Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Nam Cần Thơ

Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
165  
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên  
Trường Đại học Nam Cần Thơ  
Factors affecting entrepreneurship intentions of Nam Can Tho  
university students  
Nguyễn Văn Định1*, Lê Thị Mai Hương2, Cao Thị Sen2  
1Trường Đại học Nam Cần Thơ, Việt Nam  
2Trường Đại học Tây Đô, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: ho[email protected]om  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
Nghiên cứu nhằm xác định “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định  
khởi nghiệp của sinh viên Trường đại học Nam Cần Thơ.” Phương  
pháp thực hiện đề tài là định tính để xác định mô hình nghiên cứu  
và định lượng để xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các  
nhân tố đến ý định khởi nghiệp. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập  
từ kết quả khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi với 310 sinh viên  
năm ba và năm tư của Khoa Kinh tế và Khoa Kiến trúc - Xây dựng  
và Môi trường. Kết quả nghiên cứu mô hình cấu trúc tuyến tính  
(SEM) cho thấy có 05 nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của  
sinh viên theo mức độ giảm dần là: đặc điểm tính cách; thái độ đối  
với hành vi khởi nghiệp; môi trường giáo dục; nhận thức kiểm soát  
hành vi và nguồn vốn. Bên cạnh đó, kết quả cũng đã chỉ ra chuẩn  
chủ quan không có tác động đến ý dịnh khởi nghiệp của sinh viên.  
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các hàm ý quản trị  
nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học  
Nam Cần Thơ trong thời gian tới.  
Ngày nhận: 02/11/2020  
Ngày nhận lại: 19/03/2021  
Duyệt đăng: 12/05/2021  
Từ khóa:  
doanh nghiệp; khởi nghiệp;  
sinh viên  
ABSTRACT  
The study aims to determine “Factors affecting  
entrepreneurship intentions of Nam Can Tho University students.”  
The method of implementing the topic is qualitative to determine  
the research model and quantitative to determine and measure the  
influence of factors on entrepreneurial intentions. Research data is  
collected from direct survey results with questionnaires with 310  
3rd and 4th year students of the Faculty of Economics and Faculty  
of Architecture - Construction and Environment. The results of the  
study of the linear structural model (SEM) show that there are 05  
factors affecting the students’ entrepreneurial intention in  
decreasing order: personality characteristics; attitude towards  
entrepreneurial behavior; educational environment; perceived  
behavioral control and capital. In addition, the results also show  
that the subjective norm has no impact on the students’ intention to  
start a business. From the research results, the authors propose  
Keywords:  
businesses; start-ups; students  
166  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
managerial implications to improve the entrepreneurial intention of  
students of Nam Can Tho University in the coming time.  
1. Giới thiệu  
Xu hướng khởi nghiệp là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển các sản phẩm  
công nghệ sáng tạo đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội. Tinh thần khởi nghiệp là một trong những  
giải pháp cơ bản góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm. Khởi nghiệp  
là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế, việc thúc đẩy giới trẻ khởi nghiệp là một trong  
những ưu tiên hàng đầu của các nhà chính sách (Shapero & Sokol, 1982). Tại Việt Nam, vấn đề  
khởi nghiệp kinh doanh được thực hiện trên tất cả lĩnh vực và mọi đối tượng nói chung và trong  
sinh viên đang học tại các trường đại học nói riêng. Theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu  
Á (ADB) cho biết tỷ lệ thanh niên Việt Nam thất nghiệp năm 2020 có thể lên tới 13.2% (Thu  
Hang, 2020). Do đó, trong bối cảnh việc làm là khan hiếm so với với số lượng sinh viên tốt nghiệp  
thì giải pháp cấp thiết hiện nay để giảm lượng sinh viên tốt nghiệp thất nghiệp đó là khơi dậy tinh  
thần khởi nghiệp kinh doanh. Để hoạt động này được triển khai rộng khắp trong các cơ sở giáo  
dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1230/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng  
03 năm 2018 về việc ban hành Kế hoạch triển khai đề án “Hỗ trợ học sinh sinh viên khởi nghiệp  
đến năm 2025” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đến năm 2020  
cả nước có 5,000 Doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và thành phố Cần Thơ phải có 13,800  
doanh nghiệp hoạt động cần phải có sự chung tay góp sức của cộng đồng, trong đó vai trò của các  
trường đại học và sinh viên hết sức quan trọng (My Thanh, 2017). Trường Đại học Nam Cần Thơ  
(DNC) cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó, nhà trường luôn đề cao tinh thần khởi nghiệp của sinh  
viên. Với mô hình doanh nghiệp trong trường đại học được phát triển mạnh mẽ, đồng thời nhà  
trường phối hợp với các doanh nghiệp để tổ chức ngày hội việc làm, hội thảo về khởi nghiệp; tổ  
chức các cuộc thi nhằm phát huy tinh thần khởi nghiệp, giúp sinh viên đẩy mạnh tính năng động,  
nhận thức kinh doanh, đổi mới sáng tạo và bản lĩnh kinh doanh. Nhằm nâng cao tinh thần kinh  
doanh của sinh viên khi còn đang học ở giảng đường đại học thì cần xác định được các nhân tố  
ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Do đó, nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến  
ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Nam Cần Thơ” nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc  
đề xuất hàm ý quản trị nâng cao ý định khởi nghiệp cho sinh viên.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan  
Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự chuẩn bị của một cá nhân để bắt đầu một  
doanh nghiệp (Souitaris, Zerbinati, & Al-Laham, 2007); chỉ ra việc lập kế hoạch và tạo dựng một  
doanh nghiệp là một quá trình (Gupta & Bhawe, 2007). Để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình  
thì cá nhân phải bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực sẵn có (Kuckertz &  
Wagner, 2010). Theo Schwarz, Wdowiak, Almer‐Jarz, và Breitenecker (2009), dự định khởi sự  
kinh doanh của sinh viên xuất phát từ các ý tưởng của sinh viên và được định hướng đúng đắn từ  
chương trình giáo dục và những người đào tạo. Trong nghiên cứu này ý định khởi nghiệp kinh  
doanh của sinh viên là tiền đề, là sự sẵn sàng thực hiện hành vi kinh doanh có chủ ý của sinh viên  
với mong muốn tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.  
Theo thuyết hành động hợp lý (TRA), hành vi được quyết định bởi dự định thực hiện hành  
vi và khả năng kiểm soát của họ (Ajzen & Fishbein, 1975). Thuyết (TRA) được sử dụng để dự báo  
hành vi tự nguyện và giúp đỡ những người khác trong việc nhận ra yếu tố tâm lý của mình. Hai  
yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan. Trong đó, thái độ của  
một cá nhân đối với hành vi thể hiện mức độ đánh giá tiêu cực hoặc tích cực của cá nhân đối với  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
167  
hành vi. Thái độ chịu ảnh hưởng của giá trị mong đợi của cá nhân. Chuẩn chủ quan thể hiện sự  
liên quan đến nhận định của người khác (gia đình, bạn bè) cảm thấy như thế nào khi cá nhân thực  
hiện hành vi đó. Trên cơ sở thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein (1975), Ajzen (1991)  
phát triển Thuyết hành vi hoạch định (TPB) để dự báo và làm sáng tỏ hành vi con người trong một  
bối cảnh cụ thể. Nhân tố thứ ba, có ảnh hưởng đến ý định của con người là yếu tố nhận thức kiểm  
soát hành vi. Nhân tố này đã chỉ ra sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, nhận thức của  
cá nhân là do khả năng của bản thân và nguồn lực để thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Trong đó,  
dự định khởi nghiệp kinh doanh là một yếu tố có trước, quyết định việc thực hiện hành vi kinh  
doanh. Nó sẽ cho phép dự đoán cả những hành vi không hoàn toàn điều khiển được với giả định  
một hành vi có thể được dự báo hoặc được giải thích bởi dự định để thực hiện hành vi đó  
(Kolvereid, 1996).  
