Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng
Vietnam J. Agri. Sci. 2021, Vol. 19, No. 8: 1103-1114
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19(8): 1103-1114
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP MAY
TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Nguyễn Văn Phương1*, Lý Thu Cúc2,3, Trần Hữu Cường1
1Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Kinh tế, Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội
3Khoa Quản trị doanh nghiệp, Học viện Khoa học Xã hội
Ngày nhận bài: 30.12.2020
Ngày chấp nhận đăng: 01.06.2021
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng
Đồng bằng sông Hồng. Nghiên cứu áp dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter làm cơ sở để phân tích. Bằng
việc kế thừa từ các nghiên cứu trước đó và kết quả thảo luận nhóm, tác giả đã xây dựng các thanh đo phục vụ cho
việc tiến hành phân tích nhân tố. Số liệu được thu thập thông qua khảo sát các nhà quản lý doanh nghiệp may tại
các tỉnh đồng bằng sông Hồng với tổng số phiếu đạt yêu cầu là 201 phiếu. Kết quả phân tích cho thấy 4/5 nhân tố có
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng Đồng bằng sông Hồng. Đó là yếu tố Nhà cung cấp,
“Khách hàng, Rào cản gia nhập” và Mức độ cạnh tranh. Trong đó, yếu tố khách hàng có ý nghĩa quan trọng nhất đối
với Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may vùng Đồng bằng sông Hồng.
Từ khóa: Năng lực cạnh tranh, đồng bằng sông Hồng, doanh nghiệp may, mô hình cạnh tranh.
Factors Affecting the Competitiveness of Garment Enterprises
in the Red River Delta region, Vietnam
ABSTRACT
The objective of this study was to identify the factors that affected the competitiveness of garment firms in the
Red River Delta region. To achieve this, the study applied the Porter’s five forces as the framework for analysis. By
using the previous studies and group-discussion results, the authors have built the metrics to serve the factor
analysis. The data were collected through the survey of garment business managers in the Red River Delta
provinces with a total of 201 samples. The analysis results showed that 4/5 factors affected the competitiveness of
garment enterprises in the Red River Delta region. These are Suppliers, Customers, Potential of new entrants into
the industry and Competition in the industry. In which the factor “Customers” is the most important factor for the
competitiveness of garment enterprises in the Red River Delta.
Keywords: Competitiveness, Red river delta, garment enterprise, competitiveness model.
may dự kiến đạt 35,27 tỷ USD, giảm 3,6 tỷ USD
so với năm 2019, tương đương -9,29%, thấp hơn
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
nhiều các quốc gia khác, đặc biệt trong bối cảnh
tổng cầu dệt may thế giới giảm 25%. Theo Hiệp
hội Dệt may Việt Nam (VITAS), kết quả này dù
khiêm tốn nhưng là nỗ lực đáng ghi nhận của
ngành dệt may khi phấn đấu vượt qua nhiều
khó khăn, thách thức, nhanh chóng thích nghi
với hoàn cảnh, kịp thời chuyển đổi cơ cấu mặt
hàng, đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định cho
May mặc được coi là ngành chủ lực, giữ vai
trò chiến lược cho sự phát triển công nghiệp hóa
- hiện đại hóa của các địa phương trong cả nước.
Hiện nay, dệt may Việt Nam giữ một vị trí quan
trọng trên thị trường dệt may thế giới (nằm
trong top 5 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất
thế giới). Năm 2020, do tác động tiêu cực của
dịch Covid-19, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt
1103
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng
hàng triệu người lao động (Nguyễn Quỳnh,
2020). Với vị thế như vậy nhưng ngành dệt may
có năng lực còn thấp, biểu hiện cụ thể là năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may Việt
Nam còn yếu so với doanh nghiệp dệt may của
các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đặc
biệt là các hiệp định thương mại như Hiệp định
đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), hiệp
định tự do thương mại Việt Nam - EU (EVFTA)
được ký kết dự báo sẽ đem lại cho ngành dệt
may Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng không
ít thách thức.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về khung lý thuyết
Trên thực tế, có nhiều nhà khoa học trong
và ngoài nước đã sử dụng các mô hình trong
phân tích năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
Tác giả Aldington Report (1985) cho rằng doanh
nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt khi nó có thể
sản xuất sản phẩm, dịch vụ có chất lượng với
giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Hamel &
Prahalad (1990) khi nghiên cứu về năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của các yếu tố thuộc về năng lực
nội sinh của doanh nghiệp. Đó là: (1) Chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp; (2) Các cấu trúc,
năng lực, khả năng sáng tạo; (3) Các nguồn lực
vô hình và hữu hình. Các tác giả đã chỉ ra rằng
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là
khả năng phát triển và tận dụng tốt các nguồn
lực của mình hơn đối thủ cạnh tranh, tức là cần
dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp. Cũng theo
quan điểm này, Markusen (1992) đã khẳng
định: “một nhà sản xuất có tính cạnh tranh nếu
như nó có một mức chi phí đơn vị trung bình
bằng hoặc thấp hơn chi phí đơn vị của các nhà
cạnh tranh quốc tế”. Còn D’Cruz & Rugman
(1992) thì cho rằng: năng lực cạnh tranh của
một doanh nghiệp là khả năng thiết kế, sản
xuất cung cấp sản phẩm ra thị trường với giá cả
và chất lượng vượt trội. Từ đó cho thấy việc
phân tích năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
trên thế giới có thể dựa trên nhiều góc độ khác
nhau tùy thuộc vào quan điểm và mức độ quan
tâm của nhà nghiên cứu.
