Tác động của văn hóa hợp tác và chia sẻ tri thức đến lợi thế cạnh tranh của các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam

KINH TẾ   
XÃ HỘI  
P-ISSN 1859-3585      E-ISSN 2615-9619  
 
TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA HỢP TÁC VÀ CHIA SẺ TRI THỨC  
ĐẾN LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC KHÁCH SẠN    
VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM  
INFLUENCE OF COLLABORATIVE CULTURE AND KNOWLEDGE SHARING  
ON COMPETITIVE ADVANTAGE OF VIETNAM SMEs  
    
 
 
 
                                  Lê Ba Phong*,  Thân Thanh Sơn  
 
1. GIỚI THIỆU  
TÓM TẮT  
Sự hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế khu  
vực và thế giới đang diễn ra ngày càng sâu rộng, đặc biệt  
kể từ khi Việt Nam gia nhập vào Hiệp hội các quốc gia Đông  
Nam Á (ASEAN) tháng 12 năm 2015 và gần đây nhất tham  
gia vào hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)  
tháng 8 năm 2020. Điều này đã mở ra nhiều tiềm năng và  
cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế Việt Nam nói chung  
và phát triển kinh tế du lịch nói riêng. Gắn với bối cảnh một  
quốc gia đang phát triển và mới nổi như Việt Nam [1]. Theo  
Mục đích của nghiên cứu là đánh giá những tác động của văn hóa hợp tác và  
chia sẻ tri thức đến lợi thế cạnh tranh của các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam.  
Nghiên cứu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc SEM và dữ liệu thu thập được  
từ 135 cán bộ quản lý ở các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam để phân tích và lượng  
hóa mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Các phương pháp  
kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và hồi quy  
tuyến tính được sử dụng nhằm kiểm tra độ tin cậy của thang đo và mối quan hệ  
của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy văn hóa  
hợp tác và hoạt động chia sẻ tri thức giữa các nhân viên trong khách sạn tác động  
tích cực đến lợi thế cạnh tranh của khách sạn. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự Tổng  cục  Du  lịch  Việt  Nam,  tính  chung  trong  giai  đoạn  
cần thiết phải tăng cường và phát triển một môi trường văn hóa tích cực trên tinh 2015 - 2019, ngành du lịch Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng  
thần hợp tác và xem đây là giải pháp có nghĩa quan trọng nhất để thúc đẩy hoạt cao với tốc độ 22,7%. Theo công bố mới nhất năm 2019,  
động chia sẻ kiến thức của cán bộ, nhân viên khách sạn, qua đó cải thiện và tăng  
cường lợi thế cạnh tranh của khách sạn trong dài hạn.  
Từ khóa: Văn hóa hợp tác; chia sẻ tri thức; lợi thế cạnh tranh; khách sạn vừa và  
nhỏ Việt Nam.   
Việt Nam được tổ chức Du lịch thế giới (UNTWO) xếp hạng  
là 1 trong 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh  
nhất thế giới. Phát triển kinh tế du lịch được coi là hướng đi  
có tầm quan trọng chiến lược, có tác động tích cực đến sự  
phát triển của nhiều ngành kinh tế, thu hút ngoại tệ, góp  
phần tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, và cải thiện  
đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, do ảnh hưởng chưa có  
hồi kết và những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19,  
đã khiến cho hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp,  
đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong lĩnh  
vực khách sạn  - du  lịch bị  suy  giảm và tổn  thất nặng nề.  
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, khám phá và xác định  
được các giải pháp hữu hiệu, cũng như những nhân tố tích  
cực để tăng cường lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp  
khách sạn - du lịch vừa và nhỏ là rất quan trọng.  
Lợi thế cạnh tranh của khách sạn được coi là chìa khóa  
giúp khách sạn tạo  ra ưu thế vượt trội so với các đối thủ  
cạnh  tranh  chính, giúp  họ tồn tại và phát triển  trong dài  
hạn  trước  những  biến  động  phức  tạp  của  môi  trường  xã  
hội, xu hướng toàn cầu hóa và thách thức ngày càng tăng  
từ môi trường kinh doanh [2]. Nhận thức được áp lực của  
cạnh tranh, lãnh đạo các doanh nghiệp trong ngành khách  
sạn - du lịch đã không ngừng khám phá nhằm xác định một  
hướng  đi  phù  hợp  để  nâng  cao  hiệu  quả  kinh  doanh  và  
năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên phần lớn  
trong số đó vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc cải thiện lợi  
thế  cạnh  tranh  của  doanh  nghiệp  [3].  Các  doanh  nghiệp  
ABSTRACT  
The purpose of this study is to investigate the effects of collaborative culture  
and knowledge sharing on the competitive advantage of Vietnamese small and  
medium hotels. This study utilized the structural equation modeling (SEM) and  
data collected from 135 managers in small and medium hotels in Vietnam to  
analyze and quantify the relationship between factors in the research model.  
Cronbach’s Alpha testing methods, confirmatory factor analysis (CFA) and linear  
regression  are  used  to  test  the  reliability  of  the  scales  and  the  relationship  
among  the  latent  factors  in  the  research  model.  The  findings  show  that  the  
collaborative  culture  and  knowledge  sharing  of  hotel  employees  induce  a  
positive  impact  on  hotels'  competitive  advantage.  The  research  results  
emphasize the need to build and develop a positive cultural environment in the  
spirit of cooperation to foster knowledge sharing activities, thereby improving  
and enhancing the hotel’s competitive advantage in the long term.  
Keywords: Collaborative culture; knowledge sharing; competitive advantage;  
Vietnam small and medium hotels.  
 