Nghiên cứu của Ngo và Cao (2016), dự định khởi nghiệp của sinh viên được phân loại theo  
03 hướng tiếp cận là: Chương trình giáo dục và ý định khởi nghiệp của sinh viên; môi trường và ý  
định khởi nghiệp; Dự định khởi nghiệp của một cá nhân bao gồm (giới tính, tính cách, tư duy và  
thái độ). Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Truong và Nguyen (2019) dựa trên việc tổng hợp  
các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ý định khởi nghiệp của sinh viên đã khái quát  
được 07 nhân tố tác động gồm: Kỳ vọng của bản thân; thái độ với khởi nghiệp; năng lực bản thân  
cảm nhận; cảm nhận về tính khả thi; chuẩn mực niềm tin; vốn tri thức và vốn tài chính.  
Sinh viên Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ với ý định khởi nghiệp kinh doanh  
đã cho thấy có 07 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến hành vi khởi nghiệp của sinh viên bao gồm:  
đặc điểm tính cách; thái độ cá nhân; nhận thức và thái độ; giáo dục khởi nghiệp; nhận thức điều  
khiển hành vi; quy chuẩn và thái độ và quy chuẩn chủ quan (T. A. Phan & Tran, 2017). Theo L.  
K. Le (2018), ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế chịu ảnh hưởng bởi 05 nhân tố:  
yếu tố bên trong của sinh viên (nghị lực, tự tin, đam mê) và yếu tố bên ngoài (nguồn vốn, chính  
sách hỗ trợ của trường). Mặt khác, theo T. N. D. Le và Nguyen (2019), ý định khởi nghiệp của  
sinh viên ngành Du lịch và Quản trị Kinh doanh ảnh hưởng bởi 04 nhân tố: môi trường giáo dục;  
mục tiêu và hoài bão kinh doanh của sinh viên; nhận thức kiểm soát hành vi và tính hấp dẫn của  
việc khởi nghiệp; trong đó nhận thức kiểm soát hành vi là nhân tố tác động mạnh nhất. Tuy nhiên,  
trong nghiên cứu cũng đã chỉ ra chuẩn chủ quan, nhu cầu và nguồn vốn không có ảnh hưởng đến  
ý dịnh khởi nghiệp của sinh viên. Theo Chau và Huynh (2020), ý định khởi nghiệp của sinh viên  
bị ảnh hưởng mạnh nhất về môi trường khởi nghiệp, tiếp đó là giáo dục khởi nghiệp ở trường đại  
học; nhận thức kiểm soát hành vi; chuẩn chủ quan; xu hướng chấp nhận rủi ro và sự tự tin.  
Ngoài ra, ý định khởi nghiệp của sinh viên được xác định bởi kết quả phân tích mô hình  
cấu trúc tuyến tính (SEM) của V. Q. Phan và Trac (2020) là: thái độ cá nhân, chuẩn mực chủ quan  
và kiểm soát nhận thức hành vi. Hơn nữa, ý định khởi nghiệp của sinh viên còn được khẳng định  
qua sự tự tin về tính khả thi là yếu tố quan trọng để đi đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu về các  
yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa hoạt động giảng  
dạy, hoạt động ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh cũng như sở thích kinh doanh của  
mỗi cá nhân có tác động tích cực đến sự tự tin về tính khả thi là yếu tố trung gian hình thành ý  
định khởi nghiệp (H. T. Nguyen & Nguyen, 2016). Dù vậy, nghiên cứu chưa phân tích về các yếu  
tố bên trong (đặc điểm tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức kiểm soát hành vi và nguồn vốn) để  
khởi nghiệp.  
2.2. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.2.1. Đặc điểm tính cách  
Đặc điểm tính cách nói lên tính cách của một cá nhân thể hiện xu hướng chọn những nghề  
nghiệp đòi hỏi sự khám phá, sáng tạo. Sinh viên khao khát có một địa vị trong xã hội hoặc muốn  
168  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
được thể hiện, muốn được tôn trọng và biết đến càng nhiều. Xu hướng sẵn sàng chấp nhận rủi ro  
trong kinh doanh là một nét trong đặc điểm tính cách của sinh viên (Bui, Le, Dao, & Nguyen,  
2011). Theo Wilbard (2009), đã cô đọng lại thành 05 đặc điểm cá nhân mà mỗi nhà khởi nghiệp  
đều có, bao gồm: sự tự tin; sự năng động nhạy bén; có hoài bão; khuynh hướng tự chủ cao và sẵng  
sàng chấp nhận rủi ro. Đặc điểm tính cách ảnh hưởng đến nhu cầu mong muốn thành công, sự tự  
tin và khả năng của bàn thân, thể hiện sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro và tác động tích cực đến mong  
muốn và sự tự tin khởi sự kinh doanh (Scott, 1991). Đặc điểm tính cách cũng đã được khẳng định  
trong các nghiên cứu của (Ngo & Cao, 2016; T. A. Phan & Tran, 2017) có tác động đến ý định  
sinh viên khởi nghiệp.  
H1: Đặc điểm tính cách ảnh hưởng thuận chiều đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp  
2.2.2. Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp  
Theo Ajzen (1991), thái độ đối với hành vi khởi nghiệp thể hiện sự đánh giá tích cực hay  
tiêu cực, ủng hộ hay phản đối của một cá nhân về hành vi dự định thực hiện. Khi sinh viên có thái  
độ hứng thú với việc khởi nghiệp kinh doanh, nhận thấy lợi ích và khi có cơ hội và nguồn lực sẽ  
tiến hành khởi nghiệp. Các yếu tố khác ảnh hưởng đến thái độ đối với hành vi kinh doanh như tâm  
thế chấp nhận rủi ro, sự tự do, độc lập (Krueger, Reilly, & Carsrud, 2000). Trong nghiên cứu này,  
đó là sự đánh giá tích cực hay tiêu cực, ủng hộ hay phản đối của một người có dự định đối với  
hành vi kinh doanh mà họ hướng tới. Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp đã được khẳng định có  
ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu của (D. T. T. Le &  
Nguyen, 2016; T. N. D. Le & Nguyen, 2019; T. A. Phan & Tran, 2017; V. Q. Phan & Trac, 2020;  
Truong & Nguyen, 2019).  
H2: Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp ảnh hưởng thuận chiều đến sự tự tin về tính khả  
thi khởi nghiệp  
2.2.3. Nguồn vốn  
Nhân tố được cho là quan trọng trong việc hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh để cá nhân  
triển khai hoạt động kinh doanh vào trong thực tiễn đó là nguồn vốn. Quá trình để tiếp cận được  
với ưu đãi tài chính vẫn là một hành trình vô cùng gian nan đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp  
(Dong Nghi & Thien Minh, 2018). Khi khởi nghiệp kinh doanh, chỉ có một số ít người có đủ vốn  
để mở doanh nghiệp, còn đa số cần phải huy động vốn từ các nguồn khác nhau để khởi nghiệp.  
Hầu hết các doanh nhân trẻ đều sử dụng tài trợ của cha mẹ, anh em và bạn bè trong giai đoạn đầu  
khởi nghiệp, đây là nguồn tài chính quan trọng nhất (Q. Le, 2007). Nguồn vốn kinh doanh đã được  
khẳng định có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu của  
(L. K. Le, 2018; T. N. D. Le & Nguyen, 2019; Truong & Nguyen, 2019).  