Căn cứ hiện trạng phân bố ngành dệt may
Việt Nam theo vùng lãnh thổ, Đồng bằng sông
Hồng (ĐBSH) thuộc vùng 2 với số lượng doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất hàng dệt may 2.070 đơn
vị, chiếm 26,06% so với toàn ngành, chiếm vị trí
thứ 2 trên cả nước (sau vùng Đông Nam Bộ).
Trong đó, ngành may mặc có 1.157 doanh
nghiệp chiếm 14,57% so với toàn ngành (Tổng
cục Thống kê, 2020). May mặc được coi là ngành
chủ lực, giữ vai trò chiến lược cho sự phát triển
công nghiệp hóa - hiện đại hóa của các địa
phương trong vùng góp phần thực hiện mục tiêu
xây dựng vùng ĐBSH thực sự là địa bàn tiên
phong của cả nước thực hiện các “đột phá chiến
lược”, tái cấu trúc kinh tế, đổi mới thành công
mô hình tăng trưởng, trở thành đầu tàu của cả
nước về phát triển kinh tế (Chính phủ, 2013).
Trước thực tế hiện nay các doanh nghiệp may
đang chịu sức ép rất lớn của vấn đề cạnh tranh
toàn cầu. Trong khi năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh
nghiệp may ở ĐBSH nói riêng còn nhiều hạn
chế. Khi hội nhập quốc tế, buộc các doanh
nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình thì mới đủ sức tồn tại và khẳng định vị
thế trên thị trường trong nước cũng như thị
trường quốc tế. Do vậy, việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp may trên địa
bàn các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH trở nên cấp
thiết hơn bao giờ hết. Mục tiêu của nghiên cứu
này là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may
vùng ĐBSH sử dụng mô hình 5 áp lực cạnh
tranh của Micheal Porter (1980).
Tại Việt Nam, Nguyen Truong Son & Vo
Thi Quynh Nga (2014) đã sử dụng mô hình về
năng lực cạnh tranh dựa trên việc phân tích kỹ
lưỡng các đặc trưng của ngành may mô phỏng
theo mô hình Kim cương của Michael Porter để
phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp may. Trong
khi Nguyễn Thành Long (2014) phân tích mô
hình năm áp lực cạnh tranh của Micheal Porter
để phân tích năng lực cạnh tranh của ngàn da
giày khi Việt Nam gia nhập hiệp định TPP (sau
này là CPTPP).
Micheal Porter (1980), nhà hoạch định
chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện
1104
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường
nay, trong nghiên cứu về chiến lược cạnh tranh
đã cho rằng sự thành công bền vững của một
doanh nghiệp sẽ không được đảm bảo lâu dài
nếu doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục
tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm. Do
đó, việc xây dựng một lợi thế cạnh tranh bền
vững (Sustainable Competitive Advantage) là
điều vô cùng quan trọng. Điểm trọng tâm trong
lý thuyết cạnh tranh của Micheal Porter đó là
mô hình 5 áp lực cạnh tranh.
Theo hình 1, Michael Porter (1980)đã chỉ ra
5 lực lượng cạnh tranh của doanh nghiệp đó là:
(1) Các đối thủ cạnh tranh trong ngành; (2) Nhà
cung ứng; (3) Khách hàng; (4) Sản phẩm thay
thế; (5) Các đối thủ tiềm năng. Mô hình này
được sử dụng phổ biến trong giảng dạy và
nghiên cứu về năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và có thể
sử dụng để phân tích năng lực cạnh tranh với
các doanh nghiệp Việt Nam.
Các đối thủ tiềm năng
Nguy cơ của người
mới nhập cuộc
Quyền thương lượng
của Nhà cung ứng
Các đối thủ cạnh tranh
trong ngành
Các đối thủ cạnh tranh
hiện tại
Nhà cung ứng
Khách hàng
Quyền thương lượng
của người mua
Nguy cơ từ các sản
phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế
Nguồn: Michael Porter (1980).
Hình 1. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter
Nhà cung cấp
Khách hàng
Năng lực cạnh tranh
doanh nghiệp may
vùng đồng bằng sông Hồng
Nguy cơ thay thế
Mức độ cạnh tranh
Rào cản gia nhập
Hình 2. Mô hình phân tích
1105
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng
NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP MAY
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Cơ sở lý thuyết
Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter
Nghiên cứu định tính
Thảo luận nhóm với các nhà khoa học và những người
làm công tác quản lý trong doanh nghiệp may
Khảo sát doanh nghiệp
Gồm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn nghiên cứu thăm dò nhằm
xây dựng bộ công cụ nghiên cứu; (2) Giai đoạn điều tra
thử; (3) Giai đoạn điều tra chính thức.
Mô hình nghiên cứu
- Mô hình thang đo
- Mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực
cạnh tranh doanh nghiệp may vùng Đồng bằng sông Hồng
Nghiên cứu định lượng
- Đánh giá sơ bộ thang đo (Cronbach alpha và EFA)
- Phân tích hồi quy đa biến
Hình 3. Các bước trong quá trình nghiên cứu
Bước l: Dựa trên cơ sở mô hình 5 lực lượng
2.2. Mô hình và quy trình nghiên cứu
cạnh tranh của Micheal Porter, tác giả sử dụng
phương pháp định tính để tham vấn các
chuyên gia trong ngành và thảo luận nhóm với
các nhà khoa học; các cán bộ quản lý doanh
nghiệp may nhằm lựa chọn ra các biến và
nhóm biến quan sát.
