Quan hệ xã hội tộc người tạo lập bởi ngôn ngữ trong truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020  
25  
QUAN HỆ XÃ HỘI TỘC NGƯỜI TẠO LẬP BỞI NGÔN NGỮ  
TRONG TRUYỆN KỂ ĐỊA DANH CỦA NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM  
Nguyễn Thị Mai Quyên  
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam  
Tóm tắt: Địa danh với tư cách là một hiện tượng của ngôn ngữ học đồng thời là hình thức  
thể hiện văn hóa của một cộng đồng, một tộc người đã/đang hiện diện trong vùng lãnh thổ  
mà địa danh tồn tại. Nghiên cứu này quan tâm đến các địa danh và những câu chuyện hình  
thành xung quanh địa danh Thái tộc. Bởi thế chúng tôi tiến hành xem xét các mối quan hệ  
xã hội tộc người từ góc độ ngôn ngữ thông qua việc liệt kê, phân loại hệ thống địa danh  
đồng thời chỉ ra các đặc điểm, quy tắc hình thành nên các địa danh đó. Những quy tắc này  
chính là cách thức tư duy của tộc người, cách họ nhìn/quy định thế giới và xác lập quan hệ  
của mình với thế giới. Việc phân tích các mối quan hệ ngôn ngữ đươc xác lập trước hết  
thông qua hệ thống địa danh cho thấy ngôn ngữ cũng là một trong những phương tiện hữu  
hiệu để cộng đồng người Thái khẳng định chủ quyền đối với đất đai, sông núi. Bằng cách  
gieo những « hạt giống ngôn từ » - địa danh, tộc người đã bộc lộ ý thức khẳng định cái tôi,  
khẳng định sự tồn tại của mình trước các động đồng khác từ đó ngày càng củng cố vững  
chắc địa vị của mình.  
Từ khóa: Quan hệ xã hội tộc người, ngôn ngữ, truyện kể.  
Nhận bài ngày 14.10.2020; gửi phản biện, chỉnh sửa và duyệt đăng ngày 26.10.2020  
Liên hệ tác giả: Nguyễn Thị Mai Quyên; Email: maiquyenmc@gmail.com  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Người Thái – một trong những dân tộc ít người có dân số đông ở Việt Nam. Nếu với  
các tộc người Tây Nguyên, rừng gắn bó với đời sống cư dân, rừng nuôi sống họ và rừng ám  
ảnh họ, “rừng phủ kín phần lớn khu vực sống của cư dân bản địa, chiếm vị trí trung tâm của  
vùng đất này. Rừng có mặt khắp nơi trong làng, ngoài rẫy (…) Rừng không chỉ là lãnh địa  
của các loài thảo mộc và muông thú đáng ngại đấy còn là nơi cư trú đặc biệt của các Yang  
cũng như cây cối và hổ1, thì người Thái lại gắn bó với nước và mang sức mạnh, sự uyển  
chuyển, biến hóa khôn lường của nước. Sức mạnh ấy được Georges Coedes ví với “cơn lụt”,  
và khi “cơn lụt Thái” tràn đến đâu thì những hạt mầm văn hóa tộc người cũng được gieo tới  
1 Jacques Dournes (Nguyên ngọc dịch) (2013), Rừng, Đàn bà, Điên loạn, NXB Hội Nhà văn, tr.11.  
26  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
đó. Một trong những hạt mầm ấy chính là địa danh bằng tiếng Thái.  
Địa danh Thái xuất hiện với tư cách là một đơn vị từ vựng, một danh từ riêng, không hề  
mang tính ngẫu nhiên mà hàm chứa trong nó những vỉa tầng văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ,  
những quan niệm của con người và đặc điểm vùng đất. Cùng với sự xuất hiện của địa danh  
là những truyện kể dân gian với tư cách là những sáng tạo của người dân được truyền từ đời  
này sang đời khác. Ý nghĩa của địa danh trong truyện kể vì thế không chỉ là dấu chỉ cho một  
vùng đất, một bản làng hay con sông ngọn suối, địa danh còn lại cùng năm tháng quan trọng  
bởi cái duyên cớ mà nó được sinh ra, những trải nghiệm gắn bó với cộng đồng văn hóa, ngôn  
ngữ đã cùng nó tồn tại đã được tưởng tượng, xâu chuỗi thành những câu truyện kể.  
