Tác động của văn hóa hợp tác và chia sẻ tri thức đến lợi thế cạnh tranh của các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam
KINH TẾ
XÃ HỘI
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA HỢP TÁC VÀ CHIA SẺ TRI THỨC
ĐẾN LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC KHÁCH SẠN
VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM
INFLUENCE OF COLLABORATIVE CULTURE AND KNOWLEDGE SHARING
ON COMPETITIVE ADVANTAGE OF VIETNAM SMEs
Lê Ba Phong*, Thân Thanh Sơn
1. GIỚI THIỆU
TÓM TẮT
Sự hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế khu
vực và thế giới đang diễn ra ngày càng sâu rộng, đặc biệt
kể từ khi Việt Nam gia nhập vào Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) tháng 12 năm 2015 và gần đây nhất tham
gia vào hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)
tháng 8 năm 2020. Điều này đã mở ra nhiều tiềm năng và
cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế Việt Nam nói chung
và phát triển kinh tế du lịch nói riêng. Gắn với bối cảnh một
quốc gia đang phát triển và mới nổi như Việt Nam [1]. Theo
Mục đích của nghiên cứu là đánh giá những tác động của văn hóa hợp tác và
chia sẻ tri thức đến lợi thế cạnh tranh của các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc SEM và dữ liệu thu thập được
từ 135 cán bộ quản lý ở các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam để phân tích và lượng
hóa mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Các phương pháp
kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và hồi quy
tuyến tính được sử dụng nhằm kiểm tra độ tin cậy của thang đo và mối quan hệ
của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy văn hóa
hợp tác và hoạt động chia sẻ tri thức giữa các nhân viên trong khách sạn tác động
tích cực đến lợi thế cạnh tranh của khách sạn. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự Tổng cục Du lịch Việt Nam, tính chung trong giai đoạn
cần thiết phải tăng cường và phát triển một môi trường văn hóa tích cực trên tinh 2015 - 2019, ngành du lịch Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng
thần hợp tác và xem đây là giải pháp có nghĩa quan trọng nhất để thúc đẩy hoạt cao với tốc độ 22,7%. Theo công bố mới nhất năm 2019,
động chia sẻ kiến thức của cán bộ, nhân viên khách sạn, qua đó cải thiện và tăng
cường lợi thế cạnh tranh của khách sạn trong dài hạn.
Từ khóa: Văn hóa hợp tác; chia sẻ tri thức; lợi thế cạnh tranh; khách sạn vừa và
nhỏ Việt Nam.
Việt Nam được tổ chức Du lịch thế giới (UNTWO) xếp hạng
là 1 trong 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh
nhất thế giới. Phát triển kinh tế du lịch được coi là hướng đi
có tầm quan trọng chiến lược, có tác động tích cực đến sự
phát triển của nhiều ngành kinh tế, thu hút ngoại tệ, góp
phần tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, và cải thiện
đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, do ảnh hưởng chưa có
hồi kết và những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19,
đã khiến cho hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp,
đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong lĩnh
vực khách sạn - du lịch bị suy giảm và tổn thất nặng nề.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, khám phá và xác định
được các giải pháp hữu hiệu, cũng như những nhân tố tích
cực để tăng cường lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp
khách sạn - du lịch vừa và nhỏ là rất quan trọng.
Lợi thế cạnh tranh của khách sạn được coi là chìa khóa
giúp khách sạn tạo ra ưu thế vượt trội so với các đối thủ
cạnh tranh chính, giúp họ tồn tại và phát triển trong dài
hạn trước những biến động phức tạp của môi trường xã
hội, xu hướng toàn cầu hóa và thách thức ngày càng tăng
từ môi trường kinh doanh [2]. Nhận thức được áp lực của
cạnh tranh, lãnh đạo các doanh nghiệp trong ngành khách
sạn - du lịch đã không ngừng khám phá nhằm xác định một
hướng đi phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh và
năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên phần lớn
trong số đó vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc cải thiện lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp [3]. Các doanh nghiệp
ABSTRACT
The purpose of this study is to investigate the effects of collaborative culture
and knowledge sharing on the competitive advantage of Vietnamese small and
medium hotels. This study utilized the structural equation modeling (SEM) and
data collected from 135 managers in small and medium hotels in Vietnam to
analyze and quantify the relationship between factors in the research model.
Cronbach’s Alpha testing methods, confirmatory factor analysis (CFA) and linear
regression are used to test the reliability of the scales and the relationship
among the latent factors in the research model. The findings show that the
collaborative culture and knowledge sharing of hotel employees induce a
positive impact on hotels' competitive advantage. The research results
emphasize the need to build and develop a positive cultural environment in the
spirit of cooperation to foster knowledge sharing activities, thereby improving
and enhancing the hotel’s competitive advantage in the long term.
Keywords: Collaborative culture; knowledge sharing; competitive advantage;
Vietnam small and medium hotels.
