Phát triển bền vững ngành than Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THAN VIỆT NAM  
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ  
Phƣơng Hữu Từng36; Nguyễn Thị Thu Thuỷ 37  
Tóm tắt: Ngành than Việt Nam là bộ phận cấu thành chủ yếu của Tập đoàn công  
nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) với trọng tâm là khai thác và cung cấp than cho  
nền kinh tế. Ngành than là nhà sản xuất than chính ở Việt Nam chiếm tới 95% tổng sản lượng  
của cả nước, cung cấp than cho nhà máy nhiệt điện, phân bón, hóa chất. Nhu cầu than trong  
nước khoảng 65 triệu tấn than thương phẩm vào năm 2025, để đáp ứng nhu cầu cơ bản trên  
của nền kinh tế, ngành than đối mặt với nhiều vấn đề như hiệu quả kinh doanh, giải quyết lao  
động việc làm, đặc biệt là phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và phát triển bền  
vững. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn, ngành than  
Việt Nam sẽ đứng trước thêm nhiều cơ hội và thách thức mới - đòi hỏi cần phải xem xét một  
cách hệ thống. Nội dung bài viết sẽ đi vào phân tích thực trạng phát triển bền vững của ngành  
than Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế từ đó làm rõ những những cơ hội, thách  
thức của phát triển bền vững ngành than Việt Nam và đưa ra một số giải pháp phát triển bền  
vững ngành than Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.  
Từ khóa: Ngành than Việt Nam; Hội nhập kinh tế; Phát triển bền vững  
1. Đặt vấn đề  
Đối với Việt Nam, ngành công nghiệp than đá là một trong những ngành công nghiệp  
lâu đời nhất, thu hút một lực lượng lớn lao động và hàng năm đóng góp không nhỏ vào tổng  
kim ngạch xuất khẩu, cũng như cung ứng nguồn nguyên nhiên liệu là đầu vào quan trọng cho  
các ngành công nghiệp sản xuất khác và chủ động tạo ra thị trường nội địa cho chính sản  
phẩm than của mình bằng việc phát triển các dự án nhiệt điện chạy than có chất lượng thấp.  
Tuy nhiên, ngành than Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn do tăng trưởng thiếu  
bền vững; quá tập trung vào thúc đẩy tăng sản lượng xuất khẩu than mà bỏ qua sự phát triển  
ổn định, hiệu quả dẫn đến nguy cơ phải nhập khẩu than trong thời gian tới. Điều này đặc biệt  
nghiêm trọng hơn khi Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, các ngành  
công nghiệp sẽ bị thiếu hụt đi một trong những nguồn nhiên liệu cơ bản để phát triển sản xuất,  
đồng thời, ngành than Việt Nam sẽ đứng trước nguy cơ khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt  
nguồn tài nguyên, hủy hoại môi trường.  
2. Một số lý luận cơ bản về phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế  
2.1. M t số lý luận về phát triển bền vững  
Thuật ngữ “phát triển bền vững” được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hiệp hội Bảo tồn  
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên quốc tế (IUCN). Họ cho rằng, “Sự phát triển của nhân  
loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu  
của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Để là rõ hơn khái niệm trên, Ủy ban  
Thế giới về môi trường và phát triển (WCED, 1987) đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững  
là “Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại  
đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” đây là khái niệm được xem  
là phổ biến nhất khi nhấn mạnh đến tính công bằng giữa các thế hệ trong quá trình phát triển.  
Tại Việt Nam, trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014, quan điểm phát triển bền vững  
được thể hiện như sau: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ  
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên  
cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ  
môi trường”.  
36 Ths. NCS. Đại học Nội vụ Hà Nội; SĐT: 0985086185, Email: [email protected]m  
37 Ths. NCS. Đại học Hải Phòng; SĐT: 0973738358, Email: thuyntt86@dhhp.edu.vn  
374  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
2.2. H i nhập kinh tế quốc tế  
Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế giới, là việc các  
nền kinh tế gắn kết lại với nhau. Hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính  
thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau. Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ động  
thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường  
khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế  
quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.  
Hội nhập kinh tế thường được cho là có sáu cấp độ: khu vực/hiệp định thương mại ưu  
đãi, khu vực/hiệp định thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh  
kinh tế tiền tệ, và hội nhập toàn diện. Tuy nhiên trong thực tế, các cấp độ hội nhập có thể  
nhiều hơn và đa dạng hơn.  