Sau quá trình điều tra điền dã kết hợp với sưu tập trong các công trình đã xuất bản, đến  
thời điểm hiện tại chúng tôi đã xuất bản một công trình bao gồm 119 truyện kể địa danh của  
người Thái ở Việt Nam2. Đây đều là những truyện kể có yếu tố giải thích tên gọi của các sự  
vật tự nhiên ( đồi, núi, dốc, đèo, sông, hồ, gò, đầm,…) và những điểm dân cư ( mường,  
bản,...) hoặc những công trình liên quan trực tiếp đến đời sống, sản xuất của nhân dân (  
mương, phai, mó, ruộng,…) mà tên gọi đã được xác định trên các vùng lãnh thổ Việt Nam  
có dân cư Thái sinh sống và cũng là đối tượng chủ yếu được khảo sát trong nghiên cứu này.  
Bằng cách phân tích các cứ liệu ngôn ngữ, điều mà chúng tôi muốn hướng tới là hình dung  
ra một trong số những cách thức mà người Thái kết nối các nhân tố xã hội để hình thành nên  
cái mà G.Condominas gọi là “không gian xã hội”3.  
Địa danh với tư cách là một hiện tượng của ngôn ngữ học đồng thời là hình thức thể  
hiện văn hóa của một cộng đồng, một tộc người đã/đang hiện diện trong vùng lãnh thổ mà  
nó tồn tại. Nghiên cứu này quan tâm đến các địa danh và những câu chuyện hình thành xung  
quanh địa danh Thái tộc. Bởi thế chúng tôi tiến hành xem xét các mối quan hệ xã hội tộc  
người từ góc độ ngôn ngữ thông qua việc liệt kê, phân loại hệ thống địa danh đồng thời chỉ  
ra các đặc điểm, quy tắc hình thành nên các địa danh đó. Những quy tắc này chính là cách  
thức tư duy của tộc người, cách họ nhìn/quy định thế giới và xác lập quan hệ của mình với  
thế giới.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam và các mối quan hệ xã hội tộc người  
tạo lập bởi ngôn ngữ  
Địa danh được sinh ra, phát triển cùng văn hoá, và cũng là một hiện tượng văn hóa bởi  
vì ngôn ngữ là sản phẩm/thành phần của văn hóa. Với tư cách là công cụ của tư duy, ngôn  
ngữ của mỗi tộc người phản ánh tư duy thực tại đời sống của chính họ. Cùng một sự vật,  
2 Xin xem Nguyễn Thị Mai Quyên (2018), Huổi pú nặm mương (Truyện kể địa danh của người Thái ở Việt  
Nam), Nxb Văn học. Hà Nội.  
3 Khái niệm không gian xã hội mà chúng tôi sử dụng được đề xuất bởi G. Condominas trong công trình Không  
gian xã hội vùng Đông Nam ꢀ. Theo ông thì: “không gian xã hội là cái không gian được xác định bởi tập  
hợp hệ thống quan hệ đặc trưng cho một nhóm người nào đó” [Georges Condominas, (Ngọc Hà, Thanh  
Hằng dịch) (1997), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, NXB Văn hóa, H, tr 16].  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020  
27  
hiện tượng nhưng mỗi tộc người dùng những biểu tượng khác nhau để gọi tên. Bằng cách  
này, họ tạo lập được mối quan hệ vô hình với thế giới tự nhiên và với xã hội mà trước hết là  
với những người đồng tộc. Thông qua công cụ ngôn ngữ, các quy tắc ứng xử xã hội được  
hình thành, truyền bá và củng cố theo thời gian. Mặt khác, ngôn ngữ là chủ quan, nghĩa của  
ngôn ngữ nằm trong tư duy của con người chứ không nằm ở ngôn từ. Một địa danh được  
phát âm theo tiếng Thái khi được hành chính hóa sẽ là tài sản chung của cả cộng đồng bao  
gồm nhiều tộc người. Trong số 119 truyện kể địa danh thuộc phạm vi khảo sát, chúng tôi  
thống kê được 218 địa danh trong đó tất cả các địa danh đều được tác giả dân gian lý giải cội  
nguồn, duyên cớ hình thành.  
Trước hết, xét về cấu tạo của địa danh, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy 218 địa danh  
được cấu tạo bởi 3 phương thức: 1/ Địa danh được cấu tạo hoàn toàn bằng tiếng Thái; 2/ Địa  
danh Việt – Thái; 3/ Địa danh có cấu tạo hoàn toàn bằng tiếng Việt.  
