận đơn cho hàng hoá được
vận chuyển từ cảng cạn của một nước đến cảng biển hoặc 1 địa điểm nào đó ở nước khác”.
2.2. Thực trạng
Với kim ngạch xuất nhập khẩu tăng cao hàng năm, đặc biệt sau khi Việt Nam chính
thức tham gia vào các hiệp định thương mại thế giới và các tập đoàn sản xuất, xuất nhập khẩu
lớn như Samsung, Bridgestone, LG...chuyển dần dây chuyền công nghệ sản xuất về Việt
Nam, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam được dự báo sẽ duy trì
được tốc độ tăng trưởng khá ở mức 10,6% trong giai đoạn 2016-2020 và 5,5% trong 10 năm
tiếp theo. Nhóm cảng phía Bắc và cảng Đông Nam Bộ là 2 khu vực sầm uất nhất cả nước.
Nhóm cảng phía Bắc, khu vực chính là Hải Phòng được kỳ vọng sẽ tăng trưởng với tốc độ 7%
hàng năm tới năm 2020 và 6% tới năm 2030.
Hàng hóa thông qua cảng biển ngày càng tăng với tốc độ ổn định. Tổng lượng hàng
qua cảng biển năm 1995 mới đạt 37,7 triệu tấn, trong đó hàng container đạt 3,4 triệu tấn (316
nghìn TEU) chiếm 9%, đến năm 2015 đạt 427,8 triệu tấn trong đó hàng container đạt 126,3
triệu tấn (11,5 triệu TEU) chiếm 29,5 %. Tốc độ tăng trưởng bình quan giai đoạn 1995-2015
đạt 19%/năm; Trong 20 năm, khối lượng container thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam đã
tăng gấp 20 lần.
Trong xu thế container hóa ngày một mạnh mẽ, các cảng container ngày càng có vai
trò quan trọng và đặt ra yêu cầu phải phát triển phù hợp với nhu cầu của thực tiễn. Có rất
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển cảng container như vị trí địa lý, quản lý hoạt động
cảng, chi phí và các khoản thu khác...trong đó, đặc biệt, vùng hấp dẫn là một yếu tố không thể
thiếu, đóng vai trò quyết định tới sự phát triển của cảng container, vì nơi này cung cấp nguồn
hàng hóa cho cảng container và đây cũng là nơi tiêu thụ nguồn hàng hóa thông quả cảng rất
lớn. Khu v ực này càng năng động, càng phát triển thì hoạt động của cảng biển càng trở nên
tấp nập vì cung cấp và nhận thông qua cho khu vực này một lượng hàng hóa rất lớn. Điều này
phản ánh một mối quan hệ 2 chiều rất rõ ràng và mật thiết, đó là:
Kinh tế của vùng hấp dẫn phát triển mạnh và nhu cầu xuất nhập hàng hóa lớn thì cảng
phục vụ cho khu vực này sẽ hoạt động tấp nập, sôi động; ngược lại nếu cảng tổ chức tốt các
hoạt động của mình để thông qua hàng hóa nhanh chóng mau lẹ thì thời gian lưu thông của
hàng hóa sẽ được rút ngắn đáng kể, điều này giúp cho nhu cầu lưu thông hàng hóa của khu
vực vùng hấp dẫn được đáp ứng tốt và góp phần phát triển hơn nữa về tiềm lực kinh tế của
miền này.
Như vậy, sự phát triển về cả kinh tế lẫn quy mô về lãnh thổ của vùng vùng hấp dẫn
của cảng container có ảnh hưởng rất lớn đến sự hưng thịnh, sôi động của cảng container và
những hoạt động của cảng cũng tác động ngược trở lại đối với sự phát triển của vùng hấp dẫn
này.
