Bàn thêm về văn hóa kinh doanh thời hội nhập
TS. TrầN Ngọc ÁNh
161
BꢀN THÊM Vꢁ VĂN HꢂA KINH DOANH
THꢃI HꢄI NHꢅP
TS. Trần Ngọc Ánh
Trưꢀng Đꢁi hꢂc Kinh tꢃ, Đꢁi hꢂc Đꢄ Nꢅng
TꢀM TꢁT
Văn hꢂa kinh doanh lꢃ mꢄt vꢅn đꢆ cꢂ tꢇ lâu trên thꢈ giꢉi, đꢊi vꢉi Viꢋt Nam đây lꢃ
mꢄt vꢅn đꢆ cꢌn mꢉi khi chꢍng ta bưꢉc vꢃo nꢆn kinh tꢈ thꢎ trưꢏng đꢎnh hưꢉng xꢐ hꢄi
chꢑ nghꢒa vꢃ hꢄi nhꢓp kinh tꢈ thꢈ giꢉi. Trong bꢃi viꢈt tꢔc giꢕ đꢐ trꢖnh bꢃy cꢅu trꢍc cꢑa
văn hꢂa doanh nghiꢋp vꢃ nêu lên nhꢗng kinh nghiꢋm xây dꢘng văn hꢂa kinh doanh
cꢑa mꢄt sꢊ nưꢉc, tꢇ đꢂ gꢙi ꢚ cho cꢔc doanh nghiꢋp Viꢋt Nam mꢄt sꢂ vꢅn đꢆ xây dꢘng
văn hꢂa khi tham gia hꢄi nhꢓp kinh tꢈ thꢈ giꢉi.
Tꢀ khꢁa: Văn hꢁa, kinh doanh, doanh nghiꢂp, cꢃu trꢄc, hꢅi nhꢆp.
1. Văn hóa kinh doanh và văn hóa
doanh nghiệp.
chính trên cơ sở tài năng, sức lực của người
kinh doanh. Đồng tiền thu được của người
kinh doanh phải là đồng tiền làm ra bởi sự
nhanh nhạy nắm bắt thông tin và nhu cầu thị
trường, không ngừng cải tiến kỹ thuật, kiểu
dáng sản phẩm, đổi mới các hình thức dịch
vụ hướng tới sự tiện ích ngày càng cao... chứ
không phải là bởi buôn lậu, gian lận thuế, làm
hàng nhái, hàng giả, hối lộ... Văn hoá kinh
doanh (hay kinh doanh có văn hoá) còn thể
hiện ở việc người kinh doanh phải biết quan
tâm đến lợi ích tinh thần, khuyến khích tài
năng sáng tạo của người lao động, giữ gìn và
ngày càng củng cố chữ tín đối với bạn hàng
và khách hàng.
Văn hoá kinh doanh
ăn hoá kinh doanh là một khái
niệm đã có từ lâu trên thế giới,
V
song nó là một khái niệm mới
(một cách tương đối) và mở ở Việt Nam.
Cuộc sống cũng như công việc kinh doanh
không ngừng vận động, chắc chắn sẽ còn
nhiều chuẩn mực khác để đánh giá văn hoá
kinh doanh nữa mà từ góc độ của bản thân,
mỗi chúng ta sẽ bổ sung thêm khi đặt mình
vào công việc của một doanh nhân đang kinh
doanh một cách có văn hoá. Văn hoá kinh
doanh có thể xem là chìa khoá mở ra sự thành
công và phát triển của cả nền kinh tế đất nước
nói chung, của mỗi doanh nghiệp nói riêng.
