Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng

Vietnam J. Agri. Sci. 2021, Vol. 19, No. 8: 1103-1114  
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19(8): 1103-1114  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP MAY  
TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG  
Nguyễn Văn Phương1*, Lý Thu Cúc2,3, Trần Hữu Cường1  
1Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
2Khoa Kinh tế, Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội  
3Khoa Quản trị doanh nghiệp, Học viện Khoa học Xã hội  
*Tác giả liên hệ: [email protected].vn  
Ngày nhận bài: 30.12.2020  
Ngày chấp nhận đăng: 01.06.2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng  
Đồng bằng sông Hồng. Nghiên cứu áp dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter làm cơ sở để phân tích. Bằng  
việc kế thừa từ các nghiên cứu trước đó và kết quả thảo luận nhóm, tác giả đã xây dựng các thanh đo phục vụ cho  
việc tiến hành phân tích nhân tố. Số liệu được thu thập thông qua khảo sát các nhà quản lý doanh nghiệp may tại  
các tỉnh đồng bằng sông Hồng với tổng số phiếu đạt yêu cầu là 201 phiếu. Kết quả phân tích cho thấy 4/5 nhân tố có  
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng Đồng bằng sông Hồng. Đó là yếu tố Nhà cung cấp,  
“Khách hàng, Rào cản gia nhập” và Mức độ cạnh tranh. Trong đó, yếu tố khách hàng có ý nghĩa quan trọng nhất đối  
với Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may vùng Đồng bằng sông Hồng.  
Từ khóa: Năng lực cạnh tranh, đồng bằng sông Hồng, doanh nghiệp may, mô hình cạnh tranh.  
Factors Affecting the Competitiveness of Garment Enterprises  
in the Red River Delta region, Vietnam  
ABSTRACT  
The objective of this study was to identify the factors that affected the competitiveness of garment firms in the  
Red River Delta region. To achieve this, the study applied the Porter’s five forces as the framework for analysis. By  
using the previous studies and group-discussion results, the authors have built the metrics to serve the factor  
analysis. The data were collected through the survey of garment business managers in the Red River Delta  
provinces with a total of 201 samples. The analysis results showed that 4/5 factors affected the competitiveness of  
garment enterprises in the Red River Delta region. These are Suppliers, Customers, Potential of new entrants into  
the industry and Competition in the industry. In which the factor “Customers” is the most important factor for the  
competitiveness of garment enterprises in the Red River Delta.  
Keywords: Competitiveness, Red river delta, garment enterprise, competitiveness model.  
may dự kiến đạt 35,27 tỷ USD, giảm 3,6 tỷ USD  
so với năm 2019, tương đương -9,29%, thấp hơn  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
nhiều các quốc gia khác, đặc biệt trong bối cảnh  
tổng cầu dệt may thế giới giảm 25%. Theo Hiệp  
hội Dệt may Việt Nam (VITAS), kết quả này dù  
khiêm tốn nhưng là nỗ lực đáng ghi nhận của  
ngành dệt may khi phấn đấu vượt qua nhiều  
khó khăn, thách thức, nhanh chóng thích nghi  
với hoàn cảnh, kịp thời chuyển đổi cơ cấu mặt  
hàng, đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định cho  
May mặc được coi là ngành chủ lực, giữ vai  
trò chiến lược cho sự phát triển công nghiệp hóa  
- hiện đại hóa của các địa phương trong cả nước.  
Hiện nay, dệt may Việt Nam giữ một vị trí quan  
trọng trên thị trường dệt may thế giới (nằm  
trong top 5 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất  
thế giới). Năm 2020, do tác động tiêu cực của  
dịch Covid-19, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt  
1103  
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng  
hàng triệu người lao động (Nguyễn Quỳnh,  
2020). Với vị thế như vậy nhưng ngành dệt may  
có năng lực còn thấp, biểu hiện cụ thể là năng  
lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may Việt  
Nam còn yếu so với doanh nghiệp dệt may của  
các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong  
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đặc  
biệt là các hiệp định thương mại như Hiệp định  
đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), hiệp  
định tự do thương mại Việt Nam - EU (EVFTA)  
được ký kết dự báo sẽ đem lại cho ngành dệt  
may Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng không  
ít thách thức.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Tổng quan về khung lý thuyết  
Trên thực tế, có nhiều nhà khoa học trong  
và ngoài nước đã sử dụng các mô hình trong  
phân tích năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.  
Tác giả Aldington Report (1985) cho rằng doanh  
nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt khi nó có thể  
sản xuất sản phẩm, dịch vụ có chất lượng với  
giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Hamel &  
Prahalad (1990) khi nghiên cứu về năng lực  
cạnh tranh của doanh nghiệp đã nhấn mạnh  
tầm quan trọng của các yếu tố thuộc về năng lực  
nội sinh của doanh nghiệp. Đó là: (1) Chiến lược  
kinh doanh của doanh nghiệp; (2) Các cấu trúc,  
năng lực, khả năng sáng tạo; (3) Các nguồn lực  
vô hình và hữu hình. Các tác giả đã chỉ ra rằng  
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là  
khả năng phát triển và tận dụng tốt các nguồn  
lực của mình hơn đối thủ cạnh tranh, tức là cần  
dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp. Cũng theo  
quan điểm này, Markusen (1992) đã khẳng  
định: “một nhà sản xuất có tính cạnh tranh nếu  
như nó có một mức chi phí đơn vị trung bình  
bằng hoặc thấp hơn chi phí đơn vị của các nhà  
cạnh tranh quốc tế”. Còn D’Cruz & Rugman  
(1992) thì cho rằng: năng lực cạnh tranh của  
một doanh nghiệp là khả năng thiết kế, sản  
xuất cung cấp sản phẩm ra thị trường với giá cả  
và chất lượng vượt trội. Từ đó cho thấy việc  
phân tích năng lực cạnh tranh doanh nghiệp  
trên thế giới có thể dựa trên nhiều góc độ khác  
nhau tùy thuộc vào quan điểm và mức độ quan  
tâm của nhà nghiên cứu.  