3. Thực trạng phát triển bền vững ngành than Việt Nam trong bối cảnh hội nhập  
Trong những năm qua, ngành công nghiệp than đạt tốc độ tăng trưởng cao cả về giá trị  
sản xuất, sản lượng khai thác và xuất khẩu. Trong thời kỳ phát triển của mình, than khoáng  
sản đã đã tăng được sản lượng khai thác than, đáp ứng đủ than cho nền kinh tế, đã xuất khẩu  
được một lượng lớn than ra thị trường thế giới, tạo ra nguồn thu bù đắp cho việc bình ổn giá  
than trên thị trường trong nước, và để đầu tư mua sắm trang thiết bị cần thiết. Ngoài việc cung  
cấp than cho các ngành kinh tế, ngành than cũng đã chủ động tạo ra thị trường nội địa cho  
chính sản phẩm than của mình bằng việc phát triển các dự án nhiệt điện chạy than có chất  
lượng thấp. Bên cạnh đó, TKV đã phát triển một số sản phẩm mới như: sản xuất điện, vật liệu  
nổ công nghiệp, kim loại màu, chế tạo thiết bị mỏ, … tuy nhiên, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng  
để phát triển bền vững không được chú trọng.  
3.1. Phát triển bền vững trên khía cạnh kinh tế  
Theo báo cáo của Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam cho thấy sản  
lượng than sản xuất trong giai đoạn 2012-2015 có sự gia tăng về sản lượng.  
Bảng 1. Tình hình sản xuất - kinh doanh than của ng nh than giai đoạn 2012-  
2015  
T
T
N m  
2012  
N m  
2013  
N m  
2014  
N m  
2015  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
1
2
Sản lượng than nguyên khai  
Than thương phẩm  
Tổng doanh thu  
ngàn tấn 44.312  
42.850  
39.700  
37.465  
37.400  
39.536  
39.200  
ngàn tấn  
tỷ đồng  
tỷ đồng  
tỷ đồng  
người  
40.500  
97.891  
56.052  
41.839  
102.786 108.929 112.481  
3
Từ SX than  
55.324  
47.462  
53.172  
55.757  
58.643  
53.838  
Từ SX khác  
Tổng số lao động  
138.924 140.980 123.450 125.217  
4
5
Lao động sản xuất than  
Năng suất lao động CNSX than  
người  
91.447  
91.576  
84.125  
85.816  
tấn/ng-  
năm  
- Theo sản lượng  
484,56  
612,95  
467,92  
604,13  
445,35  
632,06  
460,71  
683,36  
Trđ/ng-  
năm  
- Theo doanh thu  
6
Thu nhập bình quân  
Trđ/ng-th 7.578  
Trđ/ng-th 7.767  
7.882  
8.078  
12.604  
3.012  
2.410  
8.250  
8.625  
12.750  
2.500  
2.000  
8.903  
9.212  
12.642  
3.619  
2.895  
Nhân lực sản xuất than  
Nhân lực khai thác than hầm lò Trđ/ng-th 12.474  
7
8
Lợi nhuận trước thuế  
Lợi nhuận sau thuế  
tỷ đồng  
tỷ đồng  
3.470  
2.776  
(Nguồn: Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam, năm 2016)  
375  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Ngành than Việt Nam hiện nay thì sản lượng khai thác than lộ thiên chiếm tỉ trọng lớn  
tuy nhiên có xu hướng giảm dần về tỷ trọng, có xu hướng chuyển sang khai thác than hầm lò.  
Sản lượng than tiêu thụ gồm tiêu thụ cho các hộ tiêu thụ trong nước có xu hướng tăng lên, tuy  
nhiên sản lượng than xuất khẩu có xu hướng giảm dần. Lợi nhuận có xu hướng giảm trong  
giai đoạn 2012-2014, đặc biệt trong năm 2014 khi Tổng công ty Đông Bắc tách ra khỏi TKV  
và chịu sự quản lý toàn diện của Bộ Quốc phòng, khi đó ngành than giảm hẳn về cả sản lượng  
khai thác, số lượng công nhân và lợi nhuận sau thuế; sau đó giai đoạn 2014 đến nay có xu  
hướng tăng dần về các kết quả và hiệu quả kinh doanh của ngành than Việt Nam.  