Trên cơ sở khung lý thuyết của Michael
Porter kết hợp với sự tham vấn của các đồng
nghiệp, các nhà khoa học và chuyên gia trong
các doanh nghiệp may mặc tác giả đã đề xuất
mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may vùng
ĐBSH như hình 2.
Bước 2: Nghiên cứu định tính. Thảo luận
nhóm với 2 nhóm, mỗi nhóm 5 người, bao gồm
các nhà khoa học và những người làm công tác
quản lý trong doanh nghiệp may.
- Những giả thuyết nghiên cứu là các nhân
tố sau có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp may vùng ĐBSH: (H1) Nhà
cung cấp; (H2) Khách hàng; (H3) Nguy cơ thay
thế; (H4) Mức độ cạnh tranh và (H5) Rào cản
gia nhập ngành.
Bước 3: Khảo sát doanh nghiệp. Thiết kế
bảng hỏi với thang đo 5 cấp độ (1: là rất không
đồng ý; 5: là rất đồng ý). Phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên để phỏng vấn từ danh sách các các
doanh nghiệp do Tập đoàn Dệt may cung cấp
Tác giả thực hiện nghiên cứu này qua các
bước sau:
1106
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường
(2019). Trong đó, cỡ mẫu được xác định theo
nghiên cứu của Hair & cs. (1998), kích thước
mẫu tối thiểu sử dụng trong phân tích nhân tố
khám phá (EFA) là gấp 5 lần tổng số biến quan
sát (n = 5*m, trong đó m là số biến quan sát).
Với mô hình phân tích, tác giả đề xuất 5 nhân tố
với tổng số 24 biến thì số mẫu tối thiểu là 120.
Để đảm bảo số mẫu thu về đáp ứng yêu cầu,
nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại 257
doanh nghiệp trên địa bàn và thu về được 201
phiếu có thể sử dụng được, do nhiều doanh
nghiệp không phỏng vấn được hết hoặc câu trả
lời thiếu tin cậy nên cần loại bỏ một số phiếu
còn lại.
đồng. Nhờ phương pháp này mà các biến quan
sát được nhận diện thành một số lượng biến
tương đối ít và không có tương quan với nhau để
thay thế tập hợp biến ban đầu và có tương quan
với nhau để thực hiện các phần tiếp theo. Phân
tích nhân tố khám phá sẽ cho thấy được các
thang đo trên có tách ra từ những nhân tố mới
hay không? Điều này sẽ giúp đánh giá chính xác
hơn những thang đo, loại bỏ các biến đo lường
không đạt yêu cầu và đảm bảo thang đo có tính
đồng nhất.
2.4.3. Ước lượng phương trình hồi quy
Sau khi thang đo của các yếu tố khảo sát đã
được kiểm định, các yếu tố tiếp tục đưa vào hàm
hồi quy tuyến tính bằng phương pháp bình
phương nhỏ nhất (OLS) phương pháp đưa biến
vào là phương pháp Enter. Mô hình nghiên cứu
ước lượng có dạng như sau:
Bước 4: Xây dựng mô hình nghiên cứu. Số
liệu khảo sát được nhập liệu và sử dụng hệ số
Cronbach's Alpha kiểm định thang đo.
Bước 5: Phân tích nhân tố khám phá (EFA
Exploratory Factor Analysis) để thu nhỏ và tóm
tắt các dữ liệu; phân tích hồi quy đa biến.
Y = 0 + 1X1 +...+ iXi +... + BkXk + Ui
(mô hình có k biến độc lập)
Trong đó:
2.3. Xử lý số liệu
Y: biến phụ thuộc;
0: hệ số chặn;
Xi: biến độc lập;
Số liệu được nhập, phân tổ và xử lý
trên phần mềm Excel 2010 kết hợp với phần
mềm SPSS.
Bi: các hệ số góc - phản ánh mức độ ảnh
hưởng của biến Xi lên biến phụ thuộc Y;
2.4. Phân tích số liệu
Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích số
liệu có sử dụng phân tích định lượng, tác giả
tiến hành cụ thể như sau:
Ui là phần sai số hay còn gọi là nhiễu, là
phần biến thiên của biến phụ thuộc Y chịu ảnh
hưởng ngoài các biến Xi đưa vào mô hình.
2.4.1. Kiểm định sự tin cậy của thang đo
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Độ tin cậy của thang đo được đánh giá qua
hệ số Cronbach’s Alpha. Sử dụng phương pháp
hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trước khi phân
tích nhân tố EFA để loại các biến không phù
hợp vì các biến rác này có thể tạo ra các yếu tố
giả (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai
Trang, 2009). Việc tính toán hệ số tương quan
giữa biến - tổng sẽ giúp loại ra những biến quan
sát nào không đóng góp nhiều cho sự mô tả của
khái niệm cần đo (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn
Mộng Ngọc, 2005).
3.1. Đặc điểm các doanh nghiệp khảo sát
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể
hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử
dụng hiệu quả nguồn vốn huy động… Việc sử
dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp
tiết kiệm chi phí sử dụng vốn. Ngoài ra, năng
lực tài chính thể hiện ở “vốn” của doanh nghiệp
còn thể hiện sức mạnh kinh tế của doanh
nghiệp, thể hiện chỗ đứng của doanh nghiệp
trên thương trường.
