Tài liệu Việt Nam: Tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việt Nam: Tăng Cường Năng lực Cạnh
Tranh Và Liên Kết Của Doanh Nghiệp
Vừa Và Nhỏ
Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế
Khối Thương mại và Cạnh tranh Toàn cầu
Ngân hàng Thế giới
Mục lục
Thực hiện các chương trình hỗ trợ DNVVN: sự tham gia của các bên liên quan, kết quả đạt được và những
Chương 5: Lộ trình đề xuất cho chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường tính cạnh tranh
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được thực hiện bởi Vụ Đông Á Thái Bình Dương, Khối Thương mại và Cạnh
tranh thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới. Nghiên cứu do Asya Akhlaque chỉ đạo với sự hỗ trợ của
một nhóm chuyên gia nòng cốt của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và
một số chuyên gia nghiên cứu. Báo cáo do Asya Akhlaque, Anne Ong Lopez và Antoine Coste
viết với sự đóng góp của Phạm Liên Anh, Smita Kuriakose, George Clarke, Wim Douw, Aref
Adamali, Erik von Uexkull, và Yifan Wei (chuyên gia tư vấn). Một nghiên cứu bổ trợ đánh giá
các chương trình của chính phủ để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam do Phan Đức
Hiếu (CIEM) thực hiện. Những nghiên cứu thực tiễn điển hình về Công ty Sản xuất Điện tử Thành
Long và Công ty Tam Hợp do Bộ Công thương và Ngân hàng Thế giới thực hiện là tư liệu đầu
vào cho công trình này. Nhóm nghiên cứu muốn cảm ơn sự hỗ trợ hành chính và hậu cần quan
trọng của bà Đào Thị Liên. Hướng dẫn tổng thể do Mona Haddad (Vụ trưởng Vụ Đông Á Thái
bình Dương, Khối Thương mại và Cạnh tranh) và Ousmane Dione (Giám đốc Quốc gia, Việt
Nam) cung cấp. Chuyên gia phản biện bao gồm Mary C. Hallward-Driemeier, Charles Schneider
và Richard Record.
Trong quá trình chuẩn bị báo cáo, nhiều cuộc thảo luận đã được tổ chức với các đại diện Chính
phủ và khu vực tư nhân, cũng như với các chuyên gia nghiên cứu và đối tác phát triển. Trong bối
cảnh đó, hai cuộc hội thảo đã được tổ chức: ở giai đoạn ý tưởng vào tháng 10 năm 2016 tại Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh để xác nhận phạm vi nghiên cứu, và vào tháng 5 năm 2017 tại Hà
Nội để tìm kiếm phản hồi về những phát hiện và khuyến nghị của nghiên cứu.
Ngân hàng thế giới rất biết ơn sự hợp tác và định hướng của Bộ Công Thương, đặc biệt bởi ông
Trương Thanh Hoài (Phụ trách Cục Công nghiệp), trong việc soạn thảo báo cáo này và cùng phối
hợp tổ chức hội thảo tháng 5 năm 2017. Nhóm cũng muốn cảm ơn hỗ trợ của Cơ quan Phát triển
Doanh nghiệp (AED) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI).
Khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhân và thực trạng liên kết ở Việt Nam
Hướng tới mục tiêu hiện thực hóa các chương trình hỗ trợ
•
Báo cáo này đóng góp như thế nào? Mục tiêu của báo cáo này là hướng tới thúc đẩy sự phát triển
của khu vực tư nhân (PSD) và hỗ trợ liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) trên cơ sở tiến hành các phân tích hoạt động. Báo cáo được soạn thảo dựa trên nền
tảng phong phú các nghiên cứu về khu vực tư nhân của Việt Nam. Đặc biệt, các báo cáo gần đây
như "Việt Nam 2035" (Ngân hàng Thế giới và Bộ KH&ĐT 2016) và "Việt Nam trước ngã rẽ: tham
gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thế hệ mới" (World Bank 2016) đã phân tích sâu về những thách thức
và cơ hội liên quan đến năng suất lao động, chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) và đổi mới sáng tạo. Báo
cáo này dựa trên các công trình trước đó với trọng tâm là phân tích các trở ngại cụ thể đối với liên
kết và thiết kế các chương trình có thể giảm thiểu các trở ngại đó. Ngoài ra, ba phân tích bổ trợ được
thực hiện như là tài liệu đầu vào cho báo cáo này, bao gồm: (i) Khảo sát Doanh nghiệp (2015) về
phân tích dữ liệu về các vấn đề môi trường đầu tư ở Việt Nam; (ii) rà soát lại các chương trình
DNVVN được thực hiện trong nước; và (iii) các nghiên cứu điển hình ngành liên quan đến các liên
kết trong các công ty ô tô và điện tử ở Việt Nam.
•
•
Sự phù hợp với các ưu tiên chính sách và chương trình của Chính phủ: Công trình này
hoàn toàn phù hợp với các ưu tiên chiến lược của Chính phủ liên quan đến phát triển khu vực tư
nhân, như được nêu trong Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội Việt Nam 2011-2020 và Báo cáo
Tầm nhìn Việt Nam năm 2035. Nó cũng phù hợp với Hệ thống Chẩn đoán Quốc gia năm 2016 của
WBG cho Việt Nam, nhấn mạnh nhu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh, đặc biệt đối với khu vực
tư nhân trong nước. Nó cũng đại diện cho một trong những lĩnh vực trọng tâm mang tính chiến lược
trong cam kết của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, như được nêu trong Khung Hợp tác Quốc gia
cho giai đoạn FY18-22.
Xây dựng các chương trình tích hợp để hỗ trợ khu vực tư nhân và tăng cường liên kết: Nghiên
cứu này kết hợp và bổ sung các hoạt động do khối Thương mại và Cạnh tranh của nhóm Ngân hàng
Thế giới đang thực hiện tại Việt Nam. IFC, một thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới đang
triển khai một dự án hỗ trợ kỹ thuật nhằm cải thiện môi trường pháp lý và kinh doanh và nâng cao
khả năng của các nhà cung cấp trong nước khi tham gia chuỗi giá trị trong các lĩnh vực mục tiêu.
Mục tiêu báo cáo này là xem xét các trở ngại chính về môi trường kinh doanh cản trở khả năng cạnh
tranh của khu vực tư nhân trong nước, và tạo điều kiện cho tăng cường kết nối với khu vực FDI và
tác động lan tỏa của khu vực này trong lĩnh vực chế biến chế tạo. Trên cơ sở các phát hiện của báo
cáo, các công việc tiếp theo sẽ tập trung vào tăng cường năng lực của Chính phủ Việt Nam để tạo
điều kiện phát triển khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân trong nước, nhằm tận
dụng các cơ hội do thương mại quốc tế và hội nhập đem lại trong việc thúc đẩy chuỗi giá trị. Các
công việc này sẽ được thực hiện trong Khuôn khổ Chương trình Quan hệ Đối tác Chiến lược
Australia-Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam- Giai đoạn II (ABP2)
•
Đẩy mạnh sự hợp tác của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và Ngân hàng Thế giới (WBG):
Dự án hợp tác của WB và IFC được thiết kế để hỗ trợ và thúc đẩy các khoản đầu tư tiềm năng của
IFC. IFC và WB tại Việt Nam đang thiết kế một chương trình tài trợ theo chuỗi giá trị nhằm tăng
cường năng lực của các ngân hàng thương mại trong việc cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, xây dựng dựa trên mối quan hệ và quy trình giao dịch với các bên liên quan khác trong
chuỗi giá trị. IFC đã thành công trong việc giới thiệu một công cụ tài chính thông qua Chương trình
Tài chính Đối tác Thương mại toàn cầu – GTSF. Chương trình này hỗ trợ các nhà cung cấp trong
chuỗi giá trị, như dệt may, bằng cách cung cấp các khoản thanh toán sớm nhằm giúp giảm rủi ro từ
người mua, nâng cao sức mạnh tài chính cũng như quản lý hiệu quả dòng vốn lưu động.
Tóm tắt
1. Cải thiện tăng trưởng năng suất, đặc biệt là của khu vực tư nhân trong nước, là một ưu tiên
hàng đầu của Việt Nam. Việt Nam đã thành công trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Tuy nhiên, hầu hết các công ty
trong nước còn có quy mô nhỏ và chỉ phục vụ thị trường nội địa. FDI đã mang lại những lợi
ích to lớn cho Việt Nam về tăng trưởng, xuất khẩu và việc làm, nhưng ít quan tâm hơn đến
phát triển mối liên kết với nền kinh tế trong nước. Điều này được phản ánh trong việc giá trị
gia tăng nội địa thấp và nền tảng cung cấp yếu của Việt Nam. Với sự cạnh tranh toàn cầu ngày
càng tăng và tham vọng mở rộng chuỗi giá trị, Việt Nam đang có cơ hội đặc biệt để khai thác
vị trí hiện tại trong GVC.