Bên cạnh những kết quả và hiệu quả kinh doanh của ngành than đã đạt được, sự phát  
triển ngành than Việt Nam cũng bộc lộ một số khó khăn và hạn chế nhất định:  
Công nghệ khai thác và chế biến còn lạc hậu, điều kiện hạ tầng kém, hệ thống vận  
chuyển, đường xá, cầu cống, bến cảng và kho bãi cần hoàn thiện nhiều. Thiếu vốn đầu tư cho  
thăm dò, khai thác, xây dựng cơ sở hạ tầng và tuyển than.  
Doanh thu của ngành than vẫn chủ yếu và phụ thuộc nhiều vào hoạt động sản xuất  
kinh doanh than; các lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện từ than, vật liệu nổ công nghiệp, một  
số ngành nghề khác có giá trị gia tăng cao so với ngành than hiện nay vẫn còn đang trong giai  
đoạn sơ khai và còn nhiều khó khăn.  
3.2. Phát triển bền vững trên khía cạnh xã hội  
Cùng với sự phát triển của các đô thị vùng than, đặc biệt là 3 thành phố Uông Bí, Hạ  
Long, Cẩm Phả; đã hỗ trợ rất lớn với sự phát triển ngành than Việt Nam. Ngành than là  
ngành công nghiệp nặng sử dụng tổng số hơn 125.000 lao động năm 2015; thu nhập bình  
quân đầu người khoảng 7-9 triệu đồng/người-tháng (TKV, 2016, 12), cao hơn so với thu  
nhập bình quân của các ngành khác.  
Ngành than Việt Nam là ngành công nghiệp nặng sử dụng nhiều lao động nên ngành  
này giải quyết được rất nhiều việc làm cho lao động trong vùng than và các vùng lân cận.  
Bảng 2. Thống kê l o đ ng của m t số doanh nghiệp ngành than Việt Nam  
STT  
1
Doanh nghiệp  
N m 2014  
6.682  
4.754  
3.255  
2.667  
1.502  
3.175  
3.866  
4.369  
3.662  
1.330  
N m 2015  
6.478  
4.854  
3.276  
2.654  
1.489  
3.190  
3.767  
4.459  
5.595  
1.405  
Công ty cổ phần than Vàng Danh  
Công ty than Nam Mẫu  
2
3
Công ty than Hồng Thái  
4
Công ty cổ phần than Núi Béo  
Công ty tuyển than Hòn Gai  
Công ty cổ phần than Đèo Nai  
Công ty cổ phần than Cọc Sáu  
Công ty than Dương Huy  
Công ty than Quang Hanh  
Công ty xây dựng mỏ hầm lò 1  
5
6
7
8
9
10  
(Nguồn: Ban Tổ chức - Nhân sự, Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam)  
Trong quá trình hoạt động, ngành than Việt Nam cũng có nhiều đóng góp vào GDP và  
thu ngân sách Nhà nước hàng năm. Một lượng lớn than khai thác được xuất khẩu đã thu được  
một khoản ngoại tệ lớn, góp phần thức đẩy phát triển kinh tế ở quốc gia.  
Bên cạnh những kết quả đạt được về mặt xã hội trên, ngành than còn có một số điểm  
hạn chế cần khắc phục như:  
Tình trạng khai thác than trái phép còn diễn ra ở nhiều địa phương, đặc biệt ở Quảng  
Ninh, một số đơn vị khai thác than chính thống trên địa bàn còn chưa phối hợp chặt chẽ với  
376  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
nhau trong việc quản lý ranh giới mỏ, chưa phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương từ  
xã tới huyện trong hợp đồng tác chiến chống khai thác than trái phép, vấn đề này không chỉ  
làm kiệt quệ nguồn tài nguyên quý của quốc gia mà còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái của nhiều  
cánh rừng, môi trường dân sinh.  
Thiếu vốn để đầu tư phát triển mỏ theo quy hoạch, thiếu công nghệ và kỹ thuật quản lý  
hiện đại, kể cả khai thác và chế biến. Sử dụng nhiều lao động nhất là trong các khâu phục vụ  
phụ trợ, năng suất lao động thấp, không đáp ứng được yêu cầu phát triển xây dựng các mỏ  
than (Nguyễn Tiến Chỉnh, 2013, 179).  
3.3. Phát triển bền vững trên khía cạnh môi trường  
a) Thực trạng tác động môi trường do hoạt động khai thác than gây ra  
Hoạt động khai thác than được thực hiện trên bề mặt (đối với khai thác lộ thiên) hoặc  
dưới lòng đất (đối với khai thác hầm lò). Hoạt động này được đánh giá là có sức tàn phá môi  
trường rất lớn, những tác động đó được thể hiện ở các khía cạnh:  
- Tác động đến địa hình, cảnh quan: Hoạt động khai thác than đã làm biến đổi địa hình  
rất đáng kể. Việc biến đổi địa hình diễn ra do quá trình khai thác lấy than, đất đá thải từ các  
vỉa than (biến động âm) và hoạt động đổ thải của quá trình khai thác (biến động dương).  
