Bàn thêm về văn hóa kinh doanh thời hội nhập

TS. TrầN Ngọc ÁNh  
161  
BꢀN THÊM Vꢁ VĂN HꢂA KINH DOANH  
THꢃI HꢄI NHꢅP  
TS. Trần Ngọc Ánh  
Trưꢀng Đꢁi hꢂc Kinh tꢃ, Đꢁi hꢂc Đꢄ Nꢅng  
TꢀM TꢁT  
Văn hꢂa kinh doanh lꢃ mꢄt vꢅn đꢆ cꢂ tꢇ lâu trên thꢈ giꢉi, đꢊi vꢉi Viꢋt Nam đây lꢃ  
mꢄt vꢅn đꢆ cꢌn mꢉi khi chꢍng ta bưꢉc vꢃo nꢆn kinh tꢈ thꢎ trưꢏng đꢎnh hưꢉng xꢐ hꢄi  
chꢑ nghꢒa vꢃ hꢄi nhꢓp kinh tꢈ thꢈ giꢉi. Trong bꢃi viꢈt tꢔc giꢕ đꢐ trꢖnh bꢃy cꢅu trꢍc cꢑa  
văn hꢂa doanh nghiꢋp vꢃ nêu lên nhꢗng kinh nghiꢋm xây dꢘng văn hꢂa kinh doanh  
cꢑa mꢄt sꢊ nưꢉc, tꢇ đꢂ gꢙi ꢚ cho cꢔc doanh nghiꢋp Viꢋt Nam mꢄt sꢂ vꢅn đꢆ xây dꢘng  
văn hꢂa khi tham gia hꢄi nhꢓp kinh tꢈ thꢈ giꢉi.  
Tꢀ khꢁa: Văn hꢁa, kinh doanh, doanh nghiꢂp, cꢃu trꢄc, hꢅi nhꢆp.  
1. Văn hóa kinh doanh và văn hóa  
doanh nghiệp.  
chính trên cơ sở tài năng, sức lực của người  
kinh doanh. Đồng tiền thu được của người  
kinh doanh phải là đồng tiền làm ra bởi sự  
nhanh nhạy nắm bắt thông tin và nhu cầu thị  
trường, không ngừng cải tiến kỹ thuật, kiểu  
dáng sản phẩm, đổi mới các hình thức dịch  
vụ hướng tới sự tiện ích ngày càng cao... chứ  
không phải là bởi buôn lậu, gian lận thuế, làm  
hàng nhái, hàng giả, hối lộ... Văn hoá kinh  
doanh (hay kinh doanh có văn hoá) còn thể  
hiện ở việc người kinh doanh phải biết quan  
tâm đến lợi ích tinh thần, khuyến khích tài  
năng sáng tạo của người lao động, giữ gìn và  
ngày càng củng cố chữ tín đối với bạn hàng  
và khách hàng.  
Văn hoá kinh doanh  
ăn hoá kinh doanh là một khái  
niệm đã có từ lâu trên thế giới,  
V
song nó là một khái niệm mới  
(một cách tương đối) và mở ở Việt Nam.  
Cuộc sống cũng như công việc kinh doanh  
không ngừng vận động, chắc chắn sẽ còn  
nhiều chuẩn mực khác để đánh giá văn hoá  
kinh doanh nữa mà từ góc độ của bản thân,  
mỗi chúng ta sẽ bổ sung thêm khi đặt mình  
vào công việc của một doanh nhân đang kinh  
doanh một cách có văn hoá. Văn hoá kinh  
doanh có thể xem là chìa khoá mở ra sự thành  
công và phát triển của cả nền kinh tế đất nước  
nói chung, của mỗi doanh nghiệp nói riêng.  