2. Nhận thức được thách thức và cơ hội này, Chính phủ đã đưa ra khung chính sách về Công
nghiệp Hỗ trợ (CNHT) nhằm nâng cao năng lực và công nghệ của các nhà cung cấp trong
nước nhằm tạo thuận lợi cho liên kết với FDI, đồng thời giúp họ tiếp cận thị trường nước
ngoài. Chính phủ đang trong quá trình thực hiện chương trình phát triển CNHT, cũng như rà
soát lại chính sách DNVVN về phát triển khu vực tư nhân trong nước. Việc thiết kế và triển
khai chi tiết của các chương trình và chính sách mới này vẫn cần phải được xây dựng. Vì vậy
một trong những mục tiêu của báo cáo này là đóng góp cho những nỗ lực nêu trên của Chính
phủ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhân trong nước và tạo điều kiện tăng
cường hiệu ứng lan tỏa và liên kết của FDI.
3. Có một số nhân tố chính quyết định tiềm năng cho sự liên kết và và lan tỏa từ FDI. Báo cáo
này dựa trên khung khái niệm được trình bày bởi Farole và Winkler (2014) phân tích tiềm
năng này bằng cách xem xét ba yếu tố trung gian: (i) tiềm năng lan toả của các công ty nước
ngoài, (ii) năng lực hấp thụ của các doanh nghiệp trong nước, và (iii) Các yếu tố của nước chủ
nhà và khung thể chế. Mặc dù khuôn khổ này xem xét một số kênh phục vụ hiệu ứng lan tỏa,
bao gồm cả chuyển dịch nhân công và tái cơ cấu thị trường, nghiên cứu này tập trung vào
chuỗi cung ứng làm kênh chính và nhấn mạnh những thất bại của thị trường và những trở ngại
có thể ngăn cản quá trình liên kết ở Việt Nam.
4. Nhiều nghiên cứu phong phú về khu vực tư nhân của Việt Nam đã được thực hiện trong những
năm gần đây. Một vài nghiên cứu quan trọng ở cấp độ doanh nghiệp đã đưa ra cái nhìn nhất
quán về những thách thức cạnh tranh ở cấp doanh nghiệp và bản chất của các liên kết FDI ở
Việt Nam. Dựa trên những chẩn đoán trước đó, báo cáo này đưa ra các phân tích mới tập trung
vào các trở ngại đối với liên kết và tập trung vào việc vận hành chương trình nghị sự phát
triển liên kết FDI ở Việt Nam. Công việc được thực hiện bằng cách xem xét cả kinh nghiệm
quốc tế và trong nước, và đề xuất các giải pháp củng cố chính sách và các chương trình để hỗ
trợ khả năng cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp ở Việt Nam.
Những phát hiện và đề xuất chính
5. Dữ liệu mới nhất khẳng định những phát hiện trước đây về những điểm yếu của khu vực tư
nhân ở Việt Nam là chính xác. Nhằm bổ sung cho nền tảng hiểu biết hiện tại bằng việc tập
trung vào các vấn đề chính liên quan đến liên kết, phân tích dữ liệu khảo sát doanh nghiệp
gần đây trong Chương 2 sẽ kiểm chứng lại mức tăng năng suất và đổi mới sáng tạo của doanh
nghiệp ở Việt Nam, cũng như các đặc điểm doanh nghiệp và các cản trở chính về môi trường
đầu tư dẫn đến hạn chế liên kết với các công ty nước ngoài. Phân tích chỉ ra, mặc dù năng
suất của doanh nghiệp nội địa có thể không quá thấp so với các nước châu Á khác, nhưng có
một số dấu hiệu cho thấy, các công ty lớn hơn, vốn thường được xem là có tiềm năng trở
thành các nhà cung cấp cho các công ty nước ngoài, đang tụt hậu. Ngoài ra, sự đổi mới của
các doanh nghiệp Việt Nam ít liên quan đến các sản phẩm hoặc công nghệ, cho thấy cần
khuyến khích họ dành nhiều nguồn lực hơn nữa cho hoạt động đổi mới.
6. Hơn nữa, các kết luận khẳng định rằng việc tạo ra các mối liên kết thượng nguồn giữa các tập
đoàn đa quốc gia (MNE)/các công ty hàng đầu và khu vực DNVVN ở Việt Nam chịu ảnh
hưởng bởi khả năng hấp thụ của doanh nghiệp trong nước, mức độ thuận lợi của môi trường
kinh doanh và tiềm năng lan tỏa của FDI. Phân tích cho thấy hỗ trợ mục tiêu cho các hoạt
động đổi mới của doanh nghiêp nội địa có thể phù hợp hơn cho phát triển các liên kết thượng
nguồn, cũng như hỗ trợ các liên doanh để thúc đẩy sự đổi mới. Ngoài ra, các chương trình
thúc đẩy liên kết thượng nguồn có thể nhằm đến các FDI tìm kiếm thị trường và thúc đẩy các
liên doanh. Các chương trình này nên khuyến khích DNNVV tập trung vào chất lượng sản
phẩm, tiếp cận đầu vào nước ngoài, đào tạo nhân lực, và các nỗ lực đổi mới và sử dụng ICT
của doanh nghiệp.
7. Sức ép tổng hợp lên cả cung và cầu tiếp tục làm suy yếu việc thiết lập mối liên kết giữa các
công ty nước ngoài và các công ty trong nước. Chương 3 xác định những hạn chế chính về
cung- cầu đối với các liên kết tại Việt Nam, tập trung vào các ngành điện tử và chế tạo.
Chương này cho thấy thiếu hụt về kỹ năng, khoảng trống thông tin về các chiến lược tìm
nguồn FDI và về các yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng, chi phí và giao hàng (QCD) là những hạn
chế chính để trở thành các nhà cung cấp. Trong khu vực sản xuất, các doanh nghiệp Việt Nam
cũng bị thiệt thòi do kỹ năng quản lý yếu; Điểm quản lý của Việt Nam xếp hạng khá thấp so
với các quốc gia được khảo sát khác như Mexico và Chile. Thiếu kỹ năng quản lý cũng đứng
đầu danh sách khi các công ty được khảo sát được hỏi về những kỹ năng khó tìm thấy (so với
các kỹ năng khác như công nghệ thông tin, phi công nghệ thông tin, viết và kỹ năng giao tiếp).
Cuối cùng, tiếp cận tài chính dường như là một cản trở chính đối với các doanh nghiệp mới
hoạt động trong ngành phần mềm điện tử/ICT. Tiếp cận tài chính đặc biệt hạn chế đối với các
doanh nghiệp muốn tạo bước đột phá để trở thành nhà cung cấp.
8. Việc thiếu kỹ năng lao động đang cản trở các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên kết và duy trì
quan hệ kinh doanh với FDI. Hạn chế này tồn tại ở nhiều ngành, mặc dù các bộ kỹ năng cụ
thể theo yêu cầu của từng ngành có thể khác nhau. Ví dụ, trong lĩnh vực điện tử /ICT, các
phàn nàn thường liên quan đến việc thiếu lao động có kỹ năng ngoại ngữ, quản lý và kỹ năng
kỹ thuật. Sự bất đối xứng thông tin là một trở ngại quan trọng đối với các nhà cung cấp trong
nước. Do thiếu các kênh chính thức để thu thập thông tin về chiến lược mua hàng của FDI,
các nhà cung cấp trong nước không có mối quan hệ kinh doanh sẽ bị thiệt thòi về cơ hội liên
kết. Hơn nữa, các công ty trong nước ít tương tác trực tiếp với bộ phận thu mua toàn cầu của
FDI, đặc biệt nếu các công ty đầu chuỗi (ví dụ: các OEM) thực hiện mua hàng tập trung từ
các văn phòng chính ngoài Việt Nam. Việc thiếu thông tin về các yêu cầu chất lượng, chi phí
và giao hàng (QCD) và các tiêu chuẩn quản lý của nhà cung cấp cũng làm giảm các cơ hội
liên kết, vì các nhà cung ứng lớp trên và nhà cung cấp của họ phải tuân thủ quy trình quản lý
chất lượng của các công ty đầu chuỗi.
9. Về phía cầu, bằng chứng cho thấy việc thiếu các nhà cung cấp cạnh tranh địa phương có thể
đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng trong GVC là vấn đề hàng đầu mà các MNE hiện đang phải
đối mặt. Ngoài ra còn có sự bất đối xứng về thông tin và sự thất bại trong việc kết nối người
mua và nhà cung cấp, ngay cả khi cả MNE và DNVVN đều có nhu cầu và động cơ để xây
dựng liên kết. Mặc dù thiếu hụt thông tin tồn tại ở cả hai phía, nhưng báo cáo nhận thấy rằng
thiếu thông tin là vấn đề của bên nguồn cung hơn là của người mua, cho thấy khoảng cách
thông tin về nguồn cung cần phải được giải quyết. Dù sao, các giải pháp như cơ sở dữ liệu
nhà cung cấp chất lượng cao (và cho phép các nhà cung cấp xây dựng uy tín của mình) là cần
thiết để các công ty đa quốc gia có thể nhận biết nhiều nhà cung cấp nội địa hơn. Dù những
hạn chế này cần đến sự can thiệp của chính phủ, phân tích cũng chỉ ra các hạn chế hiện nay
về chính sách và thể chế, như cơ chế thực thi hợp đồng yếu, thiếu liên kết chính sách, thực thi
chính sách kém và các khó khăn về năng lực trong khu vực công.