H3: Nguồn vốn ảnh hưởng thuận chiều đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp  
2.2.4. Nhận thức kiểm soát hành vi  
Theo Ajzen (1991), nhận thức kiểm soát hành vi là đề cập đến nhận thức của cá nhân về  
mức độ dễ dàng hay khó khăn; có bị kiểm soát, hạn chế hay không khi thực hiện hành vi. Nó có  
thể được đánh giá qua cảm nhận của cá nhân về khả năng tồn tại, phát triển của doanh nghiệp khi  
khởi nghiệp, khả năng thành công khi kinh doanh, những kiến thức, kinh nghiệm cá nhân hay khả  
năng tiếp cận thông tin để làm cho việc khởi nghiệp trở nên khả thi. Một cá nhân có tiềm năng ý  
định khởi nghiệp phải có mong muốn và nhận thấy tính khả thi của việc ý định khởi nghiệp  
(Shapero & Sokol, 1982). Đây là khái niệm gần với khái niệm về năng lực cá nhân của (Bandura,  
1997); khái niệm về sự tự tin trong mô hình (SEE) của Shapero và Sokol (1982) đã nói đến khả  
năng của cá nhân trong việc hoàn thành các hành vi khởi nghiệp. Mặt khác, khái niệm cảm nhận  
về sự tự tin khởi nghiệp khác với cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi ở dự cảm về việc có  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
169  
thể thực hiện được hành vi, là cảm nhận về việc có khả năng kiểm soát hành vi, thúc đẩy sự tự tin  
khởi nghiệp. Nhận thức kiểm soát hành vi đã được khẳng định có ảnh hưởng tích cực đến ý định  
khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu của (Chau & Huynh, 2020; D. T. T. Le & Nguyen,  
2016; T. N. D. Le & Nguyen, 2019; T. A. Phan & Tran, 2017).  
H4: nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng thuận chiều đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp  
2.2.5. Chuẩn chủ quan  
Theo Liñán và Chen (2006), chuẩn chủ quan thể hiện sự phản đối hay ủng hộ của những  
người quan trọng nhất đối với một cá nhân (người thân, bạn bè) với việc khởi nghiệp kinh doanh;  
hay nhận thức về sự ảnh hưởng từ phía cộng đồng xã hội được định nghĩa là nhận thức về áp lực xã  
hội đến việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Đó là ảnh hưởng của những  
người quan trọng và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi. Chuẩn chủ quan đã được  
khẳng định có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu của  
(Chau & Huynh, 2020; T. N. D. Le & Nguyen, 2019; Ngo & Cao, 2016; T. A. Phan & Tran, 2017).  
H5: Chuẩn chủ quan ảnh hưởng thuận chiều đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp  
2.2.6. Môi trường giáo dục  
Có nhiều nghiên cứu đã khẳng định môi trường giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến ý định  
khởi nghiệp của sinh viên (Vojak, Griffin, Price, & Perlov, 2006). Giáo dục sẽ cung cấp cho sinh  
viên những kiến thức, kỹ năng và thái độ để theo đuổi sự nghiệp kinh doanh (Ooi, Selvarajah, &  
Meyer, 2011). Môi trường giáo dục được cho là đóng vai trò trong bồi dưỡng tinh thần kinh doanh  
cùng hoạt động trải nghiệm của sinh viên để tự tin để khởi nghiệp. Việc tham gia các chương trình  
đào tạo về khởi nghiệp đóng góp rất nhiều đến sự hình thành và phát triển ý định khởi nghiệp của  
sinh viên (Koe, 2016). DNC khuyến khích các hoạt động khởi nghiệp thông qua các chính sách có  
nhiệm vụ là tập trung thay đổi tư duy, hướng tới việc đưa sinh viên nghĩ về việc tạo ra giá trị hơn  
là tìm kiếm một việc làm. Các chính sách, chương trình đào tạo của nhà trường đều nhằm khuyến  
khích, là nền tảng, tạo cho sinh viên sự tự tin khởi nghiệp. Môi trường giáo dục đã được khẳng  
định có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu của (Chau  
& Huynh, 2020; T. N. D. Le & Nguyen, 2019; Ngo & Cao, 2016).  
H6: Môi trường giáo dục ảnh hưởng thuận chiều đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp  
2.2.7. Sự tự tin về tính khả thi  
Sự tự tin về tính khả thi là tin tưởng vào khả năng của bản thân, chủ động trong mọi công  
việc, dám tự quyết định và hành động một cách đúng đắn mà bản thân đó có thể bắt đầu công việc  
kinh doanh. Ý định khởi nghiệp sẽ xuất hiện khi cá nhân phát hiện ra một cơ hội mà họ thấy khả  
thi và mong muốn nắm lấy cơ hội đó. Cá nhân có mong muốn khởi nghiệp và tin tưởng vào năng  
lực khởi nghiệp thành công của bản thân sẽ xuất hiện tiềm năng khởi nghiệp. (Krueger & Brazeal,  
1994; Shapero & Sokol, 1982). Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen (1991), cho rằng trước khi  
đi đến thực hiện một hành vi, con người phải có ý định về hành vi đó. Theo Matlay và cộng sự  
(2013), sự tự tin có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp; niềm tin vào sự thành công, tính hợp  
lý và sự phù hợp của ý định kinh doanh sẽ thúc đẩy ý tưởng quyết tâm thực hiện ý tưởng đó. Những  
cá nhân tự tin vào năng lực bản thân cao sẽ nỗ lực hết sức, nếu thực hiện tốt sẽ dẫn đến kết quả  
thành công. Chính vì vậy, khi có cơ hội kinh doanh thì tâm thế can đảm chấp nhận rủi ro tạo sự tự  
tin để bước vào khởi nghiệp là điều trước tiên cần có. Nghĩa là, sinh viên nhận thấy việc tự kinh  
doanh là rất dễ dàng, tự tin mình sẽ thành công khi khởi nghiệp hay cảm nhận rằng bản thân hoàn  
toàn có thể kiểm soát được hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, sinh viên DNC mặc dù có ý tưởng  
kinh doanh, nhưng không đủ tự tin sẽ khó có thể bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh dù được sự hỗ  
trợ từ phía nhà trường và gia đình. Các nghiên cứu cũng chỉ ra sự tự tin về tính khả thi tác động  
170  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
đến ý định khởi nghiệp (Chau & Huynh, 2020; H. T. Nguyen & Nguyen, 2016).  
H7: Sự tự tin về tính khả thi ảnh hưởng thuận chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên  
2.2.8. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Dựa trên lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước, kế thừa có chọn lọc các nhân tố  
ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu có liên quan (Chau & Huynh,  
2020; H. T. Nguyen & Nguyen, 2016); đồng thời căn cứ vào các lý thuyết hành vi dự định (TPB),  
lý thuyết hành động hợp lý (TRA), lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (SEE). Tuy nhiên,  
các nhà nghiên cứu vẫn có thể đưa thêm một số biến tác động vào mô hình nghiên cứu, việc đưa  
thêm các biến khả dĩ khác vào mô hình có thể đem lại tính chính xác cao hơn trong việc dự đoán  
ý định bởi xu hướng hành động không chỉ phụ thuộc duy nhất vào các yếu tố cảm nhận của cá  
nhân với hành vi khởi nghiệp hay ý kiến của những người xung quanh (Koe, 2016). Niềm tin vào  
sự thành công và sự phù hợp của của ý định kinh doanh sẽ thúc đẩy cá nhân quyết tâm thực hiện  
ý tưởng đó. Cá nhân sẽ tập trung mọi nguồn lực để thực hiện hành vi nhằm đạt được mục tiêu.  
Trong nghiên cứu này sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định mô hình và các  
giả thuyết nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm: (1) đặc điểm tính cách, (2) thái độ với  
hành vi khởi nghiệp, (3) nguồn vốn, (4) nhận thức kiểm soát hành vi, (5) chuẩn chủ quan và (6)  
môi trường giáo dục ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp qua biến trung gian sự tự tin về tính khả  
thi.  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng: Nghiên cứu định tính được  
thực hiện qua thảo luận nhóm và lấy ý kiến chuyên gia (01 giảng viên giảng dạy về khởi nghiệp  
và 04 nhà quản lý doanh nghiệp có kinh nghiệm về khởi nghiệp) nhằm nhận diện những nhân tố  
tác động đến ý định khởi nghiệp của của sinh viên; xác định mô hình nghiên cứu và hiệu chỉnh  
thang đo sơ bộ phù hợp với địa bàn nghiên cứu (thang đo trong nghiên cứu kế thừa những thang  
đo đã được kiểm định qua các nghiên cứu trước). Nhóm đã thực hiện thảo luận để xác định các  
nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của của sinh viên; xây dựng mô hình nghiên cứu  
và hiệu chỉnh thang đo. Tiếp đến, phỏng vấn nhanh 30 sinh viên đang có ý định khởi nghiệp tại  
trường DNC theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện để đánh giá bảng câu hỏi sơ bộ, từ đó hiệu  
chỉnh các thang đo cho phù hợp thực tiễn và kiểm định đạt độ tin cậy để hình thành kết quả là bảng  
câu hỏi chính thức. Nghiên cứu định lượng: sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, để lượng hóa mối  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
171  
quan hệ giữa các nhân tố thông qua các phần mềm thống kê, được thực hiện qua các bước kiểm  
định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích (CFA) và phân  
tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.  