- Tác động đến tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng chịu tác động rất lớn từ hoạt động  
khai thác than. Tác động này xuất phát từ việc mở rộng khai trường khai thác và vùng đệm;  
mở rộng bãi thải do lượng thải ngày càng lớn; do việc khai thác tài nguyên rừng làm vật liệu  
phục vụ quá trình khai thác; và do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa - một trong số các tác  
động của sự phát triển ngành than trong vùng than. Những nguyên nhân này đã làm cho diện  
tích rừng trong vùng than giảm rất mạnh.  
- Tác động bồi lấp các sông suối: Hoạt động khai thác, đặc biệt là khai thác lộ thiên  
thải ra một lượng rất lớn đất đá thải. Đất đá thải này được chất cao trong các bãi thải của các  
doanh nghiệp. Theo mưa lũ, một lượng lớn các đất đá thải này sẽ trôi xuống, bồi lấp các sông,  
suối, thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải.  
- Tác động đến môi trường khí: Hoạt động sản xuất than, từ khai thác, sàng tuyển, vận  
chuyển và rót than ở các cảng đều tác động rất lớn tới môi trường khí. Những tác động đó là:  
+ Bụi: Hoạt động sản xuất than, đặc biệt là khai thác thác lộ thiên xả một lượng bụi  
trong không khí rất lớn. Ở tất cả các công đoạn sản xuất của mỏ đều gây ra bụi.  
+ Khí độc: Quá trình khai thác than làm phát sinh một loạt các khi độc, khí cháy, nổ  
như: CH4, CO, CO2, NOx, SOx, H2S…. Những khí độc này phát sinh do hoạt động nổ mìn; do  
xuất ra từ than, đất đá xung quan đường lò.  
+ Tiếng ồn và rung động: Tiếng ồn và rung động gây ra bởi hoạt động nổ mìn và các  
máy móc thiết bị khi làm việc.  
- Tác động đến môi trường nước: Hoạt động khai thác và chế biến than cũng là ảnh  
hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước, cụ thể:  
+ Làm suy giảm lượng nước: Đối với hệ thống nước mặt, do quá trình đổ thải của hoạt  
động khai thác than làm bồi lấp, làm thay đổi dòng chày, làm giảm tốc của dòng chày đã làm  
suy giảm một lượng lớn nước mặt trong vùng than. Đối với nước ngầm, do việc bơm, hút  
thường xuyên từ các moong và lò than, cũng như việc tàn phá thảm thực vật đã làm cho lưu  
lượng nước ngầm giảm, gương nước ngầm bị hạ thấp, chế độ nước ngầm bị phá vỡ.  
+ Làm suy giảm chất lượng nước: Hầu hết nước thải từ các quá trình sản xuất mỏ đều  
không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường đã dẫn đến việc suy giảm chất lượng nước,  
ô nhiễm nguồn nước trong vùng than.  