10. Các hạn chế của khu vực công cho thấy giá trị của sự tham gia của khu vực tư nhân trong các
chương trình liên kết của chính phủ, cũng như giải pháp từ khu vực tư nhân để giải quyết vấn
đề liên kết. Ở Việt Nam, những thành công ban đầu của khu vực tư nhân đã thấy rõ, như
trường hợp công ty Sản xuất Điện tử Thành Long và Công ty Tam Hợp trong lĩnh vực điện
tử và chế tạo. Các doanh nghiệp Việt Nam này đã thành công trong việc giải quyết các khó
khăn của phía cung ứng, thông qua sự hỗ trợ của các nhà cung cấp FDI cấp 1. Tuy nhiên,
nghiên cứu các trường hợp liên kết thành công này đã cho thấy, không có nhiều ví dụ về các
công ty trong nước đã tham gia thành công vào GVC. Một trong số các công ty, Thành Long,
cũng nhận được hỗ trợ kỹ thuật từ các đối tác và các tổ chức chính phủ, đặc biệt là JICA và
SIDEC. Nhìn chung, cách tiếp cận của khu vực tư nhân là quan trọng trong việc đạt được mục
tiêu liên kết. Trên thực tế, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy tầm quan trọng của khu vực tư
nhân trong lĩnh vực này. Hơn nữa, cách tiếp cận của khu vực công và khu vực tư nhân với các
liên kết không phải là không tương thích, vì cả hai đều có cùng mục đích giúp đỡ các doanh
nghiệp khắc phục những hạn chế về cung, và nắm bắt những cơ hội tiềm ẩn hơn là cố gắng
ép buộc liên kết.
11. Nghiên cứu này thiết kế dựa vào các phương pháp tiếp cận và mô hình quốc tế (Czech,
Malaysia, Chile, Costa Rica) đã được sử dụng thành công trong giải quyết các trở ngại về
cung và thất bại của thị trường làm hạn chế liên kết. Báo cáo nghiên cứu nêu bật các chính
sách quan trọng và các yếu tố thể chế cũng quan trọng không kém, đối với Việt Nam trong
quá trình thúc đẩy vận hành chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ. Các yếu tố chính đáng
chú ý bao gồm (i) khuôn khổ thể chế và sự phối hợp giữa các bộ ngành, (ii) sự thuận lợi cho
các luồng thông tin và các mối liên hệ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, (iii) tăng
cường hỗ trợ nâng cao năng lực các nhà cung cấp trong nước; và (iv) giảm các rào cản trong
môi trường kinh doanh, được đưa trực tiếp vào lộ trình thực hiện chương trình này ở cuối báo
cáo (xem dưới đây).
12. Mặc dù Việt Nam hiện đã có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, các chương
trình này có những thiếu sót làm hạn chế khả năng tăng cường cạnh tranh và thúc đẩy liên kết
với FDI. Việc rà soát các chương trình và chính sách về doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện
trong Chương 4 sẽ làm sáng tỏ mối liên hệ của các chương trình này với những khó khăn mà
doanh nghiệp gặp phải, những trở ngại đối với liên kết và làm nổi bật những khoảng trống.
Các chương trình này bao gồm từ cải tiến công nghệ, đổi mới sáng tạo cho đến phát triển thị
trường, đào tạo kỹ năng cũng như các gói tài chính độc lập. Phân tích cho thấy, các chương
trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm giải quyết những khó khăn của doanh nghiệp, có
hiệu quả chưa rõ ràng, do thiếu hệ thống giám sát và đánh giá toàn diện. Hơn nữa, cần thiết
phải có sự điều phối chiến lược cấp cao cũng như thiết kế và thực hiện tốt để đảm bảo hiệu
quả và tác động của các chương trình. Đánh giá cho thấy, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ việc
sắp xếp lại các chương trình trùng lắp; Dựa trên chu kỳ sống của doanh nghiệp theo giai đoạn
(khởi sự, tăng trưởng, đi vào phát triển ổn định) để xác định các chương trình hỗ trợ DNVVN
còn thiếu; Đảm bảo quá trình giám sát và đánh giá (M&E) thống nhất. Việc thực hiện cũng
sẽ được cải thiện thông qua bảo đảm tính bền vững của chương trình (bao gồm khả năng dự
báo ngân sách); sự tham gia của khu vực tư nhân trong thiết kế và thực hiện; và cải thiện quy
trình của các Kế hoạch 5 năm về Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
13. Dựa vào kết luận của các chương trước, Chương 5 đề xuất "Lộ trình Thực hiện Chương trình
Công nghiệp hỗ trợ và Tăng cường Năng lực Cạnh tranh DNVVN". Lộ trình này tập hợp các
bài học kinh nghiệm quốc tế và quốc gia trong việc thực hiện các chương trình hỗ trợ của
Chính phủ. Rõ ràng là, thành công của chương trình công nghiệp hỗ trợ liên quan đến gói các
giải pháp tích hợp cho doanh nghiệp, hơn là các nỗ lực riêng lẻ. Lộ trình đề xuất ba trụ cột
chính cho việc vận hành chương trình CNHT ở Việt Nam (xem hình bên dưới). Một trụ cột
bổ sung thứ tư cũng được thảo luận, đề xuất biện pháp giải quyết các khó khăn chung trong
môi trường kinh doanh.
Các trụ cột chính của Đề xuất Lộ trình Phát triển Công nghiệp Hỗ trợ
Triển khai Chương trình Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) và Tăng cường Năng lực cạnh tranh
Doanh nghiệp nội địa tại Việt Nam
Thiết lập một Chương
Xác định những hạn chế
Môi trường thể chế và quản
trình phát triển Nhà cung
cấp (SDP) để thúc đẩy
Công nghiệp Hỗ trợ trong
những lĩnh vực ưu tiên
trong môi trường kinh
doanh để tăng cường
đổi mới sáng tạo
trị cho chính sách Công
nghiệp Hỗ trợ
Trụ cột 4: Tạo điều kiện
thuận lợi và thúc đẩy đào
tạo kỹ năng hương đến
nhu cầu, dịch vụ quản lý,
chất lượng/tiêu chuẩn
cũng như cải thiện hệ sinh
thái R&D thông qua: (i) sử
dụng các biện pháp
khuyến khích hành vi; (ii)
thúc đẩy các phương thức
đào tạo và tư vấn thay
thế, phát triển các nhóm
R&D thông qua hợp tác
công- tư với các trường
đại học
Trụ cột 1: (i) Thành lập Ủy
ban hỗn hợp về năng lực
cạnh tranh của công
nghiệp hỗ trợ với sự tham
gia của cả khu vực công và
tư (các công ty và các nhà
cung cấp chính trong
GVC); (ii) Cải thiện luật lệ,
môi trường kinh doanh;
(iii) Cơ quan CNHT quản lý
chương trình phát triển
nhà cung cấp (SDP)
Trụ cột 2: Kết nối các tập
đoàn đa quốc gia và các
công ty nội địa
Trụ cột 3: Thiết lập một
Chương trình phát triển
nhà cung cấp (SDP) để hỗ
trợ các doanh nghiệp nội
địa với: (i) dịch vụ tư
vấn/trợ giúp; và (ii) nâng
cấp thiết bị
14. Trụ cột đầu tiên nhằm tăng cường và hợp lý hoá quản trị và thể chế về chính sách CNHT và
thực hiện các chương trình liên kết (cụ thể là một chương trình dành riêng cho phát triển các
nhà cung cấp ở Việt Nam) thông qua (i) thành lập một uỷ ban liên ngành về phát triển công
nghiệp hỗ trợ, (ii) thành viên khu vực tư nhân trong ủy ban, và (iii) cung cấp quyền tự chủ và
tăng cường năng lực cho cơ quan đầu mối trong việc xây dựng CNHT. Các biện pháp này giải
quyết sự thiếu phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, giữa chính phủ và khu vực tư nhân, sự
phân mảnh các chính sách và chương trình cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa và các ngành công nghiệp hỗ trợ.
15. Trụ cột thứ hai nhằm thúc đẩy kết nối các tập đoàn đa quốc gia (MNE) và các công ty trong
nước bằng cách giảm chi phí tìm kiếm và kết nối cho cả hai phía, thông qua tổ chức hội thảo
chia sẻ thông tin về yêu cầu và cách thức quyết định mua hàng của FDI, phát triển cơ sở dữ
liệu trực tuyến chất lượng cao (lấy khu vực tư nhân làm trọng tâm), và thực hiện các dịch vụ
kết nối nhà cung cấp tiềm năng với các công ty FDI mới hoặc hiện có tại Việt Nam. Trụ cột
này đề cập cụ thể tới các khó khăn chính và thất bại của thị trường trong kết nối, đặc biệt là
thiếu thông tin và thất bại trong phối hợp giữa cung và cầu.