2.4.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Độ tuổi của người lao động tại các doanh
nghiệp may vùng ĐBSH được phân bổ không
đồng đều. Tỉ lệ lao động trẻ dưới 35 tuổi chiếm
Các biến quan sát được phân thành các
nhóm dựa trên cơ sở chúng có đặc tính ương
1107
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng
đa số (gần 70%) trong khi lao động trên 45 tuổi
chỉ chiếm phần nhỏ (8-10%). Đây cũng là tính
chất đặc thù của công việc, vì may đòi hỏi nhanh
nhẹn, khéo tay, mắt tinh do đó tuổi trên 40 có
thể đã được coi là chậm chạp, vì vậy tỉ lệ trên
phản ánh đúng thực trạng về cơ cấu độ tuổi của
công nhân tại các doanh nghiệp may.
doanh nghiệp chỉ ra như tỉ lệ nghỉ do sinh đẻ,
nghỉ do lập gia đình, nghỉ do chuyển sang các
doanh nghiệp khác ngoài ngành dệt may tại các
khu công nghiệp và nghỉ do chuyển sang các
doanh nghiệp dệt may khác ngoài phạm vi
vùng ĐBSH.
3.2. Kết quả phân tích mô hình
3.2.1. Kết quả kiểm định thang đo
Tỉ lệ lao động là công nhân kỹ thuật tại các
doanh nghiệp may có trình độ phổ thông chiếm
khá cao (quanh mức 90%) tỉ lệ này cao hơn các
ngành còn lại. Đây cũng có lẽ do đặc thù công
việc, trong từng công đoạn của may công
nghiệp chỉ cần công nhân thao tác đơn giản và
một chút kỹ năng là có thể tham gia vào dây
chuyền sản xuất. Tuy vậy số lượng lớn công
nhân chỉ có trình độ lao động phổ thông cũng
là điều bất lợi, bởi việc đào tạo chuyển giao kỹ
thuật thường gặp nhiều khó khăn. Việc nhận
thức không cao cũng dẫn đến nhiều hệ lụy cho
doanh nghiệp như nghỉ việc, thiếu tuân thủ kỷ
luật lao động.
Để kiểm định sự tin cậy của thang đo các
nhân tố này ta sử dụng hệ số Cronbach Alpha
() để đo lường mức độ tin cậy tổng hợp
(Suanders & cs., 2007) và hệ số tương quan
biến tổng để xem xét mối quan hệ giữa các chỉ
số trong từng nhân tố (Lê Văn Huy, 2012).
Tiêu chuẩn đánh giá một thang đo tin cậy
trong nghiên cứu là hệ số Cronbach Alpha tối
thiểu bằng 0,6 (Hair & cs., 2006), hệ số tương
quan biến tổng tối thiểu bằng 0,3 (Nunally &
Burstein, 1994). Kết quả kiểm định sự tin cậy
của thang đo từ dữ liệu được thể hiện ở bảng 3.
Mặc dù lao động nữ có xu thế giảm đều theo
các năm (từ 2011 đến nay), nhưng lao động nữ
vẫn chiếm ưu thế áp đảo so với nam giới tại các
doanh nghiệp may vùng ĐBSH (chiếm xấp xỉ
70% tổng số lao động). Đây là nguồn lực được bố
trí trong hầu hết các khâu trong sản xuất. Việc
giảm số lao động nữ tại các doanh nghiệp may
vùng ĐBSH có nhiều nguyên nhân đã được các
Bảng 3 cho thấy, các hệ số tương quan biến
tổng của các biến đo lường thành phần này là
đều > 0,3 (lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là 0,3).
Bên cạnh đó, hệ số Alpha nếu loại bỏ biến của
các biến đều nhỏ hơn hệ số Cronbach Alpha nên
các biến đo lường thành phần này đều được sử
dụng trong các phân tích tiếp theo.
Bảng 1. Tình hình nguồn vốn của các doanh nghiệp may
điều tra tại vùng ĐBSH năm 2020
Số lượng
(Doanh nghiệp)
Tổng tài sản Nợ phải trả NVCSH(*)
Tỷ trọng nợ
Doanh nghiệp
Phân theo nguồn đầu tư vốn
(tỷ đồng)
(tỷ đồng)
(tỷ đồng) phải trả/vốn (%)
Loại hình doanh nghiệp không có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp do tư nhân đầu tư vốn 100%
Doanh nghiệp có vốn nhà nước
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Phân theo vùng địa lý
151
19
34,4
91,0
21,6
60,3
12,8
30,7
62,8
66,3
31
214,4
135,7
106,7
63,3
Hà Nội
46
64,6
41,8
28,0
29,3
64,7
61,3
Tỉnh khác
155
70.,4
43.,2
Ghi chú: (*): Vốn chủ sở hữu.
1108
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường
Bảng 2. Lao động phân theo loại hình doanh nghiệp năm 2020 (%)
Độ tuổi
Trình độ chuyên môn
Giới tính
Quy mô lao
động (người)
Chỉ tiêu
18-25
25-35 35-45 Trên 45 Sau đại học Đai học Cao đẳng Phổ thông Nam
Nữ
Phân theo nguồn đầu tư vốn
Loại hình doanh nghiệp không có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp
do tư nhân đầu
tư vốn 100%
453
26
24
25
43
41
42
23
25
24
8
10
9
0
0.1
0
3
2
4
10
7
86.8
91
25
28
31
75
72
69
Doanh nghiệp
có vốn nhà
nước
942
Doanh nghiệp
có vốn đầu tư
nước ngoài
1.634
10
86
Phân theo vùng địa lý
Hà Nội
639
694
24
26
45
42
22
24
9
9
0.1
0
3
3
9
87.9
87
30
27
70
73
Tỉnh khác
10
Kết quả phân tích cho thấy hệ số
KMO = 0,787 > 0,5, kiểm định Bartlett có
p - value = 0,000 < 0,05 (Bảng 4), các hệ số
Component loading đều lớn hơn 0,5, các biến
quan sát hình thành các nhân tố như bảng 5.
