Tài sản thương hiệu và giá trị chuỗi nhuợng quyền thương mại trong lĩnh vực F&B tại thành phố Hồ Chí Minh

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
TÀI SẢN THƯƠNG HIỆU VÀ GIÁ TRỊ CHUỖI NHUỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI  
TRONG LĨNH VỰC F&B TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
BRAND EQUITY AND VALUE CHAIN OF FRANCHISING IN F&B IN HO CHI MINH CITY  
Cao Minh Trí, Nguyễn Thị Diệu Linh  
Trường ĐH Mở TP.HCM  
Tóm tắt  
Mục đích của nghiên cứu này là nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của tài sản thương hiệu đến chuỗi giá  
trị nhượng quyền, từ đó đề xuất các hàm ý phù hợp cho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả trong lĩnh vực  
F&B tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu vận dụng kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng theo 3 giai  
đoạn: nghiên cứu định tính (05 chuyên gia và 10 quản lý), nghiên cứu định lượng sơ bộ (30 đáp viên) và nghiên  
cứu định lượng chính thức (300 đáp viên). Kết quả nghiên cứu cho thấy liên tưởng thương hiệu, nhận biết thương  
hiệu, trung thành thương hiệu có tác động trực tiếp, cùng chiều đến các hoạt động chính của chuỗi giá trị nhượng  
quyền thương mại như hoạt động bán hàng và dịch vụ khách hàng, hoạt động marketing thị trường đầu ra, hoạt  
động sản xuất và tác nghiệp, hoạt động chuyển giao; trong khi đó, chất lượng cảm nhận không có mối quan hệ có  
ý nghĩa với các hoạt động chính của chuỗi nhượng quyền thương mại, mặt khác đối với hoạt động marketing thị  
trường đầu ra, chất lượng cảm nhận còn có tác động ngược chiều.  
Từ khóa: Chuỗi giá trị, F&B, nhượng quyền, tài sản thương hiệu, thành phố Hồ Chí Minh.  
Abstract  
The research objectives were to identify the effect of brand equity on value chain of franchising, then give  
some suggestions for enterprises to be successful in F&B in Ho Chi Minh City. This research used both qualitative  
and quantitative research methods in 3 phases: qualitative (5 experts and 10 managers), pilot quantitative (30  
respondents) and final quantitative (300 respondents). The results showed that brand association, brand  
awareness, brand loyalty had directly and positively effect on primary activities of value chain of franchising such  
as sales and customer service, marketing, operation and transferring; meanwhile, perceived quality did not have  
the meaningful relationship to these activities, but had negatively effect on marketing.  
Keywords: Value chain, F&B, franchising, brand equity, Ho Chi Minh City.  
1. Sự cần thiết của nghiên cứu  
Trong những năm gần đây, nhượng quyền thương mại trở thành một hình thức kinh doanh  
được lựa chọn nhiều nhất để khởi nghiệp, phát triển hay mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh  
nghiệp. Đây là việc xuất khẩu mô hình và thương hiệu thay vì xuất khẩu hàng hóa, đóng góp rất lớn  
vào sự chuyển đổi kinh tế sản xuất sang kinh tế dịch vụ, kinh tế tri thức với giá trị xuất khẩu cao hơn  
nhiều lần. Do đó nhượng quyền thương mại được xem là mô hình kinh doanh chủ đạo để doanh nghiệp  
vươn ra thị trường thế giới.  
Tại Việt Nam hoạt động nhượng quyền bắt đầu vào giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, mãi đến  
năm 2005 thì mới chính thức được đề cập trong Luật thương mại (điều 284) và bắt đầu phổ biến hơn từ  
khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007. Khi hành lang pháp lý vận  
hành hoạt động của các doanh nghiệp trong nước được cải thiện, mang chuẩn quốc tế và tạo nhiều điều  
kiện hơn cho các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam thì hàng loạt các thương hiệu nổi  
tiếng xuất hiện đến từ các quốc gia như Mỹ, Úc, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,  
Hồng Kong thuộc các lĩnh vực khác nhau gồm thức ăn nhanh, giải khát, nhà hàng, giáo dục,… Theo  
thống kê của Bộ Công Thương, tính đến tháng 12/2018, đã có đến 213 thương hiệu nước ngoài nhượng  
quyền vào Việt Nam thuộc nhiều ngành kinh doanh khác nhau, trong đó có tới 40% là các thương hiệu  
chuyên về thực phẩm và đồ uống (F&B- Food and Beverage) với các tên tuổi lớn như Coffee Club  
(Úc) là cửa hàng bán lẻ thực phẩm và đồ uống có nhãn hiệu The Coffee Club; Ten Ren Tea (Đài Loan)  
904  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
kinh doanh đồ uống không cồn nhãn hiệu Cha For Tea; Dining Innovation Asia – Pacific Ptd Ltd  
(Singapore) kinh doanh chuỗi nhà hàng BBQ và Shabu Sabu Nhật Bản; C&C Cavin Co., Ltd (Thái  
Lan) với chuỗi nhà hàng mang thương hiệu Mays Urban Thai Dine,…  
Tuy nhiên, khi thương hiệu ngoại đến Việt Nam nhượng quyền đã lên đến hàng trăm thì thương  
hiệu Việt chỉ mới chiếm thiểu số trong thị trường nhượng quyền; trong đó, một số nhượng quyền thành  
công có thể kể đến là Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô Bakery, Cộng cà phê… Nguyên nhân chính là  
đa số doanh nghiệp hoạt động với mô hình nhỏ lẻ, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý và lúng túng  
trong việc xây dựng chiến lược nhượng quyền (Phạm Thị Quỳnh Vân, 2015). Kết quả là dẫn đến  
những xung đột, tranh chấp về quyền lợi của các bên khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại.  
Trong khi đó, các nước đã phát triển như Mỹ, Canada, Tây Âu, Nhật, Úc… tập trung phát triển  
kinh tế dịch vụ với hình thức kinh doanh nhượng quyền. Có nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng,  
bất kỳ ngành nghề nào cũng có một chuỗi giá trị từ đầu vào đến đầu ra, bắt đầu từ nguyên vật liệu thô,  
kết thúc bằng mô hình và dịch vụ cung cấp sản phẩm đã hoàn thành đến tay người tiêu dùng. Trong  
hành trình tạo ra các giá trị đó, khi dịch chuyển càng gần đến người tiêu dùng thì giá trị cộng hưởng tạo  
nên giá trị sản phẩm càng lớn, lợi nhuận kinh doanh càng cao. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về  
chuỗi giá trị, như lĩnh vực sản xuất đã được nghiên cứu hơn ba mươi năm (Porter, 1985), còn chuỗi giá  
trị dịch vụ thì chỉ thực sự được phát triển từ năm 2006 (Gabriel, 2006). Bên cạnh các nghiên cứu về  
từng chuỗi giá trị đơn lẻ thì cũng đã có một số nghiên cứu so sánh hoặc áp dụng cả hai mô hình chuỗi  
giá trị trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Tuy nhiên, rất hiếm để tìm thấy những nghiên cứu về chuỗi  
giá trị trong những ngành kết hợp giữa lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, trong đó có thể kể đến chuỗi giá trị  
nhượng quyền thương mại, đặc biệt là trong lĩnh vực F&B. Tại Việt Nam, tính đến thời điểm nhóm tác  
giả thực hiện đề tài này thì chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Điều này có thể lý giải bởi sự phát  
triển của ngành nhượng quyền tại nước ta còn khá mới.  