16. Trụ cột thứ ba nhằm thiết kế và thực hiện chương trình Phát triển Nhà cung cấp dựa trên nhu
cầu (SDP) nhằm nâng cấp doanh nghiệp nội địa trong các ngành trọng điểm có tiềm năng liên
kết cao. Trụ cột này tập trung một loạt sáng kiến hỗ trợ theo chiều dọc và chiều ngang trong
các lĩnh vực cụ thể cho SDP – bao gồm dịch vụ tư vấn chuyên biệt, kỹ năng quản lý và kỹ
thuật, nâng cấp máy móc và đáp ứng các tiêu chuẩn và chứng nhận về lao động và môi trường
– nhằm nâng cao năng lực nội địa. Hỗ trợ này có thể được cung cấp thông qua việc sử dụng
các ưu đãi khuyến khích hành vi nhằm cải thiện, cả các nhà cung cấp địa phương và cả MNE,
khuyến khích họ tìm nguồn cung ứng tại địa phương hoặc đầu tư vào đào tạo, nghiên cứu và
phát triển cho hệ thống cung ứng địa phương. Một loạt công cụ hỗ trợ có thể sử dụng để cải
thiện khả năng vay vốn ngân hàng cho nhà cung cấp nội địa, từ hỗ trợ trực tiếp đến hỗ trợ tài
chính gián tiếp thông qua ưu đãi thuế. Những ưu đãi này phải gắn liền với hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp, có trọng tâm trọng điểm, và phải giảm thiểu sự biến dạng thị trường (ví dụ,
tránh hiện tượng các biện pháp ưu đãi chèn ép, làm thui chột các giải pháp tự thân của thị
trường trong phát triển liên kết). Trụ cột này nhằm giải quyết vấn đề năng lực cạnh tranh yếu
kém của các nhà cung cấp trong nước.
17. Trụ cột thứ tư (trụ cột bổ sung) nhằm giải quyết các trở ngại theo chiều ngang trong môi
trường kinh doanh ở Việt Nam. Những trở ngại này tồn tại đồng thời ở nhiều lĩnh vực, liên
quan đến kỹ năng, năng lực quản lý, đổi mới, và tiêu chuẩn. Do hiện Việt nam đã có các
chương trình DNVVN nhằm giải quyết các cản trở kể trên, trụ cột này đề xuất giải quyết một
số vấn đề căn bản mang tính hệ thống trong thiết kế và triển khai các chương trình hỗ trợ
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hỗ trợ phát triển liên kết của Ngân hàng Thế giới
18. Theo yêu cầu của Bộ Công Thương, Ngân hàng Thế giới đã khởi xướng một dự án hỗ trợ kỹ
thuật và tư vấn trong lĩnh vực phát triển liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp nước ngoài. Dự án bao gồm việc nâng cao năng lực doanh nghiệp thông qua chương
trình phát triển nhà cung cấp thí điểm; Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung cấp trực tuyến, xây
dựng năng lực cho Bộ Công Thương để chủ trì và duy trì cơ sở dữ liệu, cũng như cho một số
tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp để thực hiện kết nối hiệu quả B2B nhằm thúc đẩy liên kết sản
xuất giữa các nhà cung cấp tiềm năng với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Phát
triển chiến lược mới nhằm thu hút FDI thế hệ mới; và Xây dựng năng lực cho Bộ Công thương
và các tổ chức có liên quan. Cách tiếp cận áp dụng ở Việt Nam này được lấy cảm hứng từ mô
hình SDP của CH Séc. Dự kiến dự án thí điểm này sẽ được thực hiện song song cùng với đánh
giá tác động dự án, để có thể rút ra các bài học sớm. Cụ thể, việc đánh giá tác động sẽ giúp
xác định xem liệu các công cụ của dự án thí điểm được lựa chọn có hiệu quả và các lĩnh vực
cần cải thiện có phải thật sự cần thiết không.
Chương 1: Giới thiệu
Mục tiêu và bối cảnh
19. Mục tiêu của báo cáo này nhằm cung cấp thêm thông tin cho Chính phủ Việt Nam để
thực hiện hiệu quả hơn các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực tư
nhân trong nước1 và tăng cường hiệu ứng lan tỏa và liên kết của đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI). Báo cáo này nằm trong khuôn khổ chính sách phát triển Công nghiệp Hỗ trợ
(CNHT) của Chính phủ nhằm nâng cao năng lực và công nghệ của các doanh nghiệp trong
nước nhằm tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp liên
Hộp 1: Cchương trình phát triển công
kết với FDI cũng như giúp họ thâm nhập các thị
nghiệp hỗ trợ (CNHT), 2016-25
trường nước ngoài (xem dưới đây).2 Đạt được sự tiến
Hỗ trợ doanh nghiệp trong các linh vực
bộ trong các lĩnh vực này được coi là một phần không
chính:
thể thiếu cho tham vọng của Việt Nam trong việc mở
•
•
Phát triển các nhà cung cấp cho khách
hàng trong và ngoài nước.
Áp dụng hệ thống quản lý phù hợp với
yêu cầu của GVC trong quản trị doanh
nghiệp và sản xuất.
rộng sự tham gia của vào chuỗi giá trị toàn cầu (GVC)
cũng như chuyển dịch trong chuỗi giá trị tới các hoạt
động có giá trị gia tăng cao hơn.
20. Hiệu ứng lan tỏa của FDI – tăng năng suất từ
chuyển giao kiến thức và công nghệ từ các nhà đầu
tư nước ngoài sang nền kinh tế địa phương – được
coi là đầu vào có giá trị nhất cho tăng trưởng và
phát triển. Như nhiều nước trong khu vực, Việt Nam
thu hút FDI với mong muốn công nghệ mới, kỹ năng
quản lý cao, cơ hội tiếp cận thị trường mới từ các tập
đoàn đa quốc gia (MNE) lan tỏa sang các doanh
nghiệp trong nước, dẫn đến cải thiện năng suất của
•
•
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
cho SI thông qua đào tạo.
Nghiên cứu và phát triển, chuyển giao
công nghệ sản xuất phụ tùng, phụ kiện,
nguyên vật liệu.
•
Xây dựng cổng thông tin SI.
Nguồn: Quyết định về chương trình SI, ngày 18 tháng 01
năm 2017, Chính phủ
các doanh nghiệp này. Phần lớn lợi ích năng suất tăng đến từ liên kết dọc giữa MNE/công ty
đầu chuỗi và các công ty trong nước theo chuỗi cung cấp.3 Thực tế, sự xuất hiện của các nhà
cung cấp trong nước cho các MNE là yếu tố quan trọng cho phép các nước Đông Nam Á khác
– như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore – dịch chuyển lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá
trị. Trọng tâm của nghiên cứu này là về các mối liên kết chuỗi cung ứng phù hợp với khung
chính sách của CNHT.
1 Doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 97,6% tổng số doanh nghiệp theo "Sách
trắng về DNVVN Việt Nam năm 2014", do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014) xuất bản, Hà Nội: Nhà xuất bản Thông Kê, p. 36.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa này có ít hơn 100 nhân viên trong các lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
2 Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được định nghĩa là các ngành sản xuất nguyên liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho việc
sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh. Trong báo cáo này, chương trình CNHT và phát triển các liên kết thượng nguồn sẽ được sử
dụng hoán đổi cho nhau. Cũng có thể lưu ý rằng nó bao gồm cả các nhà cung cấp nước ngoài và trong nước. Thuật ngữ "địa
phương" và "các doanh nghiệp trong nước" cũng được sử dụng hoán đổi cho nhau như FDI, các công ty đa quốc gia và các công
ty có vốn đầu tư nước ngoài.
3 Ngoài các chuỗi cung ứng – trọng tâm của nghiên cứu này – các cơ chế bổ sung mà qua đó FDI lan tỏa đến nền kinh tế địa
phương bao gồm chuyển dịch lao động (tức là kiến thức của doanh nghiệp nước ngoài sẽ theo người lao động truyền tải đến
doanh nghiệp địa phương khi người lao động đó chuyển sang làm cho doanh nghiệp địa phương ), và hiệu ứng cạnh tranh và
cung cấp mô hình mẫu.
21. Những hạn chế về cung và thất bại của thị trường thường cản trở quá trình liên kết.
Kinh nghiệm quốc tế và nghiên cứu lý thuyết cho thấy, mặc dù nhiều quốc gia đã thu hút FDI
thành công, hiệu ứng lan tỏa thu được ở các quốc gia này không giống nhau do các thất bại
của thị trường (Moran 2014). Quá trình liên kết là hàm tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm
tiềm năng lan tỏa của FDI, năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước, cũng như chính
sách kinh doanh và môi trường thể chế của nước sở tại.4 Đã có những nghiên cứu làm sắc nét
hơn sự hiểu biết của chúng ta về các hạn chế và thất bại thị trường từ phía cung, gây cản trở
tới liên kết ở Việt Nam.
22. Một nền tảng phong phú các nghiên cứu về khu vực tư nhân của Việt Nam đã được thiết
lập trong những năm gần đây. Một số công trình nghiên cứu quan trọng được thực hiện ở
Việt Nam5 đã đưa racái nhìn nhất quán về thách thức cạnh tranh cấp doanh nghiệp và bản chất
liên kết FDI ở Việt Nam. Một số kết luận chính nhấn mạnh trong những nghiên cứu này bao
gồm:6
• Khu vực tư nhân trong nước bị ảnh hưởng từ suy giảm tăng trưởng lao động và năng suất
tổng (TFP) kể từ đầu thế kỷ 21, thể hiện ở việc đảo chiều từ tăng trưởng nhanh chóng của
những năm 1990 và giảm triển vọng tăng trưởng trong tương lai. Mặc dù doanh nghiệp
vừa và nhỏ đã tăng về số lượng và ngày càng thâm dụng vốn hơn, từ giữa những năm
2000 vẫn có những quan ngại về khả năng họ có thể phát triển lớn hơn và đạt được hiệu
quả kinh tế về quy mô theo thời gian. Đặc biệt, sự thiếu năng động của các ngành dịch vụ
đã được nhấn mạnh.