Doanh nhân khi khởi nghiệp cũng như khi đã  
trở thành nhũng “đại gia” đều cần tâm niệm  
và duy trì việc xây dựng văn hóa kinh doanh  
và văn hóa doanh nghiệp. Bởi, văn hoá là nền  
tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy xã hội phát  
triển. Văn hoá kinh doanh (hay kinh doanh  
có văn hoá) thể hiện qua việc kiếm lời chân  
Khi nói kinh doanh có văn hoá (hay văn  
hoá kinh doanh) là nói đến một vấn đề cốt  
lõi, mang tính bản chất của kinh doanh đó là  
vấn đề đạo đức của người kinh doanh. Nói  
cách khác kinh doanh có văn hoá là kinh  
doanh phải có đạo đức. Đạo đức của người  
kinh doanh không phải là vấn đề trừu tượng,  
mà rất cụ thể: tính trung thực và thượng tôn  
pháp luật, giữ chữ tín đáp ứng được đòi hỏi  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
162  
của cuộc sống, không chạy theo lợi ích của lẻ, góp phần vào sự phát triển bền vững của  
doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp  
phải xây dựng và duy trì một nề nếp văn hóa  
đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy  
sự đóng góp của tất cả mọi người vào việc đạt  
được mục tiêu chung của tổ chức - đó là văn  
hóa doanh nghiệp.  
cá nhân hay nhóm người để làm ăn đối trá,  
lừa đảo, chụp giật, “đánh quả” bất chấp mọi  
thủ đoạn... Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã  
chủ trương đưa ra hình ảnh tối ưu nhằm nâng  
cao uy tín cho doanh nghiệp qua những triết  
lý kinh doanh như phục vụ khách hàng hoàn  
hảo, coi khách hàng là thượng đế chữ tín quý  
hơn vàng, gửi trọn niềm tin... Phải chăng đây  
chính là những tác động lâu dài và bền vững  
nhất của văn hoá khi nó thâm nhập vào công  
việc kinh doanh của các doanh nghiệp?  
Có rất nhiều định nghĩa xung quanh khái  
niệm này. Mỗi nền văn hóa khác nhau có các  
định nghĩa khác nhau. Mỗi doanh nghiệp lại  
có một cách nhìn khác nhau về văn hóa doanh  
nghiệp. Có thể nêu một vài cách định nghĩa  
văn hoá doanh nghiệp khá tiêu biểu như sau:  
Văn hóa doanh nghiệp  
“Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được  
nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác  
trong lĩnh vực”. (Gold, K.A.)  
Yếu tố văn hoá luôn hình thành song song  
với quá trình phát triển của doanh nghiệp. Văn  
hoá doanh nghiệp là văn hoá của một tổ chức  
vì vậy nó không đơn thuần là văn hoá giao  
tiếp hay văn hoá kinh doanh, nó cũng không  
phải là những khẩu hiệu của ban lãnh đạo  
được treo trước cổng hay trong phòng họp.  
Mà nó bao gồm sự tổng hợp của các yếu tố  
trên. Nó là giá trị, niềm tin, chuẩn mực được  
thể hiện trong thực tế và trong các hành vi  
mỗi thành viên doanh nghiệp.Văn hoá doanh  
nghiệp là một yêu cầu tất yếu của sự phát  
triển thương hiệu vì hình ảnh văn hóa doanh  
nghiệp sẽ góp phần quảng bá thương hiệu của  
doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp chính là  
tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp.  
“Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và  
cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến  
trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu  
truyền, thường trong thời gian dài”. (Kotter,  
J.P. & Heskett, J.L.)  
“Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin,  
thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối  
ổn định trong doanh nghiệp”. (Williams, A.,  
Dobson, P. & Walters, M.)  
Có thể so sánh: Nếu doanh nghiệp là máy  
tính thì văn hóa doanh nghiệp là hệ điều hành.  
Nói một cách hình tượng thì: Văn hóa là cái  
còn thiếu khi ta có tất cả, là cái còn lại khi tất  
cả đã mất. Văn hóa doanh nghiệp tꢁo nên sự  
khác biệt giữa các doanh nghiệp vꢄ được coi  
lꢄ truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp.  
