Tác động của doanh nghiệp FDI đến nhu cầu sử dụng lao động không có kỹ năng ở Việt Nam
TÁC ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI
ĐẾN NHU CẦU SỬ DỤNG LAO ĐỘNG KHÔNG CÓ KỸ NĂNG Ở VIỆT NAM
ThS. Nghiêm Thị Ngoc Bích1
Tóm tắt: Bài viết sử dụng số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2012-2017 của Tổng cục Thống kê (TCTK) để
phân tích tác động của doanh nghiệp FDI đến nhu cầu sử dụng lao động không có kỹ năng ở Việt Nam. Kết
quả cho thấy, giai đoạn 2012-2017 số lượng doanh nghiệp FDI đã tăng nhanh (9,14%/năm). Bên cạnh đó,
doanh nghiệp FDI cũng góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Việt Nam (số lao động khu vực
này là 3.830.491 lao động, chiếm 30% số việc làm trong các doanh nghiệp theo hình thức sở hữu). Tỷ trọng
lao động chưa qua đào tạo ở khu vực này có xu hướng giảm qua các năm (38,68% năm 2012 xuống 23,24%
năm 2017). Tuy nhiên, bằng phương pháp ước lượng OLS một lần nữa khẳng định sự đầu tư của doanh
nghiệp FDI vào Việt Nam vẫn có xu hướng tiếp tục sử dụng nhiều lao động giản đơn.
Từ khóa: Doanh nghiệp FDI, lao động giản đơn, tác động.
Abstract: This paper uses the 2012-2017 enterprise survey data of the General Statistics Office (GSO) to
analyze the impact of FDI the impact of FDI on unskilled worker demand in Vietnam. The results showed that
in the period of 2012-2017, the number of FDI enterprises increased rapidly (9,14% per year). Besides, FDI
enterprises also contributed to creating jobs for Vietnamese workers (the number of employees in this area
was from 3,830,491, accounting for 30% of the employment in enterprises by ownership). The proportion
of untrained workers in this area tended to decrease over the years (38,68% in 2012 to 23,24% in 2017).
However, by the OLS estimation method, once again, the investment of FDI enterprises in Vietnam still
tended to continue using many unskilled workers.
Keywords: FDI enterprise; unskilled workers; impact.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong tăng tưởng kinh tế ở Việt Nam, điển
hình là lao động chiếm tỷ lệ nhỏ song năng suất lao động khu vực này luôn ở mức cao, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng số lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu, đóng góp nguồn thu
ngân sách Nhà nước…Đầu tư nước ngoài năm 2017 chiếm 19,6% tổng GDP cả nước (năm 1995 là
9,3%). Bên cạnh đó, tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ khu vực đầu tư nước ngoài tăng đáng kể,
từ 1,8 tỷ USD trong giai đoạn 1994-2000 lên 23,7 tỷ USD trong giai đoạn 2011-2015, chiếm gần
14% tổng thu ngân sách nhà nước.
1
Email: [email protected], Khoa Quản lý NNL, Trường Đại học Lao động – Xã hội.
490
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại và phát triển Liên hợp quốc đánh giá, Việt Nam nằm trong
Top 12 quốc gia thành công nhất về thu hút FDI, được quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thu
hút FDI thành công nhất khu vực và trên thế giới, trở thành địa điểm đầu tư tin cậy, hiệu quả trong mắt
các nhà đầu tư nước ngoài. Đã có 127 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, đứng đầu là Hàn
Quốc, Nhật Bản, Singapore và Đài Loan… Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khu vực doanh
nghiệp có vốn FDI đang tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và khoảng 5-6 triệu lao động
gián tiếp. Từ đó, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận không nhỏ lao động.
Khu vực FDI là khu vực có năng suất lao động cao nhất trong ba khu vực. Năm 2017, năng
suất lao động của khu vực này cao gấp 3,7 lần năng suất chung của nền kinh tế, gấp 1,3 lần khu vực
nhà nước, gấp 7,4 lần khu vực ngoài nhà nước. Khu vực FDI sử dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật
hiện đại trong quá trình sản xuất, góp phần hình thành đội ngũ lao động có chất lượng cao hơn bao
gồm công nhân lành nghề, kỹ sư công nghệ, chuyên gia dịch vụ, cán bộ quản trị doanh nghiệp.