Khoa Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội  
Ngày nhận bài: 10/01/2021  
Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 10/5/2021  
Ngày chấp nhận đăng: 25/6/2021  
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 - Số 3 (6/2021)                                         Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn  
166  
P-ISSN 1859-3585     E-ISSN 2615-9619                                                                                                                              ECONOMICS - SOCIETY  
Việt Nam và các doanh nghiệp ngành khách sạn - du lịch  hơn và đạt được vị trí độc tôn trên thị trường ở một hoặc  
phải đối diện với nhiều  rủi ro  và  thách thức trước những  một  số  lĩnh  vực  hoạt  động  nhất  định  so  với  các  đối  thủ  
thay đổi về công nghệ và môi trường bởi đa số các doanh  cạnh tranh chính. Năng lực cốt lõi của tổ chức thường liên  
nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ (chiếm tỉ lệ 98,1%)  quan đến tập hợp các kỹ năng, khả năng và nguồn lực cụ  
với sự hạn chế nhất định về vốn, nguồn lực và  khả  năng  thể mà một tổ chức/doanh nghiệp sở hữu cũng như cách  
R&D để đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh [3, 4]. Do  họ  sử  dụng  những  nguồn  lực  đó  vào  quá  trình  sản  xuất  
đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn dựa  kinh  doanh  để  cải  thiện  hiệu  suất  và  các  kết  quả  đầu  ra.  
trên những khoản đầu tư lớn vào đổi mới công nghệ là sự  Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: nếu nguồn lực và  
lựa chọn thứ yếu. Nói cách khác, nghiên cứu, khám phá và  năng lực riêng có của doanh nghiệp hội tụ 4 đặc điểm: có  
phát hiện các yếu tố khả thi, ít tốn kém, đồng thời có tác  giá trị, khan hiếm, khó bắt chước và không thể thay thế, thì  
dụng thúc đẩy đáng kể năng lực cạnh tranh của các khách  lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ được định hình và  
sạn vừa và nhỏ càng trở nên cần thiết và ý nghĩa.  
giúp  doanh  nghiệp  nâng  cao  hiệu  suất,  hiệu  quả  kinh  
doanh  và  thu  được  lợi  nhuận  trên  mức  trung  bình  của  
ngành [10-12]. Theo Lei và cộng sự [5], một doanh nghiệp  
được coi là đạt được lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp  
đó có được vị trí vững chắc trên thị trường bằng chiến lược  
tạo giá trị và thu được lợi ích bền vững từ chiến lược đó.  
Những doanh nghiệp như vậy đồng thời khiến cho các đối  
thủ cạnh tranh không thể sao chép thành công chiến lược  
mà họ theo đuổi. Do vậy xây dựng và phát triển các năng  
lực cốt lõi có  ý nghĩa quan trọng  giúp các doanh nghiệp  
phát triển lợi thế cạnh tranh riêng có của họ.  
Văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa là tập hợp các  
giá trị, niềm tin, chuẩn mực và hành vi được chia sẻ rộng rãi  
bởi các  thanh viên trong tổ  chức và tạo  nên  bản sắc đặc  
trưng của tổ chức [13, 14]. Văn hóa doanh nghiệp là một  
phạm  trù  phức  tạp,  được  nghiên  cứu  và  phân  loại  theo  
nhiều cách khác nhau tùy theo đặc điểm bối cảnh và cấp  
độ nghiên cứu [15]. Là một hình thức cụ thể của văn hóa  
doanh nghiệp, văn hóa hợp tác (VHHT) hàm chứa các giá trị  
cốt lõi được đặc trưng bởi: tầm nhìn dài hạn; chấp nhận và  
quản  trị  sự  thay  đổi;  làm  việc  theo  nhóm;  tôn  trọng  lẫn  
nhau; nhấn mạnh tinh thần cởi mở, hợp tác và chia sẻ kiến  
thức giữa các thành viên trong tổ chức [7, 8]. VHHT chính là  
nguồn gốc tạo nên sức mạnh tập thể, được xây dựng dựa  
trên  sự  tôn  trọng,  quan  tâm  và  hỗ  trợ  lẫn  nhau  giữa  các  
thành viên trong tổ chức [5, 8].  
Mối quan hệ tích cực giữa VHHT và lợi thế cạnh tranh  
của doanh nghiệp đã được  thảo  luận và minh  chứng bởi  
nhiều công trình nghiên cứu trước. Cụ thể, theo Kotter và  
Heskett [16], các giá trị cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp  
thường được sử dụng rộng rãi như một yếu tố cạnh tranh  
độc lập và đặc biệt phù hợp với các thị trường siêu năng  
động  như  trường  hợp  của  các  doanh  nghiệp  Nissan  và  
Zappos. Ahmed và cộng sự [17] chỉ ra rằng VHHT đóng vai  
trò quan trọng trong việc thúc đẩy các quá trình chia sẻ tri  
thức trong tổ chức, giúp nâng cao tính sáng tạo và đổi mới  
của các nhân viên. Điều này rất có lợi cho việc phát hiện và  
phát triển các năng lực cốt lõi của tổ chức để tạo ra lợi thế  
cạnh tranh. Lei và cộng sự [5] chỉ ra những tác động tích  
cực của VHHT đến khả năng học tập và chia sẻ kiến thức  
trong  tổ  chức,  qua  đó  cho  phép  các  doanh  nghiệp  Việt  
Nam tạo ra lợi thế cạnh tranh dựa trên sự khác biệt và lợi  
thế chi phí thấp. Gần đây, kết quả nghiên cứu thực nghiệm  
của Nguyen và cộng sự [6] cho thấy VHHT chính là tiền đề  
của  khả  năng  đổi  mới  sáng  tạo  của  doanh  nghiệp  đồng  
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng văn hóa hợp tác (VHHT) có  
vai trò quan trọng trong việc tạo ra một môi trường cởi mở,  
tin tưởng và hợp tác, là gốc rễ thúc đẩy sự chia sẻ kiến thức,  
kinh nghiệm và bí quyết của nhân viên với đồng nghiệp, từ  
đó giúp tăng cường hiệu suất hoạt động của cá nhân và lợi  
thế cạnh tranh của doanh nghiệp [5-7]. Tuy nhiên, nghiên  
cứu về mối quan hệ giữa VHHT, chia sẻ kiến thức (CSTT) và  
lợi thế cạnh tranh vẫn còn hạn chế [6, 8]. Theo hiểu biết của  
tác giả, có rất ít các công trình nghiên cứu điều tra tác động  
của  VHHT  và  CSTT  đến  lợi  thế  cạnh  tranh  của  các  doanh  
nghiệp Việt Nam trong lĩnh  vực khách sạn - du lịch. Điều  
này đã hạn chế hiểu biết của các nhà quản trị trong lĩnh vực  
khách sạn về cách thức sử dụng các nguồn lực sẵn có và ít  
tốn kém để tăng cường lợi thế cạnh tranh của họ. Do đó, để  
mang lại những hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa  
VHHT, CSTT và lợi thế cạnh tranh, bài báo sẽ thực hiện một  
nghiên cứu định lượng, dựa trên việc thu thập và phân tích  
số liệu sơ cấp từ 135 cán bộ quản trị tại các khách sạn vừa  
và nhỏ Việt Nam.  
Trên cơ sở những khoảng trống lý thuyết và thực tiễn  
đề cập trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải đáp  
những câu hỏi nghiên cứu sau:  
1. Giữa VHHT và CSTT, nhân tố nào có tác động tích cực  
hơn đến lợi thế cạnh tranh của khách sạn?  
2. CSTT có hoạt động như một nhân tố trung gian trong  
mối quan hệ giữa VHHT và lợi thế cạnh tranh của khách sạn?  
3. Lãnh đạo các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam nên làm gì  
để tăng cường lợi thế cạnh tranh của khách sạn?  
Kết quả nghiên cứu  thực nghiệm cho thấy cả VHHT và  
CSTT đều có tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh của các  
khách sạn vừa và nhỏ. Đặc biệt, VHHT tạo ra những tác động  
lớn hơn đến lợi thế cạnh tranh hơn so với tác động của CSTT  
đến  lợi  thế  cạnh  tranh.  Kết  quả  nghiên  cứu  được  kỳ  vọng  
mang đến những hiệu quả sâu sắc hơn cho nhà quản trị các  
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực khách sạn, giúp họ  
phát huy có hiệu quả những nguồn lực nội tại và có được  
định hướng chiến lược đúng đắn cần ưu tiên theo đuổi để  
tăng cường lợi thế cạnh tranh cho khách sạn.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Mối quan hệ giữa văn hóa hợp tác và lợi thế cạnh  
tranh  
Theo Porter [9] lợi thế cạnh tranh bắt nguồn từ năng lực  
cốt  lõi  của  một  tổ  chức  cho  phép  tổ  chức  hoạt  động  tốt  
167  
KINH TẾ   
XÃ HỘI  
P-ISSN 1859-3585      E-ISSN 2615-9619  
thời là cơ sở giúp doanh nghiệp cải thiện lợi thế cạnh tranh  
trong  dài  hạn.  Bên  cạnh  có,  theo  quan  điểm  dựa  trên  
nguồn lực (RBV - Resource-based view), nhóm tác giả cho  
rằng  VHHT  chính  là  một  loại  năng  lực  đặc  biệt  mà  các  
doanh  nghiệp  khách  sạn  nên  theo  đuổi  bởi  VHHT  hội  tụ  
đầy đủ 4 khía cạnh cấu thành năng lực cốt lõi tạo nên lợi  
thế cạnh tranh, đó là có giá trị, hiếm, không thể bắt chước  
và khó thay thế. Trên cơ sở những biện luận này, nhóm tác  
giả đề xuất giả thuyết sau (hình 1):  
2.3. Mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức và lơi thế cạnh tranh  
Các nghiên cứu trước đây cho thấy bằng chứng về mối  
tương quan tích cực giữa CSTT và lợi thế cạnh tranh. Cụ thể,  
nghiên cứu của Davenport và cộng sự [23] và nghiên cứu của  
Salisbury [24] cho thấy sự liên quan tích cực của CSTT đối với  
lợi  thế  cạnh  tranh  của  một  tổ  chức  vì  nó  giúp  nhân  viên  
trong tổ chức đó có nhiều cơ hội lựa chọn phương án hành  
động  tốt  hơn  thông  qua  quá  trình  chia  sẻ,  học  hỏi  và  sử  
dụng những kiến thức hữu ích từ đồng nghiệp. Bằng cách sử  
dụng dữ liệu thu thập được từ mẫu khảo sát gồm 112 nhà  
quản lý cấp cao, nghiên cứu thực nghiệm của Almahamid và  
cộng sự [25] cho thấy CSTT có ảnh hưởng tích cực và đáng kể  
đến lợi thế cạnh tranh của các công ty ở Jordan. Le và Lei [26]  
đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt CSTT đến lợi thế  
cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Son và cộng  
sự [4] ở bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy, CSTT  
có tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh của các doanh  
nghiệp Việt Nam. Cuối cùng, dựa trên phương pháp nghiên  
cứu  điển  hình  tại  một  trong  những  khách  sạn  lớn  nhất  ở  
Scandanavia, Skinnarl và cộng sự [27] nhấn mạnh: nếu khách  
sạn có thể thúc đẩy quá trình chia sẻ kiến thức và khả năng  
học tập trong tổ chức, thì khách sạn sẽ trở nên hiệu quả hơn  
trong cạnh tranh.  
H1. VHHT tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh của các  
khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam  
 