Trong số đó, chúng tôi lưu ý có 6 địa danh (chiếm 2,7%) được cấu tạo bằng các từ tiếng  
Việt (Hòn Đá Thề, Hòn Đá Voi, Khe May, Khe Ồ) hoặc có một trong các từ cấu tạo nên địa  
danh là từ tiếng Việt (Hòn Đẻng, Hòn Mung Tự). Sở dĩ chúng tôi vẫn xếp các truyện chứa  
địa danh này vào truyện kể địa danh Thái, bởi bản thân câu chuyện xảy ra trong bối cảnh văn  
hóa Thái và được người Thái kể lại. Trong truyện, địa danh được gọi theo âm tiếng Việt, khó  
có thể phủ nhận một phần nguyên do là trong quá trình sưu tầm truyện kể, người sưu tầm đã  
tự động “dịch” các địa danh này sang tiếng Việt. Con số trên cho thấy mặc dù không phổ  
biến nhưng các địa danh cấu tạo từ tiếng Việt minh chứng cho hiện tượng giao thoa văn hóa  
đang diễn ra đồng thời là biểu hiện trực tiếp của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa  
các tộc người (ở đây là người Thái và người Kinh), bất kể là họ (người Thái/chủ thể văn hóa  
sản sinh ra truyện kể) có muốn hay không. Ngoại trừ 6 trường hợp kể trên, 212/218 địa danh  
được cấu tạo hoàn toàn từ các từ tiếng Thái. Sự hình thành của các địa danh này đều có  
nguyên do và được lý giải rõ trong truyện. Căn cứ vào sự lý giải trực tiếp về ý nghĩa của địa  
danh thông qua phương thức dịch nghĩa (ví dụ: Nặm Xia – suối Nước Mắt; Pu Nang Non:  
Núi Nàng Nằm; bản Na Tòong: bản Nàng Tòong; thẳm Nang Han: hang Nàng Han,…) và  
sự lý giải của tác giả dân gian Thái trong truyện kể, chúng tôi thử tiến hành xác định “hệ lý  
do” hình thành nên 218 địa danh, tức là xác định những dấu hiệu được chọn làm cơ sở để  
người Thái định danh các địa điểm cụ thể.  
Bảng 1: Thống kê căn cứ hình thành địa danh  
Loại lý do  
1. Sự tồn tại/ hành động của thần linh hoặc vật/con vật thiêng  
2. Sự tồn tại/ hành động của con người  
3. Sự tồn tại/ hành động của động vật  
Số lượng  
26/218  
89/218  
31/218  
9/218  
%
11,93  
40,82  
14,23  
4,12  
4.Sự tồn tại của thực vật  
5.Sự tồn tại của các sự vật gắn liền với đời sống  
29/218  
13,3  
6. Đặc điểm của sự vật (màu sắc, hình dáng, kích thước, nhiệt độ…) 34/218  
15,6  
Căn cứ vào ý nghĩa cũng như duyên cớ hình thành nên địa danh, chúng tôi rút ra được  
6 loại dấu hiệu. Đây thực chất là những nhóm dấu hiệu mà thông qua đó có thể thấy được  
28  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
cách thức người Thái lựa chọn cơ sở định danh cho các sự vật, địa điểm. Trên cơ sở các  
nhóm dấu hiệu này, đa số (214/218) địa danh đều được cấu tạo theo mô hình:  
Đối tượng được định danh + cơ sở định danh  
Trong số các địa danh được giải thích, chỉ có 4 địa danh bao gồm Chí Lốông, Lóong  
Xặp, Xam Mứn, Xam Bỉa là địa danh chỉ bao gồm cơ sở định danh (là đặc điểm của địa  
danh) còn đối tượng được định danh bị vắng mặt. Với 214 địa danh còn lại, có thể thấy  
những ví dụ về công thức cấu tạo như sau :  
- Đối tượng được định danh + Sự tồn tại/ hành động của thần linh hoặc vật/con vật  
thiêng. Thí dụ : Choong Năng, Pú Tan, Pú Thán, Huổi Púng, Pú Luống, Pú Hin Kỉnh, Thẳm  
Já Nẹo, Hát Ái, Nả Táng Nang Luông,... Trong đó các yếu tố choong (chậu), pú (núi), huổi  
(suối), thẳm (hang)... là đối tượng được định danh còn bộ phận phía sau là sự bổ sung cơ sở  
định danh.  
