Năng suất lao động của doanh nghiệp - Nhìn từ cách tiếp cận mới

HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP - NHÌN TỪ  
CÁCH TIẾP CẬN MỚI  
Đặng Thái Bình, Đồng Thị Thu  Linh, Nguyễn Thị Hiên,  
Viện Nghiên c u  n Độ và Tây Nam   
Tóm tắt:  
Năng suất lao động là một trong những nhân tố căn bản quyết định năng lực cạnh tranh,  
đồng thời là động lực cho quá trình phát triển dài hạn. Cải thiện năng suất lao động Việt Nam sẽ  
giúp tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.  ài viết phân t ch thực trạng năng suất lao động của  
Việt Nam, so sánh với năng suất lao động của một số nước trong khu vực từ năm 2010 đến năm  
2017. Khu vực doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động  
của toàn nền kinh tế. Do đó, bài viết tập trung phân t ch năng suất lao động của doanh nghiệp  
theo cách tiếp cận mới, nhằm giúp các nhà hoạch định ch nh sách c ng như các lãnh đạo doanh  
nghiệp có thể đưa ra được những giải pháp phù hợp để cải thiện năng suất doanh nghiệp.  
Từ khóa: Năng suất lao động, doanh nghiệp.  
LABOR PRODUCTIVITY OF ENTERPRISES - LOOKING FORWARD NEW  
APPROACH  
Abstract:  
Labor productivity is one of the basic factors determining competitiveness, and it is also  
a driving force for the long-term development process. Improving Vietnam's productivity will  
help increase national competitiveness. The paper analyzes the current situation of productivity  
in Vietnam, compared with the productivity of some countries in the region from 2010 to 2017.  
The business sector plays a very important role in improving productivity of the whole economy.  
Therefore, the paper focuses on analyzing the productivity of enterprises with a new approach,  
so that policy makers as well as business leaders can come up with appropriate solutions to  
improve enterprise‟s productivity.  
Keywords: Labor productivity, enterprises.  
1.Thực trạng năng suất lao động của Việt Nam hiện nay  
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cải thiện năng suất chính là nền tảng của nâng cao năng lực  
cạnh tranh của mọi quốc gia, đảm bảo kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Thời gian qua năng  
suất lao động của Việt Nam đã được cải thiện liên tục, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh  
271  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
tế của đất nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế  
năm 2017 theo giá hiện hành ước tính đạt 92,1 triệu đồng/lao động, tương đương 4.118 USD/lao  
động. Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2017 tăng  
6,05% so với năm 2016, bình quân giai đoạn 2011-2017 tăng 4,72%/năm.  
Bảng 1: Năng suất lao động và tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam 2010-2017  
Năm  
NSLĐ (triệu  
NSLĐ (triệu  
Tốc độ tăng  
đồng/ngƣời theo giá đồng/ngƣời theo giá  
NSLđ (%)  
thực tế)  
43,99  
55,21  
62,78  
68,65  
74,66  
79,35  
84,66  
92,10  
so sánh 2010)  
43,99  
2010  
3,59  
3,49  
2,51  
4,39  
4,91  
6,49  
5,29  
6,05  
4,35  
4,72  
5,66  
2011  
45,53  
2012  
46,67  
2013  
48,72  
2014  
51,11  
2015  
54,31  
2016  
57,30  
2017  
60,77  
Bình quân 2011 - 2015  
Bình quân 2011 - 2017  
Bình quân 2016 - 2017  
Nguồn: Tổng cục thống kê  
Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng năng suất lao động là 4,35%/năm và giai đoạn 2011-  
2017, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân là 4,72%/năm. Xét riêng năm 2016-2017, tốc độ  
tăng bình quân đạt 5,66%/năm (Bảng 1).  
Năng suất lao động tăng một phần do tăng trang bị vốn trên lao động và một phần do tăng  
TFP. Trong đó, tốc độ tăng trang bị vốn trên lao động bình quân giai đoạn 2011 - 2017 khoảng  
6,1%, TFP mặc dù tăng chậm hơn nhưng đang tăng dần một cách ổn định với tốc độ tăng khoảng  
2%/năm cho thấy sử dụng các nguồn lực đầu vào hiệu quả hơn (Báo cáo năng suất lao động Việt  
Nam, 2017).  
272  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Biểu đồ 1: Đóng góp của tăng các yếu tố vào tăng năng suất lao động từ năm 2011-2017  
Nguồn:  áo cáo năng suất Việt Nam 2017  
Theo biểu đồ 1, tốc độ đóng góp của tăng trang bị vốn trên lao động vào tăng năng suất  
lao động vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn so với đóng góp của tăng TFP vào tăng năng suất lao động.  