Doanh nhân khi khởi nghiệp cũng như khi đã
trở thành nhũng “đại gia” đều cần tâm niệm
và duy trì việc xây dựng văn hóa kinh doanh
và văn hóa doanh nghiệp. Bởi, văn hoá là nền
tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy xã hội phát
triển. Văn hoá kinh doanh (hay kinh doanh
có văn hoá) thể hiện qua việc kiếm lời chân
Khi nói kinh doanh có văn hoá (hay văn
hoá kinh doanh) là nói đến một vấn đề cốt
lõi, mang tính bản chất của kinh doanh đó là
vấn đề đạo đức của người kinh doanh. Nói
cách khác kinh doanh có văn hoá là kinh
doanh phải có đạo đức. Đạo đức của người
kinh doanh không phải là vấn đề trừu tượng,
mà rất cụ thể: tính trung thực và thượng tôn
pháp luật, giữ chữ tín đáp ứng được đòi hỏi
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
162
của cuộc sống, không chạy theo lợi ích của lẻ, góp phần vào sự phát triển bền vững của
doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp
phải xây dựng và duy trì một nề nếp văn hóa
đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy
sự đóng góp của tất cả mọi người vào việc đạt
được mục tiêu chung của tổ chức - đó là văn
hóa doanh nghiệp.
cá nhân hay nhóm người để làm ăn đối trá,
lừa đảo, chụp giật, “đánh quả” bất chấp mọi
thủ đoạn... Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã
chủ trương đưa ra hình ảnh tối ưu nhằm nâng
cao uy tín cho doanh nghiệp qua những triết
lý kinh doanh như phục vụ khách hàng hoàn
hảo, coi khách hàng là thượng đế chữ tín quý
hơn vàng, gửi trọn niềm tin... Phải chăng đây
chính là những tác động lâu dài và bền vững
nhất của văn hoá khi nó thâm nhập vào công
việc kinh doanh của các doanh nghiệp?
Có rất nhiều định nghĩa xung quanh khái
niệm này. Mỗi nền văn hóa khác nhau có các
định nghĩa khác nhau. Mỗi doanh nghiệp lại
có một cách nhìn khác nhau về văn hóa doanh
nghiệp. Có thể nêu một vài cách định nghĩa
văn hoá doanh nghiệp khá tiêu biểu như sau:
Văn hóa doanh nghiệp
“Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được
nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác
trong lĩnh vực”. (Gold, K.A.)
Yếu tố văn hoá luôn hình thành song song
với quá trình phát triển của doanh nghiệp. Văn
hoá doanh nghiệp là văn hoá của một tổ chức
vì vậy nó không đơn thuần là văn hoá giao
tiếp hay văn hoá kinh doanh, nó cũng không
phải là những khẩu hiệu của ban lãnh đạo
được treo trước cổng hay trong phòng họp.
Mà nó bao gồm sự tổng hợp của các yếu tố
trên. Nó là giá trị, niềm tin, chuẩn mực được
thể hiện trong thực tế và trong các hành vi
mỗi thành viên doanh nghiệp.Văn hoá doanh
nghiệp là một yêu cầu tất yếu của sự phát
triển thương hiệu vì hình ảnh văn hóa doanh
nghiệp sẽ góp phần quảng bá thương hiệu của
doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp chính là
tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp.
“Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và
cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến
trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu
truyền, thường trong thời gian dài”. (Kotter,
J.P. & Heskett, J.L.)
“Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin,
thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối
ổn định trong doanh nghiệp”. (Williams, A.,
Dobson, P. & Walters, M.)
Có thể so sánh: Nếu doanh nghiệp là máy
tính thì văn hóa doanh nghiệp là hệ điều hành.
Nói một cách hình tượng thì: Văn hóa là cái
còn thiếu khi ta có tất cả, là cái còn lại khi tất
cả đã mất. Văn hóa doanh nghiệp tꢁo nên sự
khác biệt giữa các doanh nghiệp vꢄ được coi
lꢄ truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp.