Thêm vào đó, trong quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020,
định hướng đến năm 2030, Chính phủ nhấn mạnh việc Phát triển đồng bộ giữa cảng biển với
mạng lưới kết cấu hạ tầng sau cảng, giữa kết cấu hạ tầng cảng biển với kết cấu hạ tầng công
cộng kết nối với cảng biển. Đặc biệt chú trọng đảm bảo sự kết nối liên hoàn giữa cảng biển
271
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
với mạng lưới giao thông quốc gia và hệ thống các cảng cạn, trung tâm phân phối hàng hóa,
đầu mối logistics ở khu vực. Có thể nói, phát triển vùng hấp dẫn các cảng container khu vực
Hải Phòng là một vấn đề đang được Chính phủ và chính quyền các cấp hết sức quan tâm.
Thực tế, chất lượng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam có cải thiện, song chưa đáng kể. Ở khu
vực phía Bắc, hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng container qua đường biển chủ yếu
qua khu vực Hải Phòng và Quảng Ninh. Gồm có 4 hành lang chính kết nối với cảng biển:
- Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng
- Ninh Bình – Hải Phòng – Quảng Ninh
- Hà Nội – Thái Nguyên
- Hà Nội – Lạng Sơn
Vận chuyển container trên các hành lang miền Bắc n m 2015
Khối lƣợng
(1000 TEU)
Phƣơng thức
TT
Hành lang vận tải
vận tải
Đầu
Cuối
Đường bộ, săt,
thủy nội địa
1
Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai
2845
110
2
3
4
5
Ninh Bình – Hải Phòng – Quảng Ninh
Hà Nội – Thái Nguyên
Đường bộ
Đường bộ, sắt
Đường bộ, sắt
Đường bộ
102
616
378
110
67
110
35
Hà Nội – Lạng Sơn
Bắc Ninh – Quảng Ninh
177
Nguồn: Cục hàng hải Việt Nam
Phương thức vận tải chính đi/đến cảng biển ở khu vực phía Bắc chủ yếu sử dụng
đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa chiếm rất ít. Trên 95% lượng hàng container đi và
đến cảng biển hiện nay được vận tải bằng đường bộ, (đường sắt chỉ chiếm khoảng gần 5% và
đường sông hầu như không đáng kể). Hiện tại cảng Hải Phòng là cảng biển duy nhất kết nối
với đường sắt và luồng hàng container đi/đến cảng được vận chuyển trên hành lang Lào Cai -
Hà 14 Nội - Hải Phòng. Năng lực thông qua của tuyến Yên Viên - Lào Cai 11 đôi tàu hàng/
ngày đêm, tuyến Gia Lâm - Hải Phòng 5 đôi tàu hàng/ ngày đêm. Đối với vận tải thủy nội địa
miền Bắc mới chỉ có tuyến Hải Phòng - Việt Trì vận tải hàng container (đưa vào khai thác từ
đầu năm 2015), với 3 sà lan tự hành (đẩy) có trọng tải xếp từ 28 - 36 TEU, mỗi tuần 3 chuyến
với giá cước khoảng 2,5 triệu đồng/TEU. Các vấn đề còn tồn tại, khó khăn khi vận chuyển
container trên các hành lang phía Bắc kết nối với các cảng biển: - Vận tải trên hành lang còn
chưa hợp lý, tỷ trọng vận tải bằng đường bộ trên hành lang vẫn lớn. Đặc biệt là vận tải
container chặng từ Hải Phòng đến Lào Cai (đường bộ chiếm trên 72%, đường sắt chiếm 27%,
ĐTNĐ chiếm dưới 1%). Vận tải đa phương thức hiện nay trên hành lang vẫn kém phát triển,
thiếu sự phối hợp liên kết giữa các doanh nghiệp vận tải. Các doanh nghiệp vận tải lớn trong
ngành chưa chủ động liên kết với các doanh nghiệp vận tải đường ngắn, làm việc với các chủ
hàng để đề xuất các phương án vận tải hợp lý vận tải từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Giảm
giá thành vận tải và tạo thuận lợi cho các chủ hàng.