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
2.2. Mối quan hệ giữa văn hóa hợp tác và chia sẻ tri thức  
Tri thức được biết đến như là một loại tải sản vô hình và  
quý giá của doanh nghiệp [18]. Hiệu quả trong quá trình  
chia sẻ kiến thức là yếu tố quyết định sự thành công trong  
công tác quản trị nguồn lực tri thức, giúp tổ chức có cơ hội   
chia sẻ và dụng những kiến thức mới có giá trị vào thực tiễn  
đổi mới và tạo ra lợi thế cạnh tranh. Chia sẻ tri thức (CSTT)  
là quá trình chuyển giao, trao đổi, hoặc phổ biến kiến thức  
từ  người/nhóm  người  này  sang  người/nhóm  người  khác  
[19]. Lei và cộng sự [1] định nghĩa CSTT quá trình trao đổi  
dữ liệu, thông tin, bí quyết, kỹ năng, kinh nghiệm và kiến  
thức chuyên môn giữa các nhân viên nhằm giúp họ hoàn  
thành tốt nhiệm vụ cá nhân và mục tiêu của tổ chức.    
Những biện luận trên đã hỗ trợ cho mối quan hệ tích  
cực giữa CSTT và lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, nghiên cứu  
về  mối  quan  hệ  giữa  CSTT  và  lợi  thế  cạnh  tranh  của  các  
khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam vẫn còn hạn chế. Do đó, giả  
thuyết sau được đề xuất:  
H3. CSTT có tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh của  
các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Để đạt được  mục  tiêu nghiên cứu,  tác  giả sử dụng kết  
hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.  
Đặc  biệt,  để  đưa  ra  bằng  chứng  xác  thực  về  mối  quan  hệ  
giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu, tác giả đã tiến  
hành thu thập số liệu sơ cấp thông qua bảng hỏi và phân  
tích xử lý số liệu trên phần mềm SPSS và AMOS phiên bản 22.  
VHHT được coi là điều kiện cơ bản để thúc đẩy hành vi  
CSTT  giữa  các  nhân  viên  trong  tổ  chức.  Thật  vậy,  theo  
Sveiby và Simons [20], môi trường hợp tác đẩy nhanh quá  
trình CSTT, đồng thời, sự chia sẻ kiến thức sẽ được tối đa  
hóa khi nhân viên có sự cộng tác ở tất cả các cấp bậc trong  
hệ  thống  quản  trị  của  tổ  chức.  Mueller  [21]  đưa  ra  bằng  
chứng cho thấy các giá trị văn hóa tập trung vào hợp tác và  
cởi mở có tác động tích cực đến hoạt động CSTT giữa các  
nhân  viên  tại  các  công  ty  ở  Châu  Âu.  Kucharska  và  
Kowalczyk [22] chỉ ra rằng VHHT có liên quan tích cực đến  
hành vi CSTT giữa các chuyên gia Ba Lan trong ngành xây  
dựng.  Gần  đây,  Yang  và  cộng  sự  [8]  cho  rằng  các  giá  trị  
quan  trọng  của  VHHT  (như  khuyến  khích  sự  phối  hợp  và  
làm việc theo nhóm, giao tiếp cởi mở và cởi mở, tôn trọng  
và tin tưởng) sẽ tạo điều kiện tích cực cho các tương tác xã  
hội, quá trình truyền thông, và hoạt động chia sẻ kiến thức  
giữa các nhân viên trong các doanh nghiệp ở Trung Quốc.  
Những nhận định và  bằng chứng trên cho  thấy tác động  
tích cực của VHHT đối với CSTT, để lượng hóa  những tác  
động của VHHT đối với CSTT ở các khách vạn vừa và nhỏ  
Việt Nam, giả thuyết sau được đề xuất:  
3.1. Mẫu nghiên cứu  
Nghiên  cứu  được  tiến  hành  dựa  trên  mẫu  nghiên  cứu  
gồm 36 khách  sạn vừa và nhỏ Việt Nam. Mẫu  nghiên  cứu  
được nhóm tác giả thực hiện theo phương pháp chọn mẫu  
thuận tiện, thông qua quá trình thu thập số liệu của các sinh  
thực tập tốt nghiệp tại các khách sạn vừa và nhỏ. Để đáp ứng  
mục tiêu nghiên cứu, đối tượng tham gia khảo sát phải đảm  
bảo là các nhà quản trị của các khách sạn vừa và nhỏ, ví dụ  
như:  giám  đốc/trưởng  các  bộ  phận  kế  toán,  bộ  phận  
marketing, bộ phận buồng, tiền sảnh và ẩm thực. Biến quan  
sát sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ những công  
trình nghiên cứu có uy tín trước đây. Tác giả sau đó tiến hành  
tham  khảo  ý  kiến  chuyên  gia  để  hiệu  chỉnh  và  xây  dựng  
bảng hỏi. Danh mục các biến quan sát được trình bày trong  
bảng 1. Nghiên cứu phát ra 200 phiếu khảo sát, thu về 160  
phiếu trong đó có 135 phiếu hợp lệ để đưa vào phân tích.    
H2.  VHHT  tác  động tích  cực  đến  hoạt  động CSTT  tại  các  
khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam  
Nghiên cứu có 22 biến quan sát dùng đo lường 3 nhân  
tố.  Theo  tiêu  chuẩn  của  Hair  [28]  thì  kích  thước  mẫu  tối  
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 - Số 3 (6/2021)                                         Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn  
168  
P-ISSN 1859-3585     E-ISSN 2615-9619                                                                                                                              ECONOMICS - SOCIETY  
thiểu  phải  lớn  hơn  5  lần  số  biến  quan  sát  là  22*5=110  
phiếu. Do đó, với 135 phiếu hợp lệ, nghiên cứu đã đảm bảo  
tiêu chuẩn về kích thước mẫu dùng để phân tích nhân tố  
khám phá và kiểm định mô hình hồi quy đa biến.  
Lợi thế cạnh tranh  
LTCT1  Khách sạn đạt được lợi thế cạnh tranh về chi phí thấp so  
với các đối thủ cạnh tranh chính  
LTCT2  Khách sạn có năng lực quản lý tốt hơn các đối thủ cạnh  
3.2. Đo lường  
Nguyên &  
cộng sự  
[6]  
tranh chính   
Các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert  
năm  mức  độ  (với  1:  Hoàn  toàn  không  đồng  ý,  2:  Không  
đồng ý, 3: Bình thường, 4: Đồng ý và 5: Hoàn toàn đồng ý).  
LTCT3  Khả năng sinh lời của khách sạn tốt hơn các đối thủ cạnh  
tranh chính   
LTCT4  Khách sạn có vị trí chắc chắn và luôn đi đầu trong một số  
lĩnh vực quan trọng  
Bảng 1. Thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên cứu  
Tên  
Biến quan sát  
Nguồn  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
biến  
4.1. Phân tích nhân tố khẳng định  
Văn hóa hợp tác   
VHHT1  Những thay đổi trong khách sạn được coi là tự nhiên và  
cần thiết  
 Để đánh giá độ tin cậy nội tại của các thang đo, nhóm  
tác giả sử dụng Cronbach’s Alpha để kiểm tra độ tin cậy của  
thang đo, sau đó thực hiện kiểm định giá trị của các thang  
đo bằng phương pháp EFA đối với các biến độc lập.    
VHHT2  Khách sạn coi nhân viên là tài sản quý giá và luôn đánh  
giá cao sự cống hiến của họ  
Kết quả phân tích EFA cho thấy biến quan sát CSTT6 có  
hệ số tải nhỏ hơn 0,3. Do đó, nghiên cứu tiến hành loại biến  
CSTT6 khi tiến hành các phân tích tiếp theo trong việc đo  
lường hoạt động chia sẻ tri thức.    
VHHT3  Khách sạn đánh giá cao những thử nghiệm và khám phá  
của nhân viên  
VHHT4  Khách sạn khuyến khích và đánh giá cao các quan điểm  
khác nhau của nhân viên  
Le & cộng  
sự [7]   
Bảng 2. Phân tích nhân tố khẳng định và độ tin cậy của mô hình đo lường  
VHHT5  Nhân viên trong khách sạn luôn tôn trọng những ý kiến  
và đóng góp của nhau  
Các biến tiềm   
ẩn/nhân tố   
Văn hóa hợp tác  
(VHHT)  
 
