Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến công tác quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
ThS. Châu Hoài Bão, ThS.NCS. Hồ Trần Quốc Hải
Đại học Lao động – Xã hội (CS2)
Tóm tắt
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới và sẽ
tác động đến việc làm và toàn bộ đời sống của người lao động tại nhiều quốc gia, trên
3 phương diện công nghệ cơ bản: trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật
(internet of Things - IoT) và Dữ liệu lớn (Big Data). Nhìn một cách tổng quát, cuộc
CMCN 4.0 sẽ làm tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân toàn
cầu. Thế nhưng, mặt trái của CMCN 4.0 là có thể mang lại sự bất bình đẳng, đặc biệt
là có thể phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong
nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên
thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những tác
động của cuộc cách mạng 4.0 công tác quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Từ
đó, đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị để giúp doanh nghiệp hoàn thiện công tác
quản lý nguồn nhân lực.
1. Đặt vấn đề
Sự bùng nổ của Công nghiệp 4.0 trên phạm vi toàn cầu đang thổi một làn gió
mới, làm thay đổi bộ mặt của các ngành then chốt, bằng việc ứng dụng các hệ thống tự
động hóa, trao đổi dữ liệu và thuật toán đám mây vào quy trình làm việc.
Không nằm ngoài vòng xoáy này, ngành nhân sự với thuật ngữ “HR 4.0” được
nhắc đến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội hứa hẹn sẽ “thay
da đổi thịt” quy trình tuyển dụng, cách thức đào tạo, đánh giá kết quả thực hiện công
việc của nhân viên cũng như cách thức sử dụng mạng xã hội trong quá trình thu hút,
đào tạo và phát triển nhân tài.
Vì vậy, việc nhìn nhận những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến
công tác quản lý nguồn nhân lực giúp các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách,
doanh nghiệp đưa ra các giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp tận dụng có hiệu quả cơ
hội của cuộc cách mạng này mang lại.
2. Khái quát về cách mạng công nghiệp 4.0.
162
Từ “cách mạng” có nghĩa là một sự thay đổi đột ngột và căn bản. Các cuộc cách
mạng trong lịch sử diễn ra khi những công nghệ và cách thức mới trong việc nhận thức
thế giới gây ra sự thay đổi sâu sắc trong hệ thống kinh tế và cấu trúc xã hội. Lấy lịch
sử làm khung tham chiếu, những thay đổi đột ngột này có thể mất nhiều năm để nhìn
thấy.1
Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất; là sự thay
đổi cơ bản các điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa và kỹ thuật. Cách mạng công nghiệp
khiến lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, tạo ra lực lượng vật chất khổng lồ cho xã
hội.
Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng nhìn chung hầu hết các nhà nghiên
cứu trên thế giới đều cho rằng, cho đến nay lịch sử loài người đã và đang trải qua bốn
cuộc cách mạng công nghiệp. Nếu như cuộc CMCN 1.0 (1784) là việc chấm dứt sự
phụ thuộc của con người vào sức kéo động vật và sức người, chuyển sang sử dụng
năng lượng hóa thạch, sức nước và hơi nước thì cuộc CMCN 2.0 bắt đầu vào khoảng
thập kỉ 1850, khi các tiến bộ kinh tế và kỹ thuật có được nhờ phát triển tàu hơi nước,
đường sắt. Đến cuối thế kỷ 19, động lực của Cách mạng công nghiệp là động cơ đốt
trong và máy móc sử dụng điện. Năm 1914 (năm bắt đầu Thế chiến thứ nhất), giai
đoạn thứ hai này kết thúc. Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bắt đầu khoảng 1969,
khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và công nghệ kĩ thuật số trên nền tảng là
sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập
niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990). Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này
cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao. Năm 1997, khi cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á nổ ra là bước đánh dấu giai đoạn thứ ba kết thúc. Cách
mạng Công nghiệp lần thứ tư ra đời trên cơ sở nền tảng của cuộc CMCN 3.0, trọng
tâm là các phát minh, phát kiến và sự kết hợp của ba đại xu hướng: vật lý, số hóa và
sinh học hay nói cách khác đó là sự kết hợp của ba thế giới: thế giới vật chất, thế giới
số, và thế giới sinh vật2.