- Đối tượng được định danh + Sự tồn tại/ hành động của con người. Thí dụ: Pu Nang  
Non (Núi Nàng Nằm), Pu Tạo Non (Núi Chàng Nằm), Pom Loi (Đồi Uất Hận), Pom Ca (Đồi  
Mai Táng), Nặm bó Nàng Han (Mó nước Nàng Han).  
- Đối tượng được định danh + Sự tồn tại/ hành động của động vật. Thí dụ: Khoong Ma  
Hao (Khe Chó Chết Rét); Thẳm Quái (Hang Trâu); Bản Cặp Chạng (Bản Voi Kẹt), Mường  
Quài (Mường Trâu).  
- Đối tượng được định danh + Sự tồn tại của thực vật. Thí dụ: Ta Bó Bua (Bến Sen),  
Thẳm Da (Hang Cây Thuốc), Bản Quắn (Bản Cây Quắn), Bản Nà Ngà (Bản Tre Vàng), Bản  
Tảu Pung (Bản Quả Bầu).  
- Đối tượng được định danh + Sự tồn tại của các sự vật khác. Thí dụ : Túng Lũm (Cánh  
Đồng Gió), Hoong Cúm (Rãnh Cúm - Cúm: Một dụng cụ đựng kim chỉ hoặc đồ trang sức  
phụ nữ), Hoong Khoong (Rãnh Của).  
- Đối tượng được định danh + Đặc điểm của sự vật (màu sắc, hình dáng, kích thước…).  
Thí dụ: Na Nọi (Ruộng Nhỏ), Pú Đán Đanh (Núi Đá Đỏ), thành Xam Mứn (thành Ba Vạn),  
Hin Bát (Đá Sứt).  
Nếu coi tất cả những địa danh trên là những đơn vị ngôn ngữ hoàn chỉnh thì có thể thấy  
chúng hoàn toàn chống lại “tính võ đoán”. Nói cách khác, các đơn vị ngôn ngữ ấy đều có lý  
do. Đó có thể là lý do khách quan, nằm trong bản thân đối tượng/khách thể được định danh  
(chẳng hạn màu sắc, kích thước,…) nhưng đa số là những lý do chủ quan, được quyết định  
bởi chủ thể định danh - người Thái. Bằng mối ưu tiên lựa chọn khác nhau với những lý do/  
cơ sở định danh, người Thái đã tự bộc lộ đặc trưng văn hóa – dân tộc. Điều này có quan hệ  
trực tiếp với việc cấu thành không gian xã hội tộc người, bởi lẽ chính thông qua việc lựa  
chọn cơ sở định danh mà mối dây quan hệ giữa chủ thể và khách thể định danh được hình  
thành. Trong 6 nhóm lý do để gọi tên địa danh, Thái tộc ưa gắn địa danh với sự tồn tại hay  
hành động của con người (hơn 40 % địa điểm được gọi tên dựa trên cơ sở này). Điều đó cho  
thấy, đồng thời với việc đánh dấu không gian địa lý, môi trường sống, tộc người có ý thức  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020  
29  
khẳng định “chủ quyền” của mình. Địa điểm ấy, không gian ấy, mảnh ruộng, ngọn đồi nơi  
họ trồng cấy, lấy măng, đào củ ấy là cái “của tôi”. Một trong những bằng cứ được đưa ra là  
những hành động tác động đến đối tượng (khai phá, chăm nom, sử dụng,…) đều là hành  
động của chính cộng đồng họ.  