Trong một doanh nghiệp, đặc biệt là những  
doanh nghiệp có quy mô lớn tập hợp những  
con người khác nhau về trình độ chuyên môn,  
trình độ văn hóa, mức độ nhận thức, quan hệ  
xã hội, vùng miền địa lý, tư tưởng văn hóa…  
chính sự khác nhau, tạo ra một môi trường  
làm việc đa dạng và phức tạp. Bên cạnh đó,  
với sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị  
trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc các  
doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên  
tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi  
cho phù hợp với thực tế. Vậy làm thế nào để  
doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy  
mọi nguồn lực con người, làm gia tăng nhiều  
lần giá trị của từng nguồn lực con người đơn  
2. Những yếu tố cấu thành văn hóa  
doanh nghiệp  
Cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp lꢄ vấn  
đề phức tꢁp vꢄ hiện còn nhiều ý kiꢃn khác  
nhau. Qua tham khảo nhiều công trình nghiên  
cứu, có thể bước đầu khái quát văn hóa doanh  
nghiệp lꢄ một phức hợp gồm 5 lớp:  
Thứ nhất, Triꢃt lý quản lý vꢄ kinh doanh:  
Đây là lớp trong cùng và quan trọng nhất của  
văn hóa doanh nghiệp, bao gồm những triết  
TS. TrầN Ngọc ÁNh  
163  
lý quản lý và kinh doanh cốt lõi nhất, căn bản hoạt động thường nhật cũng như công tác lập  
nhất. Đây là cơ sở xây dựng định hướng hoạt  
động của doanh nghiệp và chi phối các quyết  
định quản lý; là niềm tin, là giá trị bền vững  
không thay đổi bất chấp thời gian và ngoại  
cảnh. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để quá trình  
xây dựng văn hóa doanh nghiệp thành công  
là sự cam kết của những người lãnh đạo cao  
nhất của doanh nghiệp trung thành với Triꢃt  
lý quản lý vꢄ kinh doanh của doanh nghiệp  
mình. Bởi, phần quan trọng nhất, trái tim và  
khối óc của doanh nghiệp nằm ở lớp trong  
cùng của văn hóa, xin nhắc lại, đó là triết lý  
kinh doanh, phương châm quản lý của doanh  
nghiệp và chỉ có những nhà quản lý cao nhất  
của doanh nghiệp mới đủ khả năng tác động  
đến lớp văn hóa cốt lõi này.  
kế hoạch, xây dựng định hướng chiến lược.  
Thứ năm, nghi lễ, nghi thức vꢄ văn hóa  
giao tiꢃp: Đây là cấu thành văn hoá bề nổi,  
phản ánh đời sống, sinh hoạt của công ty. Tuy  
không trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả kinh  
doanh, nhưng ảnh hưởng của nó đối với mọi  
hoạt động của doanh nghiệp cũng rất lớn. Nó  
tuyên truyền phổ biến đường lối, chính sách  
của công ty, tạo ra sự khác biệt của công ty  
với bên ngoài, tạo hình ảnh tốt cho công ty  
trước cộng đồng qua đó góp phần xây dựng  
thương hiệu ... Do vậy, để thực sự tạo ra “cá  
tính” của doanh nghiệp, tạo ra sức mạnh cạnh  
tranh cho doanh nghiệp, doanh nhân, cán bộ  
quản lý cấp cao, các nhà lãnh đạo và quản lý  
các cấp khác phải nhất thiết tham gia vào quá  
trình xây dựng văn hoá của tổ chức mình.  
Thứ hai, Động lực của cá nhân vꢄ tổ chức:  
Đây là lớp yếu tố quan trọng thứ hai của văn  
hóa doanh nghiệp chính là các động lực thúc  
đẩy hành động của các cá nhân, và môi trường  
“động lực chung” của tổ chức. Các yếu tố  
động lực này sẽ biểu hiện ra ngoài bằng những  
hành vi hàng ngày của các cá nhân trong hoạt  
động sống của doanh nghiệp.  