Khái niệm CMCN 4.0 lần đầu tiên được đề cập trong bản “Kế hoạch hành động
chiến lược công nghệ cao” được Chính phủ Đức thông qua vào năm 2012. Từ đó đến
nay, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được sử dụng rộng rãi trên thế giới để mô tả cuộc
CMCN 4.0.
1 Klaus Schwab (2016). The fourth industrial revolution. Dịch giả: Đồng Bích Ngọc và Trần Thị Mỹ Anh
2 Trần Hồng Quang, Nguyễn Hồng Hà (2016), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và dự báo tác động đến nền kinh tế Việt
Nam, Tạp chí kinh tế và dự báo, Số 10-2016, tr 14
163
Hình 1: Lịch sử 4 cuộc cách mạng công nghiệp
Nguồn: The Fourth Industrial Revolution, 2016
Có thể nói, cuộc CMCN 4.0 sẽ rất khác so với ba cuộc cách mạng đã làm thay
đổi năng lực sản xuất của con người trước đó và được dự báo sẽ làm đảo lộn toàn bộ
cuộc sống của chúng ta. Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ
số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức
sản xuất; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in
3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy,...
Hiện tại cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này và là
chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế
giới và mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người.
Cuộc CMCN 4.0 sẽ phát triển mạnh mẽ do nhu cầu tìm kiếm phương thức sản
xuất mới hiệu quả, bền vững hơn trước những thách thức như biến đổi khí hậu, già hóa
dân số hay các vấn đề an ninh khác ngày càng tăng lên. Cuộc cách mạng này sẽ mang
tới nhiều cơ hội phát triển và hội nhập, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức
với các nước đang phát triển như Việt Nam.
3. Quá trình phát triển của quản trị nguồn nhân lực.
Quản trị nguồn nhân lực đã có quá trình phát triển như sau:
164
Hình 2: Quá trình phát triển của quản trị nguồn nhân lực
Nguồn: Tác giả tổng hợp
HR 1.0 là giai đoạn phát triển tương ứng với thời kỳ đầu của nghiệp vụ quản trị
nguồn nhân lực, khi vai trò thực hiện chủ yếu ở các nghiệp vụ hỗ trợ cơ bản như trả
lương, bảo đảm an toàn lao động. Trong thời kỳ này, các công việc nhân sự được xử
lý thủ công trên giấy.
HR 2.0: Đây cũng là giai đoạn quản trị nguồn nhân lực phát triển các “kỹ năng
cứng” –các hoạt động kỹ thuật chuyên môn về tuyển dụng và đào tạo nhân sự. Các
thiết bị điện bắt đầu được sử dụng, giúp sắp xếp quy trình hợp lí và gọn gàng hơn,
nghiệp vụ được thao tác trên một số ứng dụng rời rạc và bắt đầu sử dụng máy tính. Ở
Việt Nam, giai đoạn này tương ứng với thời kỳ phát triển công nghệ máy tính, khoảng
những năm sau 1990.
HR 3.0: Ở giai đoạn này, hoạt động quản trị nguồn nhân lực đã dần hướng
sang phát triển kĩ năng mềm của cán bộ nhân sự như xử lý tài liệu, thu thập và phân
tích thông tin, cảnh báo và khuyến nghị chính sách. Internet xuất hiện và dần được áp
dụng, tuy nhiên chỉ là biện pháp hỗ trợ đằng sau “sân khấu lớn” mà không được tận
dụng như một công cụ hay giải pháp hữu ích. Các tiện ích công nghệ của doanh nghiệp
như website, intranet, server chủ yếu phục vụ cho giới thiệu và kinh doanh sản phẩm,
chưa chú trọng cung cấp các dịch vụ nội bộ. Tại Việt Nam, thời kỳ này tương ứng với
sự xuất hiện internet, khoảng sau 1995.
HR 4.0: Đây là giai đoạn quản trị nguồn nhân lực khẳng định vai trò tư vấn và
thiết kế chiến lược cho phát triển doanh nghiệp, thực hiện các hoạt động thu hút, quản
165
trị và phát triển nguồn nhân lực với quy mô lớn hơn bằng những cách thông minh hơn,
cung cấp được thông tin thời gian thực nhiều hơn cho nhà quản trị cấp cao. Tuyển
dụng, đào tạo đã sử dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo. Phát triển tổ chức (tạo môi
trường làm việc tốt, tính gắn kết, giá trị văn hóa doanh nghiệp, quản lý thay đổi) đã sử
dụng các công cụ mạng xã hội và phân tích định tính các thông tin tại đó (social
listening) nhằm cung cấp được những kết luận hữu ích phục vụ phát triển chính sách
nhân sự nhanh, phù hợp hơn. Đây là thời kỳ sau năm 2010, khi công nghệ giúp kết nối
thành tựu của tin học với viễn thông tạo dựng được khả năng cung cấp các tính năng
thông minh hơn, thân thiện với con người hơn.