• Một sân chơi với lợi thế nghiêng về doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có quan hệ
thân quen, hay sở hữu nước ngoài, cùng với môi trường kinh doanh kém thuận lợi (như
các quy định về kinh doanh, dịch vụ căn bản và cơ sở hạ tầng còn hạn chế) làm suy yếu
nghiêm trọng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, bất kể quy mô.
• Hầu hết doanh nghiệp nội địa không đủ năng lực để liên kết với công ty nước ngoài đáp
ứng yêu cầu của họ về chất lượng, giá cả và độ tin cậy, và để tiếp nhận kiến thức và công
nghệ mới. Doanh nghiệp không đủ năng lực đổi mới và có kỹ năng hạn chế là trở ngại
chính cho liên kết. Các doanh nghiệp thường đầu tư hướng đến duy trì hoặc tăng năng lực
sản xuất, nhưng ít khi hướng đến cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa,
cũng như đổi mới.
23. Báo cáo này tập trung vào việc hiện thực hóa chương trình nghị sự phát triển liên kết
FDI ở Việt Nam. Trên cơ sở các phân tích từ các nghiên cứu nói trên, báo cáo đánh giá các
kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đề xuất các chính sách và chương trình hỗ trợ khả năng
cạnh tranh và liên kết ở Việt Nam.
4 Khung này được xây dựng dựa trên công trình của Farole T. và D. Winkler (WB, 2012); Paus and Gallagher, 2008.
5 Những công trình này bao gồm: Việt Nam 2035 '(WB và Bộ KH&ĐT 2016),' Việt Nam trước những ngã rẽ' (World Bank
2016), Brandt et al. (2016), và Newman et al. (2015). Các nguồn dữ liệu bao gồm Dữ liệu điều tra Thống kê Công ty (GoV) và
điều tra riêng lẻ, có từ năm 2000 đến đầu năm 2010.
6 Xem Phụ lục 1 để biết tóm tắt chi tiết hơn về các kết luận chủ yếu của các báo cáo và nghiên cứu gần đây, bao gồm cả 'Việt
Nam 2035' (Ngân hàng Thế giới và Bộ KH & ĐT 2016), 'Việt Nam trước những ngã rẽ' (World Bank 2016), Brandt và cộng sự
(2016), và Newman và cộng sự (2015).
Sự phù hợp với những ưu tiên chính sách và chương trình của Chính phủ Việt
Nam
24. Nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với các ưu tiên chiến lược của Chính phủ liên quan
đến phát triển khu vực tư nhân. Những ưu tiên này được đề cập cụ thể trong Chiến lược
Phát triển Kinh tế Xã hội Việt Nam 2011-2020, Báo cáo Tầm nhìn Việt Nam năm 2035, cũng
như Báo cáo Chẩn đoán hệ thống Quốc gia năm 2016 (SCD) của Ngân hàng Thế giới cho
Việt Nam, trong đó nhấn mạnh nhu cầu tăng cường năng lực cạnh tranh, đặc biệt đối với khu
vực tư nhân trong nước vì Việt Nam mong muốn tránh "bẫy thu nhập trung bình" và trở thành
một nước công nghiệp hoá hiện đại. Bộ Công thương, cơ quan đầu mối về xây dựng năng lực
của công nghiệp hỗ trợ Việt nam và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI)7 là một trong những đối
tác chính của chương trình nghị sự này.
25. Kết luận từ nghiên cứu này có thể cung cấp thông tin cho việc thiết kế và hỗ trợ thực
hiện các chính sách và chương trình chính của Chính phủ Việt Nam nhằm phát triển
khu vực tư nhân trong nước và tạo thuận lợi cho liên kết với doanh nghiệp nước ngoài.
Một nghị định mới về công nghiệp hỗ trợ được ban hành cuối 2015, tiếp theo là một Quyết
định của chính phủ về "Chương trình Phát triển Công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2016 – 2025",
cụ thể hóa một số nội dung của Nghị định cũng được ban hành đầu 2017.8 Tài liệu thứ hai nêu
ra các yếu tố chính của Chương trình nâng cao năng lực doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân
lực, hỗ trợ tài chính, xúc tiến R&D, công nghệ và đổi mới. Hơn nữa, một luật về hỗ trợ
DNVVN đã được ban hành để tăng cường hỗ trợ cho các DNVVN ở Việt Nam.9 Luật này xác
định các lĩnh vực hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các cơ quan thực hiện10.
Việc triển khai và thực hiện các chi tiết của các chương trình mới vẫn cần phải được xây dựng
và với sự phối kết hợp của các chương trình của Chính phủ để hỗ trợ các doanh nghiệp trong
nước, có một giá trị rất lớn trong việc xác định những khoảng trống và bài học rút ra từ kinh
nghiệm trước đây, cũng như để thúc đẩy kinh nghiệm quốc tế. Cuối cùng, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, thông qua Cục Đầu tư nước ngoài (FIA), đang trong quá trình xây dựng một Chiến
lược Đầu tư mới và kế hoạch hành động thực hiện với sự hỗ trợ của Nhóm Ngân hàng thế giới
(WBG). Chiến lược này nhằm thúc đẩy và thu hút đầu tư nước ngoài "thế hệ 2" vào Việt Nam,
có tiềm năng mang lại giá trị gia tăng cao, phát triển môi trường bền vững, và tăng cường liên
kết FDI và DNVVN.
7 Trong Bộ Công Thương, Vụ Công nghiệp nặng, nay là Cục Công nghiệp, chịu trách nhiệm cho chương trình nghị sự phát triển
CNHT.
8 Nghị định về Công nghiệp hỗ trợ số 111/2015 / NĐ-CP, ngày 03 tháng 11 năm 2015 và Quyết định số 68 / QĐ-TTg ngày 18
tháng 01 năm 2017.
9 Động lực cho luật mới đến từ sự thay đổi của môi trường toàn cầu và sự xác định những khoảng cách đáng kể trong việc hỗ trợ
DNVVN hiệu quả. Xin vui lòng tham khảo: Chính phủ Việt Nam. 2015. "Kế hoạch cải cách và chính sách để nâng cao hiệu quả
của DNVVN trong Tái cơ cấu kinh tế, Báo cáo tóm tắt". Uỷ ban Kinh tế Trung ương, Việt Nam.
10 Theo luật DNVVN, dự kiến sẽ có hai loại hỗ trợ: (a) hỗ trợ chung cho tất cả các DNVVN và (b) hỗ trợ cụ thể cho các loại
hình DNVVN, cụ thể: Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; Doanh nghiệp Hộ kinh doanh chuyển đổi sang các DNVVN; Và các
DNVVN gắn với chuỗi giá trị và các cụm công nghiệp. Hỗ trợ trước đây bao gồm: tiếp cận tín dụng, hỗ trợ về thuế, tiếp cận đất
đai, ươm tạo và nâng cao năng lực công nghệ, mở rộng thị trường, thông tin và tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực. Hỗ trợ cụ thể
sẽ được liên kết một cách hợp lý với các vấn đề mà các DNVVN phải đối mặt.
Bối cảnh Quốc gia
26. Việt Nam là một điển hình cho câu chuyện thành công về phát triển nhanh. Tăng trưởng
kinh tế kể từ những năm 1990 thường xuyên nằm trong nhóm nhanh nhất trên thế giới, và tốc
độ giảm đói nghèo đạt gần như chưa từng có. Tăng trưởng GDP bình quân 5.5% mỗi năm,
GDP thực trên đầu người tăng gấp ba lần trong giai đoạn từ năm1990 đến năm 2014, khiến
Việt Nam có thể đạt được vị thế một quốc gia có thu nhập trung bình trong một thế hệ. Mở
rộng cơ hội trong khu vực tư nhân – và đặc biệt là lương chính thức được trả cao hơn – đã là
một kênh góp phần vào tăng trưởng mag tính công bằng cho Việt Nam. Là một phần của sự
chuyển đổi cơ cấu của đất nước từ nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang nền kinh tế dựa
vào sản xuất và dịch vụ, hơn 20 triệu việc làm mới trong khu vực tư nhân đã được tạo ra.