 
 
 
 
 
 
Mean  SD  Biến quan  Hệ số tải  Cα  Độ tin cậy   
sát  
3,42  0,47  VHHT1  0,778***  0,91  CR = 0,91  
VHHT6  Những vướng mắc được thảo luận cởi mở và bình đẳng  
giữa các nhân viên  
VHHT7  Khách sạn khuyến khích sự hợp tác giữa các phòng ban  
và bộ phận với nhau  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
VHHT2  0,792***  
VHHT3  0,695***  
VHHT4  0,756***  
VHHT5  0,707***  
VHHT6  0,710***  
VHHT7  0,822***  
VHHT8  0,741***  
 
 
 
 
 
 
 
AVE = 0,56   
 
 
 
 
 
 
VHHT8  Tất cả nhân viên đều nhận thức được kỳ vọng của người  
quản lý trực tiếp  
Chia sẻ tri thức   
CSTT1  Tôi thường đưa ra các đề xuất khi trao đổi công việc với  
đồng nghiệp   
CSTT2  Tôi sẵn sàng chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của mình  
với đồng nghiệp  
Chia sẻ tri thức   
(CSTT)  
3,47  0,57  CSTT1  0,872***  0,95  CR = 0,95  
CSTT3  Tôi sẵn sàng trả lời các câu hỏi liên quan đến công việc  
của đồng nghiệp  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CSTT2  0,865***  
CSTT3  0,768***  
CSTT4  0,918***  
CSTT5  0,750***  
CSTT7  0,759***  
CSTT8  0,843***  
CSTT9  0,842***  
CSTT10  0,828***  
 
 
 
 
 
 
 
 
AVE = 0,68   
 
 
 
 
 
 
 
CSTT4  Tôi thường ghi lại thông tin quan trọng từ các tài liệu  
hoặc báo cáo   
CSTT5  Tôi sẵn lòng giảng giải cho đồng nghiệp những vấn đề  
phức tạp    
Yang &  
cộng sự  
[8]  
CSTT6  Tôi sẵn sàng tạo cơ hội công việc cho các đồng nghiệp ít kinh  
nghiệm hơn   
CSTT7  Tôi sẵn sàng cung cấp cho đồng nghiệp những thông tin  
và tài liệu mà họ cần  
Lợi thế cạnh tranh  3,56  0,61  LTCT1  0,834***  0,90  CR = 0,90  
(LTCT)  
 
 
 
CSTT8  Tôi tư vấn cho đồng nghiệp người/bộ phận có thể giải  
quyết các thắc mắc của họ  
 
 
 
 
 
 
LTCT2  0,839***  
LTCT3  0,805***  
LTCT4  0,858***  
 
 
 
AVE = 0,69   
 
 
CSTT9  Tôi thường động viên các đồng nghiệp khi họ gặp khó  
khăn trong quá trình trao đổi kiến thức  
Notes: Cα ≥ 0,7; CR ≥ 0,7; AVE ≥ 0,5; *** Significant at p < 0,001.  
CSTT10  Tôi tìm cách diễn đạt ý tưởng của mình theo cách đơn  
giản nhất trong quá trình trao đổi để đồng nghiệp hiểu  
được đầy đủ nội dung  
Kết quả thống kê ở bảng 2 cho thấy các giá trị Cα của các  
nhân tố trong khoảng 0,90 đến 0,95 là cao hơn mức ý nghĩa  
169  
KINH TẾ   
XÃ HỘI  
P-ISSN 1859-3585      E-ISSN 2615-9619  
0,7  theo  khuyến  nghị  của  Nunnally  và  Bernstein  [29]  đã  
khẳng định độ tin cậy của thang đo dùng trong nghiên cứu.  
Tác động trực tiếp  
Đối với giả thuyết H1, kết quả trong bảng 4 cho thấy tác  
động tích cực của VHHT đối với lợi thế cạnh tranh (β = 0,45;  
p < 0,001) Do đó, các giả thuyết H1 được chấp nhận. Kết  
quả này hàm ý rằng những tác động của VHHT đối với lợi  
thế cạnh tranh của khách sạn là rất đáng kể và có ý nghĩa.  
Về mối quan hệ giữa VHHT và CSTT, bảng 4 chỉ ra rằng  
VHHT có tác động tích cực và có ý nghĩa đối với hoạt động  
CSTT của khách sạn (β = 0,62; p < 0,001). Do đó, giả thuyết  
H2 được chấp nhận.  
Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) được dùng để đánh  
giá tính hợp lệ của mô hình tổng thể, tính hội tụ và phân  
biệt của các cấu trúc. Kết quả phân tích CFA ở bảng 2 cho  
thấy tất cả các hệ số tải (Factor loadings) và độ tin cậy tổng  
hợp (C.R) nằm trong phạm vi chấp nhận được và có ý nghĩa  
thống  kê  p  <  0,001.  Trong  đó,  hệ  số  tải  nhân  tố  trong  
khoảng  từ  0,695  đến  0,918;  độ  tin  cậy  tổng  hợp  trong  
khoảng từ 0,90 đến 0,95; trung bình phương sai trích (AVE)   
nằm trong khoảng từ 0,65 đến 0,86; do đó mô hình nghiên  
cứu đáp ứng được các tiêu chí về tính phân biệt và hội tụ.    
Nghiên  cứu  sử  dụng  các  chỉ  số:  Chi-square/df  (CMIN/  
df), chỉ số phù hợp (GFI) và sai số trung bình bình phương  
xấp xỉ (RMSEA); chỉ số phù hợp tiêu chuẩn (NFI), chỉ số phù  
hợp điều chỉnh (AGFI) và chỉ số phù hợp so sánh (CFI) để đo  
mức độ phù hợp của mô hình.    
Bảng 3 cho thấy các chỉ số này đều nằm trong ngưỡng  
giá trị cho phép. Do đó mô hình đo lường là đảm bảo độ tin  
cậy  và  phù  hợp  cho  việc  phân  tích  tương  quan  giữa  các  
nhân tố.   
Bảng 3. Chỉ số phù hợp tổng thể của mô hình CFA  
 