Trong một doanh nghiệp, đặc biệt là những
doanh nghiệp có quy mô lớn tập hợp những
con người khác nhau về trình độ chuyên môn,
trình độ văn hóa, mức độ nhận thức, quan hệ
xã hội, vùng miền địa lý, tư tưởng văn hóa…
chính sự khác nhau, tạo ra một môi trường
làm việc đa dạng và phức tạp. Bên cạnh đó,
với sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị
trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc các
doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên
tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi
cho phù hợp với thực tế. Vậy làm thế nào để
doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy
mọi nguồn lực con người, làm gia tăng nhiều
lần giá trị của từng nguồn lực con người đơn
2. Những yếu tố cấu thành văn hóa
doanh nghiệp
Cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp lꢄ vấn
đề phức tꢁp vꢄ hiện còn nhiều ý kiꢃn khác
nhau. Qua tham khảo nhiều công trình nghiên
cứu, có thể bước đầu khái quát văn hóa doanh
nghiệp lꢄ một phức hợp gồm 5 lớp:
Thứ nhất, Triꢃt lý quản lý vꢄ kinh doanh:
Đây là lớp trong cùng và quan trọng nhất của
văn hóa doanh nghiệp, bao gồm những triết
TS. TrầN Ngọc ÁNh
163
lý quản lý và kinh doanh cốt lõi nhất, căn bản hoạt động thường nhật cũng như công tác lập
nhất. Đây là cơ sở xây dựng định hướng hoạt
động của doanh nghiệp và chi phối các quyết
định quản lý; là niềm tin, là giá trị bền vững
không thay đổi bất chấp thời gian và ngoại
cảnh. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để quá trình
xây dựng văn hóa doanh nghiệp thành công
là sự cam kết của những người lãnh đạo cao
nhất của doanh nghiệp trung thành với Triꢃt
lý quản lý vꢄ kinh doanh của doanh nghiệp
mình. Bởi, phần quan trọng nhất, trái tim và
khối óc của doanh nghiệp nằm ở lớp trong
cùng của văn hóa, xin nhắc lại, đó là triết lý
kinh doanh, phương châm quản lý của doanh
nghiệp và chỉ có những nhà quản lý cao nhất
của doanh nghiệp mới đủ khả năng tác động
đến lớp văn hóa cốt lõi này.
kế hoạch, xây dựng định hướng chiến lược.
Thứ năm, nghi lễ, nghi thức vꢄ văn hóa
giao tiꢃp: Đây là cấu thành văn hoá bề nổi,
phản ánh đời sống, sinh hoạt của công ty. Tuy
không trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả kinh
doanh, nhưng ảnh hưởng của nó đối với mọi
hoạt động của doanh nghiệp cũng rất lớn. Nó
tuyên truyền phổ biến đường lối, chính sách
của công ty, tạo ra sự khác biệt của công ty
với bên ngoài, tạo hình ảnh tốt cho công ty
trước cộng đồng qua đó góp phần xây dựng
thương hiệu ... Do vậy, để thực sự tạo ra “cá
tính” của doanh nghiệp, tạo ra sức mạnh cạnh
tranh cho doanh nghiệp, doanh nhân, cán bộ
quản lý cấp cao, các nhà lãnh đạo và quản lý
các cấp khác phải nhất thiết tham gia vào quá
trình xây dựng văn hoá của tổ chức mình.
Thứ hai, Động lực của cá nhân vꢄ tổ chức:
Đây là lớp yếu tố quan trọng thứ hai của văn
hóa doanh nghiệp chính là các động lực thúc
đẩy hành động của các cá nhân, và môi trường
“động lực chung” của tổ chức. Các yếu tố
động lực này sẽ biểu hiện ra ngoài bằng những
hành vi hàng ngày của các cá nhân trong hoạt
động sống của doanh nghiệp.