27. Thương mại và đầu tư tiếp tục là động lực chính cho sự phát triển nhanh chóng của Việt
Nam. Là một trong những nước hội nhập nhất trên thế giới11 với một lợi thế so sánh trong sản
xuất sử dụng nhiều lao động, Việt Nam đã thu hút thành công một lượng lớn FDI đang tìm
kiếm hiệu quả và đã gia nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Những thành quả về xuất
khẩu cũng ấn tượng không kém, với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm trên 18% trong
hai thập kỷ qua.12
28. Nhưng với tăng trưởng năng suất trì trệ, hiện đang có những quan ngại về khả năng
cạnh tranh của Việt Nam. Tăng trưởng kinh tế đã giảm trong những năm gần đây so với
thập kỷ trước đó. Tăng trưởng năng suất, động lực chính cho tăng trưởng GDP trong những
năm đầu quá trình chuyển đổi của Việt Nam đã giảm trong thập kỷ qua. Năm 2015, các doanh
nghiệp ở Việt Nam chứng kiến sự suy giảm tăng năng suất lao động ở mức hơn 4% so với
mức tăng năng suất gần 5% trung bình trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương (EAP). Ngoài
ra, sự suy giảm tăng năng suất được phản ánh qua các quy mô công ty, bao gồm cả các doanh
nghiệp lớn. (Hình 1)
Nguồn: Điều tra Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới, 2015.
11 Năm 2015, tỷ lệ thương mại/GDP đạt 170% GDP.
12 Với mức nhập khẩu đi sau không xa (phản ánh nội dung nhập khẩu cao) trong cùng thời kỳ. Trong 5 năm qua, tăng trưởng xuất
khẩu hàng hóa của Việt Nam đã tăng trung bình 15% – gần gấp 5 lần tăng trưởng toàn cầu.
29. Khu vực tư nhân có hai luồng đầu tư, khu vực FDI có hiệu suất cao được lồng ghép vào
các GVC và khu vực tư nhân trong nước. Hiện nay, sự đóng góp của các doanh nghiệp lớn,
chủ yếu là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 30% việc làm trong khu vực
doanh nghiệp Việt Nam13 và 70% tổng giá trị xuất khẩu. Chỉ có 20% doanh nghiệp trong nước
xuất khẩu. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ – đại diện cho phần lớn khu vực tư nhân trong nước
ở Việt Nam – kinh doanh nhỏ lẻ, đơn giản, thiếu quy mô, công nghệ cần thiết để tăng năng
suất mở rộng thị trường. Theo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (WEF, 2016), Việt Nam
xếp hạng 100 trong số 138 nền kinh tế về trụ cột "mức độ phức tạp trong kinh doanh" và đứng
thứ 112 về "áp dụng công nghệ" ở phía sau Philippines (42 và 57), Thái Lan (35 và 53) và
Malaysia (13 và 19)14 – phản ánh thách thức cạnh tranh của đất nước đối với các đối thủ cạnh
tranh trong khu vực.
30. Việt Nam gia nhập GVC thông qua các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã mang lại
những lợi ích đáng kể về tăng trưởng và việc làm do xuất khẩu. Tuy nhiên, FDI vẫn
không kết nối được với khu vực tư nhân trong nước. Hình thành như một trung tâm sản
xuất sản xuất và xuất khẩu, Việt Nam chuyên về công đoạn lắp ráp cuối cùng và đòi hỏi nhiều
lao động của GVC. Việt Nam hiện là nước xuất khẩu hàng đầu về may mặc và điện thoại di
động. Nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao của Việt Nam có hàm lượng nhập khẩu cao và
giá trị gia tăng trong nước thấp, do đó con số đóng góp ròng vào nền kinh tế của các công ty
FDI không cao như nhìn ngoài. Điều này cũng phản ánh sự thâm nhập hạn chế của các
DNVVN trong nước vào GVC thông qua việc trở thành nhà cung cấp cho các công ty FDI
sản xuất hàng xuất khẩu15 Các liên kết cung ứng hiện nay thường có xu hướng gắn với sản
phẩm có giá trị gia tăng thấp, như các vật tư đơn giản và bao bì. Về cơ bản, hầu hết các
DNVVN trong nước được tích hợp gián tiếp vào các GVC (chứ không phải là nhà xuất khẩu
trực tiếp) và sản xuất các linh kiện không phải quan trọng (ngoại vi) của chuỗi giá trị thượng
nguồn hoặc tham gia vào việc lắp ráp hạ nguồn. Điều này được phản ánh trong bảng xếp hạng
của Việt Nam về chất lượng của các nhà cung cấp địa phương trong Chỉ số Cạnh tranh Toàn
cầu, nơi Việt Nam xếp thứ 109 trong số 138 nền kinh tế, đứng sau Philippine (74), Thái Lan
(77) và Malaysia (22).
31. Liên kết với FDI16 đã được cải thiện nhưng vẫn chậm so với tham vọng của Chính phủ
và mức độ cạnh tranh ngày càng cao trong khu vực. Ở giai đoạn hiện tại, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp Cấp ba, được mô tả như là ngành sản xuất
các nguyên liệu đầu vào nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng và/hoặc các linh kiện đơn
giản (Hình 2). Trong lĩnh vực phần cứng ICT (ngành điện tử) và ô tô, những sản phẩm này
bao gồm nhựa, cao su, các bộ phận kim loại và khuôn mẫu. Các nhà cung cấp Cấp ba này
cũng không liên kết được với các công ty đầu chuỗi (hoặc thậm chí là các nhà cung cấp Cấp
13 Đây là gần 7 phần trăm tổng số lao động.
14 Điều này dựa trên các phản hồi từ một cuộc điều tra ý kiến điều hành được thực hiện bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) về
Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu, 2016-17.
15 FDI Nhật Bản – là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam – có 32% đầu vào từ các nhà cung cấp hoạt
động tại Việt Nam vào năm 2015, so sánh với nguồn cung cấp địa phương từ Trung Quốc (65%), Thái Lan (55%) và Indonesia
(40%).
16 Ví dụ, các doanh nghiệp Việt Nam đang bắt đầu thâm nhập vào chuỗi cung ứng của Samsung. Số lượng nhà cung cấp Cấp 1
(nhà cung cấp trực tiếp) chỉ từ 4 trong năm 2015 đã tăng lên 20 trong năm 2016. Tổng cộng gần 200 doanh nghiệp trong nước
tham gia chuỗi cung ứng cho ba nhà máy của Samsung tại Việt Nam, bao gồm 20 nhà cung cấp Cấp 1 và 178 Nhà cung cấp Cấp
một) – là những công ty có công nghệ và kiến thức để giúp họ tăng năng suất vì họ chỉ là các
nhà cung cấp gián tiếp cho các công ty đầu chuỗi,
Hình 2: Liên kết giữa FDI và doanh nghiệp trong nước
do đó không có liên hệ trực tiếp với các FDI này. Do vị trí của DNNVV, hiệu ứng lan tỏa
chưa đạt được mức tối đa, cho thấy cần thiết phải tăng cường kết nối trong các chuỗi giá trị
hiện tại (thông qua triển khai nhiều hoạt động hơn ở thượng nguồn và hạ nguồn). Mục tiêu
cho Chính phủ là phát triển mạng lưới các nhà cung cấp Cấp 1 (trực tiếp) và Cấp hai/Cấp ba
(gián tiếp) gắn với công đoạn lắp ráp cuối cùng để các công ty này chuyển sang sản xuất các
sản phẩm phức tạp hơn và đa dạng hóa xuất khẩu (Hình 2). Hơn nữa, điều này có thể hỗ trợ
các công ty trong nước có tiềm năng có thể trở thành công ty đầu chuỗi về lâu dài.
32. DNNVV có thể tăng năng suất nhanh nhất cùng với việc gia tăng liên kết, tuy nhiên
không phải tất cả các DNVVN đều có thể là ứng cử viên cho liên kết. Trong kỷ nguyên
của GVC, các MNE cạnh tranh trên thị trường quốc tế phụ thuộc vào mức độ hiệu quả và
năng suất lao động ở đẳng cấp thế giới. Họ cần có nguồn cung cấp đầu vào từ các nhà cung
cấp có khả năng cạnh tranh tương đương.17 Các nước đang phát triển thường nhầm lẫn rằng
chuỗi cung ứng được hình thành nhờ việc hỗ trợ tất cả DNVVN. Các trường hợp điển hình
về các chương trình phát triển nhà cung cấp cho thấy các công ty nhỏ thường không phải là
mục tiêu của các tổ chức hỗ trợ kết nối của nước sở tại hoặc của bộ phận tìm kiếm nhà cung
cấp của các MNC. Ngược lại, dường như có bằng chứng cho thấy các công ty địa phương có
quy mô trung bình và lớn hơn "có nhiều khả năng hơn các doanh nghiệp nhỏ trong việc đạt
được năng lực cần thiết cho liên kết dẫn tới các kịch bản "cùng có lợi"18 trong ngắn hạn. Đồng
thời, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp và tháo dỡ các rào cản về môi trường kinh doanh
mà doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp phải ở Việt Nam vẫn là yếu tố quan trọng để tăng cường sự
đóng góp của khu vực tư nhân vào tăng trưởng và nâng cao khả năng cạnh tranh của đất nước.
17
Vietnam also faces a more challenging global horizon. Wages in its competitor countries like Bangladesh and Cambodia are
already lower, and the “demographic dividend” is diminishing.
18
UNCTAD (2011). Làm thế nào để tạo ra và hưởng lợi từ các mối liên kết giữa FDI và DNVVN: Bài học từ Malaysia và
Singapore (Thực tiễn Tốt nhất về Đầu tư cho Phát triển).