Theo Hair, Anderson, Tatham, và Black (1998), cho rằng kích thước mẫu cần tối thiểu phù  
hợp đối với phân tích nhân tố khám phá (EFA) là một biến cần có 05 quan sát. Nghiên cứu có 06  
thang đo với 26 biến quan sát, vì vậy cỡ mẫu tối thiểu là: 26 * 5 = 130 quan sát; cỡ mẫu với các  
quan điểm tương ứng: 100 = tệ; 200 = khá; 300 = tốt; 500 = rất tốt; 1000 hoặc hơn = tuyệt vời  
(Comrey & Lee, 1992). Trong nghiên cứu này xác định cỡ mẫu là 310, theo Comrey và Lee (1992)  
cỡ mẫu xác định là đạt mức tốt. Phương pháp thu thập dữ liệu là khảo sát trực tiếp sinh viên dựa  
vào bảng câu hỏi soạn sẵn (do hạn chế về thời gian và chi phí nghiên cứu) nên cơ cấu cỡ mẫu được  
phân bổ tại 02 Khoa của DNC.  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất phân tầng, cơ cấu phân bổ cỡ mẫu  
theo số lượng sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư (lý do lựa chọn sinh viên hai năm cuối bởi vì  
đây là giai đoạn sinh viên chú ý nhiều hơn tới vấn đề định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp).  
Theo T. D. Nguyen (2011), phương pháp phân tích phân tầng chia tổng thể ra thành nhiều nhóm  
nhỏ, được thực hiện theo tỷ lệ hoặc không theo tỷ lệ. Khung mẫu được xác định là đối tượng sinh  
viên năm thứ ba và tư của 02 Khoa với tỷ lệ tương ứng được phân theo tỷ lệ sinh viên của các  
ngành: Khoa Kiến trúc - Xây dựng và môi trường (với 04 ngành Kỹ thuật xây dựng; Kiến trúc;  
Quản lý đất đai; Quản lý tài nguyên và Môi trường) và Khoa Kinh tế (với 02 lớp thuộc ngành Quản  
trị kinh doanh). Thực hiện lấy mẫu theo tỷ lệ (%) số sinh viên của các ngành. Căn cứ theo danh  
sách của lớp học, dùng hàm random () trong Excel lấy ngẫu nhiên số sinh viên để chọn đủ số  
lượng. Sau đó tiến hành khảo sát theo danh sách sinh viên ngẫu nhiên được chọn, bằng bảng câu  
hỏi soạn sẵn. Dữ liệu sau khi thu thập từ các đối tượng khảo sát được mã hóa, làm sạch, phân tích  
qua các bước: đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân  
tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính  
(SEM) để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu  
Với 320 phiếu khảo sát được thu về và làm sạch dữ liệu đạt được 310 phiếu hợp lệ, kết quả  
phân tích dữ liệu khảo sát (Bảng 1) về giới tính, năm học, ngành học như sau:  
Bảng 1  
Kết quả thống kê dữ liệu  
Giới tính  
Năm học  
Ngành học  
Quản lý tài  
nguyên và  
Môi trường  
Kiến  
trúc  
(%)  
Kỹ thuật  
xây dựng  
Quản lý  
đất đai  
Quản trị  
kinh doanh  
Nam  
(%)  
Nữ  
(%)  
3
(%)  
4
(%)  
(%)  
(%)  
(%)  
(%)  
73.5 26.5 42.0 58.0  
19.0  
37.0  
10.0  
8.0  
26.0  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát 310 sinh viên DNC (2020)  
4.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo  
Các thang đo đạt độ tin cậy vì có kết quả hệ số Cronbach’s Alpha > 0.6; hệ số tương quan  
biến tổng đều lớn hơn 0.5. Như vậy, thang đo phù hợp sử dụng cho bước phân tích nhân tố khám  
phá (Hoang & Chu, 2008).  
172  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
Bảng 2  
Kiểm định độ tin cậy thang đo  
Tương  
quan  
biến  
Hệ số  
Cronbach’  
Alpha nếu trung  
Giá  
trị  
Nguồn  
tham  
khảo  
Thang đo  
tổng  
loại biến  
bình  
1. Đặc điểm tính cách (TC): Cronbach’ Alpha = 0.891  
Tôi muốn được mọi người tôn trọng và biết đến 0.740  
0.867  
0.849  
0.851  
0.870  
3.67  
3.65  
3.70  
3.65  
(Ngo &  
Cao,  
2016; T.  
A. Phan  
& Tran,  
2017)  
Tôi luôn thích trải nghiệm những cái mới  
0.786  
0.785  
Tôi sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong kinh doanh  
Tôi luôn cố gắng để làm tốt hơn những người 0.738  
khác  
2. Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp (TD): Cronbach’ Alpha = 0.890  
Khởi nghiệp kinh doanh rất có sức hút với bạn  
0.736  
0.865  
0.875  
3.82  
3.79  
(T. A.  
Phan &  
Tran,  
2017; V.  
Q. Phan  
& Trac,  
2020)  
Nếu bạn có cơ hội và nguồn lực, bạn thích khởi 0.692  
nghiệp kinh doanh  
Bạn cảm thấy rất hài lòng khi trở thành một chủ 0.753  
doanh nghiệp  
0.861  
0.866  
0.862  
3.76  
3.71  
3.84  
Trở thành một doanh nhân sẽ đem lại nhiều lợi 0.730  
ích hơn là bất lợi  
Khởi nghiệp kinh doanh có nhiều cơ hội để phát 0.748  
triển bản thân  
3. Nguồn vốn (NV): Cronbach’ Alpha = 0.889  
Có thể huy động vốn từ gia đình, người thân và 0.865  
bạn bè để khởi nghiệp  
0.827  
3.54  
(L. K.  
Le,  
2018;  
Truong  
&
Nguyen,  
2019)  
Có khả năng tích lũy vốn để kinh doanh  
0.855  
0.529  
0.838  
0.886  
0.872  
3.54  
3.58  
3.53  
Có thể huy động vốn từ những nguồn vốn khác  
Có thể vay vốn từ các gói vay dành riêng cho 0.573  
sinh viên khởi nghiệp  
4. Nhận thức kiểm soát hành vi (NT): Cronbach’ Alpha = 0.922  
Bạn có thể kiểm soát quá trình bắt đầu một 0.665  
doanh nghiệp mới  
0.905  
4.00 (Chau &  
Huynh,  
2020; H.  
T.  