Đánh giá kết quả điều kiện môi trường tại các doanh nghiệp khai thác than vì doanh  
nghiệp này có sự tác động lớn nhất đến môi trường, các công ty được lựa chọn tiến hành khảo sát  
là doanh nghiệp có quy mô lớn và có truyền thống tài ngành than tập hợp tại bảng 3 dưới đây:  
377  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Bảng 3. Kết quả đánh giá điều kiện môi trƣờng tại một số doanh nghiệp thuộc  
TKV  
CTCP than Hà lầm  
CTCP than Vàng Danh  
Ánh sáng-  
Ánh sáng-  
tiếng ồn  
Khí  
độc  
Khí  
độc  
Vi khí hậu  
Bụi  
Silic  
Vi khí hậu  
Bụi  
tiếng ồn  
TT  
Khu  
Ánh  
sán  
g
Tiến  
Nhiệt Độ  
Tiến  
CO  
Nhiệt  
độ  
Độ  
Ánh  
ẩm sáng  
Silic  
CO  
vực  
g ồn  
(dbA  
)
độ  
ẩm  
(%)  
g ồn (mg/m (mg/  
(mg/m (mg/m  
(0C)  
(dbA)  
≤130  
112  
)
m3)  
(0C)  
(%)  
(lux)  
≥150  
175  
)
)
3
3
3
(lux)  
≥15  
≤8  
0
≤40  
≤80  
≤4  
≤40  
≤40  
≤130  
≤4  
≤40  
0
Khu vực  
lò chợ  
1
38,5  
37,5  
66  
150  
3,57  
3,2  
38  
36  
39,3  
78  
115  
3,62  
3,3  
39  
Khu vực  
máng  
cào  
2
67  
190  
115  
38,4  
75  
183  
117  
38  
Khu vực  
tàu điện  
3
4
37,5  
37  
67  
66  
150  
160  
117  
117  
3
31  
31  
38,4  
36,5  
76  
70  
156  
156  
119  
124  
3,1  
3,1  
30  
30  
Khu vực  
băng tải  
3.2  
Khu vực  
nhà  
5
37  
65  
200  
120  
3.7  
30  
36,5  
70  
195  
125  
3,6  
30  
sàng  
(Nguồn: Ban An toàn và vệ sinh công nghiệp, TKV, năm 2016)  
Theo kết quả thu thập được trên bảng 3, thì tại các khu vực trực tiếp sản xuất các điều  
kiện lao động về nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, rung, bụi, nồng độ hơi khí độc ở các điểm đo đạt  
tiêu chuẩn vệ sinh cho phép như: tiếng ồn vượt quá 85 db.A, độ ẩm vượt quá 50%, bụi Silic  
vượt quá 2 mg/m3 .  
b) Những hoạt động bảo vệ môi trường đang được áp dụng  
Trước tình hình ô nhiễm môi trường từ các hoạt động khai thác mỏ, hiện nay ngành  
than và các doanh nghiệp mỏ đang thực hiện một số hoạt động nhằm bảo vệ môi trường như:  
Vấn đề xử lý nước thải: hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều có hệ thống xử lý nước  
thải như Đèo Nai, Cao Sơn, Cọc Sáu, Khe Chàm,… Các công trình này do Công ty trách  
nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường-Vinacomin làm chủ đầu tư, sử dụng kinh phí từ  
quỹ môi trường tập trung của Vinacomin. Tuy nhiên hoạt động của hệ thống này chưa đáp  
ứng được việc xử lý nước thải đặc biệt là đối với các doanh nghiệp khai thác than lộ thiên.  
Vấn đề xử lý bụi: hiện tại các doanh nghiệp ngành than xử dụng nhiều biện pháp để xử  
lí bụi trong quá trình khai thác như phun nước, phun sương cao áp, phun hỗn hợp nước khí  
nén, xây dựng trạm rửa xe phun than, sử dụng xe rải nước trên đường, vận tải bằng băng tải,  
đường ống để giảm ô nhiễm; doanh nghiệp có các biện pháp hoàn nguyên như xây dựng hệ  
thống đê chắn bãi thải, trồng keo trên bãi thải.  
Ngoài ra, để có kinh phí phục vụ cho việc xử lý và phục hồi môi trường, ngành than đã  
thành lập quỹ môi trường. Tính đến năm 2015, quỹ này đã thu được 1205 tỷ đồng và tổng số  
chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường là khoảng 820 tỷ đồng. Mức thu phí bảo vệ môi  
trường áp dụng cho hoạt động khai thác được thực hiện theo Nghị định 74/NĐ-CP về “Phí  
bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản” và được tập hợp tại bảng 4.  
Bên cạnh đó, ngành than còn thực hiện việc ứng trước kinh phí cho các lâm trường để  
họ trồng rừng nhằm bảo vệ môi trường, đồng thời cung cấp nguồn gỗ chống, chèn lò cho các  
doanh nghiệp khai thác than.  
378  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Bảng 4. Mức thu phí bảo vệ môi trƣờng đối với khai thác than  
Đơn Mức thu Mức thu  
TT  
Loại khoáng sản  
vị  
tính  
tối thiểu  
(đồng)  
tối đa  
(đồng)  
1
Than An-tra-xít (antraxit) hầm lò  
Than An-tra-xít (antraxit) lộ thiên  
Than nâu, than mỡ  
Tấn  
Tấn  
Tấn  
Tấn  
Tấn  
6.000  
6.000  
6.000  
6.000  
20.000  
10.000  
2
3
4
5
10.000  
10.000  
10.000  
30.000  
Than khác  
Khoáng sản không kim loại khác  
(Nguồn: Nghị định 74/2011/NĐ-CP)  
Điều kiện địa chất mỏ phức tạp, biến động lớn, nhiều phay phá, yêu cầu bảo vệ môi  
trường chặt chẽ, khai thác xuống sâu, gia tăng chi phí và rủi ro trong khai thác than ở Đồng  
Bằng Sông Hồng còn lớn.  