Theo Công ty Brand Finance (chuyên định giá thương hiệu hàng đầu thế giới), giá trị thương  
hiệu thường chiếm khoảng 47% tổng giá trị doanh nghiệp ở các nước trên thế giới. Còn ở Việt Nam,  
con số này không tính được vì không nằm trong bảng cân đối kế toán, sổ sách theo dõi sự biến động  
của tài sản không có tài sản vô hình là thương hiệu của doanh nghiệp; vì vậy, khi thực hiện mua bán,  
sáp nhập, nhượng quyền,… các doanh nghiệp Việt Nam bị mất một phần tài sản (Báo Vietnam.net).  
Đa phần các doanh nghiệp nội ít đầu tư xây dựng, bảo vệ tài sản thương hiệu lâu dài, mà xu thế người  
tiêu dùng hiện nay thì lựa chọn sản phẩm theo thương hiệu do dễ dàng tiếp cận với thông tin và sẵn  
sàng chi nhiều tiền hơn để trải nghiệm một thương hiệu lớn, nổi tiếng. Trước điều kiện thị trường như  
vậy, nếu thương hiệu Việt Nam bỏ quên tài sản vô hình của mình thì khó mà cạnh tranh được. Do đó,  
nếu nói phát triển kinh doanh bằng tài sản thương hiệu thì nhượng quyền chính là mô hình khai thác  
triệt để nhất. Cái mà đối tác nhận quyền mua, ngoài quy trình và hệ thống vận hành, chính là niềm tin  
vào sự phát triển của một thương hiệu. Như vậy, luận về việc nâng cao giá trị doanh nghiệp nói chung  
hay khai thác tài sản để phát triển kinh doanh nói riêng, thương hiệu chính là tài sản quý giá nhất của  
một hệ thống nhượng quyền. Đối với người tiêu dùng, chỉ có một quan hệ chung là tương tác giữa  
thương hiệu và người bỏ tiền ra để mua một lời hứa, một sự cam kết từ thương hiệu và lời hứa đó, sự  
cam kết đó phải được thực hiện ở bất kỳ chi nhánh nào trong hệ thống.  
Chính vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của tài sản  
thương hiệu đến chuỗi giá trị nhượng quyền, từ đó đề xuất các hàm ý phù hợp cho các doanh nghiệp  
kinh doanh hiệu quả trong lĩnh vực F&B tại thành phố Hồ Chí Minh.  
2. Cơ sở lí luận  
2.1. Khái niệm  
Trong lĩnh vực F&B, quyền thương mại là một tập hợp quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí  
tuệ liên quan tới nhãn hiệu, tên thương mại của đồ ăn, thức uống, biển hiệu cửa hàng, các bí quyết  
hoặc giải pháp kinh doanh được ứng dụng trong quá trình tạo ra và bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch  
vụ tới khách hàng cuối cùng.  
905  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Theo các nghiên cứu trên thế giới, nhượng quyền thương mại được tiếp cận dưới nhiều góc nhìn  
khác nhau. Đó là mối quan hệ hợp đồng mà trong đó bên nhượng quyền cấp quyền sử dụng nhãn hiệu  
của doanh nghiệp, chương trình tiếp thị và cơ chế quản trị điều hành cho bên nhận quyền, cho phép bên  
nhận quyền có thể tiến hành nhượng quyền thương mại của riêng mình trong một thời gian nhất định và  
tại một địa điểm cụ thể (Raab và Matusky, 1987; Vaughn, 1979). Hoặc hướng tiếp cận khác cho rằng,  
các bên nhượng quyền và nhận quyền chia sẻ khoản mục về đầu tư và lợi nhuận (Sherman, 1993;  
Spinelli và Birley, 1996) hay nhượng quyền thương mại giúp xác định mô hình kinh doanh mà nhà nhận  
quyền cung cấp một dịch vụ đáng giá cho khách hàng (Price, 1997; Stanworth, 1999).  
Tại Việt Nam, Luật Thương mại năm 2005 có nêu rõ tại Điều 284 Mục 8 Chương VI rằng  
nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu  
bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hai (02) điều kiện.  
Thứ nhất, việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh  
do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh  
doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền. Thứ hai, bên  
nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh  
doanh. Tuy nhiên, cách hiểu như trên dường như chưa đầy đủ. Trong thực tế, nhượng quyền thương  
mại chủ yếu được xác định trong các điều khoản của thỏa thuận kinh doanh hợp pháp giữa hai đối tác -  
bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Trong đó, bên nhượng quyền xác lập trước một sự kinh doanh  
thử nghiệm trên thị trường hàng hóa và/hoặc dịch vụ và tham gia vào một quan hệ hợp đồng với một  
số lượng các nhà nhận quyền, thường chủ doanh nghiệp nhỏ, những người phải hoạt động kinh doanh  
theo nhượng quyền thương hiệu đã được quy định (Curran và Stanworth, 1983).  
Do vậy, các hợp đồng được ký kết giữa các bên đã làm cho nhượng quyền thương mại trở  
thành một hình thức kinh doanh rất đặc biệt: Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, bên nhượng  
quyền đã cung cấp được phương pháp điều hành và tư vấn hỗ trợ về việc thành lập mới các đại lý và  
cũng đảm bảo tiếp tục hỗ trợ cho bên nhận quyền. Ngược lại, bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng  
quyền một số tiền lệ phí đăng ký một lần (phí nhượng quyền) và các chi phí khác cho các dịch vụ  
thường xuyên (tức là tiền bản quyền trên doanh số bán hàng, chi phí quảng cáo, tiếp thị) (Fulop và  
Forward, 1997). Bản thân mỗi cửa hàng nhượng quyền lĩnh vực F&B không thể tự mình tổ chức hoạt  
động một cách độc lập mà cần có sự hợp tác liên kết một cách chặt chẽ cùng nhà nhượng quyền thông  
qua các yếu tố chuyển giao như: các loại phí, mô hình kinh doanh, sự hỗ trợ,... và các yếu tố quan hệ  
như: cam kết, niềm tin, sự hợp tác, sự hài lòng.  
Có bốn hoạt động chính trong mô hình chuỗi giá trị nhượng quyền thương mại lĩnh vực F&B  
(Nguyễn Khánh Trung và cộng sự, 2018). Đầu tiên là hoạt động chuyển giao. Bên nhượng quyền phải  
chuyển giao cho đối tác cách thức mà bên nhượng quyền tạo ra sản phẩm bao gồm cơ sở vật chất, khả  
năng quản lý tài chính, thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm dich vụ, bí quyết, công thức sản xuất, sự hỗ  
trợ về đào tạo, quản lý, marketing, tài chính,… và các yếu tố khác theo hợp đồng. Bên nhận nhượng  
quyền phải trả phí nhượng quyền khi ký kết hợp đồng và phí vận hành trong một khoảng thời gian để  
duy trì hoạt động của mình. Kế tiếp là hoạt động sản xuất và tác nghiệp. Đây là quá trình từ khi bên  
nhận nhượng quyền nhập vào nguồn nguyên vật liệu cho đến khi tạo ra được sản phẩm đưa ra thị  
trường. Hoạt động này đóng góp vào chuỗi giá trị chung nếu đảm bảo được các mục tiêu về bảo đảm  
chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, giảm thiểu chi phí, xây dựng tốt mối quan hệ khách  
hàng, sản xuất và cung ứng dịch vụ linh động, nhanh chóng, đảm bảo. Thứ ba là hoạt động marketing  
trên thị trường đầu ra, là việc làm cho người tiêu dùng nhận biết được thương hiệu, khơi gợi sự liên  
tưởng về thương hiệu khi họ có nhu cầu. Thường thì bên nhận nhượng quyền sẽ được hỗ trợ từ bên  
nhượng quyền trong hoạt động này để có sự đồng nhất trong toàn bộ chuỗi. Cuối cùng là bán hàng và  
dịch vụ khách hàng. Bán hàng là tạo ra ra lợi nhuận cho chuỗi, là thước đo mức độ thành công trong  
một doanh nghiệp. Dịch vụ khách hàng là một trong những hoạt động quan trọng ảnh hưởng đến sự  
đánh giá, cảm nhận của người tiêu dùng về một thương hiệu, đồng thời tạo ra lượng khách hàng trung  
thành cho thương hiệu.  