Nguyen  
Bạn biết những chi tiết thực tế cần thiết để bắt 0.747  
đầu một doanh nghiệp mới  
0.887  
3.97  
Bạn biết cách để phát triển một doanh nghiệp  
0.709  
0.897  
0.905  
3.95  
&
Hoàn toàn có thể kiểm soát được hoạt động kinh 0.649  
doanh của mình khi khởi nghiệp  
4.02  
Nguyen,  
2016)  
5. Chuẩn chủ quan (CQ): Cronbach’ Alpha = 0.899  
Tin rằng nếu tự kinh doanh thì bạn bè sẽ ủng hộ 0.607  
0.870  
0.858  
3.70 (Chau &  
Huynh,  
Gia đình chắc chắn ủng hộ quyết định tự kinh 0.654  
doanh của tôi  
3.67  
2020; T.  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
173  
Tương  
quan  
biến  
Hệ số  
Cronbach’  
Alpha nếu trung  
Giá  
trị  
Nguồn  
tham  
khảo  
Thang đo  
tổng  
loại biến  
bình  
A. Phan  
& Tran,  
2017)  
Những người quan trọng sẽ ủng hộ quyết định 0.611  
tự tạo dựng một doanh nghiệp  
0.869  
3.72  
Nếu gặp khó khăn trong việc kinh doanh thì sẽ 0.549  
nhận được sự hỗ trợ của ngưởi thân và bạn bè  
0.883  
3.64  
6. Môi trường giáo dục (GD): Cronbach’ Alpha = 0.884  
Giáo dục trong trường cung cấp những kỹ năng 0.507  
và năng lực cần thiết để bạn khởi nghiệp  
0.868  
0.844  
0.838  
0.852  
3.67 (Chau &  
Huynh,  
2020;  
Ngo &  
Cao,  
Nhà trường khuyến khích phát triển ý tưởng 0.585  
sáng tạo để khởi nghiệp  
3.67  
Giáo dục trong trường cung cấp những kiến thức 0.612  
cần thiết về kinh doanh để bạn khởi nghiệp  
3.80  
2016)  
Giáo dục trong trường khuyến khích sinh viên 0.574  
tham gia các hoạt động ngoại khóa về khởi  
nghiệp  
3.76  
7. Sự tự tin về tính khả thi (KT): Cronbach’ Alpha = 0.878  
Việc phát triển một ý tưởng kinh doanh là không 0.515  
khó với tôi  
0.851  
0.839  
0.843  
0.840  
3.60 (Chau &  
Huynh,  
2020; H.  
Tin rằng hoàn toàn có thể tự kinh doanh trong 0.561  
tương lai  
3.58  
T.  
Nguyen  
Tin rằng hoàn toàn có thể bắt đầu một doanh 0.549  
nghiệp  
3.60  
&
Nguyen,  
2016)  
Mục tiêu công việc là trở thành doanh nhân  
0.555  
3.56  
8. Ý định khởi nghiệp của sinh viên (YD): Cronbach’ Alpha = 0.878  
Muốn được tự làm chủ doanh nghiệp  
0.593  
0.839  
0.833  
3.74  
3.74  
(H. T.  
Nguyen  
&
Quyết tâm tạo ra một doanh nghiệp trong tương 0.610  
lai  
Nguyen,  
2016; V.  
Q. Phan  
& Trac,  
2020)  
Cố gắng hết sức để bắt đầu công việc kinh doanh 0.505  
Bắt đầu khởi nghiệp khi còn đang học tại trường 0.527  
0.859  
0.851  
3.59  
3.71  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát 310 sinh viên DNC (2020)  
4.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) bằng phương pháp xoay (Promax) cho thấy, 33  
biến quan sát đều đạt yêu cầu về giá trị cụ thể: Hệ số KMO = 0.865 nằm trong khoảng từ [0.5;  
1.0] thỏa mãn điều kiện; kiểm định Bartlett với hệ số (sig.) = 0.00 < 0.05; tổng phương sai trích là  
68.101% (> 50 %) đạt yêu cầu cho biết các nhân tố có ý nghĩa thống kê; thỏa điều kiện với  
Eigenvalue = 1.454 > 1 (Hoang & Chu, 2008); hệ số tải các nhân tố đều > 0.5 chứng tỏ các biến  
quan sát này có độ tin cậy (Hair, Black, Babin, Anderson, & Tatham, 2006). Kết luận phân tích  
nhân tố (EFA) phù hợp để phân tích nhân tố khẳng định (CFA).  
174  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
4.4. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA)  
Kết quả phân tích các thành phần của thang đo (Hình 2) đều đạt được giá trị hội tụ, giá trị  
phân biệt, tính đơn hướng, độ tin cậy:  
Kết quả phân tích có 467 bậc tự do; giá trị df = 467; Chi2 = 752.951; Chi-Square/df = 1.612  
< 3; chỉ số TLI = 0.951 > 0.9; CFI = 0.957 > 0.9; GFI = 0.876 > 0.8 là đạt (Taylor, Sharland,  
Cronin, & Bullard, 1993); RMSEA = 0.045 < 0.06 mô hình đạt độ tương thích với dữ liệu thị  
trường (Hooper, Coughlan, & Mullen, 2008). Các trọng số đã chuẩn hóa từ (0.618 - 0.969) đều >  
0.5 thang đo đạt giá trị hội tụ; không có sự tương quan giữa các sai số của các biến quan sát nên  
đều đạt tính đơn hướng (Anderson & Gerbing, 1988). Các giá trị P-value đều < 0.05 nên hệ số  
tương quan của từng cặp khái niệm khác biệt so với 1 ở độ tin cậy 95% đạt giá trị phân biệt  
(Steenkamp & Van Trijp, 1991). Kết quả độ tin cậy tổng hợp (Pc) của các thang đo đều lớn > 0.5  
và phương sai trích (Pvc) của các thang đo đều lớn > 0.5. Do đó các thang đo trong mô hình nghiên  
cứu đều đạt độ tin cậy. Kết luận, mô hình nghiên cứu phù hợp để tiếp tục phân tích cấu trúc tuyến  
tính SEM (Taylor et al., 1993).  
Hình 2. Mô hình tới hạn đo lường các khái niệm trong mô hình (chuẩn hóa)  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát 310 sinh viên DNC (2020)  
4.5. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)  
Kết quả phân tích mô hình SEM cho thấy mô hình có 361 bậc tự do; các chỉ số (Hình 3)  
giá trị Chi2 = 795.926; df = 473; Chi-Square/df = 1.683 < 3; chỉ số TLI = 0.945 > 0.90; CFI =  
0.951 > 0.9; GFI = 0.869 > 0.8 là đạt; RMSEA = 0.047 < 0.06 là tốt (Hooper et al., 2008).  
Các giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định bằng cách xem xét mối quan hệ nhân quả  
giữa các khái niệm nghiên cứu, kết quả (Bảng 3) cho thấy:  
- Sự tương quan giữa nhân tố đặc điểm tính cách và sự tự tin về tính khả thi có P = 0.000  
< 0.01; hệ số chuẩn hóa (β = 0.329), khẳng định giả thuyết H1 được chấp nhận, cho thấy đặc điểm  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
175  
tính cách có ảnh hưởng thuận chiều dương đến sự tự tin về tính khả thi ở mức ý nghĩa 1% (độ tin  
cậy 99%);  
- Sự tương quan giữa nhân tố thái độ đối với hành vi khởi nghiệp và sự tự tin về tính khả  
thi có P = 0.016 < 0.05; hệ số chuẩn hóa (β = 0.162), khẳng định giả thuyết H2 được chấp nhận,  
cho thấy thái độ đối với hành vi khởi nghiệp có ảnh hưởng thuận chiều dương đến sự tự tin về tính  
khả thi ở mức ý nghĩa 5% (độ tin cậy 95%);  
- Sự tương quan giữa nhân tố nguồn vốn và sự tự tin về tính khả thi có P = 0.046 < 0.05;  
hệ số chuẩn hóa (β = 0.099), khẳng định giả thuyết H3 được chấp nhận, cho thấy nguồn vốn có  
ảnh hưởng thuận chiều dương đến sự tự tin về tính khả thi ở mức ý nghĩa 5% (độ tin cậy 95%);  
- Sự tương quan giữa nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi và sự tự tin về tính khả thi có P  
= 0.036 < 0.05; hệ số chuẩn hóa (β = 0.101), khẳng định giả thuyết H4 được chấp nhận, cho thấy  
nhận thức kiểm soát hành vi có tác động thuận chiều dương đến sự tự tin về tính khả thi ở mức ý  
nghĩa 5% (độ tin cậy 95%);  
- Nhân tố chuẩn chủ quan có hệ số P = 0.165 > 0.05 không có ý nghĩa thống kê tại mức ý  
nghĩa 5% (độ tin cậy 95%), nên có thể kết luận chuẩn chủ quan không có ý nghĩa thống kê, nghĩa  
là không tìm thấy mối liên hệ ảnh hưởng tuyến tính ý kiến của bạn bè, gia đình, tác động đến ý  
định khởi nghiệp của sinh viên, bác bỏ giả thuyết (H5). Kết quả này chưa phù hợp với các kết quả  
nghiên cứu trước của (Chau & Huynh, 2020; Ngo & Cao, 2016; T. A. Phan & Tran, 2017) nhưng  
lại phù hợp với nghiên cứu của (Boissin, Branchet, Emin, & Herbert, 2009; Liñán & Chen, 2006).  