4. Xu hướng của quản trị nhân sự dưới ảnh hưởng của CMCN 4.0
Theo nghiên cứu thực hiện năm 2017 (Deloitte’s fifth annual Global Human
Capital Trends report and survey) của Deloitte Development LLC, đề cập đến 10 xu
hướng mới trong quản trị nhân sự3. Cụ thể :
Xu hướng 1. Tổ chức của tương lai hiện hữu ngay hôm nay. Tốc độ của sự thay
đổi và áp lực liên tiếp trong thời đại 4.0 khiến các chuyên viên nhân sự nhận ra rằng
việc xây dựng tổ chức của tương lai là một thách thức quan trọng cần làm ngay lúc
này. Họ nhận thấy phải thiết kế lại một tổ chức mới nhằm tích cực thích ứng được với
tốc độ thay đổi của môi trường kinh doanh và lực lượng lao động, tạo nên sự nhạy bén
của tổ chức.
Xu hướng 2. Phát triển nghề nghiệp và học tập. Bản thân những công việc
thường xuyên phải thay đổi nhiệm vụ hoặc cách làm trong kỷ nguyên số đòi hỏi các kỹ
năng mới luôn được trau dổi. Vì vậy, các công ty hướng tới những trải nghiệp học tập
xuyên suốt, cho phép nhân viên xây dựng các kỹ năng nhanh chóng, dễ dàng và phù
hợp với khả năng riêng của họ trong suốt quá trình làm việc và thăng tiến trên lộ trình
nghề nghiệp.
Xu hướng 3. Thu hút nhân tài: Sử dụng trí tuệ nhân tạo để tuyển dụng. Tìm kiếm
và chiêu mộ người phù hợp là vấn đề sống còn đối với bất kỳ công ty nào. Thu hút
nhân tài hiện đã trở thành thử thách quan trọng xếp thứ 3 mà các công ty phải đối mặt.
Ngày nay, việc tìm kiếm ứng viên được hỗ trợ bởi nhiều công cụ: thông qua mạng xã
hội, số liệu phân tích và các phần mềm quản trị doanh nghiệp tích hợp được khả năng
nhận thức để tìm kiếm nhân sự theo một cách mới. Quá trình kiểm tra năng lực ứng
viên cũng được sử dụng trí tuệ nhân tạo, robot (chatbot) để cáng đáng được khối lượng
lớn công việc của nhà tuyển dụng, từ đó quyết định được nhanh hơn và số lượng lớn
hơn về việc tuyển mộ nhân sự.
3 Deloitte’s fifth annual Global Human Capital Trends report and survey, 2017
166
Xu hướng 4. Trải nghiệm của nhân viên: văn hóa, sự gắn kết và hơn thế nữa.
Văn hóa doanh nghiệp và sự gắn kết là các yếu tố tạo nên trải nghiệm của nhân viên ở
công ty. Đã qua rồi cái thời nhân viên đơn thuần chỉ là người làm công ăn lương, giờ
đây, nhân viên cũng chính là một đối tác của doanh nghiệp
Xu hướng 5. Quản lý hiệu quả công việc có vai trò chủ đạo. Khoảng 5 năm
trước, các công ty đã thử nghiệm những hướng tiếp cận mới trong quản trị hiệu quả
làm việc. Hiện nay, nhiều công ty đang giảm sự tập trung vào việc thẩm định, thay vào
đó là chú trọng đào tạo và lắng nghe phản hồi liên tục, triển khai những khuôn mẫu
làm việc mới trên quy mô lớn hơn. Hướng tiếp cận mới đến việc quản trị hiệu suất làm
việc đã góp phần tăng hiệu suất và thay đổi văn hóa tổ chức
Xu hướng 6. Ranh giới giữa lãnh đạo và nhân viên đã xóa nhòa. Khi các mô
hình tổ chức số hóa nổi lên, sự lãnh đạo cũng dần thay đổi. Ngày nay, các tổ chức đòi
hỏi sự năng động, đa dạng, và cần những nhà lãnh đạo trẻ hoặc những mô hình lãnh
đạo mới, không có ranh giới thang bậc và đơn giản hóa các thủ tục, nhằm bắt kịp “con
đường số hóa” để tăng tốc doanh nghiệp. Nhiều công ty đã xóa nhòa biên giới của
những cấp bậc quản lý truyền thống, trao quyền cho nhân viên nhiều hơn để tạo được
những hạt giống lãnh đạo mới thúc đẩy được tổ chức thay đổi phù hợp với kỷ nguyên
số.