Căn cứ hiện trạng phân bố ngành dệt may  
Việt Nam theo vùng lãnh thổ, Đồng bằng sông  
Hồng (ĐBSH) thuộc vùng 2 với số lượng doanh  
nghiệp, cơ sở sản xuất hàng dệt may 2.070 đơn  
vị, chiếm 26,06% so với toàn ngành, chiếm vị trí  
thứ 2 trên cả nước (sau vùng Đông Nam Bộ).  
Trong đó, ngành may mặc có 1.157 doanh  
nghiệp chiếm 14,57% so với toàn ngành (Tổng  
cục Thống kê, 2020). May mặc được coi là ngành  
chủ lực, giữ vai trò chiến lược cho sự phát triển  
công nghiệp hóa - hiện đại hóa của các địa  
phương trong vùng góp phần thực hiện mục tiêu  
xây dựng vùng ĐBSH thực sự là địa bàn tiên  
phong của cả nước thực hiện các “đột phá chiến  
lược”, tái cấu trúc kinh tế, đổi mới thành công  
mô hình tăng trưởng, trở thành đầu tàu của cả  
nước về phát triển kinh tế (Chính phủ, 2013).  
Trước thực tế hiện nay các doanh nghiệp may  
đang chịu sức ép rất lớn của vấn đề cạnh tranh  
toàn cầu. Trong khi năng lực cạnh tranh của các  
doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh  
nghiệp may ở ĐBSH nói riêng còn nhiều hạn  
chế. Khi hội nhập quốc tế, buộc các doanh  
nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của  
mình thì mới đủ sức tồn tại và khẳng định vị  
thế trên thị trường trong nước cũng như thị  
trường quốc tế. Do vậy, việc nâng cao năng lực  
cạnh tranh của các doanh nghiệp may trên địa  
bàn các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH trở nên cấp  
thiết hơn bao giờ hết. Mục tiêu của nghiên cứu  
này là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng  
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may  
vùng ĐBSH sử dụng mô hình 5 áp lực cạnh  
tranh của Micheal Porter (1980).  
Tại Việt Nam, Nguyen Truong Son & Vo  
Thi Quynh Nga (2014) đã sử dụng mô hình về  
năng lực cạnh tranh dựa trên việc phân tích kỹ  
lưỡng các đặc trưng của ngành may mô phỏng  
theo mô hình Kim cương của Michael Porter để  
phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng  
cạnh tranh của các doanh nghiệp may. Trong  
khi Nguyễn Thành Long (2014) phân tích mô  
hình năm áp lực cạnh tranh của Micheal Porter  
để phân tích năng lực cạnh tranh của ngàn da  
giày khi Việt Nam gia nhập hiệp định TPP (sau  
này là CPTPP).  
Micheal Porter (1980), nhà hoạch định  
chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện  
1104  
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường  
nay, trong nghiên cứu về chiến lược cạnh tranh  
đã cho rằng sự thành công bền vững của một  
doanh nghiệp sẽ không được đảm bảo lâu dài  
nếu doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục  
tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm. Do  
đó, việc xây dựng một lợi thế cạnh tranh bền  
vững (Sustainable Competitive Advantage) là  
điều vô cùng quan trọng. Điểm trọng tâm trong  
lý thuyết cạnh tranh của Micheal Porter đó là  
mô hình 5 áp lực cạnh tranh.  
Theo hình 1, Michael Porter (1980)đã chỉ ra  
5 lực lượng cạnh tranh của doanh nghiệp đó là:  
(1) Các đối thủ cạnh tranh trong ngành; (2) Nhà  
cung ứng; (3) Khách hàng; (4) Sản phẩm thay  
thế; (5) Các đối thủ tiềm năng. Mô hình này  
được sử dụng phổ biến trong giảng dạy và  
nghiên cứu về năng lực cạnh tranh doanh  
nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và có thể  
sử dụng để phân tích năng lực cạnh tranh với  
các doanh nghiệp Việt Nam.  
Các đối thủ tiềm năng  
Nguy cơ của người  
mới nhập cuộc  
Quyền thương lượng  
của Nhà cung ứng  
Các đối thủ cạnh tranh  
trong ngành  
Các đối thủ cạnh tranh  
hiện tại  
Nhà cung ứng  
Khách hàng  
Quyền thương lượng  
của người mua  
Nguy cơ từ các sản  
phẩm thay thế  
Sản phẩm thay thế  
Nguồn: Michael Porter (1980).  
Hình 1. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter  
Nhà cung cấp  
Khách hàng  
Năng lực cạnh tranh  
doanh nghiệp may  
vùng đồng bằng sông Hồng  
Nguy cơ thay thế  
Mức độ cạnh tranh  
Rào cản gia nhập  
Hình 2. Mô hình phân tích  
1105  
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng  
NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP MAY  
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG  
Cơ sở lý thuyết  
Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter  
Nghiên cứu định tính  
Thảo luận nhóm với các nhà khoa học và những người  
làm công tác quản lý trong doanh nghiệp may  
Khảo sát doanh nghiệp  
Gồm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn nghiên cứu thăm dò nhằm  
xây dựng bộ công cụ nghiên cứu; (2) Giai đoạn điều tra  
thử; (3) Giai đoạn điều tra chính thức.  
Mô hình nghiên cứu  
- Mô hình thang đo  
- Mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực  
cạnh tranh doanh nghiệp may vùng Đồng bằng sông Hồng  
Nghiên cứu định lượng  
- Đánh giá sơ bộ thang đo (Cronbach alpha và EFA)  
- Phân tích hồi quy đa biến  
Hình 3. Các bước trong quá trình nghiên cứu  
Bước l: Dựa trên cơ sở mô hình 5 lực lượng  
2.2. Mô hình và quy trình nghiên cứu  
cạnh tranh của Micheal Porter, tác giả sử dụng  
phương pháp định tính để tham vấn các  
chuyên gia trong ngành và thảo luận nhóm với  
các nhà khoa học; các cán bộ quản lý doanh  
nghiệp may nhằm lựa chọn ra các biến và  
nhóm biến quan sát.  