Khoa Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Ngày nhận bài: 10/01/2021
Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 10/5/2021
Ngày chấp nhận đăng: 25/6/2021
166
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 ECONOMICS - SOCIETY
Việt Nam và các doanh nghiệp ngành khách sạn - du lịch hơn và đạt được vị trí độc tôn trên thị trường ở một hoặc
phải đối diện với nhiều rủi ro và thách thức trước những một số lĩnh vực hoạt động nhất định so với các đối thủ
thay đổi về công nghệ và môi trường bởi đa số các doanh cạnh tranh chính. Năng lực cốt lõi của tổ chức thường liên
nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ (chiếm tỉ lệ 98,1%) quan đến tập hợp các kỹ năng, khả năng và nguồn lực cụ
với sự hạn chế nhất định về vốn, nguồn lực và khả năng thể mà một tổ chức/doanh nghiệp sở hữu cũng như cách
R&D để đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh [3, 4]. Do họ sử dụng những nguồn lực đó vào quá trình sản xuất
đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn dựa kinh doanh để cải thiện hiệu suất và các kết quả đầu ra.
trên những khoản đầu tư lớn vào đổi mới công nghệ là sự Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: nếu nguồn lực và
lựa chọn thứ yếu. Nói cách khác, nghiên cứu, khám phá và năng lực riêng có của doanh nghiệp hội tụ 4 đặc điểm: có
phát hiện các yếu tố khả thi, ít tốn kém, đồng thời có tác giá trị, khan hiếm, khó bắt chước và không thể thay thế, thì
dụng thúc đẩy đáng kể năng lực cạnh tranh của các khách lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ được định hình và
sạn vừa và nhỏ càng trở nên cần thiết và ý nghĩa.
giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu suất, hiệu quả kinh
doanh và thu được lợi nhuận trên mức trung bình của
ngành [10-12]. Theo Lei và cộng sự [5], một doanh nghiệp
được coi là đạt được lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp
đó có được vị trí vững chắc trên thị trường bằng chiến lược
tạo giá trị và thu được lợi ích bền vững từ chiến lược đó.
Những doanh nghiệp như vậy đồng thời khiến cho các đối
thủ cạnh tranh không thể sao chép thành công chiến lược
mà họ theo đuổi. Do vậy xây dựng và phát triển các năng
lực cốt lõi có ý nghĩa quan trọng giúp các doanh nghiệp
phát triển lợi thế cạnh tranh riêng có của họ.
Văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa là tập hợp các
giá trị, niềm tin, chuẩn mực và hành vi được chia sẻ rộng rãi
bởi các thanh viên trong tổ chức và tạo nên bản sắc đặc
trưng của tổ chức [13, 14]. Văn hóa doanh nghiệp là một
phạm trù phức tạp, được nghiên cứu và phân loại theo
nhiều cách khác nhau tùy theo đặc điểm bối cảnh và cấp
độ nghiên cứu [15]. Là một hình thức cụ thể của văn hóa
doanh nghiệp, văn hóa hợp tác (VHHT) hàm chứa các giá trị
cốt lõi được đặc trưng bởi: tầm nhìn dài hạn; chấp nhận và
quản trị sự thay đổi; làm việc theo nhóm; tôn trọng lẫn
nhau; nhấn mạnh tinh thần cởi mở, hợp tác và chia sẻ kiến
thức giữa các thành viên trong tổ chức [7, 8]. VHHT chính là
nguồn gốc tạo nên sức mạnh tập thể, được xây dựng dựa
trên sự tôn trọng, quan tâm và hỗ trợ lẫn nhau giữa các
thành viên trong tổ chức [5, 8].
Mối quan hệ tích cực giữa VHHT và lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp đã được thảo luận và minh chứng bởi
nhiều công trình nghiên cứu trước. Cụ thể, theo Kotter và
Heskett [16], các giá trị cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp
thường được sử dụng rộng rãi như một yếu tố cạnh tranh
độc lập và đặc biệt phù hợp với các thị trường siêu năng
động như trường hợp của các doanh nghiệp Nissan và
Zappos. Ahmed và cộng sự [17] chỉ ra rằng VHHT đóng vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy các quá trình chia sẻ tri
thức trong tổ chức, giúp nâng cao tính sáng tạo và đổi mới
của các nhân viên. Điều này rất có lợi cho việc phát hiện và
phát triển các năng lực cốt lõi của tổ chức để tạo ra lợi thế
cạnh tranh. Lei và cộng sự [5] chỉ ra những tác động tích
cực của VHHT đến khả năng học tập và chia sẻ kiến thức
trong tổ chức, qua đó cho phép các doanh nghiệp Việt
Nam tạo ra lợi thế cạnh tranh dựa trên sự khác biệt và lợi
thế chi phí thấp. Gần đây, kết quả nghiên cứu thực nghiệm
của Nguyen và cộng sự [6] cho thấy VHHT chính là tiền đề
của khả năng đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đồng
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng văn hóa hợp tác (VHHT) có
vai trò quan trọng trong việc tạo ra một môi trường cởi mở,
tin tưởng và hợp tác, là gốc rễ thúc đẩy sự chia sẻ kiến thức,
kinh nghiệm và bí quyết của nhân viên với đồng nghiệp, từ
đó giúp tăng cường hiệu suất hoạt động của cá nhân và lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp [5-7]. Tuy nhiên, nghiên
cứu về mối quan hệ giữa VHHT, chia sẻ kiến thức (CSTT) và
lợi thế cạnh tranh vẫn còn hạn chế [6, 8]. Theo hiểu biết của
tác giả, có rất ít các công trình nghiên cứu điều tra tác động
của VHHT và CSTT đến lợi thế cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực khách sạn - du lịch. Điều
này đã hạn chế hiểu biết của các nhà quản trị trong lĩnh vực
khách sạn về cách thức sử dụng các nguồn lực sẵn có và ít
tốn kém để tăng cường lợi thế cạnh tranh của họ. Do đó, để
mang lại những hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa
VHHT, CSTT và lợi thế cạnh tranh, bài báo sẽ thực hiện một
nghiên cứu định lượng, dựa trên việc thu thập và phân tích
số liệu sơ cấp từ 135 cán bộ quản trị tại các khách sạn vừa
và nhỏ Việt Nam.