Xu hướng 7. Quản trị nhân sự số bao trùm nền tảng công nghệ, con người và
công việc. Khi cả doanh nghiệp tiến tới kỹ thuật số, quản trị nhân sự phải trở thành
người dẫn đầu trong tổ chức số hóa ấy. Nghĩa là vượt ra khỏi những khuôn khổ truyền
thống để phát triển nguồn nhân lực thế hệ mới trong không gian làm việc kỹ thuật số,
áp dụng công nghệ để thay đổi cách mà chúng ta làm việc và liên kết với nhau trong
công việc. Ngày nay những nền tảng mới và sự đa dạng của các công cụ đã giúp ích
cho việc xây dựng các tổ chức và nguồn nhân lực thế hệ mới.
Xu hướng 8. Phân tích nhân sự để ra quyết định phù hợp. Dữ liệu về con người
trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt trong quá trình ra quyết định và thực hiện
công việc. Trước đây, chỉ có các chuyên viên dữ liệu mới thực hiện việc phân tích,
nhưng hiện tại, việc này chính là chìa khóa hỗ trợ mọi thứ từ vận hành, quản lý cho
đến thu hút nhân tài và các hoạt động tài chính. Do vậy, bộ phận quản trị nhân sự
không những thành thạo về kỹ thuật phân tích mà còn phải làm chủ các nội dung
chuyên môn để đưa ra được báo cáo phù hợp với nhu cầu thông tin phục vụ ra quyết
định của các cấp. Tuy nhiên, việc sẵn sàng tận dụng các số liệu phân tích con người
vẫn còn là một thách thức ở mọi doanh nghiệp tại Việt Nam.
167
Xu hướng 9. Đa dạng và hội nhập các thành phần xã hội vẫn chưa thành hiện
thực. Sự công bằng, tính hợp lý và sự hòa nhập nhân viên thuộc các thành phần xã hội
là những vấn đề thuộc tầm CEO ở các doanh nghiệp khắp thế giới. Các nhà điều hành
không thể rũ bỏ những chiến lược đa dạng hóa, tức là sử dụng nhân lực không phân
biệt giới tính, độ tuổi, sắc tộc, tôn giáo, tình trạng sức khỏe (sử dụng cả người khuyết
tật), địa lý. Tuy nhiên, những nỗ lực tuyển dụng, đào tạo và sử dụng nhân lực có đặc
điểm mà doanh nghiệp kỳ vọng vẫn tạo nên sự kỳ thị không có chủ ý trong cộng đồng
doanh nghiệp. Từ đó, vấn đề về sự đa dạng và hòa nhập các thành phần xã hội tiếp tục
là một thách thức khiến nhiều tổ chức nản lòng.
Xu hướng 10. Tương lai của việc làm: lực lượng lao động được phân hóa.
Robot, AI, máy tính từ lâu đã trở thành xu hướng ứng dụng chủ đạo trong nền kinh tế
mở. Các công ty giờ đây không chỉ sử dụng các lao động cố định mà còn hợp tác với
những lao động tự do (freelancer) trong nền kinh tế thời vụ. Công nghệ cũng giúp cho
kinh tế chia sẻ (sharing economy) được phát triển và lực lượng lao động từ đó phân
hóa rõ nét giữa nhân sự cơ hữu và nhân sự thời vụ của doanh nghiệp, tạo nên những
thông lệ sử dụng đa dạng giúp cho hiệu quả của doanh nghiệp được gia tăng, đồng thời
các công việc sẽ được thiết kế lại.
5. Một số giải pháp và khuyến nghị trong quản trị nguồn nhân lực 4.0
Ứng dụng công nghệ trong trị nguồn nhân lực
Những ứng dụng thông minh giúp cho Quản trị nhân sự khẳng định vai trò chiến
lược trong doanh nghiệp – mô tả một số công cụ giúp cho người làm nghiệp vụ HR gia
tăng hiệu suất, nhà quản trị nguồn nhân lực và quản trị doanh nghiệp nắm bắt thông tin
kịp thời, có đủ nguồn lực để ra quyết định cho các định hướng chiến lược.