906  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Aaker (1991, 1992, 1996) đưa ra khái niệm tài sản thương hiệu dựa trên quan điểm khách hàng  
gồm năm thành phần cấu thành: Sự nhận biết thương hiệu; Sự liên tưởng thương hiệu; Chất lượng cảm  
nhận thương hiệu; Lòng trung thành thương hiệu; Các giá trị tài sản khác (không sử dụng trong nghiên  
cứu này). Người mua thường sẽ lựa chọn thương hiệu mà họ đã biết do cảm thấy được sự an toàn,  
thoải mái hơn. Người ta thường nghĩ rằng một thương hiệu được nhiều người biết đến thì sẽ đáng tin  
hơn, chất lượng tốt hơn so với những thương hiệu ít người biết đến. Sự nhận biết thương hiệu rất quan  
trọng khi mà họ hoạch định thương hiệu từ trước khi mua. Liên tưởng thương hiệu là niềm tin, cảm  
nhận và kiến thức của khách hàng có được về một thương hiệu nào đó từ truyền thông, quảng cáo của  
doanh nghiệp và chính trải nghiệm của khách hàng. Chất lượng cảm nhận của khách hàng sẽ ảnh  
hưởng trực tiếp đến quyết định mua sắm và sự trung thành sau này của họ đối với một thương hiệu,  
đặc biệt trong trường hợp người mua không có thời gian hoặc không thể nghiên cứu kỹ lưỡng các tính  
năng sản phẩm trước khi mua. Bên cạnh đó, chất lượng cảm nhận còn hỗ trợ các doanh nghiệp trong  
việc xác định chính sách giá cao, tạo ra lợi nhuận nhiều hơn để tái đầu tư vào việc xây dựng thương  
hiệu. Nếu một thương hiệu được đánh giá cao ở một sản phẩm nào đó thì sản phẩm mà doanh nghiệp  
sắp giới thiệu sẽ dễ dàng được người mua đánh giá cao và tiếp nhận. Thông thường, việc tìm kiếm  
khách hàng mới sẽ tốn kém hơn nhiều so với việc duy trì được khách hàng cũ. Điều này rất quan trọng  
trong thị trường khi mà việc khách hàng chuyển đổi sang sử dụng sản phẩm của những đối thủ cạnh  
tranh một cách dễ dàng. Đối với khách hàng trung thành, họ hài lòng với các sản phẩm thì doanh  
nghiệp còn được một lợi ích khá lớn đó là họ sẽ giới thiệu và thuyết phục người thân hay bạn bè cùng  
sử dụng. Bên cạnh đó, sự trung thành thương hiệu sẽ làm khó khăn cho các đối thủ cạnh tranh trong  
việc tìm kiếm khách hàng mới.  
2.2. Nghiên cứu trước có liên quan  
Nguyễn Khánh Trung (2015) đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị, sự thành công của  
chuỗi nhượng quyền thương mại trong ngành giải khát tại Việt Nam, bao gồm 4 yếu tố chính là chuyển  
giao, tiếp nhận, quan hệ môi trường, đồng thời chỉ ra cách thức mà các yếu tố này tác động đến hoạt  
động kinh doanh của các cửa hàng nhượng quyền. Các yếu tố ảnh hưởng được đo lường theo khía cạnh  
doanh nghiệp gồm bên nhượng quyền, và bên nhận nhượng quyền. Bên cạnh đó, Nguyễn Khánh Trung  
và cộng sự (2018) đã kết hợp chuỗi giá trị trong sản xuất của Porter (1985) và chuỗi giá trị trong ngành  
dịch vụ của Gabriel (2006) để chỉ ra các thành phần trong chuỗi giá trị nhượng quyền trong lĩnh vực  
F&B bao gồm 8 thành phần là hoạt động chuyển giao, sản xuất và tác nghiệp, lãnh đạo và quản lý  
chung, quản lý con người, marketing đầu ra, bán hàng và dịch vụ khách hàng, cơ sở vật chất, nghiên  
cứu và phát triển.  
Madanoglu và Shoham (2015) đã nghiên cứu về các yếu tố đẩy và kéo trong nhượng quyền  
thương mại quốc tế tại Mỹ. Nghiên cứu chỉ ra mức độ ảnh hưởng khác nhau của điều kiện thị trường  
nội địa (yếu tố đẩy) và quốc tế (yếu tố kéo) trong sự phát triển kinh doanh nhượng quyền và tạo ra giá  
trị trong chuỗi. Đồng thời nghiên cứu này cũng chỉ ra được những tác động tích cực đến sự phát triển  
kinh tế khi thực hiện nhượng quyền ra nước ngoài. McDonnell và cộng sự (2011) đã có nghiên cứu về  
chất lượng mối quan hệ, lòng trung thành và sự hợp tác của bên nhận nhượng quyền– trường hợp  
chuỗi nhượng quyền cửa hàng tiện lợi ở Đài Loan. Kết quả cho thấy các yếu tố này có sự tác động qua  
lại lẫn nhau để duy trì giá trị của chuỗi nhượng quyền: chất lượng mối quan hệ có mối tương quan tích  
cực đến lòng trung thành của bên nhận nhượng quyền và sự hợp tác giữa hai bên, trong đó sự hợp tác  
giữa hai bên lại có sự ảnh hưởng đáng kể đến lòng trung thành của bên nhận nhượng quyền.  
2.3. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nhắc đến nhượng quyền thương mại, các tác giả thường đứng trên quan điểm một doanh  
nghiệp để đo lường sự thành công của mô hình chuỗi. Sự thành công được đo lường dựa trên bên  
nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền thông qua các yếu tố như chuyển giao, tiếp nhận, môi  
trường, quan hệ, lãnh đạo và quản lý chung, lòng trung thành của bên nhận nhượng quyền,... Trong khi  
đó, sự thành công của một chuỗi các cửa hàng kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại và  
907  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
cả những hình thức khác đều cần phải được đo lường theo khía cạnh khách hàng để có cái nhìn tổng  
quan về kết quả hoạt động, giá trị của chuỗi, vì khách hàng là những người lựa chọn và sử dụng dịch  
vụ của doanh nghiệp, số lượng khách hàng mà doanh nghiệp có, tình cảm của khách hàng đối với  
doanh nghiệp sẽ phần nào phản ánh được mức độ lợi nhuận, khả năng tồn tại của thương hiệu trên thị  
trường,… đồng thời khách hàng còn là một kênh marketing giúp quảng bá hình ảnh thương hiệu và thu  
hút những khách hàng mới biết đến, sử dụng thương hiệu.  