Trên cơ sở khung lý thuyết của Michael  
Porter kết hợp với sự tham vấn của các đồng  
nghiệp, các nhà khoa học và chuyên gia trong  
các doanh nghiệp may mặc tác giả đã đề xuất  
mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến  
năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may vùng  
ĐBSH như hình 2.  
Bước 2: Nghiên cứu định tính. Thảo luận  
nhóm với 2 nhóm, mỗi nhóm 5 người, bao gồm  
các nhà khoa học và những người làm công tác  
quản lý trong doanh nghiệp may.  
- Những giả thuyết nghiên cứu là các nhân  
tố sau có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh  
của doanh nghiệp may vùng ĐBSH: (H1) Nhà  
cung cấp; (H2) Khách hàng; (H3) Nguy cơ thay  
thế; (H4) Mức độ cạnh tranh và (H5) Rào cản  
gia nhập ngành.  
Bước 3: Khảo sát doanh nghiệp. Thiết kế  
bảng hỏi với thang đo 5 cấp độ (1: là rất không  
đồng ý; 5: là rất đồng ý). Phương pháp chọn mẫu  
ngẫu nhiên để phỏng vấn từ danh sách các các  
doanh nghiệp do Tập đoàn Dệt may cung cấp  
Tác giả thực hiện nghiên cứu này qua các  
bước sau:  
1106  
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường  
(2019). Trong đó, cỡ mẫu được xác định theo  
nghiên cứu của Hair & cs. (1998), kích thước  
mẫu tối thiểu sử dụng trong phân tích nhân tố  
khám phá (EFA) là gấp 5 lần tổng số biến quan  
sát (n = 5*m, trong đó m là số biến quan sát).  
Với mô hình phân tích, tác giả đề xuất 5 nhân tố  
với tổng số 24 biến thì số mẫu tối thiểu là 120.  
Để đảm bảo số mẫu thu về đáp ứng yêu cầu,  
nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại 257  
doanh nghiệp trên địa bàn và thu về được 201  
phiếu có thể sử dụng được, do nhiều doanh  
nghiệp không phỏng vấn được hết hoặc câu trả  
lời thiếu tin cậy nên cần loại bỏ một số phiếu  
còn lại.  
đồng. Nhờ phương pháp này mà các biến quan  
sát được nhận diện thành một số lượng biến  
tương đối ít và không có tương quan với nhau để  
thay thế tập hợp biến ban đầu và có tương quan  
với nhau để thực hiện các phần tiếp theo. Phân  
tích nhân tố khám phá sẽ cho thấy được các  
thang đo trên có tách ra từ những nhân tố mới  
hay không? Điều này sẽ giúp đánh giá chính xác  
hơn những thang đo, loại bỏ các biến đo lường  
không đạt yêu cầu và đảm bảo thang đo có tính  
đồng nhất.  
2.4.3. Ước lượng phương trình hồi quy  
Sau khi thang đo của các yếu tố khảo sát đã  
được kiểm định, các yếu tố tiếp tục đưa vào hàm  
hồi quy tuyến tính bằng phương pháp bình  
phương nhỏ nhất (OLS) phương pháp đưa biến  
vào là phương pháp Enter. Mô hình nghiên cứu  
ước lượng có dạng như sau:  
Bước 4: Xây dựng mô hình nghiên cứu. Số  
liệu khảo sát được nhập liệu và sử dụng hệ số  
Cronbach's Alpha kiểm định thang đo.  
Bước 5: Phân tích nhân tố khám phá (EFA  
Exploratory Factor Analysis) để thu nhỏ và tóm  
tắt các dữ liệu; phân tích hồi quy đa biến.  
Y = 0 + 1X1 +...+ iXi +... + BkXk + Ui  
(mô hình có k biến độc lập)  
Trong đó:  
2.3. Xử lý số liệu  
Y: biến phụ thuộc;  
0: hệ số chặn;  
Xi: biến độc lập;  
Số liệu được nhập, phân tổ và xử lý  
trên phần mềm Excel 2010 kết hợp với phần  
mềm SPSS.  
Bi: các hệ số góc - phản ánh mức độ ảnh  
hưởng của biến Xi lên biến phụ thuộc Y;  
2.4. Phân tích số liệu  
Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích số  
liệu có sử dụng phân tích định lượng, tác giả  
tiến hành cụ thể như sau:  
Ui là phần sai số hay còn gọi là nhiễu, là  
phần biến thiên của biến phụ thuộc Y chịu ảnh  
hưởng ngoài các biến Xi đưa vào mô hình.  
2.4.1. Kiểm định sự tin cậy của thang đo  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Độ tin cậy của thang đo được đánh giá qua  
hệ số Cronbach’s Alpha. Sử dụng phương pháp  
hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trước khi phân  
tích nhân tố EFA để loại các biến không phù  
hợp vì các biến rác này có thể tạo ra các yếu tố  
giả (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai  
Trang, 2009). Việc tính toán hệ số tương quan  
giữa biến - tổng sẽ giúp loại ra những biến quan  
sát nào không đóng góp nhiều cho sự mô tả của  
khái niệm cần đo (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn  
Mộng Ngọc, 2005).  
3.1. Đặc điểm các doanh nghiệp khảo sát  
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể  
hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử  
dụng hiệu quả nguồn vốn huy động… Việc sử  
dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp  
tiết kiệm chi phí sử dụng vốn. Ngoài ra, năng  
lực tài chính thể hiện ở “vốn” của doanh nghiệp  
còn thể hiện sức mạnh kinh tế của doanh  
nghiệp, thể hiện chỗ đứng của doanh nghiệp  
trên thương trường.  