Ban đầu, ngành Quản trị nhân sự coi một phần mềm nhân sự là ứng dụng công
nghệ tiên tiến nhất. Tuy nhiên, với thực tế vận hành các hoạt động quản trị nhân sự
mang nặng tính hành chính, các phần mềm được phát triển thời gian trước những năm
2000 cũng chỉ đáp ứng được nhu cầu thao tác nghiệp vụ và không đưa ra được các báo
cáo quản trị cần thiết cho các quyết định chiến lược. Phân tích nhu cầu đào tạo, hiệu
quả tuyển dụng và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực chưa bao giờ được phản ánh
trong các tính năng của phần mềm thời gian đó.
Sau năm 2000, các doanh nghiệp có xu hướng phản ánh hoạt động trên một hệ
thống hợp nhất tạm gọi là ERP, tức là quản trị nhân sự được khởi tạo như một cấu
phần của phần mềm quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, có ba lý do chính khiến cho các
phần mềm ERP hiếm khi có cấu phần quản trị nhân sự (HRM) đáp ứng được nhu cầu
quản lý, bao gồm:
168
- Bản thân doanh nghiệp chưa có được mức độ phát triển cao của nghiệp vụ
quản trị nguồn nhân lực. Khái niệm về các phân tích nhân sự, nghiên cứu xu hướng và
ra quyết định chính sách như một chức năng chiến lược của quản trị nhân sự vẫn chưa
tồn tại trong nhận thức của các nhà điều hành cấp cao. Họ chưa đặt ra đầu bài này cho
bộ phận quản trị nhân sự. Bản thân những người làm quản trị nhân sự do không được
tiếp cận với hoạt động bài bản, có kiến thức nền tảng về quản trị doanh nghiệp và quản
trị nhân sự tốt, nên không thể chủ động đưa ra những báo cáo có giá trị quản lý để thay
đổi quan niệm của nhà lãnh đạo cấp cao.
- Số đông doanh nghiệp chưa áp dụng phương pháp quản trị nhân sự hiện đại,
một phần do thiếu người thực hiện, một phần do ưu tiên đầu tư vào hệ thống sản xuất
kinh doanh đã tiêu tốn nhiều thời gian và nỗ lực của doanh nghiệp, một phần khác do
chất lượng của thực thi phương pháp bị phụ thuộc vào trình độ của nhà quản lý – vốn
là những người giỏi chuyên môn, quản lý thành thạo kỹ thuật hơn là quản lý con
người.
- Các nhà phát triển phần mềm còn thiếu rất nhiều kiến thức thực tế về vận hành
chức năng quản trị nhân sự. Họ chưa tư vấn được cho doanh nghiệp hoàn thiện các
luồng công việc của quản trị nhân sự trong quá trình thực hiện phân tích nghiệp vụ
(business analysis – BA), một phần cũng do bản thân họ chưa được tiếp xúc với hệ
thống quản trị hiện đại
Một vấn đề mà chúng ta cần lưu ý là các phần mềm nhân sự trước đây là thiếu
sự tích hợp với các phần mềm quản lý chức năng lõi (CRM, DMS, quản lý sản xuất
hoặc cả ERP) dẫn đến việc dữ liệu nhân sự chạy độc lập và thiếu thông tin về kết quả,
hiệu suất của nhân viên từ các hệ thống phần mềm kia. Rất nhiều phần mềm nhân sự
mới chỉ tập trung vào chức năng hồ sơ nhân sự. Xu hướng sử dụng nhiều phần mềm
quản lý chức năng khác nhau để tận dụng tối đa khả năng của từng phần mềm đang nổi
lên mạnh mẽ, đòi hỏi có sự tích hợp giữa phần mềm nhân sự với các phần mềm khác.