Tài sản thương hiệu là một trong những yếu tố cốt lõi khi doanh nghiệp áp dụng nhượng quyền  
thương mại, do đó đối với chuỗi giá trị nhượng quyền thương mại, tài sản thương hiệu sẽ có những tác  
động đáng kể. Tuy nhiên, hầu như có rất ít những nghiên cứu đo lường sự tác động của tài sản vô hình  
này đến giá trị của chuỗi nhượng quyền, sự thành công của chuỗi, hay chỉ ra mối tương quan giữa các  
yếu tố thuộc tài sản thương hiệu với các thành phần trong chuỗi giá trị nhượng quyền thương mại. Do  
đó, nghiên cứu này sẽ dựa trên mô hình của Aeker (1991, 1992, 1996) để xây dựng thang đo tài sản  
thương hiệu cho chuỗi cửa hàng F&B, từ đó chỉ ra mối liên hệ giữa các yếu tố của tài sản thương hiệu  
với chuỗi giá trị nhượng quyền. Thang đo tài sản thương hiệu trước hết đo lường dựa trên khách hàng  
và không có mối quan hệ với doanh nghiệp. Sau đó, nhìn từ khía cạnh doanh nghiệp để xác định những  
thành phần của chuỗi giá trị, tiếp theo là chỉ ra yếu tố nào thuộc tài sản thương hiệu là có ảnh hưởng  
đến những thành phần đó, và ảnh hưởng tới toàn bộ chuỗi giá trị.  
Hoạt động chuyển giao  
H1+  
H2+  
H3+  
H4+  
Sản xuất và tác nghiệp  
Tài sản thương hiệu  
Marketing trên thị trường đầu ra  
Bán hàng và dịch vụ khách hàng  
Hình 1. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu vận dụng kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng theo 3 giai đoạn.  
Nghiên cứu định tính được vận dụng cho tổng quan các lý thuyết, và kế thừa các nghiên cứu  
đi trước từ các nguồn thông tin thứ cấp, trên cơ sở đó phát triển các giả thuyết và xây dựng mô hình  
nghiên cứu. Nghiên cứu định tính cũng được tiến hành bằng cách phỏng vấn sâu 05 chuyên gia trong  
lĩnh vực nhượng quyền thương mại và đại diện quản lý của 10 hệ thống nhượng quyền thương mại  
trong lĩnh vực F&B tại thành phố Hồ Chí Minh bằng hình thức thảo luận nhóm. Thông tin thu thập  
được từ nghiên cứu định tính dùng để khám phá, chọn lọc và điều chỉnh yếu tố tài sản thương hiệu ảnh  
hưởng đến các thành phần trong chuỗi giá trị nhượng quyền cũng như hiệu chỉnh thang đo sử dụng từ  
những nghiên cứu trước trong chuỗi giá trị nhượng quyền thương mại lĩnh vực F&B để đưa vào thực  
hiện nghiên cứu định lượng. Kết quả có 3 biến thuộc tài sản thương hiệu tác động lên hoạt động chính  
được đưa vào bảng khảo sát: Thương hiệu X luôn cho ra những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn; Tôi biết  
đến thương hiệu X qua việc giới thiệu của nhân viên cửa hàng.  
Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện trên 30 đáp viên thông qua phương pháp khảo sát  
phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi tại 4 điểm gần khu vực quán Phúc Long (đường Nguyễn Huệ), Trung  
Nguyên (đường Nguyễn Văn Cừ), trà sữa BoBaBop (đường Bình Thạnh) và trà sữa Hot&Cold (đường  
Hoàng Hoa Thám) tại thành phố Hồ Chí Minh. Thông tin thu thập dùng để sàng lọc các biến quan sát đo  
lường các khái niệm thành phần của tài sản thương hiệu và giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị nhượng  
quyền thương mại lĩnh vực F&B. Phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha thông qua phần  
908  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
mềm SPSS được sử dụng. Dựa vào kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ, mô hình nghiên cứu và thang  
đo chính thức được hoàn thiện đưa vào giai đoạn nghiên cứu định lượng chính thức.  
Nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện thông qua khảo sát 300 đáp viên trong hệ  
thống nhượng quyền thương mại lĩnh vực F&B tại thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những đối tượng  
hiểu rõ về các hoạt động của cửa hàng và thường chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của nhà  
nhượng quyền trước nhà nhận quyền. Dữ liệu thu thập được dùng để đánh giá độ tin cậy của các thang  
đo, phân tích nhân tố, phân tích tương quan, kiểm định mô hình và các giả thuyết bằng phương pháp  
hồi quy được chạy trên phần mềm thống kê SPSS 23.0.  
Bảng 1. Thang đo Tài sản thương hiệu  
STT  
Thang đo  
Nguồn tham khảo  
Aaker (1991,1996)  
Mã hóa  
Ngô Thị Ngọc Huyền và  
cộng sự (2014)  
Nhận biết logo, slogan của thương hiệu X một  
cách nhanh chóng  
1
TSNB1  
Nguyễn Minh Nhựt và Lê Thị  
Thu Trang (2014)  
Nhận biết  
thương  
hiệu  
Nhớ màu sắc đặc trưng  
Yoo và cộng sự (2000)  
2
Trần Đăng Khoa (2017)  
Musekiwa và cộng sự (2013)  
TSNB2  
Khi nghĩ đến viẹ  
̂c giải khát thì thương hiệu X xuất  
3
4
Musekiwa và cộng sự (2013) TSNB3  
hiẹn đầu tien trong suy nghĩ của tôi  
̂
̂
Liên  
X có sản phẩm/dịch vụ nổi bật  
Hoàng Thị Phương Thảo và  
TSLT1  
tưởng  
thương  
hiệu  
Thái Tú Uyên (2014)  
5
6
Sản phẩm của X an toàn, vệ sinh  
Võ Thị Ngọc Thúy (2016)  
Thọ và Trang (2003)  
TSLT2  
TSLT3  
X mang lại bầu không khí dễ chịu khi tiếp xúc  
“Thân thiện với khách hàng” là cụm từ để mô tả Aaker (1996, 1997)  
nhân viên tại X  
7
8
TSLT4  
TSCN1  
TSCN2  
TSCN3  
Keller (1993, 2008)  
X là một thương hiệu đáng tin cậy nhất trong tất Nguyễn Minh Nhựt và Lê Thị  
Chất  
lượng  
cảm nhận  
cả các của cửa hàng có trên hiện trường  
Thu Trang (2014)  
Hoàng Thị Anh Thư (2016)  
X được đánh giá cao so với các cửa hàng trong Trần Đăng Khoa (2017)  
9
khối ngành giải khát  
Hoàng Thị Anh Thư (2016)  
Quy trình pha chế chuyên nghiệp  
Aeker (1996, 1997)  
Buil và cộng sự (2008)  
Keller (1993, 2008)  
10  
Trung  
thành  
thương  
hiệu  
Musekiwa và cộng sự (2013)  
Tôi và gia đình thư  
X
11  
12  
13  
TSTT1  
TSTT2  
TSTT3  
Yoo và cộng sự, 2000  
Tô  
thời gian tới  
Aeker (1996, 1997)  
Toi sẽ nói những điều tốt đẹp về thương hiệu X  
̂
với mọi nguời xung quanh  
̛
909  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bảng 2. Thang đo Tài sản thương hiệu ảnh hưởng đến hoạt động chuyển giao  
STT  