Trên cơ sở những khoảng trống lý thuyết và thực tiễn
đề cập trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải đáp
những câu hỏi nghiên cứu sau:
1. Giữa VHHT và CSTT, nhân tố nào có tác động tích cực
hơn đến lợi thế cạnh tranh của khách sạn?
2. CSTT có hoạt động như một nhân tố trung gian trong
mối quan hệ giữa VHHT và lợi thế cạnh tranh của khách sạn?
3. Lãnh đạo các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam nên làm gì
để tăng cường lợi thế cạnh tranh của khách sạn?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy cả VHHT và
CSTT đều có tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh của các
khách sạn vừa và nhỏ. Đặc biệt, VHHT tạo ra những tác động
lớn hơn đến lợi thế cạnh tranh hơn so với tác động của CSTT
đến lợi thế cạnh tranh. Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng
mang đến những hiệu quả sâu sắc hơn cho nhà quản trị các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực khách sạn, giúp họ
phát huy có hiệu quả những nguồn lực nội tại và có được
định hướng chiến lược đúng đắn cần ưu tiên theo đuổi để
tăng cường lợi thế cạnh tranh cho khách sạn.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Mối quan hệ giữa văn hóa hợp tác và lợi thế cạnh
tranh
Theo Porter [9] lợi thế cạnh tranh bắt nguồn từ năng lực
cốt lõi của một tổ chức cho phép tổ chức hoạt động tốt
167
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 57 - No. 3 (June 2021) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY
KINH TẾ
XÃ HỘI
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
thời là cơ sở giúp doanh nghiệp cải thiện lợi thế cạnh tranh
trong dài hạn. Bên cạnh có, theo quan điểm dựa trên
nguồn lực (RBV - Resource-based view), nhóm tác giả cho
rằng VHHT chính là một loại năng lực đặc biệt mà các
doanh nghiệp khách sạn nên theo đuổi bởi VHHT hội tụ
đầy đủ 4 khía cạnh cấu thành năng lực cốt lõi tạo nên lợi
thế cạnh tranh, đó là có giá trị, hiếm, không thể bắt chước
và khó thay thế. Trên cơ sở những biện luận này, nhóm tác
giả đề xuất giả thuyết sau (hình 1):
2.3. Mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức và lơi thế cạnh tranh
Các nghiên cứu trước đây cho thấy bằng chứng về mối
tương quan tích cực giữa CSTT và lợi thế cạnh tranh. Cụ thể,
nghiên cứu của Davenport và cộng sự [23] và nghiên cứu của
Salisbury [24] cho thấy sự liên quan tích cực của CSTT đối với
lợi thế cạnh tranh của một tổ chức vì nó giúp nhân viên
trong tổ chức đó có nhiều cơ hội lựa chọn phương án hành
động tốt hơn thông qua quá trình chia sẻ, học hỏi và sử
dụng những kiến thức hữu ích từ đồng nghiệp. Bằng cách sử
dụng dữ liệu thu thập được từ mẫu khảo sát gồm 112 nhà
quản lý cấp cao, nghiên cứu thực nghiệm của Almahamid và
cộng sự [25] cho thấy CSTT có ảnh hưởng tích cực và đáng kể
đến lợi thế cạnh tranh của các công ty ở Jordan. Le và Lei [26]
đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt CSTT đến lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Son và cộng
sự [4] ở bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy, CSTT
có tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam. Cuối cùng, dựa trên phương pháp nghiên
cứu điển hình tại một trong những khách sạn lớn nhất ở
Scandanavia, Skinnarl và cộng sự [27] nhấn mạnh: nếu khách
sạn có thể thúc đẩy quá trình chia sẻ kiến thức và khả năng
học tập trong tổ chức, thì khách sạn sẽ trở nên hiệu quả hơn
trong cạnh tranh.
H1. VHHT tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh của các
khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
2.2. Mối quan hệ giữa văn hóa hợp tác và chia sẻ tri thức
Tri thức được biết đến như là một loại tải sản vô hình và
quý giá của doanh nghiệp [18]. Hiệu quả trong quá trình
chia sẻ kiến thức là yếu tố quyết định sự thành công trong
công tác quản trị nguồn lực tri thức, giúp tổ chức có cơ hội
chia sẻ và dụng những kiến thức mới có giá trị vào thực tiễn
đổi mới và tạo ra lợi thế cạnh tranh. Chia sẻ tri thức (CSTT)
là quá trình chuyển giao, trao đổi, hoặc phổ biến kiến thức
từ người/nhóm người này sang người/nhóm người khác
[19]. Lei và cộng sự [1] định nghĩa CSTT quá trình trao đổi
dữ liệu, thông tin, bí quyết, kỹ năng, kinh nghiệm và kiến
thức chuyên môn giữa các nhân viên nhằm giúp họ hoàn
thành tốt nhiệm vụ cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Những biện luận trên đã hỗ trợ cho mối quan hệ tích
cực giữa CSTT và lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, nghiên cứu
về mối quan hệ giữa CSTT và lợi thế cạnh tranh của các
khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam vẫn còn hạn chế. Do đó, giả
thuyết sau được đề xuất:
H3. CSTT có tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh của
các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng kết
hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.
Đặc biệt, để đưa ra bằng chứng xác thực về mối quan hệ
giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu, tác giả đã tiến
hành thu thập số liệu sơ cấp thông qua bảng hỏi và phân
tích xử lý số liệu trên phần mềm SPSS và AMOS phiên bản 22.