- Năng lực vận tải của các tuyến sông còn nhiều hạn chế, chủ yếu khai thác tự nhiên,
theo mùa. Hiện nay ở miền Bắc duy nhất chỉ có cảng của công ty trách nhiệm hữu hạn Hải Linh
(Phú Thọ) có 157m bến bốc xếp container nhưng đây không phải cảng chuyên dùng cho
container mà còn có 228m bến làm hàng tổng hợp. Công ty cũng mới đưa vào khai thác tuyến
Hải Phòng - Việt Trì từ đầu năm 2015 và đang trong giai đoạn thử nghiệm để tìm ra những yếu
tố có lợi nhất nhằm giảm cước cho các chủ hàng.
- Năng lực xếp dỡ tại các ga chính trên tuyến còn hạn chế, đặc biệt là xếp dỡ hàng
container (trong 12 ga được phép vận chuyển container chỉ có 3 ga Hải Phòng, Yên Viên, Lào
272
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
Cai có thiết bị bốc xếp container). Ngoài ra, cơ sở hạ tầng đường sắt quá cũ, lạc hậu, thiếu toa
xe chở container dẫn đến tình trạng khan hiếm toa xe và nguy cơ xảy ra mất an toàn giao
thông.
Trên toàn quốc hiện có 21 cảng cạn, tập trung tại miền Bắc và miền Nam. (miền Trung
chưa có cảng cạn). Trong đó chỉ có 5 cảng cạn được Bộ Giao thông vận tải công bố theo quy
chế hoạt động cảng cạn ban hành theo Quyết định số 47/2014/QĐ-TTg ngày 27/8/2014 của
Thủ tướng Chính phủ là: cảng cạn (ICD) Phúc Lộc, tỉnh Ninh Bình (Quyết định số 584/QĐ-
BGTVT ngày 11/02/2015); cảng cạn Hải Linh (Quyết định số 1617/QĐ-BGTVT ngày
17/5/2015); cảng cạn Km3+4 Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (Quyết định số 3882/QĐ-BGTVT
ngày 30/10/2015); cảng cạn Tân Cảng Nhơn Trạch (công bố ngày 04/02/2016) và cảng cạn
Tân cảng Hải Phòng (Quyết định số 1456/QĐ-BGTVT ngày 12/5/2016). Do trước thời điểm
tháng 8/2014, khi Quy chế quản lý hoạt động cảng cạn chưa được Thủ tướng Chính phủ ban
hành, chúng ta còn thiếu cơ sở pháp lý để quản lý cảng cạn từ việc phân định cơ quan quảnlý,
việc quy hoạch, cấp phép đầu tư, quản lý hoạt động khai thác cũng như công bố thành lập
cảng cạn. Vì vậy, các cảng cạn được hình thành trước thời điểm này (chiếm đa số) chủ yếu là
phát triển từ các cảng thông quan nội địa theo quy định của hải quan. Cảng thông quan nội địa
là cấp đơn vị hải quan có chức năng đầy đủ nhất mà phía Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan
cấp cho một “địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu” và theo quy định hiện hành thì
chỉ cấp cho cảng nội địa do Bộ GTVT quy hoạch. Chỉ cảng thông quan nội địa mới được coi
là cửa khẩu hải quan và hàng hoá được chuyển cửa khẩu từ cảng biển về đây với thủ tục đơn
giản nhất. Mặc dù chưa được công bố chính thức là cảng cạn nhưng các cảng thông quan nội
địa được hình thành trước tháng 8/2014 đều đã đi vào hoạt động ổn định và trên thực phần lớn
đã phát triển thành các cảng cạn với các chức năng cơ bản. Một số ít các cảng cạn được công
bố chính thức thì đều đang còn trong giai đoạn hoàn thiện hoặc mới đi vào hoạt động nên khối
lượng hàng hoá thông qua 21 chưa nhiều. Vì vậy, các cảng cạn chính thức được công bố lại
chưa phát huy được vai trò của cảng cạn, trong khi các cảng thông quan nội địa (các cảng cạn
chưa chính thức) lại phát huy khá tốt vai trò này. Về tên gọi, hiện nay có nhiều điểm dễ gây
nhầm lẫn:
+ Cảng cạn, hay cảng container nội địa, có tên tiếng Anh là Inland Container Depot
được viết tắt là ICD.