Các chỉ số   
Absolute fit measures  
CMIN/df  
GFI  
RMSEA  
Incremental fit measures  
NFI  
AGFI  
CFI  
Giá trị    
 
1,958  
0,800  
0,085  
 
0,856  
0,749  
0,923  
Ngưỡng giá trị đề xuất  
 
Hình 2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu từ mô hình cấu trúc SEM  
Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của CSTT đối với  
lợi thế cạnh tranh (β = 0,34; p < 0,001) là tích cực và có ý  
nghĩa  thống  kê.  Do  đó,  giả  thuyết  H3  được  chấp  nhận.  
Tổng hợp kết quả từ bảng 4, nghiên cứu tiết lộ rằng VHHT  
có những tác động mạnh hơn đến lợi thế cạnh tranh so với  
tác động của CSTT đến lợi thế cạnh tranh (0,45 > 0,34).  
Tác động gián tiếp  
Để kiểm tra và cung cấp bằng chứng về vai trò  trung  
gian của CSTT giữa VHHT và lợi thế cạnh tranh của khách  
sạn, theo khuyến nghị của Preacher và Hayes [32], nghiên  
cứu  sử  dụng  phương  pháp  khoảng  tin  cậy  bootstrap  với  
3.000 lần lặp để kiểm tra ý nghĩa và độ tin cậy của các tác  
động gián tiếp (bảng 5).  
≤ 2a;  ≤ 5b  
≥ 0,90a;  ≥ 0,80b    
≤ 0,80a;  ≤ 0,10b  
 