Như vậy, các tiêu chuẩn khi sử dụng phân tích
khám phá nhân tố đều thích hợp với dữ liệu
nghiên cứu.
3.2.2. Phân tích nhân tố khám phá và điều
chỉnh mô hình nghiên cứu
Phân tích nhân tố là tên chung một nhóm
các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và
tóm tắt dữ liệu. Trong nghiên cứu này, chúng ta
có thể thu thập một số lượng biến khá lớn và hầu
hết các biến này có liên hệ với nhau và số lượng
của chúng phải được giảm bớt xuống đến một
lượng có thể dùng được (Hoàng Trọng & Chu
Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Phân tích nhân tố chỉ
được sử dụng khi hệ số KMO (Kaiser-Meyer-
Olkin) có giá trị từ 0,5 trở lên, các biến có hệ số
truyền tải (factor loading) < 0,5 sẽ bị loại. Điểm
dừng Eigenvalue (đại diện cho phần biến thiên
được giải thích bởi mỗi nhân tố) lớn hơn 1 và tổng
phương sai trích (Cumulative % Extraction Sum
of Squared Loadings) lớn hơn 50%.
3.2.3. Kết quả chạy mô hình hồi quy
Sau khi tiến hành phân tích nhân tố, xác
định được các nhóm nhân tố mới, tác giả tiến
hành chạy mô hình hồi quy để xem thử trong
các nhân tố đó nhân tố nào tác động mạnh nhất,
thấp nhất đến năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp may vùng ĐBSH.
Kết quả hồi quy cho thấy các nhân tố NCTT
có Sig. lớn hơn 5% nên có thể nói không có dấu
hiệu NCTT ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.
Biến NCTT bị loại, ta tiến hành chạy phân tích
hồi quy lần 2, cho kết quả như bảng 8.
Đánh giá độ tin cậy Cronbach Alpha cho
thấy những thành phần và các biến đạt độ tin
cậy trong nghiên cứu để tiếp tục sử dụng phân
tích nhân tố là: nhà cung cấp; khách hàng; nguy
cơ thay thế; mức độ cạnh tranh; rào cản gia nhập.
Kết quả ước lượng cho thấy R bình phương
điều chỉnh của mô hình này là 0,566 cho thấy
56,6% sự biến thiên của Năng lực cạnh tranh
được giải thích bởi mối liên hệ tuyến tính của
các biến độc lập. Tuy nhiên sự phù hợp này chỉ
đúng với dữ liệu mẫu. Để kiểm định xem có thể
suy diễn mô hình cho tổng thể thực hay không
ta phải kiểm định độ phù hợp của mô hình.
Kết quả phân tích lần thứ nhất nhân tố
khám phá với các biến còn lại sau khi đã loại bỏ
các biến không đạt tiêu chuẩn khi kết thúc kiểm
định Cronbach’s Alpha cho thấy biến “MĐCT6,
NCC4 và RCGN4”có trị số nhỏ hơn 0,5 nên được
loại khỏi phân tích. Tiếp tục tiến hành phân
tích lần thứ 2 được kết quả ở bảng 4.
1109
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng
Bảng 3. Kết quả kiểm định Cronbach Alpha các nhân tố và biến phụ thuộc
Biến quan sát
Tương quan Cronbach’s Alpha
biến tổng
nếu loại biến
Ký hiệu
Nội dung phản ánh
NCC - Nhà cung cấp: = 0,740; N = 5
NCC1
NCC2
NCC3
NCC4
Doanh nghiệp được tiếp cận công nghệ mới
0,623
0,607
0,59
0,653
0,656
0,659
0,809
Khai thác nguồn cung nguyên phụ liệu cạnh tranh hơn, dồi dào hơn.
Hạn chế được nhiều rủi ro, bị tác động từ các nhà cung cấp cũ.
Công nghệ thông tin góp phần tăng khả năng tiếp cận và tìm kiếm các nguồn
nguyên phụ liệu
0,403
NCC5
Công nghiệp phụ trợ trong nước phát triển
0,569
0,673
KH - Khách hàng: = 0,819; N = 4
KH1
KH2
KH3
KH4
Các doanh nghiệp may liên kết, hình thành các hiệp hội để gia tăng lợi thế cạnh tranh
Doanh nghiệp may có nhiều đối tác trong và ngoài nước
Thương hiệu của sản phẩm may đã có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước.
Sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với thị hiếu của khách hàng
NCTT - Nguy cơ thay thế: = 0,792; N = 3
0,703
0,62
0,743
0,783
0,794
0,767
0,594
0,653
NCTT1 Xu hướng tiêu dùng hàng “Made in Vietnam”của người tiêu dùng.