2.4.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Độ tuổi của người lao động tại các doanh  
nghiệp may vùng ĐBSH được phân bổ không  
đồng đều. Tỉ lệ lao động trẻ dưới 35 tuổi chiếm  
Các biến quan sát được phân thành các  
nhóm dựa trên cơ sở chúng có đặc tính ương  
1107  
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng  
đa số (gần 70%) trong khi lao động trên 45 tuổi  
chỉ chiếm phần nhỏ (8-10%). Đây cũng là tính  
chất đặc thù của công việc, vì may đòi hỏi nhanh  
nhẹn, khéo tay, mắt tinh do đó tuổi trên 40 có  
thể đã được coi là chậm chạp, vì vậy tỉ lệ trên  
phản ánh đúng thực trạng về cơ cấu độ tuổi của  
công nhân tại các doanh nghiệp may.  
doanh nghiệp chỉ ra như tỉ lệ nghỉ do sinh đẻ,  
nghỉ do lập gia đình, nghỉ do chuyển sang các  
doanh nghiệp khác ngoài ngành dệt may tại các  
khu công nghiệp và nghỉ do chuyển sang các  
doanh nghiệp dệt may khác ngoài phạm vi  
vùng ĐBSH.  
3.2. Kết quả phân tích mô hình  
3.2.1. Kết quả kiểm định thang đo  
Tỉ lệ lao động là công nhân kỹ thuật tại các  
doanh nghiệp may có trình độ phổ thông chiếm  
khá cao (quanh mức 90%) tỉ lệ này cao hơn các  
ngành còn lại. Đây cũng có lẽ do đặc thù công  
việc, trong từng công đoạn của may công  
nghiệp chỉ cần công nhân thao tác đơn giản và  
một chút kỹ năng là có thể tham gia vào dây  
chuyền sản xuất. Tuy vậy số lượng lớn công  
nhân chỉ có trình độ lao động phổ thông cũng  
là điều bất lợi, bởi việc đào tạo chuyển giao kỹ  
thuật thường gặp nhiều khó khăn. Việc nhận  
thức không cao cũng dẫn đến nhiều hệ lụy cho  
doanh nghiệp như nghỉ việc, thiếu tuân thủ kỷ  
luật lao động.  
Để kiểm định sự tin cậy của thang đo các  
nhân tố này ta sử dụng hệ số Cronbach Alpha  
() để đo lường mức độ tin cậy tổng hợp  
(Suanders & cs., 2007) và hệ số tương quan  
biến tổng để xem xét mối quan hệ giữa các chỉ  
số trong từng nhân tố (Lê Văn Huy, 2012).  
Tiêu chuẩn đánh giá một thang đo tin cậy  
trong nghiên cứu là hệ số Cronbach Alpha tối  
thiểu bằng 0,6 (Hair & cs., 2006), hệ số tương  
quan biến tổng tối thiểu bằng 0,3 (Nunally &  
Burstein, 1994). Kết quả kiểm định sự tin cậy  
của thang đo từ dữ liệu được thể hiện ở bảng 3.  
Mặc dù lao động nữ có xu thế giảm đều theo  
các năm (từ 2011 đến nay), nhưng lao động nữ  
vẫn chiếm ưu thế áp đảo so với nam giới tại các  
doanh nghiệp may vùng ĐBSH (chiếm xấp xỉ  
70% tổng số lao động). Đây là nguồn lực được bố  
trí trong hầu hết các khâu trong sản xuất. Việc  
giảm số lao động nữ tại các doanh nghiệp may  
vùng ĐBSH có nhiều nguyên nhân đã được các  
Bảng 3 cho thấy, các hệ số tương quan biến  
tổng của các biến đo lường thành phần này là  
đều > 0,3 (lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là 0,3).  
Bên cạnh đó, hệ số Alpha nếu loại bỏ biến của  
các biến đều nhỏ hơn hệ số Cronbach Alpha nên  
các biến đo lường thành phần này đều được sử  
dụng trong các phân tích tiếp theo.  
Bảng 1. Tình hình nguồn vốn của các doanh nghiệp may  
điều tra tại vùng ĐBSH năm 2020  
Số lượng  
(Doanh nghiệp)  
Tổng tài sản Nợ phải trả NVCSH(*)  
Tỷ trọng nợ  
Doanh nghiệp  
Phân theo nguồn đầu tư vốn  
(tỷ đồng)  
(tỷ đồng)  
(tỷ đồng) phải trả/vốn (%)  
Loại hình doanh nghiệp không có vốn đầu tư nước ngoài  
Doanh nghiệp do tư nhân đầu tư vốn 100%  
Doanh nghiệp có vốn nhà nước  
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  
Phân theo vùng địa lý  
151  
19  
34,4  
91,0  
21,6  
60,3  
12,8  
30,7  
62,8  
66,3  
31  
214,4  
135,7  
106,7  
63,3  
Hà Nội  
46  
64,6  
41,8  
28,0  
29,3  
64,7  
61,3  
Tỉnh khác  
155  
70.,4  
43.,2  
Ghi chú: (*): Vốn chủ sở hữu.  
1108  
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường  
Bảng 2. Lao động phân theo loại hình doanh nghiệp năm 2020 (%)  
Độ tuổi  
Trình độ chuyên môn  
Giới tính  
Quy mô lao  
động (người)  
Chỉ tiêu  
18-25  
25-35 35-45 Trên 45 Sau đại học Đai học Cao đẳng Phổ thông Nam  
Nữ  
Phân theo nguồn đầu tư vốn  
Loại hình doanh nghiệp không có vốn đầu tư nước ngoài  
Doanh nghiệp  
do tư nhân đầu  
tư vốn 100%  
453  
26  
24  
25  
43  
41  
42  
23  
25  
24  
8
10  
9
0
0.1  
0
3
2
4
10  
7
86.8  
91  
25  
28  
31  
75  
72  
69  
Doanh nghiệp  
có vốn nhà  
nước  
942  
Doanh nghiệp  
có vốn đầu tư  
nước ngoài  
1.634  
10  
86  
Phân theo vùng địa lý  
Hà Nội  
639  
694  
24  
26  
45  
42  
22  
24  
9
9
0.1  
0
3
3
9
87.9  
87  
30  
27  
70  
73  
Tỉnh khác  
10  
Kết quả phân tích cho thấy hệ số  
KMO = 0,787 > 0,5, kiểm định Bartlett có  
p - value = 0,000 < 0,05 (Bảng 4), các hệ số  
Component loading đều lớn hơn 0,5, các biến  
quan sát hình thành các nhân tố như bảng 5.  