Trong giai đoạn từ năm 2011-2017, trang bị vốn trên lao động đóng góp tới 60% vào tăng năng  
suất lao động trong khi đó đóng góp của tăng TFP vào tăng năng suất lao động khoảng 40%.  
Nhìn chung, đóng góp của tăng TFP vào tăng năng suất lao động đã tăng lên (từ mức 24,4% năm  
2011 lên 44,5% trong năm 2017) trong khi đóng góp của tăng trang bị vốn trên lao động vào  
tăng năng suất lao động có xu hướng giảm xuống (75,6% trong năm 2011 xuống còn 55,5%  
trong năm 2017).  
Xét trong giai đoạn 2011-2017, tốc độ tăng vốn và lao động đang chậm dần, trong khi đó  
TFP có tốc độ tăng nhanh hơn. Nếu như năm 2011, tốc độ tăng vốn, tăng lao động và tăng TFP  
lần lượt là 9,26%, 2,66% và 0,85% thì đến năm 2017 tốc độ tăng vốn, tăng lao động và tăng TFP  
lần lượt là 7,7%, 0,75% và 2,63%.  
Đơn vị: %  
10  
Tꢀc đꢁ tăng vꢀn  
Tꢀc đꢁ tăng lao đꢁng  
Tꢀc đꢁ tăng TFP  
9
8
7
6
5
4
3
2
1
0
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng vốn, lao động, và TFP  
Nguồn: Viện Năng suất Việt Nam  
273  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Mặc dù sau 17 năm, từ năm 2000 đến 2017, năng suất lao động của Việt Nam đã tăng gấp  
ba nhưng năng suất lao động của Việt Nam vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực và trên thế  
giới, nhất là trong tương quan so sánh với các thành viên ASEAN. Tính theo PPP 2011, năng  
suất lao động của Việt Nam năm 2017 đạt 10.232 USD, chỉ bằng 7,2% mức năng suất lao động  
của Singapore; 18,4% của Malaysia; 36,2% của Thái Lan…(Xuân Thảo, 2019). Theo báo cáo  
của Viện Nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR), năm 2017, năng suất lao động của Việt  
Nam gấp 2 lần năng suất trung bình của nhóm nước thu nhập thấp, bằng hơn 50% nhóm các  
nước thu nhập trung bình thấp và bằng 18,3% nhóm các nước trung bình cao (Kiều Linh, 2018).  
So sánh với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Philippines,  
Malaysia và Campuchia, năng suất lao động của Việt Nam thấp nhất khi, xếp liền sau  
Campuchia ở 3 ngành: Công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng; vận tải, kho bãi, truyền thông...  
Đo năng suất lao động theo giờ công cho thấy hiệu quả sử dụng đầu vào lao động kết hợp  
với các yếu tố khác trong quá trình sản xuất. So sánh năng suất lao động theo giờ công của Việt  
Nam với một số nước Châu Á cho thấy khoảng cách còn khá xa, thậm chí khoảng cách khác biệt  
nhiều hơn so với năng suất lao động tính theo người.  
Bảng 2: Năng suất lao động tính theo giờ lao động  
(GDP theo giá cố định trên giờ, tính theo PPP 2011)  
Năm 2010  
Năm 2016  
Quốc gia  
NSLĐ (1000 So với Việt  
Quốc gia  
NSLĐ (1000 So với Việt  
USD)  
Nam (VN=1)  
USD)  
Nam (VN=1)  
Singapore  
Đài Loan  
Nhật Bản  
Hàn Quốc  
Malaysia  
Thái Lan  
Indonesia  
Phillipines  
Việt Nam  
Campuchia  
54,9  
43,9  
41,9  
30,7  
23  
15,7  
12,5  
12,0  
8,8  
Singapore  
Đài Loan  
Nhật Bản  
Hàn Quốc  
Malaysia  
Thái Lan  
Indonesia  
Phillipines  
Việt Nam  
Campuchia  
58,8  
47,5  
42,9  
33,6  
26,2  
13,1  
12,4  
9,2  
12,5  
10,1  
9,1  
7,1  
5,6  
2,8  
2,6  
2,0  
1,0  
0,5  
6,6  
10,9  
9,8  
3,1  
2,8  
7,3  
2,1  
3,5  
1,0  
4,7  
1,8  
0,5  
2,4  
Nguồn: Total Economy Database, The Conference Board.  
274  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Đáng chú ý là chênh lệch về mức năng suất lao động giữa Việt Nam với các nước vẫn  
tiếp tục gia tăng, điều này cho thấy khoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối  
mặt để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước.  