VHHT được coi là điều kiện cơ bản để thúc đẩy hành vi
CSTT giữa các nhân viên trong tổ chức. Thật vậy, theo
Sveiby và Simons [20], môi trường hợp tác đẩy nhanh quá
trình CSTT, đồng thời, sự chia sẻ kiến thức sẽ được tối đa
hóa khi nhân viên có sự cộng tác ở tất cả các cấp bậc trong
hệ thống quản trị của tổ chức. Mueller [21] đưa ra bằng
chứng cho thấy các giá trị văn hóa tập trung vào hợp tác và
cởi mở có tác động tích cực đến hoạt động CSTT giữa các
nhân viên tại các công ty ở Châu Âu. Kucharska và
Kowalczyk [22] chỉ ra rằng VHHT có liên quan tích cực đến
hành vi CSTT giữa các chuyên gia Ba Lan trong ngành xây
dựng. Gần đây, Yang và cộng sự [8] cho rằng các giá trị
quan trọng của VHHT (như khuyến khích sự phối hợp và
làm việc theo nhóm, giao tiếp cởi mở và cởi mở, tôn trọng
và tin tưởng) sẽ tạo điều kiện tích cực cho các tương tác xã
hội, quá trình truyền thông, và hoạt động chia sẻ kiến thức
giữa các nhân viên trong các doanh nghiệp ở Trung Quốc.
Những nhận định và bằng chứng trên cho thấy tác động
tích cực của VHHT đối với CSTT, để lượng hóa những tác
động của VHHT đối với CSTT ở các khách vạn vừa và nhỏ
Việt Nam, giả thuyết sau được đề xuất:
3.1. Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên mẫu nghiên cứu
gồm 36 khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam. Mẫu nghiên cứu
được nhóm tác giả thực hiện theo phương pháp chọn mẫu
thuận tiện, thông qua quá trình thu thập số liệu của các sinh
thực tập tốt nghiệp tại các khách sạn vừa và nhỏ. Để đáp ứng
mục tiêu nghiên cứu, đối tượng tham gia khảo sát phải đảm
bảo là các nhà quản trị của các khách sạn vừa và nhỏ, ví dụ
như: giám đốc/trưởng các bộ phận kế toán, bộ phận
marketing, bộ phận buồng, tiền sảnh và ẩm thực. Biến quan
sát sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ những công
trình nghiên cứu có uy tín trước đây. Tác giả sau đó tiến hành
tham khảo ý kiến chuyên gia để hiệu chỉnh và xây dựng
bảng hỏi. Danh mục các biến quan sát được trình bày trong
bảng 1. Nghiên cứu phát ra 200 phiếu khảo sát, thu về 160
phiếu trong đó có 135 phiếu hợp lệ để đưa vào phân tích.
H2. VHHT tác động tích cực đến hoạt động CSTT tại các
khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam
Nghiên cứu có 22 biến quan sát dùng đo lường 3 nhân
tố. Theo tiêu chuẩn của Hair [28] thì kích thước mẫu tối
168
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 ECONOMICS - SOCIETY
thiểu phải lớn hơn 5 lần số biến quan sát là 22*5=110
phiếu. Do đó, với 135 phiếu hợp lệ, nghiên cứu đã đảm bảo
tiêu chuẩn về kích thước mẫu dùng để phân tích nhân tố
khám phá và kiểm định mô hình hồi quy đa biến.
Lợi thế cạnh tranh
LTCT1 Khách sạn đạt được lợi thế cạnh tranh về chi phí thấp so
với các đối thủ cạnh tranh chính
LTCT2 Khách sạn có năng lực quản lý tốt hơn các đối thủ cạnh
3.2. Đo lường
Nguyên &
cộng sự
[6]
tranh chính
Các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert
năm mức độ (với 1: Hoàn toàn không đồng ý, 2: Không
đồng ý, 3: Bình thường, 4: Đồng ý và 5: Hoàn toàn đồng ý).
LTCT3 Khả năng sinh lời của khách sạn tốt hơn các đối thủ cạnh
tranh chính
LTCT4 Khách sạn có vị trí chắc chắn và luôn đi đầu trong một số
lĩnh vực quan trọng
Bảng 1. Thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
Tên
Biến quan sát
Nguồn
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
biến
4.1. Phân tích nhân tố khẳng định
Văn hóa hợp tác
VHHT1 Những thay đổi trong khách sạn được coi là tự nhiên và
cần thiết
Để đánh giá độ tin cậy nội tại của các thang đo, nhóm
tác giả sử dụng Cronbach’s Alpha để kiểm tra độ tin cậy của
thang đo, sau đó thực hiện kiểm định giá trị của các thang
đo bằng phương pháp EFA đối với các biến độc lập.
VHHT2 Khách sạn coi nhân viên là tài sản quý giá và luôn đánh
giá cao sự cống hiến của họ
Kết quả phân tích EFA cho thấy biến quan sát CSTT6 có
hệ số tải nhỏ hơn 0,3. Do đó, nghiên cứu tiến hành loại biến
CSTT6 khi tiến hành các phân tích tiếp theo trong việc đo
lường hoạt động chia sẻ tri thức.