Như vậy, các tiêu chuẩn khi sử dụng phân tích  
khám phá nhân tố đều thích hợp với dữ liệu  
nghiên cứu.  
3.2.2. Phân tích nhân tố khám phá và điều  
chỉnh mô hình nghiên cứu  
Phân tích nhân tố là tên chung một nhóm  
các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và  
tóm tắt dữ liệu. Trong nghiên cứu này, chúng ta  
có thể thu thập một số lượng biến khá lớn và hầu  
hết các biến này có liên hệ với nhau và số lượng  
của chúng phải được giảm bớt xuống đến một  
lượng có thể dùng được (Hoàng Trọng & Chu  
Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Phân tích nhân tố chỉ  
được sử dụng khi hệ số KMO (Kaiser-Meyer-  
Olkin) có giá trị từ 0,5 trở lên, các biến có hệ số  
truyền tải (factor loading) < 0,5 sẽ bị loại. Điểm  
dừng Eigenvalue (đại diện cho phần biến thiên  
được giải thích bởi mỗi nhân tố) lớn hơn 1 và tổng  
phương sai trích (Cumulative % Extraction Sum  
of Squared Loadings) lớn hơn 50%.  
3.2.3. Kết quả chạy mô hình hồi quy  
Sau khi tiến hành phân tích nhân tố, xác  
định được các nhóm nhân tố mới, tác giả tiến  
hành chạy mô hình hồi quy để xem thử trong  
các nhân tố đó nhân tố nào tác động mạnh nhất,  
thấp nhất đến năng lực cạnh tranh doanh  
nghiệp may vùng ĐBSH.  
Kết quả hồi quy cho thấy các nhân tố NCTT  
có Sig. lớn hơn 5% nên có thể nói không có dấu  
hiệu NCTT ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.  
Biến NCTT bị loại, ta tiến hành chạy phân tích  
hồi quy lần 2, cho kết quả như bảng 8.  
Đánh giá độ tin cậy Cronbach Alpha cho  
thấy những thành phần và các biến đạt độ tin  
cậy trong nghiên cứu để tiếp tục sử dụng phân  
tích nhân tố là: nhà cung cấp; khách hàng; nguy  
cơ thay thế; mức độ cạnh tranh; rào cản gia nhập.  
Kết quả ước lượng cho thấy R bình phương  
điều chỉnh của mô hình này là 0,566 cho thấy  
56,6% sự biến thiên của Năng lực cạnh tranh  
được giải thích bởi mối liên hệ tuyến tính của  
các biến độc lập. Tuy nhiên sự phù hợp này chỉ  
đúng với dữ liệu mẫu. Để kiểm định xem có thể  
suy diễn mô hình cho tổng thể thực hay không  
ta phải kiểm định độ phù hợp của mô hình.  
Kết quả phân tích lần thứ nhất nhân tố  
khám phá với các biến còn lại sau khi đã loại bỏ  
các biến không đạt tiêu chuẩn khi kết thúc kiểm  
định Cronbach’s Alpha cho thấy biến “MĐCT6,  
NCC4 và RCGN4”có trị số nhỏ hơn 0,5 nên được  
loại khỏi phân tích. Tiếp tục tiến hành phân  
tích lần thứ 2 được kết quả ở bảng 4.  
1109  
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng  
Bảng 3. Kết quả kiểm định Cronbach Alpha các nhân tố và biến phụ thuộc  
Biến quan sát  
Tương quan Cronbach’s Alpha  
biến tổng  
nếu loại biến  
Ký hiệu  
Nội dung phản ánh  
NCC - Nhà cung cấp: = 0,740; N = 5  
NCC1  
NCC2  
NCC3  
NCC4  
Doanh nghiệp được tiếp cận công nghệ mới  
0,623  
0,607  
0,59  
0,653  
0,656  
0,659  
0,809  
Khai thác nguồn cung nguyên phụ liệu cạnh tranh hơn, dồi dào hơn.  
Hạn chế được nhiều rủi ro, bị tác động từ các nhà cung cấp cũ.  
Công nghệ thông tin góp phần tăng khả năng tiếp cận và tìm kiếm các nguồn  
nguyên phụ liệu  
0,403  
NCC5  
Công nghiệp phụ trợ trong nước phát triển  
0,569  
0,673  
KH - Khách hàng: = 0,819; N = 4  
KH1  
KH2  
KH3  
KH4  
Các doanh nghiệp may liên kết, hình thành các hiệp hội để gia tăng lợi thế cạnh tranh  
Doanh nghiệp may có nhiều đối tác trong và ngoài nước  
Thương hiệu của sản phẩm may đã có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước.  
Sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với thị hiếu của khách hàng  
NCTT - Nguy cơ thay thế: = 0,792; N = 3  
0,703  
0,62  
0,743  
0,783  
0,794  
0,767  
0,594  
0,653  
NCTT1 Xu hướng tiêu dùng hàng “Made in Vietnam”của người tiêu dùng.  