2. Cách tiếp cận mới về năng suất của doanh nghiệp  
Khu vực doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động  
của toàn nền kinh tế. Hầu hết các doanh nghiệp tăng năng suất bằng cách đổi mới, áp dụng các  
công nghệ mới và cách quản lý tốt nhất. Trong phần này sẽ đưa ra một cách tiếp cận mới về năng  
suất của doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp có thể đưa ra được các giải pháp hiệu quả hơn  
trong việc nâng cao năng suất.  
Theo truyền thống, năng suất của doanh nghiệp sẽ được xác định thông qua việc đo  
lường năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và được tính như một phần của doanh thu doanh nghiệp  
mà không thể giải thích được sự đóng góp của vốn, lao động, năng lượng hoặc các yếu tố khác.  
Nếu tất cả các doanh nghiệp được giả định là giống nhau, số lượng sản phẩm được sản xuất ra  
được xác định bằng cách lấy doanh thu chia cho chỉ số giá cấp ngành. Tuy nhiên, khi giá cả khác  
nhau giữa các doanh nghiệp trong một ngành, chỉ số giá cấp ngành không loại bỏ được tác động  
của yếu tố giá cả. Do đó, tài liệu hiện nay gọi phương pháp đo lường truyền thống là năng suất  
các yếu tố tổng hợp doanh thu (TFPR) để nhấn mạnh rằng hiệu ứng giá cả chưa được loại bỏ và  
phân biệt với năng suất yếu tố tổng hợp vật lý (TFPQ) đã được loại bỏ hiệu ứng giá cả. TFPR  
bao gồm TFPQ và các yếu tố làm thay đổi mức giá sản phẩm của doanh nghiệp.  
Sự thay đổi giá sản phẩm có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi về giá đầu vào, sự thay đổi  
về sức mạnh thị trường và sự thay đổi về chất lượng và các yếu tố khác ảnh hưởng đến nhu cầu  
sản phẩm (xem biểu đồ 3). Đo lường TFP truyền thống (TFPR) sẽ bao gồm cả các yếu tố cung  
và các yếu tố cầu. Việc chia rõ các yếu tố này vô cùng quan trọng để có một cách nhìn toàn diện  
hơn về việc làm thế nào để cải thiện năng suất công ty trong dài hạn. Lợi ích to lớn nhất của cách  
hiểu mới này là buộc các nhà hoạch định chính sách phải có một cách nhìn bao quát hơn trong  
việc đưa ra các chính sách giúp cải thiện năng suất của các công ty. Tăng năng suất không chỉ  
bởi công ty hoạt động hiệu quả hơn mà còn có được bởi sự thúc đẩy các khía cạnh khác về phía  
nhu cầu. Do đó, các nhà hoạch định chính sách bên cạnh việc tập trung vào tăng tính hiệu quả,  
có thể tập trung vào việc đầu tư vào phía nhu cầu cùa khách hàng như nâng cấp chất lượng sản  
phẩm, tăng cường marketing hoặc kết nối với các nền tảng kỹ thuật số.  
Biểu đồ 3: Các yếu tố cấu thành hoạt động của doanh nghiệp  
275  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Trong đó K=vốn, L=lao động, M=nguyên vật liệu, TFPR=Năng suất các yếu tố tổng hợp  
doanh thu; TFPQ=năng suất các nhân tố tổng hợp vật lý  
Theo biểu đồ 3, doanh thu của doanh nghiệp có thể tăng nhờ việc sử dụng hiệu quả các  
yếu tố đầu vào sản xuất đó là vốn, lao động và nguyên liệu hoặc có thể tăng Năng suất các yếu tố  
tổng hợp doanh thu (TFPR) thông qua giá sản phẩm hoặc năng suất các nhân tố tổng hợp vật lý  
(TFPQ). Giá sản phẩm một phần dựa vào chi phí sản xuất và một phần dựa vào sức mạnh thị  
trường của doanh nghiệp đó hoặc là cả hai. Hoặc doanh thu của doanh nghiệp có thể tăng do với  
cùng một lượng đầu vào, doanh nghiệp tạo ra sản phẩm chất lượng cao hơn và được bán với giá  
cao hơn hoặc bán với khối lượng lớn hơn.  
Nâng cao chất lượng sản phẩm cũng thúc đẩy lợi nhuận và tăng trưởng cho công ty.  