VHHT3 Khách sạn đánh giá cao những thử nghiệm và khám phá
của nhân viên
VHHT4 Khách sạn khuyến khích và đánh giá cao các quan điểm
khác nhau của nhân viên
Le & cộng
sự [7]
Bảng 2. Phân tích nhân tố khẳng định và độ tin cậy của mô hình đo lường
VHHT5 Nhân viên trong khách sạn luôn tôn trọng những ý kiến
và đóng góp của nhau
Các biến tiềm
ẩn/nhân tố
Văn hóa hợp tác
(VHHT)
Mean SD Biến quan Hệ số tải Cα Độ tin cậy
sát
3,42 0,47 VHHT1 0,778*** 0,91 CR = 0,91
VHHT6 Những vướng mắc được thảo luận cởi mở và bình đẳng
giữa các nhân viên
VHHT7 Khách sạn khuyến khích sự hợp tác giữa các phòng ban
và bộ phận với nhau
VHHT2 0,792***
VHHT3 0,695***
VHHT4 0,756***
VHHT5 0,707***
VHHT6 0,710***
VHHT7 0,822***
VHHT8 0,741***
AVE = 0,56
VHHT8 Tất cả nhân viên đều nhận thức được kỳ vọng của người
quản lý trực tiếp
Chia sẻ tri thức
CSTT1 Tôi thường đưa ra các đề xuất khi trao đổi công việc với
đồng nghiệp
CSTT2 Tôi sẵn sàng chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của mình
với đồng nghiệp
Chia sẻ tri thức
(CSTT)
3,47 0,57 CSTT1 0,872*** 0,95 CR = 0,95
CSTT3 Tôi sẵn sàng trả lời các câu hỏi liên quan đến công việc
của đồng nghiệp
CSTT2 0,865***
CSTT3 0,768***
CSTT4 0,918***
CSTT5 0,750***
CSTT7 0,759***
CSTT8 0,843***
CSTT9 0,842***
CSTT10 0,828***
AVE = 0,68
CSTT4 Tôi thường ghi lại thông tin quan trọng từ các tài liệu
hoặc báo cáo
CSTT5 Tôi sẵn lòng giảng giải cho đồng nghiệp những vấn đề
phức tạp
Yang &
cộng sự
[8]
CSTT6 Tôi sẵn sàng tạo cơ hội công việc cho các đồng nghiệp ít kinh
nghiệm hơn
CSTT7 Tôi sẵn sàng cung cấp cho đồng nghiệp những thông tin
và tài liệu mà họ cần
Lợi thế cạnh tranh 3,56 0,61 LTCT1 0,834*** 0,90 CR = 0,90
(LTCT)
CSTT8 Tôi tư vấn cho đồng nghiệp người/bộ phận có thể giải
quyết các thắc mắc của họ
LTCT2 0,839***
LTCT3 0,805***
LTCT4 0,858***
AVE = 0,69
CSTT9 Tôi thường động viên các đồng nghiệp khi họ gặp khó
khăn trong quá trình trao đổi kiến thức
Notes: Cα ≥ 0,7; CR ≥ 0,7; AVE ≥ 0,5; *** Significant at p < 0,001.
CSTT10 Tôi tìm cách diễn đạt ý tưởng của mình theo cách đơn
giản nhất trong quá trình trao đổi để đồng nghiệp hiểu
được đầy đủ nội dung
Kết quả thống kê ở bảng 2 cho thấy các giá trị Cα của các
nhân tố trong khoảng 0,90 đến 0,95 là cao hơn mức ý nghĩa
169
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 57 - No. 3 (June 2021) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY
KINH TẾ
XÃ HỘI
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
0,7 theo khuyến nghị của Nunnally và Bernstein [29] đã
khẳng định độ tin cậy của thang đo dùng trong nghiên cứu.
Tác động trực tiếp
Đối với giả thuyết H1, kết quả trong bảng 4 cho thấy tác
động tích cực của VHHT đối với lợi thế cạnh tranh (β = 0,45;
p < 0,001) Do đó, các giả thuyết H1 được chấp nhận. Kết
quả này hàm ý rằng những tác động của VHHT đối với lợi
thế cạnh tranh của khách sạn là rất đáng kể và có ý nghĩa.
Về mối quan hệ giữa VHHT và CSTT, bảng 4 chỉ ra rằng
VHHT có tác động tích cực và có ý nghĩa đối với hoạt động
CSTT của khách sạn (β = 0,62; p < 0,001). Do đó, giả thuyết
H2 được chấp nhận.
Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) được dùng để đánh
giá tính hợp lệ của mô hình tổng thể, tính hội tụ và phân
biệt của các cấu trúc. Kết quả phân tích CFA ở bảng 2 cho
thấy tất cả các hệ số tải (Factor loadings) và độ tin cậy tổng
hợp (C.R) nằm trong phạm vi chấp nhận được và có ý nghĩa
thống kê p < 0,001. Trong đó, hệ số tải nhân tố trong
khoảng từ 0,695 đến 0,918; độ tin cậy tổng hợp trong
khoảng từ 0,90 đến 0,95; trung bình phương sai trích (AVE)
nằm trong khoảng từ 0,65 đến 0,86; do đó mô hình nghiên
cứu đáp ứng được các tiêu chí về tính phân biệt và hội tụ.
Nghiên cứu sử dụng các chỉ số: Chi-square/df (CMIN/
df), chỉ số phù hợp (GFI) và sai số trung bình bình phương
xấp xỉ (RMSEA); chỉ số phù hợp tiêu chuẩn (NFI), chỉ số phù
hợp điều chỉnh (AGFI) và chỉ số phù hợp so sánh (CFI) để đo
mức độ phù hợp của mô hình.
Bảng 3 cho thấy các chỉ số này đều nằm trong ngưỡng
giá trị cho phép. Do đó mô hình đo lường là đảm bảo độ tin
cậy và phù hợp cho việc phân tích tương quan giữa các
nhân tố.