2. NỘI DUNG CHI TIẾT
2.1. Sự phát triển của doanh nghiệp FDI
2.1.1. Quy mô, cơ cấu doanh nghiệp FDI
Sau gần 30 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
kinh tế Việt Nam đã có những tăng trưởng với con số ấn tượng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt
trên 7%/năm, theo đó số doanh nghiệp năm 2017 tăng 13,7% so với năm 2016. Năm 2017, tổng
số doanh nghiệp của Việt Nam là 517.695 doanh nghiệp, cao gấp 1,5 lần so với năm 2012. Trong
đó doanh nghiệp FDI là 14.010 doanh nghiệp vào năm 2017, chiếm 2,6% tổng số doanh nghiệp,
cũng tăng gấp 1,5 lần so với 2012.
Đơn vị: Doanh nghiệp
Hình 1: Số lượng doanh nghiệp phân theo loại hình sở hữu, giai đoạn 2012-2017
Nguồn: Tính toán từ điều tra doanh nghiệp của TCTK
Trong vòng 5 năm (từ 2012-2017), tốc độ tăng trung bình của tất cả doanh nghiệp là 8,57%,
của doanh nghiệp ngoài nhà nước là 9%, của doanh nghiệp FDI là 9,14%, trong khi đó khu vực
kinh tế nhà nước giảm 1,34%. Điều này cho thấy, Nhà nước có sự đầu tư mạnh mẽ vào khu vực
FDI. Việc thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài góp phần tác động thúc đẩy chuyển dịch, cơ cấu
lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường
quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế.
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
491
Ngành công nghiệp chế biến đóng vai trò quan trọng trong phát triển các doanh nghiệp FDI,
mặc dù trong giai đoạn từ 2012-2017, tỷ trọng doanh nghiệp FDI trong ngành công nghiệp chế biến
có giảm (từ 57,34% xuống 53,24%) nhưng có thể thấy số doanh nghiệp trong ngành này vẫn chiếm
phần lớn. Đến năm 2017 có 7.459 doanh nghiệp chế biến chiếm 53,24% tổng số doanh nghiệp FDI.
Bảng 1: Tỷ trong các doanh nghiệp trong khu vực FDI của Việt Nam, giai đoạn 2012-2017
Đơn vị: %
Năm
2012
0,86
0,36
0,64
57,34
0,15
5,86
7,05
2,06
8,27
17,42
100
2013
0,86
0,40
0,54
58,12
0,16
5,45
7,61
2,02
8,06
16,79
100
2014
0,77
0,32
0,58
55,97
0,20
5,33
9,41
1,71
8,68
17,02
100
2015
0,65
0,32
0,51
56,25
0,17
5,47
9,46
1,69
8,68
16,80
100
2016
0,62
0,29
0,46
55,53
0,17
5,39
10,15
1,81
8,76
16,81
100
2017
0,64
0,21
0,38
53,24
0,16
5,12
11,46
2,32
8,95
17,52
100
Nông - lâm nghiệp
Thủy sản
Công nghiệp khai thác mỏ
Công nghiệp chế biến
Sản xuất phân phối điện, khí đốt và nước
Xây dựng
Thương nghiệp
Khách sạn, nhà hàng
Vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc
Dịch vụ khác
Tổng
Nguồn: Tính toán từ điều tra doanh nghiệp của TCTK
Các ngành nông nghiệp, thủy sản, khai thác mỏ, sản xuất phân phối điện, khí đốt và nước chiếm tỷ
trọng nhỏ, và có sự giảm đi về tỷ trọng. Trong khi đó, ngành thương nghiệp, khác sạn, nhà hàng và các
dịch vụ khác lại có xu hướng tăng lên về tỷ trọng. Tốc độ tăng trung bình nhanh nhất trong giai đoạn
2012-2017 phải kể đến là thương nghiệp (19,94%/năm), vận tải kho bãi, thông tin liên lạc (11,16%/
năm), khách sạn, nhà hàng (9,93%/năm). Như vậy, FDI vào Việt Nam đang có hướng tích cực sang lĩnh
vực công nghệ, dịch vụ, tăng khả năng nhanh chóng đuổi kịp các nước tiên tiến trong khu vực.