Giá sản phẩm về một khía cạnh nào đó sẽ phản ánh chất lượng của sản phẩm. Ví dụ như cùng  
một chai rượu vang 750ml nhưng với các hãng khác nhau có thể cho giá từ vài trăm nghìn đến  
vài triệu đồng. Một cách tổng quát hơn, sử dụng dữ liệu về xuất khẩu sang Hoa Kỳ từ các nước  
trên thế giới, Schott (2008) đã chỉ ra rằng giá cả (được đại diện bởi giá trị của một sản phẩm xuất  
khẩu) của hàng hóa được xác định giống hệt nhau từ các quốc gia khác nhau rất nhiều. Bên cạnh  
đó, một sản phẩm chất lượng tốt hơn có thể được coi là một sản phẩm khác biệt và mỗi mức chất  
lượng khác nhau có thể được bán ở các thị trường cạnh tranh khác nhau. Mặt khác, nhiều sản  
phẩm cao cấp được hưởng lợi từ các khoản đầu tư vào quảng cáo và xây dựng thương hiệu tạo  
nên sức mạnh thị trường.  
Tuy nhiên, chất lượng cao hơn có dẫn đến giá cao hơn hay không phụ thuộc vào sự sẵn  
sàng chi trả của khách hàng. Do đó, có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề nào quan trọng hơn đối  
với hiệu quả và tăng trưởng của doanh nghiệp: tăng nhu cầu đối với các sản phẩm của doanh  
nghiệp hay là tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tập trung vào một sản phẩm rất đồng  
nhất đó là bê tông, với chất lượng và chi phí sản xuất tương tự giữa các doanh nghiệp, Foster,  
Haltiwanger và Syverson (2016) chỉ ra rằng sự tăng trưởng của các doanh nghiệp sản xuất bê  
tông của Mỹ chủ yếu là do quá trình xây dựng nhu cầu thông qua các dạng đầu tư ―mềm‖ khác  
nhau như quảng cáo, marketing và phát triển mạng lưới khách hàng. Đối với Columbia, Eslava  
và Haltiwanger (2017) nghiên cứu tầm quan trọng tương đối của TFPQ, cú sốc cầu, giá cả đầu  
vào và đầu ra là những yếu tố quyết định đến tăng trưởng của doanh nghiệp trong suốt vòng đời  
của công ty, kể từ năm 1982. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhu cầu khách hàng dường như quan trọng  
hơn là sự cải tiến năng suất vật lý ở giai đoạn trưởng thành của doanh nghiệp. Hơn nữa, việc  
tăng giá đầu vào và tiền lương cho thấy chất lượng sản phẩm được nâng cấp, phần nào giải thích  
cho việc nhu cầu sản phẩm tăng. Tuy nhiên, kể từ khi nhu cầu sản phẩm tăng nhiều hơn mức  
tăng của giá đầu vào, nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố khác ngoài việc nâng cao chất lượng sản  
phẩm, như việc xây dựng thương hiệu đã có ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Họ sẵn sàng trả giá  
cao hơn cho hàng hóa họ mua.  
Kết luận  
Nếu như trước đây, khi doanh nghiệp muốn tăng năng suất lao động thì hầu hết các  
doanh nghiệp chủ yếu sẽ nghĩ đến việc phải đổi mới cách quản lý, áp dụng các công nghệ mới,  
sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào nhưng với cách tiếp cận mới như được đề cập trong bài  
276  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
viết, các doanh nghiệp có thể tăng năng suất thông qua việc chú trọng đầu tư vào phía nhu cầu  
cùa khách hàng như nâng cấp chất lượng sản phẩm, tăng cường marketing hoặc kết nối với các  
nền tảng kỹ thuật số. Việc nâng cao năng suất của khu vực doanh nghiệp có vai trò rất quan  
trọng trong việc nâng cao năng suất lao động của toàn nền kinh tế, giúp tăng năng lực cạnh tranh  
quốc gia và là động lực cho quá trình phát triển dài hạn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ana Paula Cusolito and William F. Maloney. 2018. ―Productivity Revisited Shifting  
Paradigms in Analysis and Policy‖  
2. Eslava and Haltiwanger. 2017. ―The Life-cycle Growth of Plants in Colombia:  
Fundamentals  
vs.  
Distortions‖,  
10/4/2019  
3. Foster, L., J. Haltiwanger, and C. Syverson. 2016. ―The Slow Growth of New Plants:  
Learning about Demand.‖ Economica 83 (3289): 91−129.  
4. Kiều Linh. 2018. ―Năng suất lao động ngành bất động sản Việt Nam cao hơn cả Hàn Quốc‖,  
5. Viện năng suất Việt Nam. 2017. ―Báo cáo năng suất lao động Việt Nam 2017‖  
6. Xuân Thảo. 2019. ―Cải thiện năng suất lao động để tăng năng lực cạnh tranh quốc  
gia-101525.html, truy cập 5/4/2019  
277  
pdf 7 trang Thùy Anh 15340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Năng suất lao động của doanh nghiệp - Nhìn từ cách tiếp cận mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_suat_lao_dong_cua_doanh_nghiep_nhin_tu_cach_tiep_can_mo.pdf