Tóm lại, văn hóa doanh nghiệp là một
tổng thể phức hợp, có cả biểu hiện hữu
hình và vô hình. Bản chất của văn hoá doanh
nghiệp là đối nội phải tăng cường tiềm lực,
quy tụ được sức sáng tạo của công nhân viên
chức, khích lệ họ sáng tạo ra nhiều lợi nhuận
cho doanh nghiệp; đối ngoại phải được xã hội
bản địa chấp nhận. Văn hóa doanh nghiệp
được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Cấp
dễ thấy nhất thể hiện ngay trong công việc
hàng ngày nhưng cách báo cáo công việc, giữ
gìn tài sản chung, ngôn ngữ khi giao tiếp với
đồng nghiệp, đối tác, khách hàng, các thủ tục
hành chính… Cấp thứ hai là các giá trị tinh
thần xác định việc phải làm, hành động của
mình đúng hay sai, có mang lại lợi ích hay
thiệt hại chung hay không. Cấp thứ ba là nền
tảng cho các hành động chính là niềm tin,
nhận thức, suy nghĩ và xúc cảm được coi là
đương nhiên ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá
nhân trong doanh nghiệp. Các ngầm định nền
tảng này là nền tảng cho các giá trị và hành
động của mỗi thành viên.
Thứ ba, Quy trình, quy định hoꢁt động:
Quy trình, quy định, chính sách giúp doanh
nghiệp hoạt động ổn định, theo chuẩn. Đây
cũng là cấu thành giúp doanh nghiệp đáp ứng
các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản
phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, góp phần tạo
tính ổn định và nâng cao hiệu quả của doanh
nghiệp với nỗ lực làm hài lòng khách hàng và
xã hội và là yếu tố cấu thành quan trọng làm
nên văn hóa doanh nghiệp.
Thứ tư, Hệ thống trao đổi thông tin: Đây
là lớp cấu thành thứ tư trong văn hoá doanh
nghiệp đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý
đa dạng, đa chiều, chính xác và kịp thời. Hệ
thống này cần đảm bảo mọi thông tin cần thiết
cho doanh nghiệp đều được thu thập, truyền
đạt, lưu trữ và xử lý; đồng thời đảm bảo cho
mọi thành viên doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận
và sử dụng các thông tin cần thiết cho các
3. Văn hoá doanh nghiệp thời hội nhập
Khi bàn về vận dụng văn hoá doanh nghiệp
như thế nào tức là chúng ta phải giải bài toán
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
164
nhân và lãnh đạo trong doanh nghiệp phải
mối quan hệ của cá nhân với cá nhân, cá
nhân với lãnh đạo, cá nhân với doanh nghiệp,
doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp
trong nước, doanh nghiệp trong nước với
doanh nghiệp nước ngoài… trên nền tảng lợi
ích và mục tiêu, quyền lợi và trách nhiệm…
Do vậy, dù là doanh nghiệp ở đâu, văn hoá
doanh nghiệp cũng luôn tồn tại và nó tồn tại
chính trong mỗi thành viên của doanh nghiệp.
Tuy nhiên văn hoá doanh nghiệp luôn có tính
đặc thù riêng, đó là bản sắc dân tộc – điều rất
quan trọng trong thời hội nhập quốc tế.
chủ động tìm hiểu các quy định của luật pháp
quốc tế trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh;
Tìm hiểu kinh nghiệm ứng xử khi có các sự
kiện tranh chấp thương mại; Nghiên cứu, cập
nhật thông tin kinh doanh, bám sát thị trường
để ra các quyết định hợp lý, nhằm đem lại lợi
nhuận ngày một cao. Qua nghiên cứu, chúng
tôi xin đề xuất một số giải pháp nâng cao
văn hoá doanh nghiệp hiện nay như sau:
Một lꢄ, đẩy mạnh công cuộc cải cách hành
chính để tạo ra sự dân chủ, công khai và cạnh
tranh lành mạnh trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên thực tế, mỗi nền văn hoá khác nhau
đều đưa đến nhận thức khác nhau và tác động
đến hệ thống văn hoá doanh nghiệp khác nhau.
ở Nhật Bản, những người lao động thường
làm việc suốt đời cho một công ty, công sở,
họ được xếp hạng theo trình độ tay nghề và
bề dày công tác. Chính văn hoá doanh nghiệp
kiểu Nhật Bản đã tạo cho doanh nghiệp một
không khí làm việc dựa trên cơ sở quan hệ
với các thành viên như trong một gia đình,
họ gắn bó với nhau chặt chẽ trong quá trình
làm việc và sinh hoạt. Lãnh đạo doanh nghiệp
luôn quan tâm đến các thành viên về mọi mặt,
cả về vật chất và tinh thần, người lao động
được tạo điều kiện để học hỏi và đào tạo từ
nguồn vốn của doanh nghiệp.