Thang đo  
Nguồn tham khảo  
Aaker (1991,1996)  
Mã hóa  
1
Tôi biết tên thương hiệu X  
HD1  
Pappu và cộng sự (2005)  
Lê Đăng Lăng (2014)  
2
3
Tôi nhận ra được thương hiệu X  
HD2  
HD3  
Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai  
Trang (2011)  
Nguyễn Minh Nhựt và Lê Thị Thu Trang  
(2014)  
X là một thương hiệu đáng tin cậy nhất  
trong tất cả các cửa hàng có trên thị trường  
Hoàng Thị Anh Thư (2016)  
Hoàng Thị Phương Thảo và Thái Tú Uyên  
(2014)  
4
5
X có lịch sử lâu đời trong ngành  
HD4  
HD5  
X được đánh giá cao so với các cửa hàng Trần Đăng Khoa (2017)  
trong khối ngành giải khát  
Hoàng Thị Anh Thư (2016)  
Bảng 3. Thang đo Tài sản thương hiệu ảnh hưởng đến sản xuất và tác nghiệp  
STT  
Thang đo  
Nguồn tham khảo  
Lê Đăng Lăng (2014)  
Nguyễn Minh Nhựt và Lê Thị Thu  
Trang (2014)  
Mã hóa  
Tôi nhận biết được hương vị sản phẩm  
của thương hiệu X  
1
SX1  
Aeker (1996, 1997)  
Buil và cộng sự (2008)  
Keller (1993, 2008)  
2
3
4
5
Quy trình pha chế chuyên nghiệp  
SX2  
SX3  
SX4  
SX5  
Sản phẩm của thương hiệu X an toàn, vệ  
sinh  
Võ Thị Ngọc Thúy (2016)  
Pappu và cộng sự (2005)  
Keller (2013)  
Nước giải khát của X đáng tin cậy trong  
tất cả các thương hiệu trên thị trường  
Nguyễn Thị Hồng Nguyệt (2017)  
Thương hiệu X luôn cho ra những sản  
phẩm độc đáo, hấp dẫn  
Nghiên cứu định tính  
Bảng 4. Thang đo Tài sản thương hiệu ảnh hưởng đến Marketing thị trường đầu ra  
STT  
Thang đo  
Nguồn tham khảo  
Aaker (1991,1996)  
Mã hóa  
1
2
Tôi đọc đúng tên thương hiệu X  
TT1  
TT2  
Trần Đăng Khoa (2017)  
Aaker (1991,1996a)  
Trần Đăng Khoa (2017)  
Aaker (1991,1996a)  
Tôi nhận biết được thương hiệu X với một  
thương hiệu khác  
Tôi nhận biết được logo của X một cách nhanh Ngô Thị Ngọc Huyền và cộng sự (2014)  
3
TT3  
chóng  
Nguyễn Minh Nhựt và Lê Thị Thu Trang  
(2014)  
Yoo và cộng sự (2000)  
4
5
Thương hiệu X có một màu sắc đặc trưng  
Trần Đăng Khoa (2017)  
TT4  
TT5  
Musekiwa và cộng sự (2013)  
Ngô Thị Ngọc Huyền và cộng sự (2014)  
Lê Đăng Lăng (2014)  
Tôi dễ dàng hình dung được thương hiệu X  
(hình dung về logo, màu sắc, hương vị,...)  
910  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bảng 5. Thang đo Tài sản thương hiệu ảnh hưởng đến bán hàng và DV khách hàng  
STT Thang đo  
Nguồn tham khảo  
Mã hóa  
DV1  
Võ Thị Ngọc Thúy (2016)  
1
2
3
X cung cấp dịch vụ một cách tốt nhất  
Hoàng Thị Phương Thảo và Hoàng Trọng  
(2010)  
X mang lại bầu không khí dễ chịu khi tiếp xúc Thọ và Trang (2003)  
DV2  
Hoàng Thị Anh Thư ( 2016)  
“Chất lượng tốt” là cụm từ được dùng để mô  
tả các dịch vụ được cung cấp bởi X  
DV3  
Nguyễn Minh Nhựt và Lê Thị Thu Trang  
(2014)  
Tác phong phục vụ tại X chuyên nghiệp  
Hoàng Thị Phương Thảo và Hoàng Trọng  
(2010)  
4
5
6
DV4  
DV5  
DV6  
Hoàng Thị Phương Thảo và Thái Tú Uyên  
(2014)  
X có nhiều cửa hàng phân bổ khắp nơi  
Tôi biết đến sản phẩm của X thông qua sự giới  
thiệu của nhân viên cửa hàng  
Nghiên cứu định tính  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Phân tích độ tin cậy của thang đo  
Để kiểm định độ tin cậy thang đo, nhóm tác giả đã thực hiện kiểm định hệ số Cronbach’s  
Alpha, với số mẫu nghiên cứu chính thức có được là 313. Bài nghiên cứu có 8 khái niệm là khái niệm  
bậc nhất, được đo lường trực tiếp thông qua các biến quan sát, tổng cộng có 34 biến quan sát thuộc 8  
khái niệm sẽ được đưa vào kiểm định.  
Bảng 6. Tóm tắt thông tin kiểm định Cronbach’s Alpha  
Biến quan Trung bình thang Phương sai thang  
Tương quan  
biến tổng  
Hệ số Cronbach’s  
Alpha nếu loại biến  
sát  
đo nếu loại biến đo nếu loại biến  
Hoạt động chuyển giao, Cronbach’s Alpha = 0.885  
HD1  
HD2  
HD3  
HD4  
HD5  
10.75  
11.12  
11.19  
11.18  
11.20  
18.117  
15.361  
15.482  
15.254  
15.732  
.387  
.793  
.795  
.883  
.853  
.943  
.844  
.844  
.825  
.834  
Sản xuất tác nghiệp (SX), Cronbach’s Alpha = 0.882  
SX1  
10.53  
10.54  
10.53  
10.44  
9.94  
12.923  
12.371  
12.237  
13.702  
14.157  
.828  
.810  
.853  
.719  
.450  
.833  
.834  
.824  
.858  
.926  
SX2  
SX3  
SX4  
SX5  
Marketing thị trường (TT), Cronbach’s Alpha = 0.947  
TT1  
TT2  
TT3  
TT4  
TT5  
9.88  
9.86  
9.91  
9.80  
9.82  
13.994  
13.816  
13.624  
14.520  
14.641  
.886  
.869  
.918  
.824  
.784  
.930  
.933  
.924  
.941  
.947  
911  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bán hàng và dịch vụ (DV), Cronbach’s Alpha = 0.926  
DV1  
DV2  
DV3  
DV4  
DV5  
DV6  
13.02  
13.04  
12.90  
13.04  
12.54  
12.94  
23.028  
23.194  
22.679  
23.620  
25.800  
24.224  
.868  
.884  
.880  
.878  
.478  
.804  
.902  
.900  
.900  
.901  
.957  
.911  
Liên tưởng thương hiệu, Cronbach Alpha = 0.947  
LTTH1  
LTTH2  
LTTH3  
LTTH4  
7.91  
7.92  
7.96  
7.94  
10.293  
10.558  
10.684  
10.541  
.905  
.859  
.854  
.867  
.919  
.934  
.935  
.931  
Chất lượng cảm nhận, Cronbach Alpha = 0.859  
CLCN1  
CLCN2  
CLCN3  
4.79  
4.60  
4.62  
4.627  
3.664  
3.825  
.682  
.780  
.750  
.851  
.757  
.786  
Nhận biết thương hiệu, Cronbach Alpha = 0.944  
NBTH1  
NBTH2  
NBTH3  
5.05  
5.17  
5.11  
3.847  
3.910  
3.524  
.867  
.848  
.938  
.931  
.945  
.875  
Trung thành thương hiệu, Cronbach Alpha = 0.916  
TTTH1  
TTTH2  
TTTH3  
5.13  
4.99  
5.14  
3.903  
3.660  
4.134  
.872  
.813  
.816  
.846  
.899  
.892  
Kết quả trên cho thấy 34 biến quan sát thuộc 8 khái niệm đều đạt yêu cầu (giá trị Cronbach’s  
Alpha, giá trị hệ số tương quan biến tổng thấp nhất là 0.859 cao nhất là 0.947 đều lớn hơn 0.6). Như  
vậy ta có thể nói rằng nội dung thang đo của các khái niệm là khá tốt, đáng tin cậy để sử dụng cho  
nghiên cứu. 34 biến quan sát được đưa vào phân tích EFA nhằm tìm ra các biến quan sát không phù  
hợp và một lần nữa kiểm định lại thang đo.  