NCTT2 Bảo vệ tốt quyền SHTT cho các thương hiệu lớn  
NCTT3 Doanh nghiệp may chú trọng đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu  
MĐCT - Mức độ cạnh tranh: = 0,873; N = 7  
0,657  
0,65  
0,691  
0,698  
0,756  
0,596  
MĐCT1 Khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ  
0,728  
0,708  
0,636  
0,729  
0,747  
0,403  
0,785  
0,844  
0,851  
0,857  
0,845  
0,841  
0,901  
0,835  
MĐCT2 Giá cả có tính cạnh tranh  
MĐCT3 Doanh nghiệp đầu tư nhiều vào công nghệ mới  
MĐCT4 Sản phẩm mới, đón đầu xu hướng thị trường  
MĐCT5 Chất lượng sản phẩm tốt, dần có chỗ đứng trên thị trường  
MĐCT6 Chi phí sản xuất có tính cạnh tranh  
MĐCT7 Doanh nghiệp dành nhiều ngân sách cho chi phí quảng cáo, khuyến mãi.  
RCGN - Rào cản gia nhập: = 0,721; N = 5  
RCGN1 Nhiều FTA được ký kết tạo cơ hội cho doanh nghiệp gia nhập thị trường  
RCGN2 Áp dụng quy tắc xuất xứ minh bạch  
0,614  
0,562  
0,562  
0,454  
0,621  
0,641  
0,644  
0,802  
RCGN3 Chất lượng sản phẩm được cải thiện, đáp ứng yêu cầu thị trường  
RCGN4 Doanh nghiệp quan tâm hơn đến việc thực hiện các quy định về phòng chống cháy  
nổ, BVMT  
RCGN5 Doanh nghiệp chú trọng hơn đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội  
NLCT - Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: α =0,8.68; N= 5  
0,584  
0,63  
NLCT1  
NLCT2  
NLCT3  
NLCT4  
NLCT5  
Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp mạnh  
Số lượng lao động lớn  
0,669  
0,690  
0,711  
0,662  
0,687  
0,802  
0,797  
0,793  
0,804  
0,798  
Doanh nghiệp kiểm soát tốt nguồn cung ứng  
Lợi nhuận doanh nghiệp được đảm bảo  
Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp ổn định  
1110  
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường  
Bảng 4. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett  
Hệ số KMO  
0,787  
5482.848  
861  
Kiểm định Bartlett  
Giá trị Chi bình phương xấp xỉ  
Df  
Sig.  
0,000  
Bảng 5. Ma trận xoay các nhân tố  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
MĐCT7  
MĐCT5  
MĐCT1  
MĐCT4  
MĐCT2  
MĐCT3  
KH1  
0,870  
0,846  
0,809  
0,807  
0,803  
0,748  
0,841  
0,796  
0,780  
0,762  
KH4  
KH2  
KH3  
NCC2  
0,811  
0,805  
0,801  
0,765  
NCC1  
NCC3  
NCC5  
RCGN1  
RCGN5  
RCGN3  
RCGN2  
NCTT1  
NCTT2  
NCTT3  
0,828  
0,802  
0,781  
0,748  
0,855  
0,840  
0,815  
Bảng 6. Kết quả hồi quy đa biến lần 1  
Hệ số chưa chuẩn hóa  
Hệ số đã chuẩn hóa  
Hệ số  
Thống kê đa cộng tuyến  
Nhân tố  
t
Sig.  
Hệ số  
0,507  
0,069  
0,191  
0,163  
0,237  
0,204  
Sai số chuẩn  
0,172  
Độ chấp nhận  
VIF  
Hằng số  
NCTT  
NCC  
2,946  
1,583  
4,363  
3,793  
5,735  
4,313  
0,004  
0,044  
0,085  
0,263  
0,22  
0,115  
0,745  
0,591  
0,642  
0,931  
0,607  
1,342  
1,691  
1,557  
1,074  
1,648  
0,044  
0
0
0
0
RCGN  
KH  
0,043  
0,041  
0,276  
0,257  
MĐCT  
0,047  
Ghi chú: Biến phụ thuộc: NLCT.  
1111  
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng  
Bảng 7. Tổng hợp phân tích hồi quy lần 1  
Mô hình  
1
R
R bình phương  
R bình phương hiệu chỉnh Sai số chuẩn của ước lượng Giá trị Durbin-Watson  
0,762  
0,580  
0,569  
0,536  
1,685  
Ghi chú: Biến độc lập: NCTT, NCC, RCGN, KH, MĐCT; Biến phụ thuộc: NLCT.  
Bảng 8. Kết quả hồi quy đa biến lần 2  
Hệ số chưa chuẩn hóa  
Hệ số đã chuẩn hóa  
Thống kê đa cộng tuyến  
Nhân tố  
t
Sig,  
Hệ số  
0,552  
0,204  
0,168  
0,25  
Sai số chuẩn  
0,17  
Hệ số  
Độ chấp nhận  
VIP  
(Constant)  
NCC  
3,241  
4,71  
0,001  
0,043  
0,281  
0,226  
0,29  
0
0
0
0
0,611  
0,646  
0,968  
0,638  
1,636  
1,549  
1,034  
1,568  
RCGN  
KH  
0,043  
3,903  
6,134  
4,763  
0,041  
MĐCT  
0,22  
0,046  
0,278  
Bảng 9. Tổng hợp phân tích hồi quy lần 2  
Mô hình  
1
R
R bình phương  
0,575  
R bình phương hiệu chỉnh  
Sai số chuẩn của ước lượng Giá trị Durbin-Watson  
0,538 1,690  
0,758  
0,566  
Ghi chú: Biến độc lập: NCC, RCGN, KH, MĐCT; Biến phụ thuộc: NLCT.  
Bảng 10. Phân tích phương sai ANOVA mô hình hồi quy lần 2  
Mô hình  
Hồi quy  
Tổng các bình phương  
76,608  
Df  
4
Trung bình bình phương  
F
Sig.  