Bảng 2: Tỷ trong các doanh nghiệp trong khu vực FDI của Việt Nam, giai đoạn 2012-2017
Đơn vị: %
Năm
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Doanh nghiệp lớn
Tổng
2012
24
2013
22,8
47,2
8,9
2014
24,7
45,9
8,8
2015
27,9
43,8
8,2
2016
25,7
45,5
8,3
2017
28,8
44,8
7,7
47,4
8,5
20,1
100
21,1
100
20,6
100
20,1
100
20,6
100
18,7
100
Nguồn: Tính toán từ điều tra doanh nghiệp của TCTK
Các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ trọng cao nhất trong các doanh nghiệp FDI. Năm
2017, trong tổng số 14.010 doanh nghiệp FDI thì có 6.279 doanh nghiệp nhỏ, chiếm 44,8% và
4.032 doanh nghiệp siêu nhỏ, chiếm 28,8%. Giai đoạn 2012-2017, tốc độ tăng trung bình năm các
492
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
doanh nghiệp siêu nhỏ cao nhất đạt 13,52%/năm, trong khi doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn
đều đạt 7,7%/năm, thấp nhất là tốc độ tăng của doanh nghiệp vừa 6,68%/năm.
2.1.2. Lao động trong doanh nghiệp FDI
Năm 2017, nước ta có khoảng 12.749.247 lao động có việc làm trong các doanh nghiệp,
trong đó số lao động có việc làm trong doanh nghiệp FDI là 3.830.491 lao động, chiếm 30% số
việc làm trong các doanh nghiệp theo hình thức sở hữu.
Đơn vị: người
Hình 2: Cơ cấu lao động đang làm việc trong các loại hình doanh nghiệp
Nguồn: Tính toán từ điều tra doanh nghiệp của TCTK
Tỷ trọng lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước và FDI có xu hướng tăng, ngược lại lao
động trong doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm. tốc độ tăng lao động trung bình năm giai
đoạn 2012-2017, tổng số lao động trong các doanh nghiệp tăng 4,2%/năm, trong đó lao động trong
khu vực FDI tăng cao nhất (10,7%/năm), tiếp đó là khu vực ngoài nhà nước (3,6%/năm), ngược lại
khu vực nhà nước lại có xu hướng giảm (5,1%/năm).
2.1.2.1. Lao động phân theo ngành trong doanh nghiệp FDI
Số lao động trong doanh nghiệp FDI có sự khác biệt theo ngành, lao động tập trung nhiều
trong ngành công nghiệp chế biến (3.473.488 lao động, chiếm 90,68%), sau đó đến ngành vận tải
kho bãi, thông tin liên lạc (2,27%) và dịch vụ khác (3,11%).
Tỷ lệ lao động trong ngành thương nghiệp năm 2017 chỉ vào khoảng 1,53% tổng số lao động
FDI nhưng lại đạt tốc độ tăng bình quân năm cao nhất (16,17%/năm) giai đoạn 2012-2017.
Bảng 3: Tỷ lệ lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp FDI, giai đoạn 2012-2017
Đơn vị: %
Năm
2012
2013
2014
2015
2016
2017
Nông - lâm nghiệp
0,27
0,24
0,25
0,22
0,22
0,25
Thủy sản
0,10
0,82
0,09
0,44
0,08
0,48
0,09
0,22
0,09
0,36
0,08
0,30
Công nghiệp khai thác mỏ
Công nghiệp chế biến, chế tạo
90,13
90,90
90,30
90,65
89,61
90,68
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
493
Sản xuất phân phối điện, khí đốt
và nước
0,04
0,04
0,04
0,04
0,03
0,02
Xây dựng
1,07
1,17
1,33
1,85
0,88
1,32
1,32
1,84
0,66
1,47
1,31
1,94
0,73
1,49
1,23
1,93
0,70
1,49
1,18
1,88
0,66
1,53
1,10
2,27
Thương nghiệp
Khách sạn, nhà hàng
Vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc
Dịch vụ khác
3,22
2,94
3,48
3,40
4,44
3,11
Tổng
100
100
100
100
100
100
Nguồn: Tính toán từ điều tra doanh nghiệp của TCTK
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đứng đầu dẫn đầu về thu hút vốn FDI với 9,63 tỷ USD
(Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư). Việt Nam đang có điều kiện hết sức thuận lợi
trong việc hấp dẫn FDI đầu tư vào ngành này. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng
của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đòi hỏi cần có sự chọn lọc trong việc thu hút FDI, đặc
biệt là chuyển từ số lượng sang chú trọng nhiều hơn vào chất lượng của dòng vốn này.