≥ 0,90a; ≥ 0,80b  
≥ 0,90a;  ≥ 0,70b  
≥ 0,90a;    
Note: a Ngưỡng tốt nhất; b Ngưỡng chấp nhận được.  
4.2. Kết quả nghiên cứu  
Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được sử dụng với  
kỹ  thuật  maximum  likelihood  estimation  (ước  tính  khả  
năng  xảy  ra  tối  đa)  để  kiểm  tra  các  giả  thuyết  trong  mô  
hình nghiên cứu bởi hai lý do. Thứ nhất, phương pháp SEM  
được  sử  dụng  rộng  rãi  do  khả  năng  phân  tích  các  tương  
quan hồi quy trên  một mô  hình và  thử nghiệm duy nhất  
[30].  Thứ  hai,  dễ  dàng  tiến  hành  thử  nghiệm  đối  với  các  
hiệu ứng trung gian và điều tiết, đồng thời cho kết quả với  
độ tin cậy cao [30, 31]. Tổng hợp kết quả nghiên cứu được  
thể hiện trong bảng 4, 5 và hình 2.  
Bảng 5. Khoảng tin cậy của các tác động gián tiếp  
Tác  
động    
gián  
tiếp  
Khoảng tin cậy  
Tác  
động  
tổng  
thể  
Tác  
động  
trực tiếp   
Đường dẫn   
Giới hạn  Giới hạn   
dưới  
trên  
VHHTCSTTLTCT  0,45***  0,20***  0,65***  0,096  
Note: *** p < 0,001.  
0,334  
Bảng 4. Kết quả nghiên cứu từ mô hình cấu trúc (SEM)  
Bảng 5 cho thấy tác động gián tiếp của VHHT đối với lợi  
thế cạnh tranh của khách sạn (β = 0,20; p < 0,001) là có ý  
nghĩa thống kê với p < 0,001 và nằm trong khoảng tin cậy  
0,096  -  0,334.  Do  đó,  kết  quả  nghiên  cứu  đã  chỉ  ra  bằng  
chứng về vai trò  trung  gian của CSTT trong mối quan  hệ  
giữa VHHT và lợi thế cạnh tranh của khách sạn.  
Giả thuyết   
Hệ số  
Beta  
t-  
value  
Kết quả  
H1  Văn hóa hợp tác  Lợi thế cạnh  0,45***  
4,346  Supported  
tranh  
H2  Văn hóa hợp tác  Chia sẻ tri thức  0,62***  
6,934  Supported  
3,533  Supported  
5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý  
H3  Chia sẻ tri thức  Lợi thế cạnh  
0,34***  
Mặc  dù  nền  kinh  tế  toàn  cầu  đang  phải  đối  diện  với  
nhiều khó khăn và thách thức, tăng trưởng của hầu hết các  
tranh  
Note: *** p < 0,001 level.  
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 - Số 3 (6/2021)                                         Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn  
170  
P-ISSN 1859-3585     E-ISSN 2615-9619                                                                                                                              ECONOMICS - SOCIETY  
nền kinh tế lớn đều suy giảm do phải đối phó với đại dịch  
Thứ ba, để các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam có thể  
Covid-19, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt  tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững, bên cạnh  
2,91% và trở thành một trong số ít quốc gia có tốc độ tăng  việc  phát  triển  VHHT  và  tăng  cường  các  hoạt  động  CSTT  
trưởng kinh tế tốt nhất thế giới trong năm 2020. Tuy vậy,  của nhân viên, các CEOs và giám đốc khách sạn cần quan  
để Việt Nam tiếp tục góp phần tạo ra những thành tích ấn  tâm  hoàn  thiện các nhân  tố  khác  có  ảnh hưởng đáng kể  
tượng về tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới, đòi hỏi các  đến  lợi  thế  cạnh  tranh  của  khách  sạn  như  năng  lực  
doanh  nghiệp  Việt  Nam  nói  chung  và  các  doanh  nghiệp  marketing,  năng  lực  tổ  chức  quản  lý,  cơ  sở  vật  chất  kỹ  
ngành khách sạn - du lịch nói riêng phải không ngừng nỗ  thuật,  uy  tín  và  hình  ảnh,  trình  độ  tổ  chức  và  phục  vụ  
lực để cải thiện năng lực nội tại và tạo ra lợi thế cạnh tranh.   khách, chất lượng dịch vụ và trách nhiệm xã hội của khách  
sạn [3, 33].   
Lợi thế cạnh tranh luôn là giải pháp hàng đầu giúp các  
doanh nghiệp khách sạn - du lịch có cơ hội chiếm lĩnh được  
những  vị  trí  quan  trọng  trên  thị  trường  và  thu  được  lợi  
nhuận tương đối cao trong mối tương quan với các đối thủ  
cạnh  tranh  chính.  Việc  đánh  giá  và  thử  nghiệm  các  giả  
thuyết được phát triển trong bài báo này đã góp phần khỏa  
lấp các khoảng trống lý thuyết về mối quan hệ giữa VHHT,  
CSTT và lợi thế cạnh tranh của các khách sạn vừa và nhỏ  
Việt Nam. Nghiên cứu  cũng giúp lãnh đạo  các khách sạn  
vừa và nhỏ Việt Nam có được căn cứ xác đáng nhằm theo  
đuổi và tăng cường lợi thế cạnh tranh của khách sạn trong  
dài hạn. Đóng góp của nghiên cứu về mặt lý luận và thực  
tiễn thể hiện ở một số điểm chính sau:  
Thứ nhất, đóng góp đầu tiên và quan trọng của nghiên  
cứu  đó  là  lấp  đầy  những  khoảng  trống  lý  thuyết  về  mối  
quan hệ giữa VHHT, CSTT và lợi thế cạnh tranh của khách  
sạn vừa và nhỏ. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy  
cả VHHT và CSTT đều có tác động tích cực đến lợi thế cạnh  
tranh  của  khách  sạn  vừa  và  nhỏ.  Tuy  nhiên  VHHT  tạo  ra  
những tác động lớn hơn đến lợi thế cạnh tranh hơn so với  
tác động của CSTT đến lợi thế cạnh tranh. Kết quả nghiên  
cứu giúp mang đến những hiểu biết sâu sắc hơn cho nhà  
quản trị các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực khách  
sạn về cách thức mà họ có thể vận dụng, cũng như chiến  
lược mà họ ưu tiên theo đuổi để tăng cường lợi thế cạnh  
tranh cho khách sạn.    
Kết luận: Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu  
còn tồn tại những hạn chế nhất định như số lượng mẫu khảo  
sát còn nhỏ và đối tượng khảo sát chỉ tập trung vào đội ngũ  
các nhà quản trị. Điều này có thể dẫn đến những khác biệt  
nhất định trong kết quả nghiên cứu. Do đó các nghiên cứu   
trong tương lai nên tiếp tục kiểm nghiệm các giả thuyết hiện  
tại và phát triển thêm những giả thuyết mới nhằm giúp các  
nhà quản trị khách sạn có được những hiểu biết sâu sắc và  
đầy đủ hơn về con đường giúp tăng cường lợi thế cạnh tranh  
cho khách sạn. Dẫu vậy kết quả của nghiên cứu đã góp phần  
tích cực trong việc mở ra một chiến lược mới ít tốn kém và  
hiệu quả hơn, giúp các khách sạn vừa và nhỏ cải thiện năng  
lực cạnh tranh dựa trên việc phát triển các giá trị cốt lõi của  
VHHT như đưa ra một tầm nhìn dài hạn, chấp nhận và quản  
trị tốt sự thay đổi, phát triển bầu không khí cởi mở và hợp tác  
trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau… nhằm khuyến khích sự  
chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng giữa các nhân viên  