1
19,152  
0,289  
66,252  
0,000b  
Phần dư  
Tổng số  
56,659  
196  
200  
133,267  
Với giả thuyết H0 : 1 = 2 = 3 = 4 = 0, theo  
phân tích ANOVA, giá trị Sig. của trị F của mô  
hình bằng 0,000 < 0,05 nên ta bác bỏ giả thuyết  
H0 và mô hình này phù hợp với dữ liệu.  
nhất. Từ kết quả hồi quy trên, ta có phương  
trình hồi quy được xác định như sau:  
NLCT  
=
0,281NCC  
+
0,226RCGN  
+
0,290KH + 0,278MĐCT  
Từ bảng hồi quy chuẩn hóa của phương  
trình, ta thấy những giá trị Beta khác 0 có ý  
nghĩa thống kê. So sánh giá trị của các Beta cho  
thấy: nhóm nhân tố “Khách hàng”tác động  
mạnh nhất đến Năng lực cạnh tranh của doanh  
nghiệp (beta = 0,290) vượt trội hơn so với các  
yếu tố khác. Nhóm nhân tố “Rào cản gia nhập”  
(beta = 0,226) ít tác động nhất đến Năng lực  
cạnh tranh của doanh nghiệp. Còn đối với các  
nhân tố còn lại cũng có tác động đến Năng lực  
cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có sự  
chênh lệch không cao giữa các nhân tố, cũng  
như giữa nhân tố tác động mạnh nhất và thấp  
Phương trình hồi quy tuyến tính trên giúp  
rút ra kết luận từ mẫu nghiên cứu rằng Năng  
lực cạnh tranh của doanh nghiệp may vùng  
ĐBSH phụ thuộc vào 4 nhân tố chính, đó là  
“Nhà cung cấp”, “Khách hàng”, “Rào cản gia  
nhập” và “Mức độ cạnh tranh”. Theo kết quả  
phỏng vấn chuyên gia, do đặc thù sản phẩm  
ngành may mặc nên không có sản phẩm thay  
thế, chỉ có cạnh tranh đa dạng hóa mẫu mã,  
chất liệu và tính mốt của sản phẩm.  
Trong 4 nhân tố ảnh hưởng thì nhân tố  
“Khách hàng” là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất  
đến Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp may  
1112  
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường  
vùng ĐBSH (có hệ số hồi quy lớn nhất). Dấu  
dương của hệ số beta = 0,290, mức ý nghĩa <0,05  
có ý nghĩa mối quan hệ giữa nhân tố “Khách  
hàng” và Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp  
may vùng ĐBSH có mối quan hệ cùng chiều.  
Tức là khi doanh nghiệp có lợi thế về khách  
hàng hơn sẽ góp phần nâng cao lợi thế cạnh  
tranh của doanh nghiệp.  
Chủ động trong việc tiếp cận công nghệ mới để  
giảm bớt sự phụ thuộc vào một vài loại nguyên  
phụ liệu nào đó; Tập trung nhiều hơn vào khâu  
tìm kiếm nguyên phụ liệu dưới sự hỗ trợ của  
công nghệ thông tin để khai thác được các  
nguồn cung nguyên phụ liệu chất lượng tốt với  
giá cạnh tranh; Đa dạng hóa nguồn cung  
nguyên phụ liệu để hạn chế được các rủi ro và  
tác động từ các nhà cung cấp cũ; Bên cạnh sự nỗ  
lực của các doanh nghiệp, rất cần các chính sách  
của Nhà nước để phát triển công nghiệp phụ trợ  
trong nước.  
Nhân tố “Nhà cung cấp” là nhân tố thứ 2  
ảnh hưởng đến Năng lực cạnh tranh doanh  
nghiệp may vùng ĐBSH. Dấu dương của hệ số  
beta = 0,281, với mức ý nghĩa <0,05 có ý nghĩa  
mối quan hệ giữa nhân tố “Nhà cung cấp”và  
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may vùng  
ĐBSH có mối quan hệ cùng chiều. Điều đó có  
nghĩa khi doanh nghiệp mở rộng và có quyền chi  
phối đối với nhà cung cấp thì năng lực cạnh  
tranh của doanh nghiệp sẽ gia tăng.  
Thứ ba, liên quan đến nhân tố “mức độ  
cạnh tranh”, các doanh nghiệp may vùng ĐBSH  
cần phải: Phát triển thị trường tiêu thụ cả chiều  
sâu (thị trường sẵn có) và chiều rộng (thị trường  
mới); Xây dựng chính sách giá cho sản phẩm  
mang tính cạnh tranh trên cơ sở chi phí sản  
xuất thấp; Đầu tư vào công nghệ để tạo ra sản  
phẩm với tính năng vượt trội, đón đầu xu hướng  
thị trường; Xây dựng ngân sách hợp lý cho  
quảng cáo và khuyến mãi.  
Tiếp theo là Nhân tố “Mức độ cạnh tranh”có  
hệ số beta = 0,278, mức ý nghĩa <0,05. Mối quan  
hệ này cũng cùng chiều và khi “Mức độ cạnh  
tranh”tăng thì Năng lực cạnh tranh của doanh  
nghiệp cũng tăng theo. Cuối cùng là nhân tố  
“Rào cản gia nhập” có hệ số beta = 0,226 mức ý  
nghĩa <0,05. Mối quan hệ này cũng cùng chiều  
và khi “Rào cản gia nhập” tăng thì Năng lực  
cạnh tranh tăng lên tương ứng.  
Cuối cùng là nhân tố “Rào cản gia nhập”, để  
tăng năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp  
may vùng ĐBSH cần: Khai thác tốt hơn các lợi  
thế từ các FTA mà Việt Nam đã ký kết; Áp dụng  
quy tắc xuất xứ minh bạch; Cải thiện chất lượng  
sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị  
trường; Nghiêm túc thực hiện các quy định về  
phòng chống cháy nổ, BVMT; Chú trọng hơn  
nữa đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội.  
3.2.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng  
cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp  
may vùng ĐBSH  
Dựa trên kết quả phân tích nhân tố khám  
phá và mô hình hồi quy đa biến, các doanh  
nghiệp may vùng ĐBSH cần có nhưng giải pháp  
cụ thể như sau:  
4. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu cho thấy trong 5 nhân tố đề xuất  
dựa trên mô hình cạnh tranh của M. Porter,  
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may  
vùng ĐBSH chịu sự ảnh hưởng bởi 4 nhân tố.  