Hai lꢄ, xác lập các tiêu chí để xây dựng
khung kiến thức cơ bản cho mọi người, theo
đó thường xuyên xem xét lại những điểm
mạnh, điểm yếu khi đánh giá về văn hoá
doanh nghiệp để tuyên truyền, nhắc nhở mọi
người về trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi
cá nhân trong cộng đồng và trong mỗi doanh
nghiệp.
Ba lꢄ, tập trung nâng cao vị trí vai trò của
các Hiệp hội doanh nghiệp để qua đó giúp đỡ
các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp còn yếu,
còn trong việc đào tạo nguồn nhân lực, cung
cấp thông tin về những vấn đề liên quan đến
hoạt động của doanh nghiệp để không ngừng
tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển.
Còn tại Mỹ và các nước phương Tây, việc
quyết định số phận của một doanh nghiệp là
các cổ đông. Cổ đông thì luôn yêu cầu nhà
quản lý phải nâng cao lợi nhuận của doanh
nghiệp thông qua việc nâng cao chỉ số cổ tức.
Vì mục đích lợi nhuận được đặt lên hàng đầu
nên văn hoá doanh nghiệp phải phục vụ mục
đích tối đa hóa lợi nhuận và vì vậy ngày càng
xuất hiện nhiều người bị thất nghiệp do không
có công việc làm. Đây là mặt trái, nhưng qua
đó cũng cho thấy, người lao động dù bất cứ ở
lĩnh vực nào cũng phải luôn cố gắng, tự nâng
cao trình độ chuyên môn, tay nghề để đảm
bảo có công ăn việc làm, đảm bảo cuộc sống
cho cá nhân, gia đình.
Bốn lꢄ, xây dựng chiến lược đầu tư cho
con người để phát huy tài năng và sức sáng
tạo lao động của mỗi cá nhân trong doanh
nghiệp qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Năm lꢄ, tích cực tuyên truyền, phổ biến
các kiến thức pháp luật và kiến thức chuyên
ngành cho tất cả mọi thành viên trong doanh
nghiệp.
Sáu là, tích cực tìm hiểu những nét đặc
sắc riêng trong văn hóa làm việc của các
quốc gia trên thế giới. Điều này rất quan
trọng khi làm ăn với các đối tác nước ngoài.
Bới thực tế cho thấy,có những thứ được coi
Để có văn hoá doanh nghiệp thời hội nhập
theo đúng nghĩa thì trách nhiệm của từng cá
TS. TrầN Ngọc ÁNh
165
là bình thường ở nước này nhưng lại bị coi là người gật đầu với nhau sẽ để lại thiện cảm
nhiều hơn.
bất lịch sự ở nước kia. Do đó, biết mình biết
người bao giờ cũng là lợi thế lớn khi làm ăn
với người ngoại quốc. Chẳng hạn:
Ấn Độ
- Nói “không” trong đàm phán là một việc
Úc
vô cùng mất lịch sự. Hãy thay bằng những
cụm từ khác như “chúng tôi sẽ cân nhắc”, “tôi
sẽ xem xét”, hoặc “có thể”.
- Cuộc họp không bao giờ được sai giờ.
- Khi đi taxi, hành khách nam độc thân nên
ngồi ghế trước.
- Cuối bữa ăn, tuyệt đối không nên cảm
ơn chủ nhà, người Ấn coi đó là một sự sòng
phẳng cũng tức là bạn đang sỉ nhục họ.
- Khi gọi đồ uống, không thanh toán hóa
đơn nếu đó không phải lượt của mình.
- Khi đi ăn, tuyệt đối không được gọi thịt
bò.
Brazil
- Chạm vào người người khác nhất là đầu
là điều không nên.