2.1.2.2. Lao động phân theo CMKT của doanh nghiệp FDI
Hiện nay tỷ lệ lao động từ 15 tuổi có việc làm chưa qua đào tạo ở Việt Nam vào khoảng 78,6%
(TCTK, 2017), trong đó ở các doanh nghiệp là 22,65% năm 2017, có sự giảm đáng kể từ năm
2012-2017.
Đơn vị:%
Hình 3: Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở các doanh nghiệp và doanh nghiệp FDI
Nguồn: Tính toán từ điều tra doanh nghiệp của TCTK
Mặc dù là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng có thể thấy tỷ lệ lao động chưa qua
đào tạo ở các doanh nghiệp FDI đều cao hơn tỷ lệ các doanh nghiệp nói chung, điều này có thể thấy
các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là tận dụng nguồn lực dồi dào, giá nhân công thấp.
Có sự khác biệt về tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo trong các doanh nghiệp FDI, tỷ lệ này
cao vẫn tập trung vào ngành nông nghiệp (47,06%), thủy sản (50,47%), công nghiệp chế biến
(37,09%). Trong khi đó những ngành có xu hướng thấp về tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo như kho
bãi vận tải, thông tin liên lạc (2,61%), dịch vụ khác (4,7%), thương nghiệp (6,22%).
494
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Đơn vị:%
Hình 4: Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo theo các ngành trong doanh nghiệp FDI
Nguồn: Tính toán từ điều tra doanh nghiệp của TCTK
Khu vực FDI có sự tập trung lớn vào ngành công nghiệp chế biến, số doanh nghiệp ngành
này chiếm tỷ trọng nhiều nhất (53,24%), cũng là ngành có sử dụng nhiều lao động nhất (90,68%)
nhưng tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn còn cao (37,09%). Có thể thấy lĩnh vực này vẫn còn sử
dụng nhiều lao động giản đơn.
2.2. Tác động của doanh nghiệp FDI đến nhu cầu sử dụng lao động
Sự tham gia của những doanh nghiệp trong nước vào thị trường xuất khẩu thường được nổi
lên từ sự phát triển thị trường bởi những doanh nghiệp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trở
thành kênh chính của chuyển giao công nghệ và vai trò của FDI trong sử dụng kiến thức, học hỏi
và đổi mới thì trở nên ngày càng quan trọng.
Bài viết này sử dụng mô hình sau để ước lượng một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ lao động
chưa qua đào tạo trong các doanh nghiệp như sau:
shareCMKT0ij = α0 +α1LnKij + α2FORPSj + α3HERFij + α4Lnwageij + α5LnREij + α6*year
Trong đó, shareCMKT0 là tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo (bao gồm cả nhóm lao động qua
đào tạo nhưng không có chứng chỉ) trong tổng số lao động của doanh nghiệp;
Biến độc lập: LnK là logarit của vốn đầu tư; FORPSjt là logarit của tỷ lệ phần trăm giữa
tổng doanh thu của doanh nghiệp FDI trong ngành j tổng doanh thu của ngành j tại thời điểm t và
FORPS có thể có dấu dương hoặc âm; Chỉ số Herfindahl-Hirschman: HERFijt =
của
doanh nghiệp i trong ngành j và tại năm t. Trong đó xi là doanh thu của doanh nghiệp i, X tổng
doanh thu của các doanh nghiệp trong ngành j; Lnwage là logarit tiền lương bình quân trong doanh
nghiệp và LnRE là logarit doanh thu của doanh nghiệp; xu hướng thay đổi công nghệ được thể hiện
thông qua biến thời gian (year).
Bảng dưới cho thấy các hệ số ước lượng đều có ý nghĩa thống kê, xu hướng tác động phù hợp
theo lý thuyết kinh tế.
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
495
Vốn đầu tư (LnK) có tác động dương đến tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo, hệ số ước lượng
cho thấy khi vốn đầu tư tăng thêm 10% thì tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo tăng thêm 0,01% (các
yếu tố khác trong mô hình không đổi), như vậy có thể thấy xu hướng đầu tư mở rông sản xuất vẫn
tiếp tục tạo ra nhu cầu lao động trình độ thấp.