Ở đây, thông qua địa danh – một yếu tố của ngôn ngữ, người Thái tận dụng tối đa những  
uy quyền của ngôn ngữ trong việc xác lập chủ quyền trên các vùng lãnh thổ của mình. Bằng  
việc sáng tạo ra những “đơn vị mang văn hóa”, người Thái thành công hơn nhiều tộc người  
khi thông qua các đơn vị ấy để truyền đi các hiện tượng văn hóa của tộc mình, vượt qua  
những giới hạn của không gian và thời gian. Và nếu như không gian xã hội của một tộc người  
được tạo nên bởi một tập hợp các hệ thống quan hệ thì “ngôn ngữ (cái giúp vào việc thiết lập  
và thúc đẩy các mối quan hệ đó) có vị trí rất rõ ràng, hiển nhiên trong không gian (...) nó tự  
khẳng định trong các quan hệ của mình với những người khác, phân định ranh giới giữa  
những cái “chúng ta” đối với những cái “của người ta”4. Bản thân các truyện kể và sự hình  
thành dày đặc các địa danh – biểu hiện của ngôn ngữ tộc người là sự tự khẳng định cái “tôi”  
trong quan hệ của người Thái với những người khác. Chữ “chủ quyền” được bộc lộ gián tiếp  
qua các địa danh thuộc hệ thống ngôn ngữ tộc người đồng thời nội dung truyện kể (bối cảnh  
hình thành địa danh) cũng là cách ghi lại lịch sử, giúp tộc người ghi nhớ những chiến công,  
là sự khẳng định quan trọng nhất vị thế của tộc mình trước các tộc khác. Bên cạnh việc lựa  
chọn cơ sở định danh, bản thân các đối tượng được chọn để định danh cũng cho thấy vai trò  
quan trọng của ngôn ngữ trong không gian xã hội tộc người. Một địa danh thực sự không thể  
tồn tại mà không gắn liền với một sự vật, một địa điểm, một không gian cụ thể. Như vậy, dù  
chỉ là yếu tố của ngôn ngữ nhưng địa danh bao hàm trong đó một nhân lõi thực tế, một lịch  
sử, một truyền thống văn hóa. Vốn dĩ “con người hình thành nên cái nhìn của mình về thế  
giới, hoặc bức tranh thế giới của mình, không phải tự thân, mà thông qua ngôn ngữ. Ngôn  
ngữ góp phần vào sự hình thành nên cách nhìn đặc biệt về thế giới. Bức tranh thế giới ấy  
khác với những bức tranh tương tự được hình thành ở ngôn ngữ khác”5. Và như thế, địa danh  
Thái – yếu tố của ngôn ngữ - góp phần vào việc hình thành nên bức tranh về thế giới của  
người Thái trong sự khác biệt với tộc người khác, tạo ra bức tường bảo vệ vô hình khẳng  
định và bảo vệ thế giới của họ.  
Thống kê cho thấy có tất cả 39 đối tượng được lựa chọn để định danh. Ngôn ngữ học  
chỉ ra rằng, trong diễn ngôn hàng ngày, người ta không thể cùng một lúc gọi tên tất cả các  
sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan mà buộc phải chia nhỏ hiện thực trong lời nói.  
“Chính sự bắt buộc chia nhỏ hiện thực trong lời nói đã tạo ra một số lượng khá lớn thuộc  
tính của sự vật được khách quan hóa một cách nhân tạo và dường như tồn tại tách biệt, đơn  
lập, nhưng trong thực tế, các sự vật ấy không hề tồn tại đơn biệt như vậy. Có thể tìm được  
vô số sự kiện chứng tỏ rằng thể liên tục của thế giới khách quan trong các ngôn ngữ được  
4 G.Condominas, sđd, tr 44  
5 Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh  
với những dân tộc khác, Nxb ĐHQG Hà Nội, H, tr 30,31  
30  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
phân cắt theo kiểu khác nhau và được biểu hiện một cách khác nhau bằng ngôn ngữ”6. Ở  
đây, trong không gian xã hội với nhiều quan hệ chằng chéo, đan cài, mối quan hệ ngôn ngữ  
giữa Thái tộc và thế giới xung quanh họ được xác lập thông qua việc phân cắt, chia nhỏ “thể  
liên tục của thế giới”, trong đó có những sự vật được “tô đậm” bằng cách gọi tên nhiều lần.  