Sử dụng phép rút trích nhân tố là Principal Asix Factoring và phép xoay ma trận là Promax để  
được cấu trúc dữ liệu chặt chẽ hơn nhằm có thể làm tiền đề cho phân tích CFA tiếp theo. Ở lần phân  
tích EFA đầu tiên trước tiên xem xét kiểm định Bartlett, với giá trị chỉ số KMO là 0.918 (>0.5) rất tốt  
để phân tích nhân tố khám phá EFA, bên cạnh đó giá trị kiểm định Sig của kiểm định Bartlett là 0.000  
< 0.05 nên ở độ tin cậy 95% ta có thể nói rằng các biến quan sát này có tương quan tốt và dữ liệu thích  
hợp để phân tích EFA.  
Kết quả phân tích EFA lần đầu cho thấy tại điểm dừng với giá trị Eigenvalue là 1.107 (>1) thì  
dữ liệu rút trích được 8 nhân tố tương ứng với 8 khái niệm nghiên cứu của mô hình, tổng phương sai  
trích của các nhân tố rút trích được là 75.445 % (>50%) điều này có nghĩa là 75.445 % biến thiên của  
8 nhân tố được giải thích tốt bởi 34 biến quan sát. Bên cạnh đó, giá trị hệ số tải nhân tố của các biến  
quan sát đạt yêu cầu lên nhân tố mà nó hội tụ (>0.5) trừ 3 biến quan sát HD1, SX5, DV5 có hệ số tải  
nhân tố lên nhân tố mà nó đo lường < 0.5 (không đạt yêu cầu).  
Ở lần phân tích EFA này, 1 biến quan sát có hệ số tải nhân tố lên nhân tố mà nó đo lường  
không đạt yêu cầu bao gồm biến quan sát HD1, SX5, DV5 có hệ số tải nhân tố < 0.5, còn lại các biến  
912  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
quan sát đều có hệ số tải nhân tố lên nhân tố nó đo lường > 0.5, tiến hành loại bỏ biến quan sát này và  
đưa vào phân tích EFA tiếp theo với giá trị hệ số 0 (>0.5) hệ số KMO 0.918 khá tốt. Bên cạnh đó, giá  
trị kiểm định Bartlett có giá trị Sig 0.00 < 0.05 nên ở độ tin cậy 95% ta kết luận rằng dữ liệu thích hợp  
để phân tích EFA (các biến quan sát có tương quan với nhau).  
Tương tự, sử dụng phép trích nhân tố Pricipal Axis Factoring và phép xoay ma trận Promax dữ  
liệu rút trích được 8 nhân tố tại điểm dừng với hệ số Eigenvalue là 1.025 (>1), tổng phương sai trích là  
85.508% (>50%) điều này có nghĩa 85.508 % biến thiên của 8 nhân tố rút trích được giải thích bởi 34  
biến quan sát thuộc thang đo của 8 khái niệm thuộc mô hình nghiên cứu.  
Thông qua kết quả đánh giá mức độ phù hợp của phân tích CFA, ta thấy giá trị CMIN/DF =  
2.905 (<3), chỉ số đánh giá TLI (0.933) và CFI (0.944) > 0.9. Bên cạnh đó, chỉ số GFI đạt 0.838  
(>0.8), chỉ số RMSEA 0.078 < 0.08 và giá trị kiểm định sig của mô hình 0.000 < 0.05 nên ta có thể kết  
luận ở độ tin cậy 95% thì mô hình này thích hợp về phân tích CFA, dữ liệu phân tích đã tương thích  
với mô hình nghiên cứu.  
Độ tin cậy thang đo là một trong những giá trị của thang đo cần kiểm định chắc hơn, độ tin cậy  
thông qua phân tích CFA được đo lường bằng các chỉ số độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai rút  
trích (AVE) và hệ số Cronbach’s Alpha. Hệ số Cronbach’s Alpha ở phần trên đã trình bày đạt yêu cầu.  
Theo Hair & cộng sự (1995), thang đo được đánh giá là đáng tin cậy khi độ tin cậy tổng hợp có  
ý nghĩa khi có giá trị lớn hơn 0,5 và tổng phương sai rút trích có ý nghĩa > 0.5. Dựa vào kết quả đánh  
giá tổng phương sai trích và độ tin cậy tổng hợp của các khái niệm ta thấy rằng, các giá trị thang đo  
dường như có giá trị từ 0.5 trở lên, đối với tổng phương sai trích dao động 0.8624- 0.9501, độ tin cậy  
tổng hợp của các khái niệm cũng có giá trị dao động từ 0.6773 - 0.8540. Tóm lại, kết quả đánh giá độ  
tin cậy tổng hợp cho thấy các thang đo thuộc các khái niệm nghiên cứu đều có kết quả đạt yêu cầu, tiếp  
theo ta đi đến kiểm định giá trị khác của thang đo.  
Dựa vào kết quả nghiên cứu ta thấy các giá trị của căn bậc 2 tổng phương sai trích và các hệ số  
tương quan thỏa mãn điều kiện, nên ta có thể nói rằng với dữ liệu hiện có thì thang đo đạt được giá trị  
phân biệt, điều này cho thấy thang đo bài nghiên cứu sử dụng rất đáng tin cậy và sử dụng tốt.  
Như vậy thông qua phân tích nhân tố khẳng định, ta có được mô hình CFA được thể hiện như  
trong hình, với các tiêu chí đánh giá về mức độ phù hợp mô hình được đáp ứng, hay các giá trị của  
thang đo cũng được đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu.  
Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khẳng định CFA, ta tiến hành thực hiện phân tích mô hình  
cấu trúc tuyến tính SEM, nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đo lường sự tác động của các  
yếu tố lên nhau.  
Theo Nguyễn Đình Thọ (2011) khi phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính các đặc điểm về đánh  
giá mức độ phù hợp của mô hình cũng được xem xét giống như khi phân tích CFA, các chỉ số đánh giá  
như CMIN/df (<3), chỉ số TLI, CFI >=0.9 (lân cận 0.9), chỉ số GFI >=0.8, hệ số RMSEA < 0.08 thì  
mô hình được xem là thích hợp với dữ liệu nghiên cứu.  
913  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Hình 2. Kết quả mô hình CFA  
(Nguồn kết quả nghiên cứu)  
Dựa vào kết quả phân tích SEM ta có thể thấy rằng các kết quả đánh giá mức độ phù hợp của  
mô hình đạt yêu cầu, chỉ số CMIN/df = 2.080 (<3), chỉ số TLI = 0.954 và CFI = 0.962 (>0.9), chỉ số  
GFI = 0.860 > 0.8, RMSEA = 0.08, giá trị kiểm định P-value mức độ phù hợp = 0.00 (<0.05) nên ở độ  
tin cậy 95% ta kết luận rằng dữ liệu phù hợp với mô hình SEM phân tích, các kết quả giải thích đáng  
tin cậy để sử dụng.  
Bảng 7. Kết quả kiểm định cấu trúc tuyến tính SEM  
Estimate  
.212  
S.E.  
.063  
C.R.  
3.363  
P
Label  
DV  
DV  
DV  
DV  
TT  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
LTTH  
NBTH  
CLCN  
TTTH  
LTTH  
***  
***  
.242  
-.069  
.447  
.249  
.067  
.066  
.070  
.059  
3.636  
-1.043  
6.421  
4.222  
.297  
***  
***  
914  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Estimate  
S.E.  