Bảng 4: Kết quả ước lượng mô hình ảnh hưởng của FDI đến lao động chưa qua đào tạo
Tên Biến
LnK
shareCMKT0
0.001***
(0.000)
LnFORPS
HERF
0.026***
(0.000)
-2.006***
(0.634)
Lnwage
LnRE
-0.105***
(0.001)
0.034***
(0.000)
Year
-0.015***
(0.000)
Constant
29.836***
(0.438)
Observations
645,118
0.097
R-squared
Standard errors in parentheses
*** p<0.01, ** p<0.05, * p<0.1
Ảnh hưởng lan tỏa của doanh nghiệp FDI (lnFORPS) có tác động tích cực đến cầu lao động.
Sự phát triển của doanh nghiệp FDI dẫn đến nhu cầu lao động có trình độ giản đơn. Điều này cho
thấy doanh số của các công ty nước ngoài ở thị trường Việt Nam có tác động thay thế đến sự hấp
thụ lao động có trình độ thấp.
Chỉ số tập trung thương mại (HERF) của doanh nghiệp cho thấy nếu doanh nghiệp có lợi thế
về thị trường trong một ngành cụ thể sẽ giảm nhu cầu lao động trình độ thấp hay nhóm lao động
chưa qua đào tạo giảm.
Tiền lương bình quân (Lnwage) tăng sẽ dẫn đến giảm nhu cầu lao động trình độ thấp, khi chi
phí lao động tăng doanh nghiệp có thể điều chỉnh việc sử dụng lao động để tối đa hóa lợi nhuận.
Cầu về thị trường hàng hóa được phản ánh qua biến Logarit của doanh thu (LnRE), kết quả
cho thấy, doanh thu tăng vẫn tiếp tục kéo theo tăng về tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo.
496
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Tiến bộ công nghệ trong doanh nghiệp và các yếu tố khác được đo thông qua biến thời gian
(year), nó có tác động làm giảm lao động trình độ thấp, lao động chưa qua đào tạo. Kết quả cũng
phù hợp với Gladys López-Acevedo (2002) nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ đến việc làm và
tiền lương của lao động có tay nghề ở Mexico, sử dụng dữ liệu mảng của doanh nghiệp giai đoạn
1992-1999. Nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa công nghệ và nhu cầu lao động có
kỹ năng thông qua các giả thuyết về yếu tố tiến bộ công nghệ dẫn đến yêu cầu về thay đổi kỹ năng
của người lao động.
3. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
Chính sách thu hút đầu tư tiếp tục đem lại một số thành tựu cho Việt Nam. Số lượng doanh
nghiệp FDI đã tăng lên góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Doanh nghiệp FDI chủ yếu tập
trung vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như lắp ráp, điện tử, dệt may… góp phần giải quyết
việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, có thể thấy việc phát triển các doanh
nghiệp FDI chưa thực sự thu hút lao động trình độ cao mà phần lớn vẫn sử dụng lao động giản đơn
với giá nhân công thấp.
Chất lượng lao động thấp không chỉ làm kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam mà còn làm cho thu nhập của người lao động không được tăng cao. Hơn thế nữa, chất lượng
lao động kém còn khiến các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam chỉ để đầu tư vào những dự án sử
dụng nhiều lao động, để thu hút lượng lao động rẻ mạt, mà không có nhiều sự gia tăng cho xã hội.
Như vậy, để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới, ngoài các chính sách ưu
đãi đầu tư, Việt Nam cần tập trung nhiều hơn vào công tác thông tin xúc tiến và thay đổi cơ cấu.
Đặc biệt, muốn thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng Việt Nam
cần có sự cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.
Đối với chính phủ
Trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh thu hút FDI ngày càng
gay gắt, việc thu hút FDI trong tương lai đã được Việt Nam xác định phải chuyển đổi theo hướng
từ thu hút số lượng sang chất lượng, thu hút công nghệ cao, thân thiện với môi trường và nhất là
chuyển dần thu hút đầu tư nước ngoài với lợi thế giá nhân công rẻ sang cạnh tranh bằng nguồn lực
chất lượng cao.
Cần tập trung đầu tư và phát triển chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo theo chiều
sâu, đào tạo những ngành nghề mà xã hội cần, có nhu cầu sử dụng nhân lực. Khu vực FDI vẫn tập
trung lao động trong ngành chế biến, vì thế xác định quy mô và cơ cấu đào tạo nghề hợp lý, chiến
lược đào tạo phù hợp, tránh tình trạng thừa thầy thiếu thợ, tránh lãng phí, sử dụng hiệu quả nguồn
nhân lực sau đào tạo.