Bảng 3. Chỉ số phù hợp tổng thể của mô hình CFA
Các chỉ số
Absolute fit measures
CMIN/df
GFI
RMSEA
Incremental fit measures
NFI
AGFI
CFI
Giá trị
1,958
0,800
0,085
0,856
0,749
0,923
Ngưỡng giá trị đề xuất
Hình 2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu từ mô hình cấu trúc SEM
Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của CSTT đối với
lợi thế cạnh tranh (β = 0,34; p < 0,001) là tích cực và có ý
nghĩa thống kê. Do đó, giả thuyết H3 được chấp nhận.
Tổng hợp kết quả từ bảng 4, nghiên cứu tiết lộ rằng VHHT
có những tác động mạnh hơn đến lợi thế cạnh tranh so với
tác động của CSTT đến lợi thế cạnh tranh (0,45 > 0,34).
Tác động gián tiếp
Để kiểm tra và cung cấp bằng chứng về vai trò trung
gian của CSTT giữa VHHT và lợi thế cạnh tranh của khách
sạn, theo khuyến nghị của Preacher và Hayes [32], nghiên
cứu sử dụng phương pháp khoảng tin cậy bootstrap với
3.000 lần lặp để kiểm tra ý nghĩa và độ tin cậy của các tác
động gián tiếp (bảng 5).
≤ 2a; ≤ 5b
≥ 0,90a; ≥ 0,80b
≤ 0,80a; ≤ 0,10b
≥ 0,90a; ≥ 0,80b
≥ 0,90a; ≥ 0,70b
≥ 0,90a;
Note: a Ngưỡng tốt nhất; b Ngưỡng chấp nhận được.
4.2. Kết quả nghiên cứu
Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được sử dụng với
kỹ thuật maximum likelihood estimation (ước tính khả
năng xảy ra tối đa) để kiểm tra các giả thuyết trong mô
hình nghiên cứu bởi hai lý do. Thứ nhất, phương pháp SEM
được sử dụng rộng rãi do khả năng phân tích các tương
quan hồi quy trên một mô hình và thử nghiệm duy nhất
[30]. Thứ hai, dễ dàng tiến hành thử nghiệm đối với các
hiệu ứng trung gian và điều tiết, đồng thời cho kết quả với
độ tin cậy cao [30, 31]. Tổng hợp kết quả nghiên cứu được
thể hiện trong bảng 4, 5 và hình 2.
Bảng 5. Khoảng tin cậy của các tác động gián tiếp
Tác
động
gián
tiếp
Khoảng tin cậy
Tác
động
tổng
thể
Tác
động
trực tiếp
Đường dẫn
Giới hạn Giới hạn
dưới
trên
VHHTCSTTLTCT 0,45*** 0,20*** 0,65*** 0,096
Note: *** p < 0,001.
0,334
Bảng 4. Kết quả nghiên cứu từ mô hình cấu trúc (SEM)
Bảng 5 cho thấy tác động gián tiếp của VHHT đối với lợi
thế cạnh tranh của khách sạn (β = 0,20; p < 0,001) là có ý
nghĩa thống kê với p < 0,001 và nằm trong khoảng tin cậy
0,096 - 0,334. Do đó, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra bằng
chứng về vai trò trung gian của CSTT trong mối quan hệ
giữa VHHT và lợi thế cạnh tranh của khách sạn.
Giả thuyết
Hệ số
Beta
t-
value
Kết quả
H1 Văn hóa hợp tác Lợi thế cạnh 0,45***
4,346 Supported
tranh
H2 Văn hóa hợp tác Chia sẻ tri thức 0,62***
6,934 Supported
3,533 Supported
5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
H3 Chia sẻ tri thức Lợi thế cạnh
0,34***
Mặc dù nền kinh tế toàn cầu đang phải đối diện với
nhiều khó khăn và thách thức, tăng trưởng của hầu hết các
tranh
Note: *** p < 0,001 level.
170
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 ECONOMICS - SOCIETY
nền kinh tế lớn đều suy giảm do phải đối phó với đại dịch
Thứ ba, để các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam có thể
Covid-19, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững, bên cạnh
2,91% và trở thành một trong số ít quốc gia có tốc độ tăng việc phát triển VHHT và tăng cường các hoạt động CSTT
trưởng kinh tế tốt nhất thế giới trong năm 2020. Tuy vậy, của nhân viên, các CEOs và giám đốc khách sạn cần quan
để Việt Nam tiếp tục góp phần tạo ra những thành tích ấn tâm hoàn thiện các nhân tố khác có ảnh hưởng đáng kể
tượng về tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới, đòi hỏi các đến lợi thế cạnh tranh của khách sạn như năng lực
doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp marketing, năng lực tổ chức quản lý, cơ sở vật chất kỹ
ngành khách sạn - du lịch nói riêng phải không ngừng nỗ thuật, uy tín và hình ảnh, trình độ tổ chức và phục vụ
lực để cải thiện năng lực nội tại và tạo ra lợi thế cạnh tranh. khách, chất lượng dịch vụ và trách nhiệm xã hội của khách
sạn [3, 33].