Tóm lại, văn hóa doanh nghiệp là một  
tổng thể phức hợp, có cả biểu hiện hữu  
hình và vô hình. Bản chất của văn hoá doanh  
nghiệp là đối nội phải tăng cường tiềm lực,  
quy tụ được sức sáng tạo của công nhân viên  
chức, khích lệ họ sáng tạo ra nhiều lợi nhuận  
cho doanh nghiệp; đối ngoại phải được xã hội  
bản địa chấp nhận. Văn hóa doanh nghiệp  
được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Cấp  
dễ thấy nhất thể hiện ngay trong công việc  
hàng ngày nhưng cách báo cáo công việc, giữ  
gìn tài sản chung, ngôn ngữ khi giao tiếp với  
đồng nghiệp, đối tác, khách hàng, các thủ tục  
hành chính… Cấp thứ hai là các giá trị tinh  
thần xác định việc phải làm, hành động của  
mình đúng hay sai, có mang lại lợi ích hay  
thiệt hại chung hay không. Cấp thứ ba là nền  
tảng cho các hành động chính là niềm tin,  
nhận thức, suy nghĩ và xúc cảm được coi là  
đương nhiên ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá  
nhân trong doanh nghiệp. Các ngầm định nền  
tảng này là nền tảng cho các giá trị và hành  
động của mỗi thành viên.  
Thứ ba, Quy trình, quy định hoꢁt động:  
Quy trình, quy định, chính sách giúp doanh  
nghiệp hoạt động ổn định, theo chuẩn. Đây  
cũng là cấu thành giúp doanh nghiệp đáp ứng  
các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản  
phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, góp phần tạo  
tính ổn định và nâng cao hiệu quả của doanh  
nghiệp với nỗ lực làm hài lòng khách hàng và  
xã hội và là yếu tố cấu thành quan trọng làm  
nên văn hóa doanh nghiệp.  
Thứ tư, Hệ thống trao đổi thông tin: Đây  
là lớp cấu thành thứ tư trong văn hoá doanh  
nghiệp đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý  
đa dạng, đa chiều, chính xác và kịp thời. Hệ  
thống này cần đảm bảo mọi thông tin cần thiết  
cho doanh nghiệp đều được thu thập, truyền  
đạt, lưu trữ và xử lý; đồng thời đảm bảo cho  
mọi thành viên doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận  
và sử dụng các thông tin cần thiết cho các  
3. Văn hoá doanh nghiệp thời hội nhập  
Khi bàn về vận dụng văn hoá doanh nghiệp  
như thế nào tức là chúng ta phải giải bài toán  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
164  
nhân và lãnh đạo trong doanh nghiệp phải  
mối quan hệ của cá nhân với cá nhân, cá  
nhân với lãnh đạo, cá nhân với doanh nghiệp,  
doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp  
trong nước, doanh nghiệp trong nước với  
doanh nghiệp nước ngoài… trên nền tảng lợi  
ích và mục tiêu, quyền lợi và trách nhiệm…  
Do vậy, dù là doanh nghiệp ở đâu, văn hoá  
doanh nghiệp cũng luôn tồn tại và nó tồn tại  
chính trong mỗi thành viên của doanh nghiệp.  
Tuy nhiên văn hoá doanh nghiệp luôn có tính  
đặc thù riêng, đó là bản sắc dân tộc – điều rất  
quan trọng trong thời hội nhập quốc tế.  
chủ động tìm hiểu các quy định của luật pháp  
quốc tế trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh;  
Tìm hiểu kinh nghiệm ứng xử khi có các sự  
kiện tranh chấp thương mại; Nghiên cứu, cập  
nhật thông tin kinh doanh, bám sát thị trường  
để ra các quyết định hợp lý, nhằm đem lại lợi  
nhuận ngày một cao. Qua nghiên cứu, chúng  
tôi xin đề xuất một số giải pháp nâng cao  
văn hoá doanh nghiệp hiện nay như sau:  
Một lꢄ, đẩy mạnh công cuộc cải cách hành  
chính để tạo ra sự dân chủ, công khai và cạnh  
tranh lành mạnh trong hoạt động sản xuất  
kinh doanh của doanh nghiệp.  
Trên thực tế, mỗi nền văn hoá khác nhau  
đều đưa đến nhận thức khác nhau và tác động  
đến hệ thống văn hoá doanh nghiệp khác nhau.  
ở Nhật Bản, những người lao động thường  
làm việc suốt đời cho một công ty, công sở,  
họ được xếp hạng theo trình độ tay nghề và  
bề dày công tác. Chính văn hoá doanh nghiệp  
kiểu Nhật Bản đã tạo cho doanh nghiệp một  
không khí làm việc dựa trên cơ sở quan hệ  
với các thành viên như trong một gia đình,  
họ gắn bó với nhau chặt chẽ trong quá trình  
làm việc và sinh hoạt. Lãnh đạo doanh nghiệp  
luôn quan tâm đến các thành viên về mọi mặt,  
cả về vật chất và tinh thần, người lao động  
được tạo điều kiện để học hỏi và đào tạo từ  
nguồn vốn của doanh nghiệp.  