Cải thiện hệ thống thông tin thị trường lao động giúp hình thành kết nối thông minh thị trường
lao động ở trung ương và địa phương. Cần chú trọng đến dự báo nhu cầu nhân lực trong tương lai
ở các khu vực (trong đó có FDI) các ngành nghề để người lao động có định hướng nghề nghiệp,
đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng.
Mở rộng hợp tác quốc tế đặc biệt trong giáo dục và đào tạo. Trong giai đoạn hiện nay, chúng
ta phải tạo được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đặt ra, trong đó cần chú trọng đào tạo nhân lực
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
497
khoa học và công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành
nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Cần có những quy định luật pháp rõ ràng và tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp
FDI và có các chính sách khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp FDI được coi là
tiên phong của sự phát triển công nghệ mới, ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiến đời sống.
Đối với hệ thống đào tạo nghề
Trong bối cảnh mới, nhiều ngành nghề sẽ đòi hỏi các năng lực nhận thức cao hơn như tính
sáng tạo, suy luận logic, nhạy cảm với các vấn đề, trong khi, các công việc đòi hỏi các năng lực
về thể chất sẽ giảm đi. Xây dựng các kỹ năng mới và đào tạo lại là các ưu tiên trong đào tạo nhân
lực. Do vậy, cần tập trung vào đào tạo nghề và có những chính sách thu hút sinh viên theo học
các ngành khoa học - công nghệ - kỹ thuật. Giáo dục nghề nghiệp cần tăng cường năng lực của hệ
thống, tăng cường đào tạo năng lực thực hành, tập trung vào những kỹ năng cơ bản cốt lõi (sáng
tạo, phân tích phê phán, trình bày, công nghệ thông tin, ngoại ngữ…), kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng
hành vi xã hội để làm việc trong môi trường công nghệ hiện đại.
Các cơ sở đào tạo nghề cần nắm bắt những yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp trong từng lĩnh
vực cụ thể, từ đó xây dựng mục tiêu, chương trình và nội dung đào tạo phù hợp, đáp ứng với đòi
hỏi đặt ra. Các cơ sở này cũng cần tìm hiểu để mở rộng, đa dạng hóa ngành nghề đào tạo, ngành
nghề mới mà thị trường cần, bắt kịp với xu hướng ứng dụng khoa học công nghệ. Cần có sự liên
kết, phối hợp giữa các cơ sở cũng như với các doanh nghiệp tại địa phương, toàn vùng.
Đối với người lao động
Người lao động cũng cần xác định rõ năng lực, sở trường của mình, hơn nữa cần chủ động
nắm bắt tốt thông tin thị trường lao động để định hướng nghề nghiệp phù hợp. Mỗi người lao động
phải luôn nhận thức về yêu cầu nâng cao năng lực và thay đổi kỹ năng thích nghi với công nghệ
mới, đáp ứng yêu cầu công việc thông qua rèn luyện học tập suốt đời. Chính phủ và các doanh
nghiệp FDI cần tạo ra nhiều cơ hội hơn để đảm bảo rằng người lao động có thời gian, động lực và
phương tiện để họ tìm kiếm cơ hội được đào tạo lại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
Nguyễn Thị Tuệ Anh (2015), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: Thực trạng, hiệu quả và hướng điều chỉnh
chính sách, NXB Lao động, Hà Nội.
Nguyễn Kế Bính (2015), “30 năm hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: Thành tựu, thách thức và những bài
học”, Tạp chí phát triển và hội nhập, Số 22.
Nguyễn Hoài Nam (2015), Xu hướng kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế đến năm 2030, Đề tài nghiên
cứu cấp Bộ.
4.
5.
6.
Xu hướng lao động và xã hội Việt Nam năm 2014, 2015, 2016, 2017.
Số liệu từ điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê.
Laura Alfaro and Jasmina Chauvin, (2017), Foreign Direct Investment, Finance, and Economic Development.
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của doanh nghiệp FDI đến nhu cầu sử dụng lao động không có kỹ năng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tac_dong_cua_doanh_nghiep_fdi_den_nhu_cau_su_dung_lao_dong_k.pdf