Theo kế quả phân tích hồi quy, 4 yếu tố trong mô  
hình đều có tác động tương quan thuận đến năng  
lực cạnh tranh của doanh nghiệp may vùng  
ĐBSH, theo thứ tự lần lượt là: (1) Khách hàng;  
(2) Nhà cung cấp; (3) Mức độ cạnh tranh và (4)  
Rào cản ra nhập ngành. Những yếu tố này có tác  
động và chính là động lực để các doanh nghiệp  
may vùng ĐBSH tăng cường các nguồn lực, tận  
dụng các ưu thế của môi trường kinh doanh và  
Thứ nhất, liên quan đến nhân tố “Khách  
hàng”, các doanh nghiệp may vùng ĐBSH cần:  
Tăng cường việc liên kết, hình thành các hiệp  
hội để gia tăng lợi thế cạnh tranh khi đàm phán  
với khách hàng; Củng cố mối quan hệ với các đối  
tác trong và ngoài nước; Tập trung nhiều hơn  
vào việc phát triển thương hiệu và bảo vệ các  
thương hiệu sẵn có; Nghiên cứu thị hiếu của  
khách hàng để phát triển sản phẩm phù hợp.  
Thứ hai, liên quan đến nhân tố “Nhà cung  
cấp”, các doanh nghiệp may vùng ĐBSH cần:  
1113  
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng  
Hamel & Prahalad (2006). The Core Competence of  
áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật để năng  
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.  
Trên cơ sở đó, các chính sách được đề xuất nhằm  
tăng cường năng lực cạnh của các doanh nghiệp  
thông qua việc tạo cơ chế chính sách thúc đẩy và  
hỗ trợ các doanh nghiệp theo các hướng can  
thiệp, cụ thể như: thúc đẩy việc thành lập và  
phát triển các hiệp hội doanh nghiệp may để  
nâng cao năng lực đàm phán của doanh nghiệp;  
Phát triển công nghiệp phụ trợ trong nước nhằm  
tăng nguồn cung cấp nội địa; xây dựng cơ chế  
quản lý thị trường minh bạch, thúc đẩy cạnh  
tranh tạo động lực nâng cao năng lực của các  
doanh nghiệp may; Tuyên truyền, hỗ trợ các  
doanh nghiệp may tiếp cận với các tiêu chuẩn  
quốc tế được ký trong các hiệp định thương mại  
với các quốc gia và vùng lãnh thổ trong thời gian  
vừa qua.  
Corporation.  
Harvard  
Business  
Review.  
69(3): 275-292.  
Hair J., Anderson R., Tatham R. & Black W. (1998)  
Multivariate data analysis. 5th Edition, Prentice  
Hall, New Jersey.  
Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005). Phân  
tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản  
Hồng Đức.  
Kazmi S.A.Z. & Takala J. (2014). An Overview of  
Pakistan’s Textile Sector from Operational  
Competitive Perspective A Suggestive Analysis!  
World Journal of Engineering and Technology  
2(2): 124-130. DOI: 10.4236/wjet.2014.22014.  
Michael E. Porter (1980). Competitive Strategy:  
Techniques for Analyzing Industries and  
Competitors. The Free Press, New York.  
Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009).  
Nghiên cứu khoa học marketing (Sách tham khảo).  
Nhà xuất bản Thống kê.  
Nguyễn Quỳnh (2020). Dệt may khẳng định vị thế,  
hướng mục tiêu xuất khẩu 55 tỷ USD. Truy cập từ:  
muc-tieu-xuat-khau-55-ty-usd-202012131029588  
42. chn, ngày 30/12/2020.  
Kết quả nghiên cứu còn một số hạn chế như  
số lượng mẫu phỏng vấn còn ít so với tổng thể.  
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh  
doanh nghiệp còn nhiều các yếu tố trong môi  
trường kinh doanh mà nghiên cứu chưa đề cập  
đến. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo có thể tăng  
số lượng mẫu và sử dụng các mô hình phân tích  
ở quy mô mẫu lớn hơn và có thể đặt nghiên cứu  
trong bối cảnh phân tích sâu hơn sự thay đổi các  
yếu tố thuộc môi trường kinh doanh tác động  
đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.  
Nguyễn Thành Long (2014). Nâng cao năng lực cạnh  
tranh của ngành da giày khi Việt Nam gia nhập  
hiệp định TPP. Tạp chí Đại học Công nghiệp. 5.  
Nguyen Truong Son & Vo Thi Quynh Nga (2014).  
Designing  
the  
Explanatory  
Model  
for  
Competitiveness of Apparel Firms in the Key  
Economic Region of Central Vietnam. South East  
Asian Journal of Contemporary Business,  
Economics And Law. June 2014 Economy. 4(2).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Aldington Report (1985). Report from the Select  
Committee of the House of Lords on Overseas  
Trade. London: H.M.S.O 468: 1191-294.  
Nunnally J.C. & Bernstein I.H. (1994). The Assessment  
of Reliability. Psychometric Theory. 3: 248-292.  
Peterson R. A. (1994). A Meta-Analysis of Cronbach's  
Coefficient Alpha. Journal of Consumer Research.  
21: 381-391.  
Chính phủ (2013). Quyết định số 795/QĐ-TTg về việc  
“Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -  
xã hội vùng ĐBSH đến năm 2020”.  
Tổng cục Thống kê (2020). Tổng hợp số liệu trên  
website của Tổng cục Thống kê năm 2020. Truy  
te/ ngày 29/12/2020.  
D’Cruz J. & Rugman A. (1992). New Concepts for  
Canadian Competitiveness. Kodak, Canada.  
1114  
pdf 12 trang Thùy Anh 13780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_nang_luc_canh_tranh_doanh_nghiep_ma.pdf