Điều này có thể lý giải là: dù ý kiến của gia đình, bạn bè hay người thân có ủng hộ việc kinh doanh  
của sinh viên hay phản đối thì bản thân sinh viên cũng quyết tâm kinh doanh vì các em tin vào khả  
năng bản thân mình làm được, chấp nhận rủi ro để làm, tuy nhiên nếu được gia đình ủng hộ thì sẽ  
tốt hơn, tinh thần mình thoải mái hơn và sinh viên sẽ có thêm động lực để kinh doanh;  
- Sự tương quan giữa nhân tố môi trường giáo dục và sự tự tin về tính khả thi có P = 0.011  
< 0.05; hệ số chuẩn hóa (β = 0.139), khẳng định giả thuyết H6 được chấp nhận, cho thấy môi  
trường giáo dục có ảnh hưởng thuận chiều dương đến sự tự tin về tính khả thi ở mức ý nghĩa 5%  
(độ tin cậy 95%);  
- Sự tương quan giữa sự tự tin về tính khả thi và ý định khởi nghiệp của sinh viên có P =  
0.000 < 0.01; hệ số chuẩn hóa (β = 0.385) cho thấy nhân tố sự tự tin về tính khả thi có tác động  
đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở mức ý nghĩa 1% (độ tin cậy 99%); và cứ 01 đơn vị sự tự  
tin về tính khả thi thì có tác động đến 0.385 đơn vị ý định khởi nghiệp của sinh viên.  
176  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
Hình 3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc (SEM) tới hạn  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát 310 sinh viên DNC (2020)  
Bảng 3  
Kiểm định quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình (chưa chuẩn hóa)  
Tác động  
<---  
Ước lượng  
0.162  
S.E.  
C.R.  
2.415  
2.096  
1.387  
2.550  
4.885  
1.999  
5.356  
P
Giả thuyết  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Bác bỏ  
KT  
KT  
KT  
KT  
KT  
KT  
YD  
TD  
NT  
CQ  
GD  
TC  
NV  
KT  
0.067  
0.048  
0.068  
0.055  
0.067  
0.050  
0.072  
0.016  
0.036  
0.165  
0.011  
***  
<---  
0.101  
<---  
0.094  
<---  
0.139  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
<---  
0.329  
<---  
0.099  
0.046  
***  
<---  
0.385  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát 310 sinh viên DNC (2020)  
Kết quả kiểm định Bootstrap được xem là phương pháp lấy mẫu lặp lại có thay thế, trong  
đó mẫu ban đầu đóng vai trò là đám đông (Schumacker & Lomax, 2006). Trong nghiên cứu này,  
nhóm tác giả đã cho lặp lại cỡ mẫu 500 khác bằng phương pháp Bootstrap nhằm kiểm định tính  
ổn định của các ước lượng. Từ dữ liệu phân tích trong bảng (Bảng 4) cho thấy, các giá trị |CR| đều  
< 1.96; suy ra P > 5%, độ lệch là rất nhỏ, không có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%. Kết luận  
mô hình ước lượng có thể tin cậy được và đây cũng là kết quả mong đợi khi phân tích mô hình cấu  
trúc tuyến tính (SEM). Các nhân tố có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên là: đặc  
điểm tính cách; thái độ đối với hành vi khởi nghiệp; môi trường giáo dục; nhận thức kiểm soát  
hành vi và nguồn vốn.  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
177  
Bảng 4  
Kết quả kiểm định Boostrap  
Tác động  
SE  
SE-SE  
0.002  
0.001  
0.002  
0.002  
0.002  
0.002  
0.003  
Mean  
0.165  
0.106  
0.088  
0.140  
0.328  
0.105  
0.382  
Bias  
0.003  
0.003  
-0.006  
0.001  
-0.001  
0.003  
-0.003  
SE-Bias  
0.003  
0.002  
0.003  
0.003  
0.003  
0.002  
0.004  
CR  
1.00  
1.50  
-2.00  
0.33  
-0.33  
1.50  
-0.75  
KT <---  
KT <---  
KT <---  
TD  
NT  
CQ  
0.072  
0.047  
0.071  
0.057  
0.073  
0.055  
0.080  
KT <--- GD  
KT <--- TC  
KT <--- NV  
YD <--- KT  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát 310 sinh viên DNC (2020)  
5. Kết luận và hàm ý quản trị  
Nghiên cứu đã xác định được các nhân tố và mức độ tác động của từng nhân tố đến ý định  
khởi nghiệp của sinh viên. Vì vậy, để nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học  
Nam Cần Thơ, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị được ưu tiên thực hiện như sau:  
Đặc điểm tính cách: là nhân tố có mức ảnh hưởng quan trọng nhất đến ý định khởi nghiệp  
của sinh viên, vì vậy việc tự trang bị cho bản thân nâng cao kiến thức và kỹ năng cần thiết về khởi  
nghiệp kinh doanh, bên cạnh nền tảng kiến thức khoa học công nghệ, tăng cường tính tự học, tìm  
hiểu về những mô hình kinh doanh thành công sẽ giúp tăng năng lực cảm nhận ở sinh viên để nâng  
cao ý định khởi nghiệp. Các hoạt động ngoại khóa liên quan đến khởi nghiệp và kinh doanh cần  
được Nhà trường xây dựng trong chương trình đào tạo, đấy sẽ là nền tảng để sinh viên phát triển  
kỹ năng và gia tăng ý định khởi nghiệp. Người thực hiện khởi nghiệp rất cần những yếu tố sáng  
tạo, nhạy bén để có thể cải tiến về mẫu mã, tính năng, chất lượng, giá cả và ngay cả cách thức  
marketing để đưa sản phẩm, dịch vụ tới người tiêu dùng mới có thể hy vọng khởi nghiệp thành  
công. Đồng thời, tạo cơ hội cho sinh viên rèn luyện những tố chất cần thiết đối với một nhà quản  
trị như: bản lĩnh, tự tin, năng động, sáng tạo, có nghệ thuật tổ chức, quản lý, điều hành. Qua đó,  
năng lực lãnh đạo được vun đắp, là động lực để phát triển ý định khởi nghiệp. Nhà trường cần tạo  
điều kiện để sinh viên tích cực tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tích góp kinh nghiệm  
kinh doanh ngoài xã hội nếu có điều kiện. Muốn khởi nghiệp thuận lợi, sinh viên cần nắm vững  
chuyên môn sâu thuộc lĩnh vực khởi nghiệp, vì vậy nhà trường sinh viên cần nâng cao tinh thần tự  
học của sinh viên, giúp sinh viên học tập chăm chỉ, tiếp thu tốt kiến thức chuyên môn, tranh thủ  
tìm hiểu thêm kiến thức thực tế để đáp ứng yêu cầu khởi nghiệp.  
Thái độ với hành vi khởi nghiệp: là nhân tố có mức tác động mạnh thứ hai đến ý định  
khởi nghiệp của sinh viên, vì vậy những kiến thức, kỹ năng được học kết hợp với kiến thức khởi  
nghiệp và thái độ tích cực với việc thành lập doanh nghiệp sẽ là hành trang trên hành trình nâng  
cao ngọn lửa khởi nghiệp của sinh viên. Nhà trường cần thiết lập các nhóm, các Trung tâm hỗ trợ  
khởi nghiệp tại trường, tại các Khoa chuyên môn, nhằm nâng cao thái độ của từng sinh viên, từng  
nhóm sinh viên đối với các ý tưởng khởi nghiệp. Để tạo nên hứng thú về nghề nghiệp, “tư duy làm  
chủ thay vì làm thuê” luôn là phương châm để sinh viên muốn thay đổi tương lai. Do đó, để khơi  
dậy thái độ với hành vi khởi nghiệp, nhà trường cần tăng cường giới thiệu các tấm gương đã khởi  
nghiệp thành công, các mô hình khởi nghiệp tiêu biểu của Việt Nam cũng như thế giới để khơi dậy  
ham muốn kinh doanh. Giúp sinh viên chủ động và tích cực tham gia các hoạt động trải nghiệm  
thực tiễn kinh doanh do nhà trường, các câu lạc bộ, các tổ chức đoàn thể và các hội thảo về khởi  
178  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
nghiệp dành cho sinh viên. Qua đó giúp sinh viên làm chủ, tự quản lý bản thân, đề ra những ý  
tưởng kinh doanh khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mở rộng mối quan hệ, học hỏi kinh nghiệm từ  
những người bạn, người thân thành lập doanh nghiệp, để được chia sẻ kinh nghiệm từ những người  
có nhiều kinh nghiệm thực tế, lường trước những khó khăn, thử thách khi kinh doanh.  