- Tại Brazil, trong cuộc họp đi trễ một chút
cũng không sao.
Nhật Bản
- Trong giao tiếp, đứng rất gần đối phương
và giao tiếp cơ thể là chuyện bình thường.
- Người lớn tuổi, hoặc có chức vụ cao nhất
sẽ điều hành cuộc đàm phán. Những thành
viên khác không được nói nhiều quá, làm như
vậy sẽ bị coi là bất kính.
- Tuyệt đối không được ăn bốc, dù là
sandwich hay pizza, hãy dùng khăn ăn hoặc
các dụng cụ khác.
- Tránh nói “không”. Người Nhật thường
thường nói “vâng” để thể hiện mình hiểu ý
đối phương đang nói, cho dù họ hoàn toàn
phản đối đi chăng nữa.
- Hắt hơi, lau mũi trong bàn ăn là điều vô
cùng tối kỵ.
Trung Quốc
- Nếu tặng quà phải bọc thật cẩn thận. Giá
trị món quà không quan trọng bằng tâm ý
được thể hiện.
- Tan cuộc họp hãy nhường các đại diện
chi nhánh người Trung Quốc ra về trước.
- Người Trung Quốc quen trao và nhận
quà bằng hai tay.
- Luôn để tiền trong phong bì, không để lộ
ra ngoài.
- Không bao giờ được tự rót đồ uống mà
phải để người khác rót hộ.
- Chỉ nên bắt tay, không nên ôm hôn.
- Không bao giờ cắm đũa trên bát cơm,
cũng không nên ăn sạch phần ăn của mình.
Anh
- Nam giới không nên mặc áo sơ mi có túi,
nếu có túi thì trong túi không được có thứ gì.
- Tại Trung Quốc, trong bữa ăn không nên
bàn chuyện không việc.
- Người Anh ít khi duy trì giao tiếp qua
ánh mắt trong buổi nói chuyện.
Đức
- Hài hước, bông đùa không bao giờ được
hoan nghênh trong công việc.
- Khi đi ăn, cụng ly với người hơn tuổi là
mất lịch sự.
- Luôn nhường người cao tuổi nhất vào
phòng họp trước.
Mỹ
- Có thể bàn chuyện công việc trong bữa
sáng, bữa trưa và cả bữa tối.
- Bắt tay có thể đi kèm với gật đầu, hai
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
166
- Nhiều công ty tại Mỹ không khuyến đó. Điều cần nói đến ở đây là sự khác biệt
khích hoặc hạn chế quà cáp vì dễ bị coi là hối
lộ. Nếu muốn cảm ơn chỉ cần viết thư cảm ơn
là đủ.
giữa các nền văn hoá của các dân tộc có khác
nhau nên văn hoá doanh nghiệp cũng khác
nhau, theo đó là tác động ảnh hưởng cũng
khác nhau đến người lao động, người sử dụng
các thành quả lao động đó cũng khác nhau.
Văn hóa kinh doanh một khi đã tiến đến mức
độ cao nhất, trở thành một thứ Đạo, mà từ thế
hệ này tới thế hệ khác tôn sùng và làm theo và
là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thương
hiệu doanh nghiệp..
- Trước khi muốn hút thuốc phải xin phép.
Tóm lại, hầu hết các doanh nghiệp thành
công trên thế giới đều duy trì, gìn giữ nếp văn
hoá doanh nghiệp của mình thành nếp sinh
hoạt truyền thống để giáo dục cho cán bộ,
công nhân, người lao động của doanh nghiệp
TꢀI LIꢁU ThAM KhꢂO
1. Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 2000
2. Nguyễn Văn Diễn, Vai trò của văn hóa trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Nxb Tp.HCM, 2007
3. Tạp chí Thể thao & văn hóa, 20/04/2015
Bạn đang xem tài liệu "Bàn thêm về văn hóa kinh doanh thời hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ban_them_ve_van_hoa_kinh_doanh_thoi_hoi_nhap.pdf