Lợi thế cạnh tranh luôn là giải pháp hàng đầu giúp các
doanh nghiệp khách sạn - du lịch có cơ hội chiếm lĩnh được
những vị trí quan trọng trên thị trường và thu được lợi
nhuận tương đối cao trong mối tương quan với các đối thủ
cạnh tranh chính. Việc đánh giá và thử nghiệm các giả
thuyết được phát triển trong bài báo này đã góp phần khỏa
lấp các khoảng trống lý thuyết về mối quan hệ giữa VHHT,
CSTT và lợi thế cạnh tranh của các khách sạn vừa và nhỏ
Việt Nam. Nghiên cứu cũng giúp lãnh đạo các khách sạn
vừa và nhỏ Việt Nam có được căn cứ xác đáng nhằm theo
đuổi và tăng cường lợi thế cạnh tranh của khách sạn trong
dài hạn. Đóng góp của nghiên cứu về mặt lý luận và thực
tiễn thể hiện ở một số điểm chính sau:
Thứ nhất, đóng góp đầu tiên và quan trọng của nghiên
cứu đó là lấp đầy những khoảng trống lý thuyết về mối
quan hệ giữa VHHT, CSTT và lợi thế cạnh tranh của khách
sạn vừa và nhỏ. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy
cả VHHT và CSTT đều có tác động tích cực đến lợi thế cạnh
tranh của khách sạn vừa và nhỏ. Tuy nhiên VHHT tạo ra
những tác động lớn hơn đến lợi thế cạnh tranh hơn so với
tác động của CSTT đến lợi thế cạnh tranh. Kết quả nghiên
cứu giúp mang đến những hiểu biết sâu sắc hơn cho nhà
quản trị các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực khách
sạn về cách thức mà họ có thể vận dụng, cũng như chiến
lược mà họ ưu tiên theo đuổi để tăng cường lợi thế cạnh
tranh cho khách sạn.
Kết luận: Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu
còn tồn tại những hạn chế nhất định như số lượng mẫu khảo
sát còn nhỏ và đối tượng khảo sát chỉ tập trung vào đội ngũ
các nhà quản trị. Điều này có thể dẫn đến những khác biệt
nhất định trong kết quả nghiên cứu. Do đó các nghiên cứu
trong tương lai nên tiếp tục kiểm nghiệm các giả thuyết hiện
tại và phát triển thêm những giả thuyết mới nhằm giúp các
nhà quản trị khách sạn có được những hiểu biết sâu sắc và
đầy đủ hơn về con đường giúp tăng cường lợi thế cạnh tranh
cho khách sạn. Dẫu vậy kết quả của nghiên cứu đã góp phần
tích cực trong việc mở ra một chiến lược mới ít tốn kém và
hiệu quả hơn, giúp các khách sạn vừa và nhỏ cải thiện năng
lực cạnh tranh dựa trên việc phát triển các giá trị cốt lõi của
VHHT như đưa ra một tầm nhìn dài hạn, chấp nhận và quản
trị tốt sự thay đổi, phát triển bầu không khí cởi mở và hợp tác
trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau… nhằm khuyến khích sự
chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng giữa các nhân viên
trong khách sạn.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học
và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số
502.02-2019.300.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Thứ hai, nghiên cứu tiến hành khám phá, xây dựng và
tích hợp mối quan hệ giữa VHHT, CSTT và lợi thế cạnh tranh
bằng một mô hình nghiên cứu duy nhất nhằm kiểm tra vai
trò trung gian của CSTT. Các phát hiện thực nghiệm chỉ ra
rằng, CSTT có tác động tích cực và đáng kể đến lợi thế cạnh
tranh của khách sạn, đồng thời hoạt động như một nhân tố
trung gian tích cực, giúp lan truyền những ảnh hưởng của
VHHT đối với lợi thế cạnh tranh của khách sạn. Kết quả
nghiên cứu chứa đựng hàm ý quan trọng rằng: việc xây
dựng và phát triển một bầu không khí làm việc tích cực và
cởi mở và khuyến khích sự hợp tác giữa các nhân viên
trong khách sạn có thể giúp các nhà quản trị khơi dậy được
động lực làm việc cho nhân viên, thúc đẩy nhân viên chủ
động chia sẻ những thông tin và kiến thức có giá trị với
nhau để không ngừng nâng cao hiệu suất làm việc của cá
nhân và phát huy lợi thế cạnh tranh của khách sạn. Nói
cách khác, nghiên cứu hàm ý rằng: quan tâm đến việc tạo
dựng một môi trường tích cực trên tinh thần cởi mở và hợp
tác, sẽ giúp các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam phát huy
được tối đa nguồn lực tri thức của doanh nghiệp để theo
đuổi và tăng cường lợi thế cạnh tranh của khách sạn.
[1]. Lei H, Gui L, Le P B, 2021. Linking transformational leadership and frugal
innovation: the mediating role of tacit and explicit knowledge sharing. Journal of
Knowledge Management (In press).
[2]. Cheraghalizadeh R, Tümer M, 2017. The effect of applied resources on
competitive advantage in hotels: Mediation and moderation analysis. Journal of
Hospitality Tourism Management, 31(265-272).
[3]. Tran B A, Nguyen V A, Ba V T D, 2012. Study on the factors influencing
competitiveness of the four-star hotels in Thua Thien Hue province. Hue University
Journal of Science, 72B(3): 9-18.
[4]. Son T T, Thang T Q, Cung N H, et al., 2019. Building competitive
advantage for Vietnamese firms: the roles of knowledge sharing and innovation.
International Journal of Business Administration, 10(4): 1-12.
[5]. Lei H, Le P B, Nguyen H T H, 2017. How Collaborative Culture Supports for
Competitive Advantage: The Mediating Role of Organizational Learning.
International Journal of Business Administration, 8(2): 73-85.
[6]. Nguyen D K, Phong L B, Hui L, 2019. Creating Competitive Advantage for
Vietnamese Manufacturing and Service Firms: The Role of Collaborative Culture and
Innovation Capability. International Journal of Business Administration, 10(2):
32-42.