trong khách sạn.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học  
và  công  nghệ  Quốc  gia  (NAFOSTED)  trong  đề  tài  mã  số  
502.02-2019.300.  
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Thứ hai, nghiên cứu tiến hành khám phá, xây dựng và  
tích hợp mối quan hệ giữa VHHT, CSTT và lợi thế cạnh tranh  
bằng một mô hình nghiên cứu duy nhất nhằm kiểm tra vai  
trò trung gian của CSTT. Các phát hiện thực nghiệm chỉ ra  
rằng, CSTT có tác động tích cực và đáng kể đến lợi thế cạnh  
tranh của khách sạn, đồng thời hoạt động như một nhân tố  
trung gian tích cực, giúp lan truyền những ảnh hưởng của  
VHHT  đối  với  lợi  thế  cạnh  tranh  của  khách  sạn.  Kết  quả  
nghiên  cứu  chứa  đựng  hàm  ý  quan  trọng  rằng:  việc  xây  
dựng và phát triển một bầu không khí làm việc tích cực và  
cởi  mở  và  khuyến  khích  sự  hợp  tác  giữa  các  nhân  viên  
trong khách sạn có thể giúp các nhà quản trị khơi dậy được  
động lực làm việc cho nhân viên, thúc đẩy nhân viên chủ  
động  chia  sẻ  những  thông  tin  và  kiến  thức  có  giá  trị  với  
nhau để không ngừng nâng cao hiệu suất làm việc của cá  
nhân  và  phát  huy  lợi  thế  cạnh  tranh  của  khách  sạn.  Nói  
cách khác, nghiên cứu hàm ý rằng: quan tâm đến việc tạo  
dựng một môi trường tích cực trên tinh thần cởi mở và hợp  
tác, sẽ giúp các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam phát huy  
được tối đa nguồn lực tri thức của doanh nghiệp để theo  
đuổi và tăng cường lợi thế cạnh tranh của khách sạn.    
[1]. Lei H, Gui L, Le P B, 2021. Linking transformational leadership and frugal  
innovation: the mediating role of tacit and explicit knowledge sharing. Journal of  
Knowledge Management (In press).  
[2]. Cheraghalizadeh R, Tümer M, 2017. The effect of applied resources on  
competitive advantage in hotels: Mediation and moderation analysis. Journal of  
Hospitality Tourism Management, 31(265-272).  
[3]. Tran B A, Nguyen V A, Ba V T D, 2012. Study on the factors influencing  
competitiveness of the four-star hotels in Thua Thien Hue province. Hue University  
Journal of Science, 72B(3): 9-18.  
[4].  Son  T  T,  Thang  T  Q,  Cung  N  H,  et  al.,  2019.  Building  competitive  
advantage for Vietnamese firms: the roles of knowledge sharing and innovation.  
International Journal of Business Administration, 10(4): 1-12.  
[5]. Lei H, Le P B, Nguyen H T H, 2017. How Collaborative Culture Supports for  
Competitive  Advantage:  The  Mediating  Role  of  Organizational  Learning.  
International Journal of Business Administration, 8(2): 73-85.  
[6]. Nguyen D K, Phong L B, Hui L, 2019. Creating Competitive Advantage for  
Vietnamese Manufacturing and Service Firms: The Role of Collaborative Culture and  
Innovation  Capability.  International  Journal  of  Business  Administration,  10(2):  
32-42.  
171  
KINH TẾ   
XÃ HỘI  
P-ISSN 1859-3585      E-ISSN 2615-9619  
[7]. Le P B, Lei H, Le T T, et al., 2020. Developing a collaborative culture for  
[26]. Le P B, Lei H, 2018. Fostering knowledge sharing behaviours through  
radical  and  incremental  innovation:  the  mediating  roles  of  tacit  and  explicit  ethical  leadership  practice:  the  mediating  roles  of  disclosure-based  trust  and  
knowledge sharing. Chinese Management Studies, 14(4): 957-975.  
reliance-based trust in leadership. Knowledge Management Research & Practice,  
16(2): 183-195.  
[8].  Yang  Z,  Nguyen  V  T,  Le  P  B,  2018.  Knowledge  sharing  serves  as  a  
mediator  between  collaborative  culture  and  innovation  capability:  an  empirical  
research. Journal of Business & Industrial Marketing, 33(7): 958-969.  
[27].  Skinnarl  K  I,  Asa  I,  Sharp  P,  2014.  Knowledge  Sharing  (KS).  
Organizational  Learning  and  Competitive  Advantage  in  a  Scandinavian  Hotel  
Company.  
[9]. Porter M E, 1985. Competitive Advantage. New York: Free Press. Porter  
Competitive Advantage.  
[28].  Hair  J  F,  Anderson  R  E,  Tatham  R  L,  et  al.,1998.  Multivariate  data  
[10]. Barney J, 1991. Firm resources and sustained competitive advantage.  analysis. Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall, 1998.  
Journal of management, 17(1): 99-120.  
[29]. Nunnally J C, Bernstein I, 1994. Elements of statistical description and   
[11].  Wu  L  Y,  2010.  Applicability  of  the  resource-based  and  dynamic-  
capability  views  under  environmental  volatility.  Journal  of  Business  Research,  
63(1): 27-31.   
[12].  Le  P  B,  Lei  H,  2018.  The  effects  of  innovation  speed  and  quality  on  
differentiation  and  low-cost  competitive  advantage:  The  case  of  Chinese  firms.  
Chinese Management Studies, 12(2): 305-322.  
estimation. Psychometric Theory 3 Edition, McGraw-Hill, New York.  
[30]. Lei H, Leaungkhamma L, Le P B, 2020. How transformational leadership  
facilitates  innovation  capability:  the  mediating  role  of  employees'  psychological  
capital. Leadership & Organization Development Journal, 41(4): 481-499.  
[31]. Lei H, Phouvong S, Le P B, 2019. How to foster innovative culture and  
capable champions for chinese firms: an empirical research. Chinese Management  
Studies, 13(1): 51-69.  
[13]. Schein E, 2004.  Organizational culture and leadership. San Francisco:  
John Willey & Sons. Inc.  
[32]. Preacher K J, Hayes A F, 2008. Asymptotic and resampling strategies for  
assessing and comparing indirect effects in multiple mediator models. Behavior  
research methods, 2008, 40(3): 879-891.  
[14]. Lei H, Do N K, Le P B, 2019. Arousing a positive climate for knowledge  
sharing  through  moral  lens:  the  mediating  roles  of  knowledge-centered  and  
collaborative culture. Journal of Knowledge Management, 23(8): 1586-1604.  
[15]. Shao Z, Wang T, Feng Y, 2015. Impact of organizational culture and  
computer  self-efficacy  on  knowledge  sharing.  Industrial  Management  &  Data  
Systems, 115(4): 590-611.  
[33]. Long N T, 2017. Study on factors affecting the competitiveness of Ben  
Tre’s tourism businesses. Ho Chi Minh City Open University Journal of Science,  
12(2).  
 