Qua những phân tích sơ bộ trên có thể thấy rằng, quá trình phát triển ngành than Việt  
Nam hiện tại có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của đất nước bằng việc không  
ngừng tăng sản lượng, đáp ứng than cho ngành công nghiệp khác trong nước và một phần  
xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước. Tuy nhiên, ngành than Việt Nam còn chứa đựng nhiều  
rủi ro tiềm tàng, việc khai thác than - một loại tài nguyên không tái tạo để xuất khẩu trong bối  
cảnh trữ lượng than ngày càng cạn kiệt, việc khai thác than hầm lò xuống sâu tới mức -300m  
sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu than trong nước ở tương lai không xa. Bên cạnh đó việc khai thác  
than chủ yếu dựa vào công nghệ khai thác than lộ thiên (chiếm trên 50% sản lượng toàn  
ngành) sẽ dẫn đến việc tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng. Đó chính là lý do cấp  
thiết phải đưa ra các giải pháp phát triển bền vững ngành than Việt Nam nhằm đảm bảo an  
ninh năng lượng trong tương lai, và phát triển bền vững của quốc gia trong bối cảnh hội nhập.  
4. Cơ hội và thách thức cho phát triển bền vững ngành than Việt Nam trong bối  
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế  
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang rất tích cực tham gia vào tiến trình  
hội nhập kinh tế khu vực cũng như toàn thế giới. Sau khi đàm phán thành công và trở thành  
thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam tiếp tục tiến sâu hơn vào  
các cam kết khu vực và quốc tế, hình thành các FTA với các nước ASEAN và thúc đẩy hợp tác  
ASEAN + với nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zealand,  
Austraylia, Chile,… Đặc biệt, năm 2015 là năm đánh dấu nhiều mốc quan trọng đối với tiến  
trình hội nhập của Việt Nam - Công đồng kinh tế Asean được thành lập (AEC, 31/12/2015), và  
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP, 10/2015) cũng được thông qua những  
ký kết và ghi nhớ quan trọng. Những sự kiện này sẽ đem đến những cơ hội – cũng như những  
thách thức mới đối với các ngành sản xuất Việt Nam - trong đó có ngành than Việt Nam.  
Các cơ h i từ h i nhập cho phát triển bền vững ngành than Việt Nam  
Thứ nhất, các doanh nghiệp than Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội để giao lưu, hợp tác  
toàn diện với các doanh nghiệp sản xuất than lớn của các nước trên thế giới, tạo điều kiện  
thuận lợi cho chúng ta học tập, tiếp thu các kiến thức tiên tiến về kỹ thuật, công nghệ, thiết bị,  
những kinh nghiệm quản lý và khai thác than. Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc  
thúc đẩy sự phát triển bền vững cho ngành than Việt Nam. Với việc tiếp thu công nghệ, kinh  
nghiệm quản lý khai thác than từ các quốc gia trên thế giới, ngành than sẽ cải thiện được  
phương pháp sản xuất than, cũng như đưa ra tính toán hợp lý về lượng khai thác, một mặt để  
đáp ứng cho nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu trong hiện tại, mặt khác để đảm bảo  
tính bền vững cho sản xuất và tăng trưởng kinh tế trong tương lai.  
Thứ hai, thuận lợi cho việc sử dụng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thông qua quá  
trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có nhiều điều kiện để thu hút các doanh nghiệp than  
379  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
nước ngoài hợp tác, liên doanh, từ đó có thể trao đổi và nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng  
cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Có 4 nguyên nhân chủ yếu sau:  
(i) Nhờ có quá trình hội nhập, thị trường nước ta sẽ ngày càng mở cửa và sẽ có một  
loạt những chính sách ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà  
đầu tư nước ngoài.  
(ii) Ngành công nghiệp than Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế  
quốc dân, than được mệnh danh là “lương thực của nền công nghiệp”, kết cấu năng lượng của  
Việt Nam với than là nguồn năng lượng chủ yếu sẽ còn duy trì trong thời gian dài, điều này tạo  
tâm lý yên tâm đối với thị trường trong nước cho các nhà đầu tư nước ngoài vào ngành than.  