NCTT2 Bảo vệ tốt quyền SHTT cho các thương hiệu lớn
NCTT3 Doanh nghiệp may chú trọng đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu
MĐCT - Mức độ cạnh tranh: = 0,873; N = 7
0,657
0,65
0,691
0,698
0,756
0,596
MĐCT1 Khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ
0,728
0,708
0,636
0,729
0,747
0,403
0,785
0,844
0,851
0,857
0,845
0,841
0,901
0,835
MĐCT2 Giá cả có tính cạnh tranh
MĐCT3 Doanh nghiệp đầu tư nhiều vào công nghệ mới
MĐCT4 Sản phẩm mới, đón đầu xu hướng thị trường
MĐCT5 Chất lượng sản phẩm tốt, dần có chỗ đứng trên thị trường
MĐCT6 Chi phí sản xuất có tính cạnh tranh
MĐCT7 Doanh nghiệp dành nhiều ngân sách cho chi phí quảng cáo, khuyến mãi.
RCGN - Rào cản gia nhập: = 0,721; N = 5
RCGN1 Nhiều FTA được ký kết tạo cơ hội cho doanh nghiệp gia nhập thị trường
RCGN2 Áp dụng quy tắc xuất xứ minh bạch
0,614
0,562
0,562
0,454
0,621
0,641
0,644
0,802
RCGN3 Chất lượng sản phẩm được cải thiện, đáp ứng yêu cầu thị trường
RCGN4 Doanh nghiệp quan tâm hơn đến việc thực hiện các quy định về phòng chống cháy
nổ, BVMT
RCGN5 Doanh nghiệp chú trọng hơn đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội
NLCT - Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: α =0,8.68; N= 5
0,584
0,63
NLCT1
NLCT2
NLCT3
NLCT4
NLCT5
Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp mạnh
Số lượng lao động lớn
0,669
0,690
0,711
0,662
0,687
0,802
0,797
0,793
0,804
0,798
Doanh nghiệp kiểm soát tốt nguồn cung ứng
Lợi nhuận doanh nghiệp được đảm bảo
Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp ổn định
1110
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường
Bảng 4. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett
Hệ số KMO
0,787
5482.848
861
Kiểm định Bartlett
Giá trị Chi bình phương xấp xỉ
Df
Sig.
0,000
Bảng 5. Ma trận xoay các nhân tố
Nhân tố
1
2
3
4
5
MĐCT7
MĐCT5
MĐCT1
MĐCT4
MĐCT2
MĐCT3
KH1
0,870
0,846
0,809
0,807
0,803
0,748
0,841
0,796
0,780
0,762
KH4
KH2
KH3
NCC2
0,811
0,805
0,801
0,765
NCC1
NCC3
NCC5
RCGN1
RCGN5
RCGN3
RCGN2
NCTT1
NCTT2
NCTT3
0,828
0,802
0,781
0,748
0,855
0,840
0,815
Bảng 6. Kết quả hồi quy đa biến lần 1
Hệ số chưa chuẩn hóa
Hệ số đã chuẩn hóa
Hệ số
Thống kê đa cộng tuyến
Nhân tố
t
Sig.
Hệ số
0,507
0,069
0,191
0,163
0,237
0,204
Sai số chuẩn
0,172
Độ chấp nhận
VIF
Hằng số
NCTT
NCC
2,946
1,583
4,363
3,793
5,735
4,313
0,004
0,044
0,085
0,263
0,22
0,115
0,745
0,591
0,642
0,931
0,607
1,342
1,691
1,557
1,074
1,648
0,044
0
0
0
0
RCGN
KH
0,043
0,041
0,276
0,257
MĐCT
0,047
Ghi chú: Biến phụ thuộc: NLCT.
1111
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng
Bảng 7. Tổng hợp phân tích hồi quy lần 1
Mô hình
1
R
R bình phương
R bình phương hiệu chỉnh Sai số chuẩn của ước lượng Giá trị Durbin-Watson
0,762
0,580
0,569
0,536
1,685
Ghi chú: Biến độc lập: NCTT, NCC, RCGN, KH, MĐCT; Biến phụ thuộc: NLCT.
Bảng 8. Kết quả hồi quy đa biến lần 2
Hệ số chưa chuẩn hóa
Hệ số đã chuẩn hóa
Thống kê đa cộng tuyến
Nhân tố
t
Sig,
Hệ số
0,552
0,204
0,168
0,25
Sai số chuẩn
0,17
Hệ số
Độ chấp nhận
VIP
(Constant)
NCC
3,241
4,71
0,001
0,043
0,281
0,226
0,29
0
0
0
0
0,611
0,646
0,968
0,638
1,636
1,549
1,034
1,568
RCGN
KH
0,043
3,903
6,134
4,763
0,041
MĐCT
0,22
0,046
0,278
Bảng 9. Tổng hợp phân tích hồi quy lần 2
Mô hình
1
R
R bình phương
0,575
R bình phương hiệu chỉnh
Sai số chuẩn của ước lượng Giá trị Durbin-Watson
0,538 1,690
0,758
0,566
Ghi chú: Biến độc lập: NCC, RCGN, KH, MĐCT; Biến phụ thuộc: NLCT.
Bảng 10. Phân tích phương sai ANOVA mô hình hồi quy lần 2
Mô hình
Hồi quy
Tổng các bình phương
76,608
Df
4
Trung bình bình phương
F
Sig.