C.R.  
3.849  
P
Label  
TT  
<---  
NBTH  
.238 .062  
***  
TT  
TT  
SX  
SX  
SX  
SX  
HD  
HD  
HD  
HD  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
CLCN  
TTTH  
LTTH  
NBTH  
CLCN  
TTTH  
LTTH  
NBTH  
CLCN  
TTTH  
-.131 .062  
.406 .064  
.285 .061  
.216 .063  
-.013 .063  
.292 .065  
.243 .057  
.254 .060  
-.002 .059  
.362 .063  
-2.110  
6.326  
4.694  
3.395  
-.209  
4.467  
4.244  
4.221  
-.032  
5.744  
.035  
***  
***  
***  
.834  
***  
***  
***  
.974  
***  
(Nguồn kết quả nghiên cứu)  
Kết quả phân tích Boostrap, với số mẫu nghiên cứu bằng phương pháp Boostrap là 500 mẫu, số  
mẫu này giúp đánh giá lại mô hình ước lượng, với các kết quả phân tích cho thấy trung bình các hệ số  
ước lượng có giá trị không chênh lệch nhiều so với phương pháp ước lượng thông thường. Bên cạnh  
đó, các sai số ước lượng giữa 2 phương pháp là không đáng kể, nên ta có thể kết luận rằng các hệ số  
ước lượng của mô hình đáng tin cậy và việc giải thích kết quả an toàn.  
Bảng 8. Kết quả phân tích Boostrap  
CR  
(Bias/ SE-Bias <=2)  
Parameter  
SE  
SE-SE  
Mean  
Bias  
SE-Bias  
thì mean có ý nghĩa  
DV <--- LTTH  
DV <--- NBTH  
DV <--- CLCN  
DV <--- TTTH  
TT <--- LTTH  
TT <--- NBTH  
TT <--- CLCN  
TT <--- TTTH  
SX <--- LTTH  
SX <--- NBTH  
SX <--- CLCN  
SX <--- TTTH  
HD <--- LTTH  
HD <--- NBTH  
HD <--- CLCN  
HD <--- TTTH  
.101  
.100  
.090  
.103  
.109  
.115  
.080  
.127  
.103  
.103  
.082  
.118  
.092  
.093  
.072  
.099  
.003  
.003  
.003  
.003  
.003  
.004  
.003  
.004  
.003  
.003  
.003  
.004  
.003  
.003  
.002  
.003  
.214  
.247  
-.064  
.440  
.251  
.236  
-.128  
.404  
.290  
.218  
-.009  
.287  
.237  
.260  
-.001  
.369  
.001  
.005  
.005  
-.007  
.003  
-.002  
.003  
-.002  
.005  
.002  
.004  
-.005  
-.006  
.005  
.001  
.007  
.004  
.004  
.004  
.005  
.005  
.005  
.004  
.006  
.005  
.005  
.004  
.005  
.004  
.004  
.003  
.004  
0.25  
1.25  
1.25  
-1.4  
0.6  
-0.4  
0.75  
-0.33  
1
0.4  
1
-1  
-1.5  
1.25  
0.33  
1.75  
915  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Mối quan hệ giữa bán hàng và dịch vụ khách hàng và các yếu tố tài sản thương hiệu  
Thông qua bảng kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, ta thấy hệ số tác động của liên tưởng thương  
hiệu lên bán hàng và dịch vụ là 0.212 (bảng 7), với hệ số CR = 0.25<2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý  
nghĩa, điều này có thể kết luận rằng liên tưởng thương hiệu có mối quan hệ cùng chiều lên bán hàng và  
dịch vụ, khi tăng yếu tố liên tưởng thương hiệu thì bán hàng và dịch vụ gia tăng (và ngược lại).  
Hệ số tác động của nhận biết thương hiệu lên bán hàng và dịch vụ là 0.242 (bảng 7), với hệ số  
CR = 1.25<2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này có thể kết luận nhận biết thương hiệu  
tác động cùng chiều lên bán hàng và dịch vụ. Điều này có nghĩa trong điều kiện các yếu tố khác không  
đổi khi tăng nhận biết thương hiệu thì bán hàng và dịch vụ của khách hàng sẽ gia tăng và tích cực và  
ngược lại.  
Hệ số tác động của chất lượng cảm nhận lên bán hàng và dịch vụ với giá trị kiểm định là -0.069  
(bảng 7) và hệ số P = 0.297 (> 0.05) (bảng 8) nên ở độ tin cậy 95% ta kết luận rằng: chất lượng cảm  
nhận không có mối quan hệ cùng chiều với bán hàng và dịch vụ, nếu các yếu tố khác không đổi khi ta  
gia tăng chất lượng cảm nhận thì bán hàng và dịch vụ của khách hàng sẽ không thay đổi.  
Hệ số tác động của trung thành thương hiệu lên bán hàng và dịch vụ là 0.447 (bảng 7) với hệ số  
CR = - 1.4 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này ta kết luận rằng trung thành thương  
hiệu có mối quan hệ tích cực đối với bán hàng và dịch vụ, khi gia tăng yếu tố trung thành thương hiệu  
thì bán hàng và dịch vụ của khách hàng sẽ được gia tăng và ngược lại.  
Mối quan hệ giữa marketing thị trường và các yếu tố trong tài sản thương hiệu  
Hệ số tác động của liên tưởng thương hiệu lên marketing thị trường là 0.249 (bảng 7), với hệ số  
CR = 0.6 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này có thể kết luận rằng liên tưởng thương  
hiệu có mối quan hệ cùng chiều lên hoạt động marketing thị trường đầu ra, khi tăng yếu tố liên tưởng  
thương hiệu, hiệu quả hoạt động marketing thị trường gia tăng (và ngược lại).  
Hệ số tác động của nhận biết thương hiệu lên marketing thị trường là 0.238 (bảng 7), với hệ số  
CR = - 0.4 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này có thể kết luận nhận biết thương hiệu  
tác động cùng chiều lên marketing thị trường. Điều này có nghĩa trong điều kiện các yếu tố khác không  
đổi khi tăng nhận biết thương hiệu thì hoạt động marketing thị trường đầu ra sẽ gia tăng và tích cực và  
ngược lại  
Hệ số tác động của chất lượng cảm nhận lên marketing thị trường với giá trị -0.131 (bảng 7) và  
với hệ số CR = 0.75 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, nên ở độ tin cậy 95% ta kết luận  
rằng: chất lượng cảm nhận có mối quan hệ ngược chiều với marketing thị trường, nếu các yếu tố khác  
không đổi khi ta gia tăng chất lượng cảm nhận thì marketing thị trường sẽ giảm.  
Hệ số tác động của trung thành thương hiệu lên marketing thị trường là 0.406 (bảng 7) với hệ  
số CR = - 0.33 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này ta kết luận rằng trung thành  
thương hiệu có mối quan hệ cùng chiều với marketing thị trường, khi gia tăng yếu tố trung thành  
thương hiệu thì marketing thị trường sẽ được gia tăng và ngược lại.  
Mối quan hệ giữa sản xuất và tác nghiệp và các yếu tố trong tài sản thương hiệu  
Hệ số tác động của liên tưởng thương hiệu lên sản xuất tác nghiệp là 0.285 (bảng 7), với hệ số  
CR = 1 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này có thể kết luận rằng liên tưởng thương  
hiệu có mối quan hệ cùng chiều lên sản xuất và tác nghiệp, khi tăng yếu tố liên tưởng thương hiệu thì  
hiệu quả hoạt động sản xuất và tác nghiệp gia tăng (và ngược lại).  