(iii) các lĩnh vực đầu tư sẽ ngày càng được mở rộng, cơ hội lựa chọn các dự án đầu tư  
sẽ nhiều hơn, các lĩnh vực có thể đầu tư sẽ là: sản xuất, khai thác than, điện hầm lò, khống chế  
khí độc, vận tải, khí hóa than vv….  
(iv) Các cơ sở, các thiết bị sản xuất sẽ được cải thiện, các thiết bị máy móc về đường  
sắt, cung cấp nước, cung cấp điện, thông tin liên lạc sẽ được hoàn thiện và đồng bộ.  
Thứ ba, quá trình hội nhập sẽ đi cùng với việc thu hẹp hoặc xóa bỏ hàng rào mậu dịch  
giữa các nước thành viên, theo các điều lệ liên quan đến công nghiệp, chúng ta có thể tận  
dụng để hưởng các lợi ích từ việc tự do hóa thương mại và thông qua đàm phán kịp thời giành  
được những chính sách ưu đãi của bạn hàng, đồng thời yêu cầu sự giúp đỡ từ Tổ chức trên thế  
giới nhằm giải quyết những tranh chấp giữa các doanh nghiệp, các quốc gia liên quan.  
Thứ tư, việc tham gia vào các định chế trên thế giới cũng đi đôi với việc ngành than  
cần tuân thủ các điều kiện, quy định về môi trường, sản xuất an toàn, các quy định về lao  
động. Chẳng hạn như trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP - một trong những  
hiệp định quan trọng mà Việt Nam tham gia, được ký kết vào cuối năm 2015, hai trong số  
những lĩnh vực đàm phán chính được các bên tham gia hết sức quan tâm đó là vấn đề môi  
trường và lao động; các thành viên TPP đã nhất trí lời văn của “chương Môi trường” nên bao  
gồm những điều khoản chặt chẽ về các cấp độ bảo vệ môi trường và việc thực thi luật; còn  
trong “chương lao động”, thành viên TPP đang thảo luận về các yếu tố cấu thành sẽ gồm các  
cam kết về bảo vệ quyền lao động và các cơ chế nhằm đảm bảo hợp tác, phối hợp và đối thoại  
về các vấn đề lao động mà các thành viên cùng quan tâm. Điều này sẽ tạo áp lực giúp cho  
ngành than Việt Nam chuyển đổi phương thức sản xuất, đảm bảo yếu tố bảo vệ môi trường  
cũng như tuân thủ các quy định về an toàn lao động - từ đó, thúc đẩy sự phát triển bền vững  
của ngành trong tương lai.  
Những thách thức cho phát triển bền vững ngành than từ h i nhập  
Thứ nhất, sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường xuất khẩu than với nhiều hình thức  
phức tạp. Với việc tham gia vào nhiều tổ chức, hiệp hội và các hiệp định thương mại khác  
nhau, thị trường năng lượng trong nước sẽ phải đối mặt với những kích thích mạnh mẽ từ thị  
trường năng lượng thế giới, cùng với việc giảm giá của thị trường tài nguyên thay thế than  
như dầu mỏ, khí đốt…Điều này cũng tạo nên những khó khăn, thách thức đối với ngành than  
nước ta trong tiến trình hội nhập. Nguồn thu từ xuất khẩu than có thể bị giảm do tác động từ  
biến động giá nguyên nhiên liệu trên thế giới - cũng như những áp lực từ cạnh tranh, gây khó  
khăn cho quá trình tái cơ cấu ngành than, cũng như quá trình cải thiện về công nghệ, điều kiện  
sản xuất.  
Thứ hai, cùng với tiến trình hội nhập, ngành than Việt Nam phải tuân thủ theo các  
điều khoản, điều kiện liên quan đến vấn đề môi trường, trong khi đó vấn đề tồn tại trong việc  
bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp than Việt Nam còn rất nhiều, các doanh nghiệp sẽ  
phải chú trọng nhiều hơn nữa đến công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến giá thành sản xuất than  
cũng vì thế mà tăng lên. Cùng với đó, việc tuân thủ các điều khoản này sẽ tạo ra những áp lực  
vô cùng lớn đối với ngành sản xuất than Việt Nam, nếu không thể đáp ứng được các điều kiện  
về sản xuất, an toàn lao động, tiêu chuẩn môi trường, ngành than không thể tham gia hoạt  
380  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
động sản xuất, xuất khẩu than với các nước thành viên, điều này cũng có nghĩa chúng ta  
không thể tận dụng các lợi ích đến từ hội nhập.  