33. Trong 15 năm qua, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các chính sách và chương trình nâng cao
năng lực cạnh tranh và đổi mới của khu vực tư nhân trong nước. Các chương trình này bao
gồm cả các dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS),19 và hỗ trợ tài chính cho các DNVVN. Các
chương trình BDS trải rộng từ nâng cấp công nghệ, đổi mới, sáng tạo đến phát triển thị trường,
đào tạo và kỹ năng, cũng như các gói hỗ trợ tài chính độc lập.20 Các can thiệp chính sách bao
gồm cải thiện khung pháp lý cho gia nhập thị trường,21 hoạt động doanh nghiệp cũng như
chính sách ưu đãi. Mặc dù xếp hạng kinh doanh tại Việt Nam đã được cải thiện (từ vị trí 98
năm 2012 đến 82 năm 2017), môi trường kinh doanh và khuôn khổ pháp lý cần được cải thiện
hơn nữa để đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên, cải thiện tiếp cận tài chính và thị trường, bảo
vệ quyền sở hữu và thực thi các chính sách cạnh tranh.22 Nhận thấy rằng cần phải làm nhiều
hơn và một số chương trình hiện tại có thể không hiệu quả, các sáng kiến chính sách mới đang
được tiến hành nhằm nâng cao tính cạnh tranh của khu vực tư nhân trong nước và thúc đẩy
liên kết với doanh nghiệp FDI. Điều này bao gồm ưu tiên của Chính phủ để phát triển một
mạng lưới các nhà cung cấp trong nước – được mô tả trong khuôn khổ chính sách "Hỗ trợ
ngành công nghiệp" cũng như luật về DNVVN mới được ban hành.23
Phương thức tiếp cận và phạm vi
34. Một số yếu tố chính xác định tiềm năng cho liên kết và lan tỏa từ FDI. Báo cáo này dựa
trên khung khái niệm được trình bày bởi Farole và Winkler (2014), phân tích tiềm năng này
bằng cách xem xét ba yếu tố trung gian: (i) tiềm năng lan toả của các công ty nước ngoài, (ii)
năng lực hấp thụ của các doanh nghiệp trong nước, và (iii) Các yếu tố nước chủ nhà và khuôn
khổ thể chế.24 Trong khi khuôn khổ này xem xét một số kênh lan tỏa, bao gồm cả chuyển đổi
lao động và cơ cấu lại thị trường, nghiên cứu này tập trung vào chuỗi cung ứng và phân tích
những hạn chế về cung và sự thất bại của thị trường tại Việt Nam. (Hình 3)
Hình 3. Phương thức tiếp cận: tiềm năng lan tỏa của FDI, khả năng của khu vực tư nhân trong
nước và môi trường kinh doanh
19 Các dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS) được định nghĩa là các dịch vụ phi tài chính quan trọng đối với gia nhập, sống còn,
năng suất, khả năng cạnh tranh và tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. BDS bao gồm các dịch vụ đào tạo, tư vấn và tư
vấn, hỗ trợ tiếp thị, thông tin, phát triển và chuyển giao công nghệ, và xúc tiến liên kết kinh doanh.
20 Bao gồm các khoản vay ngân hàng bằng cách cung cấp các quỹ bảo lãnh tín dụng, và Quỹ Bảo lãnh Tín dụng của Chương trình
Phát triển Việt Nam. Uỷ ban Kinh tế Trung ương Chính phủ, (2015).
21Kỉ lục số lượng công ty mới gia nhập ở Việt Nam bắt đầu trở nên ấn tượng so với các đối thủ cạnh tranh. Ở khu vực tư nhân
trong nước, đó là những công ty trẻ đã tạo ra nhiều công ăn việc làm, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ. Xem Aterido R. và Mary
Hallward-Driemeier (2015).
22 Tầm nhìn Việt Nam 2035.
23 WBG đã và đang tham gia hỗ trợ chính phủ trên cả hai lĩnh vực Công nghiệp Hỗ trợ và DNVVN. Trong lĩnh vực CNHT, IFC,
một thành viên của WBG, đang thực hiện một dự án hỗ trợ kỹ thuật bao gồm thực hiên thí điểm chương trình phát triển nhà cung
cấp, xây dựng một chiến lược và kế hoạch hành động mới nhằm thu hút FDI thế hệ 2 giúp Việt Nam tham gia vào các chuỗi giá
trị toàn cầu mới. Đối với luật Hỗ trợ DNVVN, WBG đã tham gia đóng góp ý kiến cho các dự thảo của luật, dựa trên những phát
hiện sớm của cuộc điều tra doanh nghiệp và các thông lệ quốc tế tốt.
24 Tiềm năng lan tỏa của các nhà đầu tư nước ngoài bị ảnh hưởng bởi mức độ và cơ cấu sở hữu nước ngoài, động lực FDI và các
chiến lược tìm nguồn cung ứng toàn cầu của GVC. Điều này bao gồm, ví dụ, mức độ mà FDI chia sẻ yêu cầu quy cách mẫu sản
phẩm của họ và hướng dẫn các nhà cung cấp về cách thức đáp ứng các yêu cầu đó và bản chất của công nghệ mà MNE sử dụng.
Khả năng hấp thụ, hay khả năng hấp thụ công nghệ và tri thức nước ngoài lần lượt được định hình theo đặc điểm của các công ty
trong nước, nghĩa là khoảng cách công nghệ giữa nước ngoài và các công ty trong nước, nghiên cứu và phát triển, nguồn nhân
lực, quy mô công ty, động lực ngành xuất khẩu, cạnh tranh và loại hình sở hữu. Chính sách ở cấp quốc gia có thể bao gồm các
quy định về thị trường lao động, quyền sở hữu trí tuệ, tiếp cận với tài chính, cơ sở hạ tầng đào tạo và đổi mới, chính sách thương
mại và đầu tư, thể chế và quản trị, và cạnh tranh. Tất cả các quá trình này phụ thuộc lẫn nhau và năng động. Ví dụ, những thay
đổi về đặc điểm công ty trong nước và/hoặc thay đổi chính sách của nước chủ nhà có thể ảnh hưởng đến các chiến lược sản xuất
và tìm nguồn cung ứng của các nhà đầu tư nước ngoài.
Thu hút nguồn
FDI có tiềm năng
lan tỏa
Khả năng hấp
thụ của khu vực
tư nhân nội địa
Quy trì nh liên kết
chuỗi cung ứng
Môi trường kinh doanh – Chí nh sá ch và Thể chế
Nguồn: Farole, T. và D., Winkler (2014).
35. Những công việc sau đã được thực hiện để nghiên cứu các yếu tố được vạch ra trong cách tiếp
cận trên.
• Phân tích về năng suất và đầu tư của doanh nghiệp: Phần đầu của phân tích này nghiên
cứu các rào cản môi trường kinh doanh chính cản trở tăng năng suất và đổi mới sáng
tạo của doanh nghiệp ở Việt Nam, sử dụng dữ liệu khảo sát doanh nghiệp mới nhất do
Ngân hàng Thế giới thu thập cũng như bổ sung nó bằng các nghiên cứu phân tích gần
đây về những vấn đề này.25 Tập trung vào liên kết doanh nghiệp trong nước và FDI,
phần này cố gắng hiểu rõ hơn những đặc điểm nào của doanh nghiệp và những cản trở
nào về môi trường đầu tư là ràng buộc lớn nhất trong thiết lập liên kết với các công ty
có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm xác định các lĩnh vực có thể can thiệp chính sách. So
sánh giữa các doanh nghiệp trong nước là các nhà cung cấp cho FDI và các doanh
nghiệp sản xuất phục vụ thị trường nội địa, phân tích cũng xem xét cả những hạn chế
tự thân liên quan đến khả năng của doanh nghiệp và những cản trở bên ngoài trong
môi trường kinh doanh. Nghiên cứu cũng xác định những đặc điểm và khả năng của
công ty thúc đẩy việc hấp thụ FDI lan tỏa, và loại đổi mới sáng tạo và nâng cao năng
lực nào dẫn tới việc nâng cấp kinh tế trên cơ sở bền vững. Các phân tích dữ liệu theo
đặc điểm của doanh nghiệp (ví dụ như quyền sở hữu, tuổi tác, vị trí, ngành) được sử
dụng ở những lĩnh vực liên quan nhất, và Việt Nam được so sánh với đối thủ cạnh
tranh khu vực (ví dụ Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và Campuchia). Cuối
cùng, phân tích sử dụng các thông tin sẵn có về giới trong dữ liệu khảo sát để xác định
các trở ngại cụ thể mà phụ nữ gặp phải trong khu vực tư nhân. Phân tích này được
trình bày trong Chương 2.