Theo thứ tự, có thể thấy bức tranh ngôn ngữ Thái tộc quan tâm trước hết đến các đối tượng  
như bản (được định danh 36 lần); pú (núi: 26 lần); mường (18 lần); nà (ruộng:13 lần); noong  
(ao: 14 lần); ta/tà (bến nước: 8 lần); huổi (suối: 8 lần); hát (thác: 6 lần),…  
Ngược dòng thời gian trở về với thuở xa xưa khi những người Thái đầu tiên xuôi theo  
các dòng sông ngọn suối đi tìm đất có thể hình dung phần nào nguyên do mà họ lựa chọn  
đối tượng để định danh. Như trên chúng tôi từng dẫn lời Cầm Trọng, “Mường Muổi ban đầu  
không phải là châu Mường Muổi, cũng không phải là huyện Thuận Châu ngày nay. Nó chỉ  
là một thung lũng dài bắt đầu từ thượng nguồn suối Nậm Muổi gọi là Hua Ngà và dứt điểm  
ở vùng hạ lưu suối gọi là Lả Thúm. (…) Mường La (…) cho đến nay vết tích của mường đầu  
tiên nằm gọn trong thung lũng trung tâm của suối Nặm La”7. Có thể tìm được vô vàn những  
dẫn chứng như vậy về cách mà người Thái tìm đất dựng mường. Điều đó cho thấy, với họ  
việc tìm đất sống gắn liền với những yếu tố tự nhiên, đặc biệt là núi và nước, đồng thời quá  
trình ổn định nơi ở, dựng bản lập mường chẳng hề dễ dàng, bởi thế họ có nhu cầu ghi nhớ  
những nơi từng đi qua, những dòng nước đã cho mình sự sống, những bản làng mình khó  
nhọc dựng xây mà việc định danh cho đối tượng là một trong những cách thức. Việc lựa  
chọn đối tượng định danh như trên cho thấy, thuộc về phần trung tâm trong bức tranh thế  
giới mà người Thái tạo lập qua ngôn ngữ chính là mường bản, ruộng đồng, núi non, suối  
thác,… trải rộng ra là tất cả các yếu tố tự nhiên như rừng, đèo dốc, khe núi, eo rãnh, thậm  
chí là từng tảng đá. Thông qua việc làm này, tộc người đã khéo léo vận dụng ngôn ngữ như  
là một phương thức, một cầu nối, góp phần hình thành nên một phương diện của không gian  
xã hội bên cạnh nhiều phương diện khác.  
3. KẾT LUẬN  
Theo G.Condominas, các khía cạnh của không gian xã hội tộc người bao gồm những  
mối liên hệ với không gian và thời gian, những quan hệ với môi trường, những quan hệ về  
trao đổi của cải, những mối quan hệ về giao tiếp: ngôn ngữ và chữ viết, những quan hệ họ  
hàng và xóm giềng. Bài viết này chỉ xem xét một khía cạnh trong hệ thống các mối quan hệ  
chằng chéo và phức tạp đó. Với tư cách là những truyện kể về các đối tượng tự nhiên được  
định danh như đất đai, làng bản, sống suối,... truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam  
thể hiện vai trò tạo lập quan hệ xã hội tộc người thông qua việc phân định các không gian,  
đánh dấu lãnh địa cư trú của tộc người, thông qua địa danh và những câu chuyện kể. Việc  
phân chia thế giới bằng ngôn ngữ, cá biệt hóa các không gian cụ thể trong địa vực cư trú của  
tộc người chính là một trong những cách thức mà “cơn lụt Thái” khắc ghi dấu ấn văn hóa  
6 Nguyễn Đức Tồn, sđd, tr 28,29  
7 Cầm Trọng (1978), Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H, 301  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020  
31  
của mình làm nên một không gian xã hội mang đặc trưng riêng mà những người làm chủ  
luôn tự hào là “Phủ Táy”.  
SOCIAL RELATIONS FROM LINGUISTIC PERSPECTIVE  
IN THE STORY OF PLACE NAMES OF THAI ETHNIC  
Abstract: Place name as a phenomenon of linguistics is also a form of cultural expression  
of a community, a group of people who were/are present in the territory where the place  
exists. This study concerns place names and stories that form around place names of Thai  
ethnic. Therefore, we conducted a review of the ethnic social relations from linguistic  
perspective through the listing and classification of the place names system and showing  
the characteristics and rules that form them. These rules are the way of thinking of the  
people, how they see/regulate the world and establish their relationships with the world.  
The analysis of linguistic relationships that was first established through the place name  
system shows that language is also an effective means for the Thai community to assert  
sovereignty over their land. By sowing «seed of words» - place names, the ethnic has  
revealed their sense of affirmation of themselves, affirming their existence before other  
communities since then to strengthen their position.  
Keywords: Ethnic social relations, languages, stories.  
pdf 7 trang Thùy Anh 20720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ xã hội tộc người tạo lập bởi ngôn ngữ trong truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_he_xa_hoi_toc_nguoi_tao_lap_boi_ngon_ngu_trong_truyen_k.pdf