5. Một số giải pháp phát triển bền vững ngành than Việt Nam trong bối cảnh hội  
nhập kinh tế quốc tế  
Trên cơ sở phân tích thực trạng và phân tích những cơ hội, thách thức của ngành than  
trong bối cảnh hội nhập, bài viết đưa ra một số giải pháp phát triển bền vững ngành than trong  
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.  
Thứ nhất, Xây dựng kế hoạch thống nhất trong việc sử dụng, tổ chức khai thác và bảo  
vệ môi trường; Tăng cường công tác tìm kiếm thăm dò để phát hiện thêm trữ lượng tài  
nguyên mới, bù đắp trữ lượng tài nguyên khai thác, đồng thời là cơ sở để tiếp tục xây dựng  
quy hoạch phát triển ngành than; Tổ chức khai thác mỏ một cách hợp lý tránh tình trạng xảy  
ra tại các mỏ dễ thì làm, khó bỏ lại, ảnh hưởng tới việc theo dõi, đánh giá và quy hoạch khai  
thác và làm tổn thất tài nguyên khoáng sản.  
Thứ hai, Rà soát và tái cấu trúc lĩnh vực kinh doanh của ngành vẫn đảm bảo được sự  
đa dạng hóa nhưng nằm trong khả năng quản lý nhằm tạo ra chuỗi giá trị gia tăng cho ngành.  
Thứ ba, Tăng cường nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào khai thác,  
chế biến nhằm tận dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường; Tăng cường rà soát lại hệ thống xử  
lý nước thải, khí bụi trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản.  
Thứ tư, Tiếp tục thực hiện việc đánh giá tác động môi trường và kiểm soát chặt chẽ  
hơn nội dung này khi thực hiện các dự án của ngành than Việt Nam; Tiếp tục thực hiện việc  
trích lập hình thành quỹ môi trường, đồng thời tăng cường giải ngân, sử dụng quỹ hiệu quả  
hơn trong việc bảo vệ và phục hồi môi trường;  
Thứ năm, Tăng cường nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng, vật liệu thay thế.  
Để thực hiện điều này cần có sự phối hợp với những phân ngành khác trong ngành năng  
lượng và ngành công nghiệp mỏ như điện, dầu khí. Cùng với các phân ngành năng lượng,  
khai khoáng khác trích lập quỹ phát triển năng lượng, vật liệu mới. Quỹ này được trích lập từ  
giá thành sản phẩm của các ngành, do Nhà nước thống nhất quản lý phục vụ cho việc nghiên  
cứu và phát triển, thí điểm sử dụng các nguồn năng lượng và vật liệu mới.  
Thứ sáu, ngành than Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác với các tổ chức và doanh nghiệp  
trong và ngoài nước để phát triển công nghệ khai thác, sử dụng than theo cách thức thân thiện  
với môi trường và an toàn, tìm kiếm nguồn cung cấp than dài hạn đảm bảo an ninh lượng cho  
Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế và ổn định trong khu vực.  
6. Kết luận  
Ngành than Việt Nam đã đạt được một số thành tựu trong sản xuất, xuất khẩu than,  
góp phần tạo ra nguồn thu ngoại tệ phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền  
kinh tế, cũng như cung ứng nguồn nguyên, nhiên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp  
trong nước. Tuy nhiên, quá trình phát triển của ngành cũng đã bộc lộ một số yếu kém, tồn tại  
do công nghệ sản xuất, chưa chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và an toàn lao động. Điều  
này sẽ càng trở thành thách thức lớn hơn khi mà Việt Nam đang tham gia ngày một sâu hơn  
vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, không phải ngành than không có những cơ  
hội từ hội nhập. Để có thể tận dụng các cơ hội, đẩy lùi các thách thức, để từ đó thúc đẩy phát  
triển bền vững ngành than Việt Nam, bản thân ngành than cần có sự chuyển dịch mạnh mẽ  
công nghệ khai thác, xây dựng quy hoạch, kế hoạch hợp lý để một mặt, đảm bảo cung ứng  
nhiên liệu cần thiết cho sản xuất trong nước trong hiện tại, một mặt, đảm bảo phát triển bền  
vững cho ngành trong tương lai và đáp ứng yêu cầu của hội nhập.  
381  
pdf 8 trang Thùy Anh 12920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển bền vững ngành than Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_ben_vung_nganh_than_viet_nam_trong_boi_canh_hoi_n.pdf