Lấy ví dụ như KPI, ở rất nhiều công ty được giao cho Phòng nhân sự quản lý. Vì
lẽ đó, nhiều người coi KPI là một phần của phần mềm quản lý nhân sự. Tuy nhiên, nếu
hiểu cho đúng, KPI phải được quản lý ở các phần mềm như:
- Phần mềm quản lý chức năng lõi: CRM, DMS, Quản lý sản xuất, Quản lý dự
án… là đầu mối phát sinh dữ liệu về KPI của công ty, bộ phận và cá nhân
- Phần mềm KPI: là phần mềm giúp đặt thiết kế bản đồ chiến lược, đặt chỉ tiêu,
tính toán các chỉ tiêu KPI dựa trên dữ liệu từ các phần mềm lõi cung cấp
169
- Phần mềm nhân sự: Sử dụng kết quả đánh giá KPI cá nhân hoặc bộ phận từ
phần mềm KPI, phục vụ cho công tác tính lương, đánh giá nhân sự, quản lý thăng
tiến…
Sau này, khi các ứng dụng đa dạng trên nền tảng công nghệ mở, internet vạn vật
và khả năng tích hợp cao được đưa vào quản trị nhân sự, nhiều doanh nghiệp đã chớp
thời cơ để số hóa nhanh chóng các hoạt động quản trị nguồn nhân lực của mình. Tuy
nhiên, để ứng dụng thành công việc số hóa quản trị nguồn nhân lực, doanh nghiệp cần
chú ý đến những điều kiện sau đây:
- Có sự lãnh đạo cho định hướng ứng dụng hệ thống thông tin quản lý trong
doanh nghiệp. Bất cứ sự thay đổi nào cũng đòi hỏi một nỗ lực quản lý thay đổi. Do đó,
việc tìm người có khả năng thực thi vai trò nêu trên đóng vai trò rất quan trọng.
- Cần có các phân tích chỉ tiêu định lượng ban đầu liên quan tới mục tiêu đầu tư
và ước lượng giá trị mang lại. Chi phí đầu tư cho hệ thống phải tương xứng với giá trị
mang lại cho các nhà quản lý cấp trung và cấp cao.
- Chọn thời điểm đầu tư thích hợp. Khi hệ thống quản lý chưa được chuẩn hóa,
các nghiệp vụ thực hiện chưa logic và đúng chuẩn nghề nghiệp, luồng công việc chưa
tạo nên một dòng chảy hợp lý, thì việc áp dụng phần mềm là không khả thi. Một số
doanh nghiệp hy vọng rằng phần mềm sẽ giúp tự chuẩn hóa được các quy trình công
việc đã cố gắng đầu tư nhưng thường thất bại trong việc xây dựng một quy trình khiên
cưỡng không phù hợp với mô hình quản trị và văn hóa ra quyết định của mình. Do
vậy, cần bảo đảm chuẩn hóa được hệ thống trước khi thực hiện đầu tư phần mềm.
- Nâng cao kỹ năng xử lý thông tin của nhà quản lý cấp cao và quản trị nhân sự.
Họ cần được đào tạo để có khả năng sử dụng thành thạo các mô hình thống kê và phân
tích dữ liệu, chỉ số hiệu quả quản trị nhân sự, do vậy khi được cung cấp dữ liệu và
thông tin, họ sẽ biết sử dụng ra sao và để làm gì.
- Tìm kiếm được phần mềm phù hợp. Các phần mềm cung cấp hiện nay trên thị
trường chưa hoàn toàn đáp ứng được kỳ vọng của các nhà quản lý về hiệu suất hóa xử
lý nghiệp vụ, tăng tính tức thời và chính xác của các thông tin phục vụ ra quyết định.
Do vậy, doanh nghiệp cần cân nhắc tới khả năng tùy chỉnh phần mềm của nhà cung
cấp để phù hợp với mô hình vận hành công việc của mình.
Một số ứng dụng khác có thể được xem xét sử dụng như một công cụ có thể tích
hợp kết quả hoặc liên kết sử dụng vào các hệ thống phần mềm riêng của doanh nghiệp
như sau
- Mạng xã hội Linked-in, Facebook được sử dụng như một nguồn thông tin ứng
viên và đánh giá năng lực sơ bộ của ứng viên trong tuyển dụng
170
- Các nguồn học liệu mở được tải lên Youtube có thể được sử dụng như một
nguồn học liệu cho doanh nghiệp trong các chương trình đào tạo
- Các công cụ khảo sát trực tuyến như Google Docs, Monkey Survey giúp lấy ý
kiến đánh giá hoặc phản hồi của các đối tượng trong doanh nghiệp, với kết quả được
lưu trữ tại phần mềm của doanh nghiệp nhằm theo dõi được lịch sử các hoạt động và
kết quả của khảo sát ý kiến
- Các ứng dụng quản lý công việc theo nhóm như Workplace by Facebook,
DigiiTask giúp theo dõi giao việc, thực hiện công việc và thúc đẩy hoàn thành kết quả
của nhóm.