+ Cảng thông quan nội địa có tên tiếng Anh là Inland Clearance Depot, cũng viết tắt
là ICD. Theo quy định hiện hành (có hiệu lực từ 8/2014) thì cảng cạn cũng đông thời là cảng
thông quan nội địa và ngược lại. Các dịch vụ và khu chức năng của cảng cạn khá tương đồng
với các trung tâm logistics. Trong đó, các cảng cạn miền Nam có hệ thống kho, bãi chứa
container, cầu cảng, các trang thiết bị bốc xếp và phương tiện vận tải đa dạng, phong phú và
hiện đại hơn so với miền Bắc.
Hiện có 10 ICD kết nối với cảng biển Hải Phòng, nằm trên địa bàn Hà Nội (cảng cạn
Gia Thụy, cảng cạn Mỹ Đình), Phú Thọ (cảng cạn Thụy Vân, cảng cạn Hải Linh), Hải Dương
(cảng cạn Hải Dương), Bắc Ninh (cảng cạn Tiên Sơn), Lào Cai (cảng cạn Lào Cai); Ninh
Bình (cảng cạn Phúc Lộc), Nam Định (cảng cạn Hòa Xá), Quảng Ninh (cảng cạn Móng Cái).
Khoảng cách bình quân từ các ICD đến cảng Hải Phòng là 120 km; gần nhất là cảng cạn Hải
Dương với 50 km, xa nhất là cảng cạn Lào Cai với 400 km; Duy nhất cảng cạn Lào Cai có kết
nối đường sắt; cạng cạn Phúc Lộc kết nối với đường thủy nội địa các cảng cạn còn lại chỉ có
đường bộ; Tổng diện tích các ICD khoảng 70 ha; Diện tích của các cảng cạn tại miền Bắc phổ
biến nhỏ hơn 10 ha, nhỏ nhất là 1ha (ICD Gia Thụy) và chỉ có 3 cảng cạn lớn hơn 10 ha; phần
lớn không có khả năng mở rộng ở vị trí hiện tại. Tổng lượng container thông qua các ICD
bình quân khoảng dưới 50.000 TEUs/năm, khoảng 0,2% lượng container qua cảng Hải Phòng.
ICD Tiên Sơn hiện có lượng hàng thông qua lớn nhất với 7.000 TEU/tháng.
Các ICD tại miền Bắc được đánh giá là số lượng còn ít, diện tích và quy mô khai thác
nhỏ, một số chưa có các trang thiết bị xếp dỡ chuyên dụng. Hiện chủ yếu chỉ sử dụng đường
bộ, mới có 1 cảng kết nối với đường sắt và 1 kết nối với đường sông. Phạm vi khai thác còn
273
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
hạn chế, chủ yếu chỉ cung cấp dịch vụ vận tải đường bộ, cho thuê kho bãi và một số dịch vụ
có liên quan. Hiệu quả về chi phí vận tải từ kho chủ hàng tới cảng biển còn thấp, chưa có sự
gắn kết chặt chẽ giữa các cảng biển và các công ty vận tải biển. Đánh giá đặc điểm mạng lưới
cảng cạn phía Bắc:
*Có xu hướng cách xa cảng biển.