Môi trường giáo dục: là nhân tố có mức ảnh hưởng mạnh thứ ba đến ý định khởi nghiệp  
của sinh viên, được xem như là nhân tố quan trọng hình thành nên tư duy lập nghiệp và khơi dậy  
lòng ham muốn kinh doanh ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Chính vì thế, để tặng sự đam  
mê của sinh viên đối với khởi nghiệp kinh doanh, nhà trường nên bổ sung các học phần cơ bản  
liên quan đến khởi nghiệp để gia tăng các kiến thức và kỹ năng, kinh nghiệm thiết yếu khi bắt đầu  
khởi nghiệp, giúp sinh viên gia tăng ý định khởi nghiệp. Nhà trường cần có định hướng đối với  
các giảng viên trong quá trình giảng dạy khuyến khích sinh viên khởi nghiệp; thành lập vườn ươm  
doanh nghiệp; tạo mối liên kết chặt chẽ với cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp, kết nối với  
sinh viên thông qua các hoạt động tham quan thực tế doanh nghiệp, tiếp thu kinh nghiệm, thực tập  
và làm việc sau khi tốt nghiệp. Tăng cường các hoạt động truyền thông về các cuộc thi khởi nghiệp,  
kết nối doanh nghiệp để tổ chức ngày hội việc làm. Thường xuyên tổ chức các ngày hội kinh  
doanh, hội chợ; tổ chức các cuộc thi định hướng khởi nghiệp như ý tưởng kinh doanh, hội thảo về  
khởi nghiệp, mô phỏng lên kế hoạch kinh doanh, xây dựng mạng lưới cựu sinh viên khởi nghiệp.  
Thành lập các câu lạc bộ khởi nghiệp để tăng cường giới thiệu, phổ biến hình mẫu trong cộng đồng  
sinh viên, chủ doanh nghiệp thành đạt, các mô hình khởi nghiệp và kinh nghiệm làm giàu của các  
doanh nhân trẻ.  
Kiểm soát nhận thức hành vi: là nhân tố có mức ảnh hưởng thứ tư đến ý định khởi nghiệp,  
nó phản ánh sự tự tin của sinh viên khi quyết định khởi nghiệp. Ngoài đam mê, khát vọng và động  
lực là điều kiện cần song chưa đủ để khởi nghiệp kinh doanh. Kỷ luật và quyết tâm là những yếu  
tố đảm bảo để các doanh nhân đi theo và phát triển các ý tưởng kinh doanh, bất luận quá trình này  
suôn sẻ hay phải đối mặt với nhiều trở ngại, sinh viên cần có một suy nghĩ độc lập, hình thành ý  
thức “dám nghĩ, dám làm”, xem việc khởi sự doanh nghiệp như một trải nghiệm kiến thức thực tế  
trong môi trường xã hội góp phần hình thành nên kinh nghiệm và thành công trong hoạt động nghề  
nghiệp. Để tạo cho sinh viên có cơ hội “thực học, thực nghiệm” thì nhà trường đóng vai trò rất  
quan trọng giúp sinh viên trau dồi kinh nghiệm, nâng cao nhận thức ngay từ khi còn học. Từ đó,  
nâng cao sự cảm nhận của cá nhân, tạo sự tự tin để làm một chủ doanh nghiệp trong tương lai.  
Nguồn vốn: là nhân tố ít quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên  
DNC. Bởi vì, công ty khởi nghiệp thì không nhất thiết cần nhiều về vốn, họ có thể kêu gọi các  
nguồn tài trợ thông qua từng dự án công việc. Tuy nhiên, để sử dụng nguồn tài chính khi khởi  
nghiệp một cách cụ thể thì sinh viên cần có kế hoạch chủ động tìm kiếm được nguồn tài chính từ  
các chủ đầu tư và quỹ hỗ trợ. Để tạo được nguồn vốn khởi nghiệp thì cơ quan quản lý đóng một  
vai trò quan trọng để sinh viên có thể tiếp cận nguồn vốn bằng nhiều cách như: giảm lãi suất cho  
vay, phê duyệt dự án nhanh. Đồng thời, nhà trường nên có chính sách để hỗ trợ các hoạt động, các  
ý tưởng, dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên trong trường; đồng thời xây dựng quỹ hỗ trợ  
khởi nghiệp từ nguồn kinh phí xã hội hóa. Hơn nữa, nhà trường nên xây dựng các vườn ươm doanh  
nghiệp, Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, xây dựng chương trình, chính sách hỗ trợ hoạt động khởi  
nghiệp đổi mới sáng tạo… để tư vấn cho sinh viên có ý định khởi nghiệp.  
Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo: số lượng cỡ mẫu còn hạn chế khi sử  
dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), không so sánh được sự biến đổi từ lúc hình thành ý định  
đến khi xảy ra hành vi thực tế. Ngoài ra, còn nhiều nhân tố khác tác động đến ý định khởi nghiệp  
của sinh viên. Hơn nữa, nghiên cứu mới chỉ thực hiện ở 02 Khoa của DNC nên nghiên cứu sau  
này cần tăng số cỡ mẫu, khảo sát ở các Khoa khác, đồng thời đưa thêm những nhân tố mới vào mô  
hình nghiên cứu.  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
179  
Tài liệu tham khảo  
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human decision  
Processes, 50(2), 179-211. doi:10.1016/0749-5978(91)90020-T  
Ajzen, I., & Fishbein, M. (1975). A Bayesian analysis of attribution processes. Psychological  
Bulletin, 82(2), 261-277.  
Anderson, J. C., & Gerbing, D. W. (1988). Structural equation modeling in practice: A review and  
recommended two-step approach. Psychological Bulletin, 103(3), 411-423.  
Bandura, A. (1997). Self-efficacy: The excercise of control. New York, NY: Freeman.  
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Quyết định số 1230/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 3 năm 2018 về  
việc ban hành Kế hoạch triển khai đề án “Hỗ trợ học sinh sinh viên khởi nghiệp đến năm  
2025”[Decision No. 1230/QD-BGDĐT dated March 30, 2018 on the issuance of the  
implementation plan of the project “Supporting students to start a business by 2025”].  
Retrieved May 10, 2021, from https: //thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Quyet-  
dinh-1230-QD-BGDDT-2018-De-an-Ho-tro-hoc-sinh-sinh-vien-khoi-nghiep-78930.aspx  
Boissin, J.-P., Branchet, B., Emin, S., & Herbert, J. I. (2009). Students and entrepreneurship: A  
comparative study of France and the United States. Journal of Small Business &  
Entrepreneurship, 22(2), 101-122. doi:10.1080/08276331.2009.10593445  
Bui, D. H. T., Le, L. T., Dao, D. T. X., & Nguyen, H. T. (2011). Nghiên cứu ảnh hưởng của các  
yếu tố tính cách cá nhân lên tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên [Study the effects of  
individual personality factors on students’ entrepreneurial potential]. Tạp chí Phát triển  
Khoa học và Công nghệ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 14(3Q), 68-82.  
Chau, T. T. N., & Huynh, T. L. T. (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh  
viên Trường Đại học An Giang [Factors affecting the intention to start a business of An  
Giang University students]. Tạp chí Công Thương, 17.  