Hai lꢄ, xác lập các tiêu chí để xây dựng  
khung kiến thức cơ bản cho mọi người, theo  
đó thường xuyên xem xét lại những điểm  
mạnh, điểm yếu khi đánh giá về văn hoá  
doanh nghiệp để tuyên truyền, nhắc nhở mọi  
người về trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi  
cá nhân trong cộng đồng và trong mỗi doanh  
nghiệp.  
Ba lꢄ, tập trung nâng cao vị trí vai trò của  
các Hiệp hội doanh nghiệp để qua đó giúp đỡ  
các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp còn yếu,  
còn trong việc đào tạo nguồn nhân lực, cung  
cấp thông tin về những vấn đề liên quan đến  
hoạt động của doanh nghiệp để không ngừng  
tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển.  
Còn tại Mỹ và các nước phương Tây, việc  
quyết định số phận của một doanh nghiệp là  
các cổ đông. Cổ đông thì luôn yêu cầu nhà  
quản lý phải nâng cao lợi nhuận của doanh  
nghiệp thông qua việc nâng cao chỉ số cổ tức.  
Vì mục đích lợi nhuận được đặt lên hàng đầu  
nên văn hoá doanh nghiệp phải phục vụ mục  
đích tối đa hóa lợi nhuận và vì vậy ngày càng  
xuất hiện nhiều người bị thất nghiệp do không  
có công việc làm. Đây là mặt trái, nhưng qua  
đó cũng cho thấy, người lao động dù bất cứ ở  
lĩnh vực nào cũng phải luôn cố gắng, tự nâng  
cao trình độ chuyên môn, tay nghề để đảm  
bảo có công ăn việc làm, đảm bảo cuộc sống  
cho cá nhân, gia đình.  
Bốn lꢄ, xây dựng chiến lược đầu tư cho  
con người để phát huy tài năng và sức sáng  
tạo lao động của mỗi cá nhân trong doanh  
nghiệp qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất  
kinh doanh.  
Năm lꢄ, tích cực tuyên truyền, phổ biến  
các kiến thức pháp luật và kiến thức chuyên  
ngành cho tất cả mọi thành viên trong doanh  
nghiệp.  
Sáu là, tích cực tìm hiểu những nét đặc  
sắc riêng trong văn hóa làm việc của các  
quốc gia trên thế giới. Điều này rất quan  
trọng khi làm ăn với các đối tác nước ngoài.  
Bới thực tế cho thấy,có những thứ được coi  
Để có văn hoá doanh nghiệp thời hội nhập  
theo đúng nghĩa thì trách nhiệm của từng cá  
TS. TrầN Ngọc ÁNh  
165  
là bình thường ở nước này nhưng lại bị coi là người gật đầu với nhau sẽ để lại thiện cảm  
nhiều hơn.  
bất lịch sự ở nước kia. Do đó, biết mình biết  
người bao giờ cũng là lợi thế lớn khi làm ăn  
với người ngoại quốc. Chẳng hạn:  
Ấn Độ  
- Nói “không” trong đàm phán là một việc  
Úc  
vô cùng mất lịch sự. Hãy thay bằng những  
cụm từ khác như “chúng tôi sẽ cân nhắc”, “tôi  
sẽ xem xét”, hoặc “có thể”.  
- Cuộc họp không bao giờ được sai giờ.  
- Khi đi taxi, hành khách nam độc thân nên  
ngồi ghế trước.  
- Cuối bữa ăn, tuyệt đối không nên cảm  
ơn chủ nhà, người Ấn coi đó là một sự sòng  
phẳng cũng tức là bạn đang sỉ nhục họ.  
- Khi gọi đồ uống, không thanh toán hóa  
đơn nếu đó không phải lượt của mình.  
- Khi đi ăn, tuyệt đối không được gọi thịt  
bò.  
Brazil  
- Chạm vào người người khác nhất là đầu  
là điều không nên.  