Hệ số tác động của nhận biết thương hiệu lên sản xuất tác nghiệp là 0.216 (bảng 7), với hệ số CR  
= 0.4 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này có thể kết luận nhận biết thương hiệu tác  
động cùng chiều lên sản xuất tác nghiệp. Điều này có nghĩa trong điều kiện các yếu tố khác không đổi  
khi tăng nhận biết thương hiệu thì hoạt động sản xuất tác nghiệp sẽ gia tăng và tích cực và ngược lại  
916  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Hệ số tác động của chất lượng cảm nhận lên sản xuất tác nghiệp với giá trị -0.13 (bảng 7), và  
hệ số P = 0.834 (> 0.05) (bảng 8) nên ở độ tin cậy 95% ta kết luận rằng: chất lượng cảm nhận không có  
mối quan hệ cùng chiều với sản xuất tác nghiệp, nếu các yếu tố khác không đổi khi ta gia tăng chất  
lượng cảm nhận thì sản xuất tác nghiệp sẽ không thay đổi.  
Hệ số tác động của trung thành thương hiệu lên sản xuất tác nghiệp là 0.292 (bảng 7) với hệ số  
CR = - 1 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này ta kết luận rằng trung thành thương hiệu  
có mối quan hệ cùng chiều với sản xuất tác nghiệp, khi gia tăng yếu tố trung thành thương hiệu thì sản  
xuất tác nghiệp sẽ được gia tăng và ngược lại.  
Mối quan hệ giữa hoạt động chuyển giao và các yếu tố tài sản thương hiệu  
Hệ số tác động của liên tưởng thương hiệu lên sản xuất tác nghiệp là 0.243 (bảng 7), với hệ số  
CR = -1.5 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này có thể kết luận rằng liên tưởng thương  
hiệu có mối quan hệ cùng chiều lên hoạt động chuyển giao, khi tăng yếu tố liên tưởng thương hiệu thì  
hiệu quả hoạt động chuyển giao gia tăng (và ngược lại).  
Hệ số tác động của nhận biết thương hiệu lên hoạt động chuyển giao là 0.254 (bảng 7), với hệ  
số CR = 1.25 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này có thể kết luận nhận biết thương  
hiệu tác động cùng chiều lên hoạt động chuyển giao. Điều này có nghĩa trong điều kiện các yếu tố  
khác không đổi khi tăng nhận biết thương hiệu thì hoạt động chuyển giao sẽ gia tăng và tích cực và  
ngược lại.  
Hệ số tác động của chất lượng cảm nhận lên hoạt động chuyển giao với giá trị -0.02 (bảng 7),  
và hệ số P = 0.974 (> 0.05) (bảng 8), nên ở độ tin cậy 95% ta kết luận rằng: chất lượng cảm nhận  
không có mối quan hệ cùng chiều với hoạt động chuyển giao, nếu các yếu tố khác không đổi khi ta gia  
tăng chất lượng cảm nhận thì hoạt động chuyển giao sẽ không thay đổi.  
Hệ số tác động của trung thành thương hiệu lên sản xuất tác nghiệp là 0.362 (bảng 7) với hệ số  
CR = 1.75 <2 (bảng 8) như vậy hệ số mean có ý nghĩa, điều này ta kết luận rằng trung thành thương  
hiệu có mối quan hệ cùng chiều với hoạt động chuyển giao, khi gia tăng yếu tố trung thành thương  
hiệu thì hoạt động chuyển giao sẽ được gia tăng và ngược lại.  
5. Kết luận  
Trong nghiên cứu này thì liên tưởng thương hiệu, nhận biết thương hiệu, trung thành thương  
hiệu có tác động trực tiếp, cùng chiều đến các hoạt động chính của chuỗi giá trị nhượng quyền thương  
mại như hoạt động bán hàng và dịch vụ khách hàng, hoạt động marketing thị trường đầu ra, hoạt động  
sản xuất và tác nghiệp, hoạt động chuyển giao. Để tăng các hoạt động chính trong chuỗi nhượng quyền  
thương mại này lên thì sự nhận biết thương hiệu; liên tưởng thương hiệu và trung thành thương hiệu  
của khách hàng cũng góp phần không nhỏ. Khi khách hàng đã biết đến, nhận biết được thương hiệu thì  
họ sẽ dễ dàng chọn lựa mua sản phẩm. Thực tế cũng thế khi đến một nơi khác, họ biết được thương  
hiệu thường sử dụng sẽ dễ tiếp cận hơn, từ đó làm tăng hoạt động bán hàng của chuỗi cửa hàng cùng  
thương hiệu. Kinh doanh bằng hình thức nhượng quyền thương mại chắc hẳn phải nhắc đến hoạt động  
chuyển giao, khi khách hàng nhận biết được thương hiệu giúp bên nhượng quyền nhượng quyền một  
cách dễ dàng hơn, thương hiệu họ đã có lợi thế được khách hàng biết đến giúp cho bên nhận quyền  
kinh doanh dễ dàng hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này cho thấy, chất lượng cảm nhận không có  
mối quan hệ có ý nghĩa với các hoạt động chính của chuỗi nhượng quyền thương mại, mặt khác đối  
với hoạt động marketing thị trường đầu ra, chất lượng cảm nhận còn tác động ngược chiều.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hoàng Thị Anh Thư (2016). “Tác động của quảng cáo, khuyến mãi đến tài sản thương hiệu: Trường hợp  
ngành siêu thị hàng tiêu dùng tại Huế”, số 4.  
917  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
2. Hoàng Thị Phương Thảo và Thái Tú Uyên (2017). “Phân tích sự khác biệt về tài sản thương hiệu theo khía  
cạnh khách hàng giữa ba nhóm ngân hàng tại Việt Nam”, Tạp chí khoa học trường Đại học Mở Tp.Hồ Chí  
Minh, số 54.  
3. Lê Đăng Lăng (2014). “Mô hình giá trị thương hiệu – Nghiên cứu trong ngành nước giải khát”, Tạp chí Đại  
học Thủ Dầu Một, số 4.  
4. Madanoglu, M. & Shoham, A. (2017). “Push and pull factors in international franchising”, International  
Marketing Review.  
5. McDonnell, J., Beatson, A. & Huang, C.H. (2011). "Investigating relationships between relationship  
quality, customer loyalty and cooperation: An empirical study of convenience stores' franchise chain  
systems", Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics.  
6. Ngô Thị Ngọc Huyền và cộng sự (2014). “Các thành phần tài sản thương hiệu trái cây tươi Việt Nam:  
Trường hợp thanh long Bình Thuận”, Phát triển kinh tế, số 285.  
7. Nguyễn Khánh Trung (2015). “Mối quan hệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại lĩnh vực ăn uống –  
giải khát tại Việt Nam”, Tạp chí khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và kinh doanh, số 4.  
8. Nguyễn Thị Hồng Nguyệt (2017). “Mối quan hệ giữa giá trị thương hiệu và chất lượng mối quan hệ thương  
hiệu – Khách hàng trong thị trường tiêu dùng ở Việt Nam”, Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ, số  
20.  
9. Trần Đăng Khoa (2017). “Đo lường giá trị thương hiệu ngân hàng tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh”,  
Tạp chí Công thương.  
918  
pdf 15 trang Thùy Anh 14800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tài sản thương hiệu và giá trị chuỗi nhuợng quyền thương mại trong lĩnh vực F&B tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_san_thuong_hieu_va_gia_tri_chuoi_nhuong_quyen_thuong_mai.pdf