1
19,152
0,289
66,252
0,000b
Phần dư
Tổng số
56,659
196
200
133,267
Với giả thuyết H0 : 1 = 2 = 3 = 4 = 0, theo
phân tích ANOVA, giá trị Sig. của trị F của mô
hình bằng 0,000 < 0,05 nên ta bác bỏ giả thuyết
H0 và mô hình này phù hợp với dữ liệu.
nhất. Từ kết quả hồi quy trên, ta có phương
trình hồi quy được xác định như sau:
NLCT
=
0,281NCC
+
0,226RCGN
+
0,290KH + 0,278MĐCT
Từ bảng hồi quy chuẩn hóa của phương
trình, ta thấy những giá trị Beta khác 0 có ý
nghĩa thống kê. So sánh giá trị của các Beta cho
thấy: nhóm nhân tố “Khách hàng”tác động
mạnh nhất đến Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp (beta = 0,290) vượt trội hơn so với các
yếu tố khác. Nhóm nhân tố “Rào cản gia nhập”
(beta = 0,226) ít tác động nhất đến Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Còn đối với các
nhân tố còn lại cũng có tác động đến Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có sự
chênh lệch không cao giữa các nhân tố, cũng
như giữa nhân tố tác động mạnh nhất và thấp
Phương trình hồi quy tuyến tính trên giúp
rút ra kết luận từ mẫu nghiên cứu rằng Năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp may vùng
ĐBSH phụ thuộc vào 4 nhân tố chính, đó là
“Nhà cung cấp”, “Khách hàng”, “Rào cản gia
nhập” và “Mức độ cạnh tranh”. Theo kết quả
phỏng vấn chuyên gia, do đặc thù sản phẩm
ngành may mặc nên không có sản phẩm thay
thế, chỉ có cạnh tranh đa dạng hóa mẫu mã,
chất liệu và tính mốt của sản phẩm.
Trong 4 nhân tố ảnh hưởng thì nhân tố
“Khách hàng” là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất
đến Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp may
1112
Nguyễn Văn Phương, Lý Thu Cúc, Trần Hữu Cường
vùng ĐBSH (có hệ số hồi quy lớn nhất). Dấu
dương của hệ số beta = 0,290, mức ý nghĩa <0,05
có ý nghĩa mối quan hệ giữa nhân tố “Khách
hàng” và Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
may vùng ĐBSH có mối quan hệ cùng chiều.
Tức là khi doanh nghiệp có lợi thế về khách
hàng hơn sẽ góp phần nâng cao lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Chủ động trong việc tiếp cận công nghệ mới để
giảm bớt sự phụ thuộc vào một vài loại nguyên
phụ liệu nào đó; Tập trung nhiều hơn vào khâu
tìm kiếm nguyên phụ liệu dưới sự hỗ trợ của
công nghệ thông tin để khai thác được các
nguồn cung nguyên phụ liệu chất lượng tốt với
giá cạnh tranh; Đa dạng hóa nguồn cung
nguyên phụ liệu để hạn chế được các rủi ro và
tác động từ các nhà cung cấp cũ; Bên cạnh sự nỗ
lực của các doanh nghiệp, rất cần các chính sách
của Nhà nước để phát triển công nghiệp phụ trợ
trong nước.
Nhân tố “Nhà cung cấp” là nhân tố thứ 2
ảnh hưởng đến Năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp may vùng ĐBSH. Dấu dương của hệ số
beta = 0,281, với mức ý nghĩa <0,05 có ý nghĩa
mối quan hệ giữa nhân tố “Nhà cung cấp”và
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may vùng
ĐBSH có mối quan hệ cùng chiều. Điều đó có
nghĩa khi doanh nghiệp mở rộng và có quyền chi
phối đối với nhà cung cấp thì năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp sẽ gia tăng.
Thứ ba, liên quan đến nhân tố “mức độ
cạnh tranh”, các doanh nghiệp may vùng ĐBSH
cần phải: Phát triển thị trường tiêu thụ cả chiều
sâu (thị trường sẵn có) và chiều rộng (thị trường
mới); Xây dựng chính sách giá cho sản phẩm
mang tính cạnh tranh trên cơ sở chi phí sản
xuất thấp; Đầu tư vào công nghệ để tạo ra sản
phẩm với tính năng vượt trội, đón đầu xu hướng
thị trường; Xây dựng ngân sách hợp lý cho
quảng cáo và khuyến mãi.
Tiếp theo là Nhân tố “Mức độ cạnh tranh”có
hệ số beta = 0,278, mức ý nghĩa <0,05. Mối quan
hệ này cũng cùng chiều và khi “Mức độ cạnh
tranh”tăng thì Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp cũng tăng theo. Cuối cùng là nhân tố
“Rào cản gia nhập” có hệ số beta = 0,226 mức ý
nghĩa <0,05. Mối quan hệ này cũng cùng chiều
và khi “Rào cản gia nhập” tăng thì Năng lực
cạnh tranh tăng lên tương ứng.
Cuối cùng là nhân tố “Rào cản gia nhập”, để
tăng năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp
may vùng ĐBSH cần: Khai thác tốt hơn các lợi
thế từ các FTA mà Việt Nam đã ký kết; Áp dụng
quy tắc xuất xứ minh bạch; Cải thiện chất lượng
sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị
trường; Nghiêm túc thực hiện các quy định về
phòng chống cháy nổ, BVMT; Chú trọng hơn
nữa đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội.
3.2.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp
may vùng ĐBSH
Dựa trên kết quả phân tích nhân tố khám
phá và mô hình hồi quy đa biến, các doanh
nghiệp may vùng ĐBSH cần có nhưng giải pháp
cụ thể như sau:
4. KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy trong 5 nhân tố đề xuất
dựa trên mô hình cạnh tranh của M. Porter,
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may
vùng ĐBSH chịu sự ảnh hưởng bởi 4 nhân tố.