[16]. Kotter J P, Heskett J L, 1992.  Organizational culture and performance.  
Free Press, New York, NY.  
AUTHORS INFORMATION  
Le Ba Phong,  Than Thanh Son  
[17]. Ahmed F, Shahzad K, Aslam H, et al., 2016. The role of collaborative  
culture in knowledge sharing and creativity among employees. Pakistan Journal of  
Commerce and Social Sciences (PJCSS), 10(2): 335-358.  
Faculty of Tourism, Hanoi University of Industry  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
[18]. Le Ba Phong, 2021. Tang cuong kha nang doi moi thanh dam cho cac  
doanh nghiep Viet Nam: Vai tro cua lanh dao chuyen doi va kha nang quan tri tri  
thuc  cua  doanh  nghiep.  Journal  of  Economics  and  Development,  National  
Economics University, 286: 68-77.  
[19].  Le  L  T  K,  Le  P  B,  2021.  Improving  the  Innovation  Performance  for  
Vietnamese  Firm  Based  on  Practices  of  Idealized  Influence  and  Individualized  
Consideration: The Mediating Role of Knowledge Sharing. International Journal of  
Business Administration, 12(3): 75-85.  
[20]. Sveiby K E, Simons R, 2002. Collaborative climate and effectiveness of  
knowledge work-an empirical study. Journal of Knowledge Management, 2002,  
6(5): 420-433.  
[21]. Mueller J, 2014. A specific knowledge culture: Cultural antecedents for  
knowledge sharing between project teams. European Management Journal, 32(2):  
190-202.  
[22]. Kucharska W, Kowalczyk R, 2016. Trust, Collaborative Culture and Tacit  
Knowledge Sharing in Project Management  - a Relationship Model. Humanistic  
Management Network, Research Paper Series, 49/16(159-166.  
[23]. Davenport T H, Jarvenpaa S L, Beers M C, 1996. Improving knowledge  
work processes. MIT Sloan Management Review, 37(4): 53.  
[24]. Salisbury M, 2001. An example of managing the knowledge creation  
process for a small work group. Management learning, 32(3): 305-319.  
[25]. Almahamid S, Awwad A, McAdams A C, 2010. Effects of organizational  
agility and knowledge sharing on competitive advantage: an empirical study in  
Jordan. International Journal of Management, 27(3): 387.  
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 - Số 3 (6/2021)                                         Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn  
172  
pdf 7 trang Thùy Anh 14240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của văn hóa hợp tác và chia sẻ tri thức đến lợi thế cạnh tranh của các khách sạn vừa và nhỏ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_van_hoa_hop_tac_va_chia_se_tri_thuc_den_loi_the.pdf