Khuyến nghị đối với các doanh nghiệp
Lịch sử ngành quản trị nhân sự chứng kiến sự thay đổi vượt trội của hoạt động
quản trị nhân sự tại doanh nghiệp trong hơn 40 năm gần đây, khi bộ phận quản trị nhân
sự từ vai trò thực thi các thủ tục hành chính đã trở thành một bộ phận xây dựng và thực
thi chiến lược nhờ thay đổi kép ở hai lĩnh vực:
- Phương thức quản trị con người được tối ưu hóa cùng với sự gia tăng về kiến
thức, kỹ năng của bộ phận quản trị nhân sự và quan điểm quản trị của lãnh đạo cấp
cao;
- Nền tảng công nghệ và các ứng dụng thông minh cung cấp cho doanh nghiệp
một công cụ tốt giúp cho công tác quản trị nguồn nhân lực được tăng cường hiệu suất
và gia tăng giá trị quản lý.
Hai thay đổi này đồng thời xảy ra như một xu hướng không thể đảo ngược đã
tạo nên cơ hội để bộ phận quản trị nhân sự được sắm vai chiến lược và dài hạn hơn
trong doanh nghiệp. HR4.0 đã hiện hữu tại Việt Nam và mở ra một tương lai phát triển
mạnh mẽ cho đào tạo và phát triển nhân lực của ngành quản trị nguồn nhân lực, cũng
đồng thời đặt ra một thách thức lớn đối với các trường đào tạo và dạy nghề đáp ứng
được chất lượng nhân sự mà doanh nghiệp đòi hỏi đối với ngành này.
Các chương trình đào tạo nhân lực ngành quản trị nhân sự cần xây dựng theo
hướng đáp ứng khung năng lực của cán bộ quản trị nhân sự mà Liên hiệp Quản trị
Nhân sự Thế giới (WFPMA) đưa ra. Khung nội dung đào tạo cần ít nhất có hai mảng
chính:
- Các nội dung chuyên sâu về đầy đủ 11 mảng nghiệp vụ quản trị nhân sự mà
các doanh nghiệp đang thực hiện, với các lý thuyết, công cụ và kỹ năng chuyên môn
để tạo ra kết quả đầu ra thông dụng nhất cho tổ chức và doanh nghiệp;
171
- Các kỹ năng mềm (giao tiếp thuyết phục, giải quyết vấn đề, phân tích và tổng
hợp sử dụng công nghệ, quản lý thông tin) và tâm thế song hành cũng kinh doanh,
phục vụ nội bộ.
Đây là thách thức lớn đối với người xây dựng chương trình đào tạo, thực hiện
đào tạo và khảo thí, bởi chúng ta còn thiếu nhiều giảng viên có kinh nghiệm thực tế và
thường xuyên được tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp để trải nghiệm được các
thực hành tốt và giải pháp quản trị thực tế. Thách thức đó cũng gợi ý tới một cách làm
mà các cơ sở giáo dục và đào tạo thế giới đã thực hiện, là gửi giảng viên đi làm việc tại
tổ chức và doanh nghiệp, hoặc mời nhân sự làm việc tại tổ chức và doanh nghiệp làm
giảng viên thỉnh giảng, ký các chương trình hợp tác lâu dài với doanh nghiệp để tạo hệ
thống tiếp nhận sinh viên thực tập một cách bài bản, có mục tiêu và tiêu chuẩn thực
hiện thực tập để đánh giá được chất lượng thực tập./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Đại học Hải Phòng (2017), Kỷ yếu hội thảo: Nâng cao năng lực quản lý kinh tế và
quản trị kinh doanh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
Trần Hồng Quang và Nguyễn Hồng Hà (2016), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và
dự báo tác động đến nền kinh tế Việt Nam, Tạp chí kinh tế và dự báo, Số 10-2016.
Trần Phương (2017), Tự động hóa không diễn ra ồ ạt. Báo Tuổi trẻ. Số 178/2017.
Klaus Schwab (2016). The fourth industrial revolution. Dịch giả: Đồng Bích Ngọc và
Trần Thị Mỹ Anh
Tiếng Anh
Deloitte’s fifth annual Global Human Capital Trends report and survey, 2017
172
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến công tác quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tac_dong_cua_cach_mang_cong_nghiep_4_0_den_cong_tac_quan_ly.pdf