Theo kế quả phân tích hồi quy, 4 yếu tố trong mô
hình đều có tác động tương quan thuận đến năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp may vùng
ĐBSH, theo thứ tự lần lượt là: (1) Khách hàng;
(2) Nhà cung cấp; (3) Mức độ cạnh tranh và (4)
Rào cản ra nhập ngành. Những yếu tố này có tác
động và chính là động lực để các doanh nghiệp
may vùng ĐBSH tăng cường các nguồn lực, tận
dụng các ưu thế của môi trường kinh doanh và
Thứ nhất, liên quan đến nhân tố “Khách
hàng”, các doanh nghiệp may vùng ĐBSH cần:
Tăng cường việc liên kết, hình thành các hiệp
hội để gia tăng lợi thế cạnh tranh khi đàm phán
với khách hàng; Củng cố mối quan hệ với các đối
tác trong và ngoài nước; Tập trung nhiều hơn
vào việc phát triển thương hiệu và bảo vệ các
thương hiệu sẵn có; Nghiên cứu thị hiếu của
khách hàng để phát triển sản phẩm phù hợp.
Thứ hai, liên quan đến nhân tố “Nhà cung
cấp”, các doanh nghiệp may vùng ĐBSH cần:
1113
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng
Hamel & Prahalad (2006). The Core Competence of
áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật để năng
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, các chính sách được đề xuất nhằm
tăng cường năng lực cạnh của các doanh nghiệp
thông qua việc tạo cơ chế chính sách thúc đẩy và
hỗ trợ các doanh nghiệp theo các hướng can
thiệp, cụ thể như: thúc đẩy việc thành lập và
phát triển các hiệp hội doanh nghiệp may để
nâng cao năng lực đàm phán của doanh nghiệp;
Phát triển công nghiệp phụ trợ trong nước nhằm
tăng nguồn cung cấp nội địa; xây dựng cơ chế
quản lý thị trường minh bạch, thúc đẩy cạnh
tranh tạo động lực nâng cao năng lực của các
doanh nghiệp may; Tuyên truyền, hỗ trợ các
doanh nghiệp may tiếp cận với các tiêu chuẩn
quốc tế được ký trong các hiệp định thương mại
với các quốc gia và vùng lãnh thổ trong thời gian
vừa qua.
Corporation.
Harvard
Business
Review.
69(3): 275-292.
Hair J., Anderson R., Tatham R. & Black W. (1998)
Multivariate data analysis. 5th Edition, Prentice
Hall, New Jersey.
Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005). Phân
tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản
Hồng Đức.
Kazmi S.A.Z. & Takala J. (2014). An Overview of
Pakistan’s Textile Sector from Operational
Competitive Perspective A Suggestive Analysis!
World Journal of Engineering and Technology
2(2): 124-130. DOI: 10.4236/wjet.2014.22014.
Michael E. Porter (1980). Competitive Strategy:
Techniques for Analyzing Industries and
Competitors. The Free Press, New York.
Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009).
Nghiên cứu khoa học marketing (Sách tham khảo).
Nhà xuất bản Thống kê.
Nguyễn Quỳnh (2020). Dệt may khẳng định vị thế,
hướng mục tiêu xuất khẩu 55 tỷ USD. Truy cập từ:
muc-tieu-xuat-khau-55-ty-usd-202012131029588
42. chn, ngày 30/12/2020.
Kết quả nghiên cứu còn một số hạn chế như
số lượng mẫu phỏng vấn còn ít so với tổng thể.
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
doanh nghiệp còn nhiều các yếu tố trong môi
trường kinh doanh mà nghiên cứu chưa đề cập
đến. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo có thể tăng
số lượng mẫu và sử dụng các mô hình phân tích
ở quy mô mẫu lớn hơn và có thể đặt nghiên cứu
trong bối cảnh phân tích sâu hơn sự thay đổi các
yếu tố thuộc môi trường kinh doanh tác động
đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
Nguyễn Thành Long (2014). Nâng cao năng lực cạnh
tranh của ngành da giày khi Việt Nam gia nhập
hiệp định TPP. Tạp chí Đại học Công nghiệp. 5.
Nguyen Truong Son & Vo Thi Quynh Nga (2014).
Designing
the
Explanatory
Model
for
Competitiveness of Apparel Firms in the Key
Economic Region of Central Vietnam. South East
Asian Journal of Contemporary Business,
Economics And Law. June 2014 Economy. 4(2).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Aldington Report (1985). Report from the Select
Committee of the House of Lords on Overseas
Trade. London: H.M.S.O 468: 1191-294.
Nunnally J.C. & Bernstein I.H. (1994). The Assessment
of Reliability. Psychometric Theory. 3: 248-292.
Peterson R. A. (1994). A Meta-Analysis of Cronbach's
Coefficient Alpha. Journal of Consumer Research.
21: 381-391.
Chính phủ (2013). Quyết định số 795/QĐ-TTg về việc
“Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội vùng ĐBSH đến năm 2020”.
Tổng cục Thống kê (2020). Tổng hợp số liệu trên
website của Tổng cục Thống kê năm 2020. Truy
te/ ngày 29/12/2020.
D’Cruz J. & Rugman A. (1992). New Concepts for
Canadian Competitiveness. Kodak, Canada.
1114
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng đồng bằng sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cac_yeu_to_anh_huong_den_nang_luc_canh_tranh_doanh_nghiep_ma.pdf