Comrey, A., & Lee, H. (1992). A first course in factor analysis. Hillsdale, NJ: Lawrence Eribaum  
Associates. Inc..  
Dong Nghi & Thien Minh (2018). Doanh nghiệp khởi nghiệp: Vꢀn còn rào cản! [Start-ups: Still  
nghiep-van-con-rao-can-502524.html  
Gupta, V. K., & Bhawe, N. M. (2007). The influence of proactive personality and stereotype threat  
on women’s entrepreneurial intentions. Journal of Leadership & Organizational Studies,  
13(4), 73-85.  
Hair, J. F., Anderson, R., Tatham, R., & Black, W. (1998). Multivariate data analysis (5th ed.).  
Upper Saddle River, NJ: Pearson Prentice Hall.  
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E., & Tatham, R. (2006). Multivariate data  
analysis (6th ed.). Upper Saddle River, NJ: Pearson Prentice Hall.  
Hoang, T., & Chu, N. N. M. (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, tập 2 [Analyze  
research data with SPSS, volume 2]. Ho Chi Minh, Vietnam: Nhà xuất bản Hồng Đức.  
Hooper, D., Coughlan, J., & Mullen, M. (2008). Structural equation modelling: Guidelines for  
determining model fit. Journal of Business Research Methods, 6(1), 53-60.  
Koe, W.-L. (2016). The relationship between Individual Entrepreneurial Orientation (IEO) and  
entrepreneurial intention. Journal of Global Entrepreneurship Research, 6(1), 1-13.  
Kolvereid, L. (1996). Prediction of employment status choice intentions. Entrepreneurship Theory  
and Practice, 21(1), 47-58.  
180  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
Krueger, N. F., Jr., & Brazeal, D. V. (1994). Entrepreneurial potential and potential entrepreneurs.  
Entrepreneurship Theory and Practice, 18(3), 91-104.  
Krueger, N. F., Jr., Reilly, M. D., & Carsrud, A. L. (2000). Competing models of entrepreneurial  
intentions. Journal of Business Venturing, 15(5/6), 411-432. doi:10.1016/S0883-  
9026(98)00033-0  
Kuckertz, A., & Wagner, M. (2010). The influence of sustainability orientation on entrepreneurial  
intentions-Investigating the role of business experience. Journal of Business Venturing,  
25(5), 524-539. doi:10.1016/j.jbusvent.2009.09.001  
Le, D. T. T., & Nguyen, A. T. P. (2016). Các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh  
viên thuộc khối ngành kinh tế và kỹ thuật tại Trường Đại học Lạc Hồng [Factors affecting  
the intention to start a business of students in the field of economics and engineering at Lac  
Hong University]. Tạp chí Khoa học Lạc Hồng, 5(62), 83-88.  
Le, L. K. (2018). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế  
tại thành phố Hồ Chí Minh [Factors affecting the intention to start a business of economics  
students in Ho Chi Minh City]. Tạp chí Phát triển nhân lực, 1(6), 12-24.  
Le, Q. (2007). Nghiên cứu quá trình quyết định khởi nghiệp của doanh nhân trẻ Việt Nam- thành  
phố Hồ Chí Minh [Researching the process of starting a business decision of young  
Vietnamese entrepreneurs - Ho Chi Minh City]. Tạp chí Phát triển kinh tế, 7.  
Le, T. N. D., & Nguyen, L. M. (2019). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh  
viên khoa Quản trị kinh doanh [Factors affecting the intention to start a business of students  
of the Faculty of Business Administration]. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cửu Long,  
16&17, 24-35.  
Likert, R. (1932). A technique for the measurement of attitudes. Archives of Psychology, 140, 5-  
53.  
Liñán, F., & Chen, Y.-W. (2006). Testing the entrepreneurial intention model on a two-country  
sample (Working Papers 0607). Departament d’Economia de l’Empresa, Universitat  
Autònoma de Barcelona Document de Treball núm.  
Matlay, H., Dinis, A., do Paço, A., Ferreira, J., Raposo, M., & Rodrigues, R. G. (2013).  
Psychological characteristics and entrepreneurial intentions among secondary students.  
Education and Training, 55(8/9), 763-780.  
My Thanh (2017). Nỗ lực nhân đôi số doanh nghiệp hiện có [Efforts to double the number of  
nhan-doi-so-doanh-nghiep-hien-co-a91035.html  
Ngo, T. T. T., & Cao, V. Q. (2016). Tổng quan lý thuyết về ý định khởi nghiệp của sinh viên  
[Theoretical overview of students’ entrepreneurial intentions]. Tạp chí Khoa học Trường  
Đại học Mở, Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 50(5), 56-65.  
Nguyen, H. T., & Nguyen, P. T. K. (2016). Những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh  
nghiệp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh [Factors affecting the intention to start a  
business of students at Tra Vinh University]. Tạp chí khoa học Trường Đại học Trà Vinh,  
23, 1-9.  
Nguyen, T. D. (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh [Scientific research  
methods in business]. Ho Chi Minh, Vietnam: Nhà xuất bản Lao động-Xã hội.  
Ooi, Y. K., Selvarajah, C., & Meyer, D. (2011). Inclination towardsentrepreneurship among  
university students: An empirical study of Malaysian university students. International  
Journal of Business and Social Social Science, 2(4), 206-220.  
Nguyễn Văn Định và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 165-181  
181  
Phan, T. A., & Tran, H. Q. (2017). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh  
doanh của sinh viên Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ [Analysis of factors  
affecting the intention to start a business of students at Can Tho University of Technology  
and Technology]. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 48, 96-103.  
Phan, V. Q., & Trac, H. A. (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại  
Trường Đại học Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận [Factors affecting the intention to start a  
business of students at Phan Thiet University, Binh Thuan province]. Tạp chí Công Thương,  
18.  
Schumacker, R. E., & Lomax, R. G. (2006). Application of structural equation modeling in  
educational research and practice. Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum.  
Schwarz, E. J., Wdowiak, M. A., Almer‐Jarz, D. A., & Breitenecker, R. J. (2009). The effects of  
attitudes and perceived environment conditions on students’ entrepreneurial intent.  
Education and Training, 51(4), 272-291. doi:10.1108/00400910910964566  
Scott, J. W. (1991). The evidence of experience. Critical Inquiry, 17(4), 773-797.  
Shapero, A., & Sokol, L. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. In C. Kent, L. Sexton  
& K. Vesper (Eds.), Encylopedia of Entrepreneurship, 72-90. Englewood Cliffs, NJ:  
Prentice Hall.  
Souitaris, V., Zerbinati, S., & Al-Laham, A. (2007). Do entrepreneurship programmes raise  
entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of learning,  
inspiration and resources. Journal of Business Venturing, 22(4), 566-591.  
doi:10.1016/j.jbusvent.2006.05.002  
Steenkamp, J.-B. E., & Van Trijp, H. C. (1991). The use of LISREL in validating marketing  
constructs. International Journal of Research in Marketing, 8(4), 283-299.  
Taylor, S. A., Sharland, A., Cronin, J. J., & Bullard, W. (1993). Recreational service quality in the  
international setting. International Journal of Service Industry Management, 4(4), 68-86.  
Thu Hang (2020). Có thể mất 15 triệu cơ hội việc làm dành cho thanh niên trong năm 2020 [Could  
lose 15 million job opportunities for young people in 2020]. Retrieved March 13, 2021, from  
trong-nam-2020-1267323.html  
Truong, T. D., & Nguyen, L. T. T. (2019). Một số nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của  
sinh viên [Some factors affecting students’ intention to start a business]. Tạp chí Công  
Thương, 3, 99-104.  
Vojak, B. A., Griffin, A., Price, R. L., & Perlov, K. (2006). Characteristics of technical visionaries  
as perceived by American and British industrial physicists. R&D Management, 36(1), 17-  
26.  
Wilbard, F. (2009). Entrepreneurship proclivity: An exploratory study on students’  
entrepreneurship intention (Master’s thesis). University of Agder, Kristiansand, Norway.  
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.  
pdf 17 trang Thùy Anh 16540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Nam Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_y_dinh_khoi_nghiep_cua_sinh_vien_t.pdf