171
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 57 - No. 3 (June 2021) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY
KINH TẾ
XÃ HỘI
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
[7]. Le P B, Lei H, Le T T, et al., 2020. Developing a collaborative culture for
[26]. Le P B, Lei H, 2018. Fostering knowledge sharing behaviours through
radical and incremental innovation: the mediating roles of tacit and explicit ethical leadership practice: the mediating roles of disclosure-based trust and
knowledge sharing. Chinese Management Studies, 14(4): 957-975.
reliance-based trust in leadership. Knowledge Management Research & Practice,
16(2): 183-195.
[8]. Yang Z, Nguyen V T, Le P B, 2018. Knowledge sharing serves as a
mediator between collaborative culture and innovation capability: an empirical
research. Journal of Business & Industrial Marketing, 33(7): 958-969.
[27]. Skinnarl K I, Asa I, Sharp P, 2014. Knowledge Sharing (KS).
Organizational Learning and Competitive Advantage in a Scandinavian Hotel
Company.
[9]. Porter M E, 1985. Competitive Advantage. New York: Free Press. Porter
Competitive Advantage.
[28]. Hair J F, Anderson R E, Tatham R L, et al.,1998. Multivariate data
[10]. Barney J, 1991. Firm resources and sustained competitive advantage. analysis. Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall, 1998.
Journal of management, 17(1): 99-120.
[29]. Nunnally J C, Bernstein I, 1994. Elements of statistical description and
[11]. Wu L Y, 2010. Applicability of the resource-based and dynamic-
capability views under environmental volatility. Journal of Business Research,
63(1): 27-31.
[12]. Le P B, Lei H, 2018. The effects of innovation speed and quality on
differentiation and low-cost competitive advantage: The case of Chinese firms.
Chinese Management Studies, 12(2): 305-322.
estimation. Psychometric Theory 3 Edition, McGraw-Hill, New York.
[30]. Lei H, Leaungkhamma L, Le P B, 2020. How transformational leadership
facilitates innovation capability: the mediating role of employees' psychological
capital. Leadership & Organization Development Journal, 41(4): 481-499.
[31]. Lei H, Phouvong S, Le P B, 2019. How to foster innovative culture and
capable champions for chinese firms: an empirical research. Chinese Management
Studies, 13(1): 51-69.
[13]. Schein E, 2004. Organizational culture and leadership. San Francisco:
John Willey & Sons. Inc.
[32]. Preacher K J, Hayes A F, 2008. Asymptotic and resampling strategies for
assessing and comparing indirect effects in multiple mediator models. Behavior
research methods, 2008, 40(3): 879-891.
[14]. Lei H, Do N K, Le P B, 2019. Arousing a positive climate for knowledge
sharing through moral lens: the mediating roles of knowledge-centered and
collaborative culture. Journal of Knowledge Management, 23(8): 1586-1604.
[15]. Shao Z, Wang T, Feng Y, 2015. Impact of organizational culture and
computer self-efficacy on knowledge sharing. Industrial Management & Data
Systems, 115(4): 590-611.
[33]. Long N T, 2017. Study on factors affecting the competitiveness of Ben
Tre’s tourism businesses. Ho Chi Minh City Open University Journal of Science,
12(2).
[16]. Kotter J P, Heskett J L, 1992. Organizational culture and performance.
Free Press, New York, NY.
AUTHORS INFORMATION
Le Ba Phong, Than Thanh Son
[17]. Ahmed F, Shahzad K, Aslam H, et al., 2016. The role of collaborative
culture in knowledge sharing and creativity among employees. Pakistan Journal of
Commerce and Social Sciences (PJCSS), 10(2): 335-358.
Faculty of Tourism, Hanoi University of Industry
[18]. Le Ba Phong, 2021. Tang cuong kha nang doi moi thanh dam cho cac
doanh nghiep Viet Nam: Vai tro cua lanh dao chuyen doi va kha nang quan tri tri
thuc cua doanh nghiep. Journal of Economics and Development, National
Economics University, 286: 68-77.
[19]. Le L T K, Le P B, 2021. Improving the Innovation Performance for
Vietnamese Firm Based on Practices of Idealized Influence and Individualized
Consideration: The Mediating Role of Knowledge Sharing. International Journal of
Business Administration, 12(3): 75-85.
[20]. Sveiby K E, Simons R, 2002. Collaborative climate and effectiveness of
knowledge work-an empirical study. Journal of Knowledge Management, 2002,
6(5): 420-433.
[21]. Mueller J, 2014. A specific knowledge culture: Cultural antecedents for
knowledge sharing between project teams. European Management Journal, 32(2):
190-202.
[22]. Kucharska W, Kowalczyk R, 2016. Trust, Collaborative Culture and Tacit
Knowledge Sharing in Project Management - a Relationship Model. Humanistic
Management Network, Research Paper Series, 49/16(159-166.
[23]. Davenport T H, Jarvenpaa S L, Beers M C, 1996. Improving knowledge
work processes. MIT Sloan Management Review, 37(4): 53.
[24]. Salisbury M, 2001. An example of managing the knowledge creation
process for a small work group. Management learning, 32(3): 305-319.
[25]. Almahamid S, Awwad A, McAdams A C, 2010. Effects of organizational
agility and knowledge sharing on competitive advantage: an empirical study in
Jordan. International Journal of Management, 27(3): 387.
172
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của văn hóa hợp tác và chia sẻ tri thức đến lợi thế cạnh tranh của các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tac_dong_cua_van_hoa_hop_tac_va_chia_se_tri_thuc_den_loi_the.pdf