Dần hình thành trên các hành lang vận tải container chính;
Chủ yếu chỉ kết nối bằng đường bộ;
Chưa tạo được hiệu quả vận tải rõ rệt giữa cảng biển và nguồn hàng;
Quy mô còn nhỏ, chủ yếu dưới 10ha;
Hiệu quả kinh doanh khai thác chưa cao;
Chưa được quy hoạch phát triển hợp lý.
3. KẾT LUẬN
Hải Phòng - cửa ngõ kết nối Việt Nam với thế giới, sẽ trở thành một trung tâm
logistics quốc gia trong tương lai gần và mang tầm khu vực trong dài hạn sau khi giải quyết
các vấn đề về cơ sở hạ tầng và thủ tục hành chính. Như vậy, mở rộng vùng hấp dẫn của cảng
container khu vực Hải Phòng theo hướng phát triển các cảng cạn khu vực miền Bắc đóng vai
trò hết sức quan trọng trong việc thu hút hàng hóa đến cảng. Từ thực trạng của các cảng cạn
khu vực miền Bắc, có thể đề xuất một số giải pháp sau:
- Các vị trí cảng cạn được quy hoạch có thể quy hoạch chi tiết thành các cụm hoặc
nhóm một số cảng cạn thành phần nhưng vẫn đảm bảo về tổng quy mô diện tích và năng lực
thông qua.
- Tận dụng tối đa sự hợp lý và ưu điểm của các cảng cạn hiện có. Sẽ từng bước chuyển
đổi công năng hoặc di dời các cảng cạn không đáp ứng yêu cầu ra vị trí quy hoạch mới trên cơ
sở bảo đảm các lợi ích của doanh nghiệp cũng như không gián đoạn hoặc ảnh hưởng lớn đến
việc tổ chức vận tải giữa cảng biển và nguồn hàng hóa.
- Phối hợp và tận dụng tối đa các nguồn lực để hình thành một số cảng cạn kết hợp với
phát triển các trung tâm logistics theo Quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Bổ sung thêm một số cảng cạn trên các hành lang kết nối giao thông vận tải ASEAN
để đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
274
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Đặng Công Xưởng, Trường đại học Hàng Hải Việt Nam (2016), Đề xuất hướng
mở rộng vùng hấp dẫn đối với khu vực cảng biển phía Bắc Việt Nam
2. Nguyễn Văn Sơn, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Tổ chức và khai thác cảng
3. Quyết định 1037/QĐ-TTg ngày 25 tháng 6 năm 2014.
4. Đề án quy hoạch chi tiết phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam giai đoạn đến năm
2020, định hướng đến năm 2030
Tiếng Anh
1. Department of Transport and Regional Economics - University of Antwerp (2010),
Some effects of hinterland infrastructure pricing on port competitiveness: case of antwerp.
2. Anming ZHANG, Sauder School of Business University of British Columbia
Vancouver (2008), The Impact of Hinterland Access Conditions on Rivalry between Ports.
SOLUTION TO EXPAND HINTERLAND HAIPHONG PORT IN THE DIRECTION
OF DEVELOPMENT INLAND CLEARANCE DEPOT IN NORTHERN VIETNAM
ABSTRACT
Today, the competitiveness of the port is a very important issue, especially in the context of
global container. In a survey was conducted between large carriers, the quality of local connections
is the second most important criterion for the competitiveness of a port, behind only the cost factor.
However, ports are large or small or congested areas in inland connections, also known as the
attractiveness of the port.
The dry ports (ICDs) connected to the system port by road, rail or inland waterway. If
such a system capable of ICD good will to form feeder network for seaports, while the ICD
would also be the distribution center when withdrawing goods from the port to import goods.
On this basis, the article proposed to expand the port of Haiphong attractive towards
the development of dry ports in the North.
Keyword: Hinterland port, ICD.
275
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp mở rộng vùng hấp dẫn cảng Hải Phòng theo hướng phát triển các cảng cạn khu vực miền Bắc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_phap_mo_rong_vung_hap_dan_cang_hai_phong_theo_huong_pha.pdf