- Tại Brazil, trong cuộc họp đi trễ một chút  
cũng không sao.  
Nhật Bản  
- Trong giao tiếp, đứng rất gần đối phương  
và giao tiếp cơ thể là chuyện bình thường.  
- Người lớn tuổi, hoặc có chức vụ cao nhất  
sẽ điều hành cuộc đàm phán. Những thành  
viên khác không được nói nhiều quá, làm như  
vậy sẽ bị coi là bất kính.  
- Tuyệt đối không được ăn bốc, dù là  
sandwich hay pizza, hãy dùng khăn ăn hoặc  
các dụng cụ khác.  
- Tránh nói “không”. Người Nhật thường  
thường nói “vâng” để thể hiện mình hiểu ý  
đối phương đang nói, cho dù họ hoàn toàn  
phản đối đi chăng nữa.  
- Hắt hơi, lau mũi trong bàn ăn là điều vô  
cùng tối kỵ.  
Trung Quốc  
- Nếu tặng quà phải bọc thật cẩn thận. Giá  
trị món quà không quan trọng bằng tâm ý  
được thể hiện.  
- Tan cuộc họp hãy nhường các đại diện  
chi nhánh người Trung Quốc ra về trước.  
- Người Trung Quốc quen trao và nhận  
quà bằng hai tay.  
- Luôn để tiền trong phong bì, không để lộ  
ra ngoài.  
- Không bao giờ được tự rót đồ uống mà  
phải để người khác rót hộ.  
- Chỉ nên bắt tay, không nên ôm hôn.  
- Không bao giờ cắm đũa trên bát cơm,  
cũng không nên ăn sạch phần ăn của mình.  
Anh  
- Nam giới không nên mặc áo sơ mi có túi,  
nếu có túi thì trong túi không được có thứ gì.  
- Tại Trung Quốc, trong bữa ăn không nên  
bàn chuyện không việc.  
- Người Anh ít khi duy trì giao tiếp qua  
ánh mắt trong buổi nói chuyện.  
Đức  
- Hài hước, bông đùa không bao giờ được  
hoan nghênh trong công việc.  
- Khi đi ăn, cụng ly với người hơn tuổi là  
mất lịch sự.  
- Luôn nhường người cao tuổi nhất vào  
phòng họp trước.  
Mỹ  
- Có thể bàn chuyện công việc trong bữa  
sáng, bữa trưa và cả bữa tối.  
- Bắt tay có thể đi kèm với gật đầu, hai  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
166  
- Nhiều công ty tại Mỹ không khuyến đó. Điều cần nói đến ở đây là sự khác biệt  
khích hoặc hạn chế quà cáp vì dễ bị coi là hối  
lộ. Nếu muốn cảm ơn chỉ cần viết thư cảm ơn  
là đủ.  
giữa các nền văn hoá của các dân tộc có khác  
nhau nên văn hoá doanh nghiệp cũng khác  
nhau, theo đó là tác động ảnh hưởng cũng  
khác nhau đến người lao động, người sử dụng  
các thành quả lao động đó cũng khác nhau.  
Văn hóa kinh doanh một khi đã tiến đến mức  
độ cao nhất, trở thành một thứ Đạo, mà từ thế  
hệ này tới thế hệ khác tôn sùng và làm theo và  
là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thương  
hiệu doanh nghiệp..  
- Trước khi muốn hút thuốc phải xin phép.  
Tóm lại, hầu hết các doanh nghiệp thành  
công trên thế giới đều duy trì, gìn giữ nếp văn  
hoá doanh nghiệp của mình thành nếp sinh  
hoạt truyền thống để giáo dục cho cán bộ,  
công nhân, người lao động của doanh nghiệp  
TꢀI LIꢁU ThAM KhꢂO  
1. Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 2000  
2. Nguyễn Văn Diễn, Vai trò của văn hóa trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Nxb Tp.HCM, 2007  
3. Tạp chí Thể thao & văn hóa, 20/04/2015  
pdf 6 trang Thùy Anh 10680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bàn thêm về văn hóa kinh doanh thời hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_them_ve_van_hoa_kinh_doanh_thoi_hoi_nhap.pdf