• Liên kết giữa FDI và khu vực tư nhân trong nước: Nghiên cứu này trước hết nêu ra
những hạn chế có thể ngăn cản các liên kết thượng nguồn, dựa trên các tài liệu học
thuật và kinh nghiệm thực tiễn ở các nước khác. Sau đó xác định những hạn chế về
nhu cầu và nguồn cung và những thất bại của thị trường tại Việt Nam dẫn đến thiếu
liên kết trong các ngành công nghiệp như điện tử và ô tô. Phần này trình bày các can
25 Khảo sát Doanh nghiệp là những cuộc khảo sát mức độ công ty so sánh các mẫu đại diện của khu vực tư nhân ở các quốc gia
khác nhau, thường xuyên được Ngân hàng Thế giới thực hiện từ năm 2002 (xem: http://www.enterprisesurveys.org). Cuộc điều
tra mới nhất cho Việt Nam, được tiến hành trong giai đoạn 2015-2016, bao gồm 996 công ty, trong đó có 294 công ty được điều
tra trong năm 2009.
thiệp chính cần thiết để giải quyết những khó khăn này ở Việt Nam, đưa ra các phương
pháp tiếp cận và mô hình khác nhau đã được áp dụng thành công tại các quốc gia khác
cho các chương trình phát triển nhà cung cấp. Cuối cùng, Nghiên cứu giới thiệu sáng
kiến đang được WBG hỗ trợ trong việc thí điểm chương trình phát triển nhà cung cấp
tại Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi giá
trị gia tăng nội địa (DVA) và chuỗi giá trị toàn cầu thông qua việc nâng cấp doanh
nghiệp, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất. Phân tích này được trình bày trong
Chương 3.
• Rà soát và đánh giá một số chương trình và chính sách DNVVN có chọn lọc: Chương
4 tiến hành việc rà soát các chương trình và chính sách của DNVVN nhằm làm sáng
tỏ tác dụng của các chương trình này trong việc giải quyết những khó khăn mà
DNVVN phải đối mặt. Kể từ 15 năm qua, đã có rất nhiều chính sách và chương trình,
bao gồm cả dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS)26 cũng như tài chính, đã được thực
hiện để hỗ trợ phát triển DNVVN và tạo thuận lợi cho phát triển liên kết. Các chương
trình trải rộng từ việc nâng cấp công nghệ, đổi mới tới phát triển thị trường, đào tạo
và kỹ năng cũng như các gói tài chính độc lập.27 Phân tích này dựa trên một nghiên
cứu bổ trợ, lập danh sách và rà soát các chương trình và chính sách DNVVN có chọn
lọc, bổ sung bằng một cuộc khảo sát đối với những đối tượng hưởng lợi từ chính sách,
và hai vòng hội thảo với các bên liên quan. Sau đó, đánh giá phù hợp của các chương
trình hỗ trợ với việc giải quyết những vấn đề của bên cung và thất bại của thị trường
mà các doanh nghiệp trong nước đang gặp phải ở Việt Nam. Các chương trình và
chính sách này có đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp trong nâng cao tính cạnh
tranh và liên kết ở Việt Nam? Khoảng trống là gì? Trong tương lai, các lĩnh vực trọng
tâm cần được Chính phủ chú trọng là gì, và làm thế nào để thiết kế chương trình hỗ
trợ hiệu quả hơn dựa trên kinh nghiệm, thực tiễn tốt học hỏi từ các nước khác?
• Chương 5 đưa ra các khuyến nghị để cải thiện các chính sách và chương trình để hỗ
trợ hiệu quả hơn khả năng cạnh tranh và liên kết của các doanh nghiệp trong nước tại
Việt Nam.
26 Dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS) được định nghĩa là một loạt các dịch vụ phi tài chính quan trọng đối với sự gia nhập, tồn
tại, năng suất, khả năng cạnh tranh và tăng trưởng của các DNVVN. BDS bao gồm các dịch vụ đào tạo, tư vấn, hỗ trợ tiếp thị,
thông tin, phát triển và chuyển giao công nghệ, và xúc tiến liên kết kinh doanh.
27 Bao gồm các khoản vay ngân hàng bằng cách cung cấp các quỹ bảo lãnh tín dụng và Quỹ bảo lãnh tín dụng của chương trình
Phát triển Việt Nam. (Ủy ban Kinh tế Trung ương Chính phủ, 2015).
Chương 2: Phân tích Năng suất Doanh nghiệp và Môi trường đầu tư
36. Như đã đề cập trong phần giới thiệu, sự phát triển năng động và cạnh tranh của khu
vực tư nhân là vấn đề cốt lõi để Việt Nam đạt được mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng
trong nước và tăng cường liên kết FDI. Nhìn chung, trong hoạt động của doanh nghiệp,
năng suất và đổi mới là hai yếu tố chủ đạo cần được cải thiện để có thêm nhiều hơn nữa doanh
nghiệp Việt Nam đáp ứng được tiêu chuẩn về chất lượng, giá cả, quy mô và thời gian giao
hàng của các MNE và những tập đoàn hàng đầu, để có thể trở nhà cung cấp cho họ. Hơn nữa,
công nghệ và kiến thức chuyển giao từ FDI, cũng như cơ hội giao thương với thị trường quốc
tế đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao năng lực hơn nữa mới có thể tận dụng
cơ hội hiệu quả và hấp thụ những tác động lan toả từ FDI (Lall, 1992).28
37. Chương này phân tích những hạn chế khách quan từ môi trường kinh doanh, cũng như những
hạn chế chủ quan của chính doanh nghiệp đã làm suy yếu năng lực cạnh tranh của khu vực tư
nhân Việt Nam và mối liên kết với các MNE. Trên cơ sở những nghiên cứu trước đây29 và sử
dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp mới nhất do Ngân hàng Thế giới thu thập, phần thứ nhất
sẽ cung cấp kết quả đánh giá mới nhất về năng suất và năng lực đổi mới của doanh nghiệp -
hai yếu tố chính của năng lực cạnh tranh. Phần thứ hai sẽ chỉ ra những đặc điểm của doanh
nghiệp và những hạn chế về môi trường đầu tư có ảnh hưởng lớn nhất đến việc hình thành
liên kết với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, để từ đó xác định những can thiệp chính
sách cần thiết cho việc phát triển các liên kết đó.30
Phân tích Năng suất31
38. Đo lường năng suất doanh nghiệp về cơ bản có thể được thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu
điều tra doanh nghiệp để làm sáng tỏ kết quả hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam, bao
gồm năng suất lao động (được định nghĩa là giá trị gia tăng trên mỗi công nhân), năng suất
vốn (được định nghĩa là tỷ lệ doanh thu với giá trị của máy móc và thiết bị) và năng suất các
yếu tố tổng hợp - TFP. Phần này trình bày tóm tắt về các kết quả đo lường nêu trên, tuy nhiên,
cần lưu ý đến đặc điểm của mỗi thước đo khi diễn giải chúng.32
28 Những năng lực này chủ yếu là nội lực của doanh nghiệp, bao hàm cả năng lực sản xuất và năng lực công nghệ/đổi mới được
tích lũy theo thời gian. Chúng bao gồm thực hành quản lý và năng lực tổ chức, được thể hiện rõ qua thực hành quản lý và công
việc thường ngày.
29Tiêu biểu nhất trong số này là: “Việt Nam 2035” (Ngân hàng thế giới và Bộ KH&ĐT 2016), “Việt Nam trước các ngã rẽ” (Ngân
hàng thế giới 2016), Brandt et al. (2016) và Newman et al. (2015). Xem phụ lục 1 để thấy tóm tắt các kết luận chính của họ.
30 Vì dữ liệu khảo sát doanh nghiệp không tập trung vào năng lực của doanh nghiệp, báo cáo này dựa trên những phát hiện của
Khảo sát Quản lý Thế giới (WMS) – một dự án nghiên cứu của Harvard-LSE-Stanford – đã phát triển một công cụ khảo sát để đo
lường các hoạt động quản lý trên toàn cầu từ năm 2002. Khảo sát bao gồm bốn khía cạnh của thực hành quản lý-hoạt động, giám
sát, mục tiêu và quản lý nhân sự (Bloom, N và J Van Reenen 2015).
31 Phần này rút ra từ một báo cáo cơ sở của Clarke (2016), có thể cung cấp theo yêu cầu. Số liệu về kết quả hoạt động là của doanh
nghiệp trung vị, được tính toán dựa trên dữ liệu ES (điều tra mới nhất của các quốc gia). Trừ khi có ghi chú khác, giá trị được thể
hiện theo đồng đô la Mỹ năm 2010.
32 Đặc biệt, năng suất lao động có lợi thế dựa vào dữ liệu chắc chắn hơn và ít giả định hơn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp được
phân tích có mức thâm dụng vốn khác nhau dẫn đến năng suất lao động khác nhau, và do đó có thể gây hiểu nhầm, đặc biệt là khi
so sánh giữa các ngành. Ngược lại, TFP có tính đến sự đóng góp của các yếu tố sản xuất khác nhau như lao động và vốn. Tuy
nhiên, chất lượng và sự sẵn có của số liệu về sử dụng vốn trong các điều tra cấp doanh nghiệp như ES nhìn chung khá thấp so với
số liệu về lao động , đặc biệt là ở các nước đang phát triển và đối với các doanh nghiệp nhỏ. Hơn nữa, đo lường TFP có thể bị ảnh
hưởng bởi các khía cạnh khác nhau của môi trường hoạt động của doanh nghiệp (ví dụ như sự phát triển của nhu cầu, tiếp cận thị
trường, sức mạnh thị trường).
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Việt Nam: Tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp vừa và nhỏ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_viet_nam_tang_cuong_nang_luc_canh_tranh_va_lien_ket.pdf

