Văn bia chữ Hán về người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận

TỔNG BIÊN TẬP  
TS. Hoàng Hồng Hiệp  
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP  
PGS.TS. Bùi Đức Hùng (Chủ tịch)  
Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ  
GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng  
Bí thư BCH Trung ương Đảng  
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh  
GS.TS. Nguyễn Chí Bền  
Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam  
GS.TS. Trần Thọ Đạt  
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
GS.TS. Phạm Văn Đức  
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam  
TS. Hoàng Hồng Hiệp  
Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ  
GS.TS. Nguyễn Xuân Kính  
Viện Nghiên cứu Văn hóa  
GS.TS. Eric lksoon lm  
University of Hawaii – Hilo, Hoa Kỳ  
GS.TS. Đỗ Hoài Nam  
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam  
GS.TS. Vũ Băng Tâm  
University of Hawaii - Hilo, Hoa Kỳ  
GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn  
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam  
GS.TS. Trần Đăng Xuyền  
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
BIÊN TẬP TRỊ SỰ  
ThS. Châu Ngọc Hòe  
CN. Lưu Thị Diệu Hiền  
CVRSS  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung  
ISSN 1859 – 2635  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung  
ISSN 1859 – 2635  
Tạp chí ra 2 tháng 1 kỳ  
Số 04 năm 2021  
Năm thứ mười bốn  
Mục lục  
Kinh tế tuần hoàn: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế  
Hoàng Hồng Hiệp, Phan Thị Sông Thương, Đinh Thế Toàn, Lê Văn Hà, Trần Thị Phượng  
3
14  
20  
30  
Một số giải pháp bảo vệ và phát triển di sản tư tưởng của V. I. Lênin trong tình hình mới  
Nguyễn Quang Bình, Đặng Trung Kiên  
Khai dân trí – từ tư tưởng đến thực tiễn phong trào Duy Tân ở Quảng Nam đầu thế kỷ XX  
Ngô Văn Minh  
Văn bia chữ Hán về người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận  
Đinh Khắc Thuân  
Một số đặc điểm của người Chăm ở Việt Nam hiện nay qua kết quả điều tra thực trạng  
kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019  
Trần Thị Phương Anh  
44  
Nhận diện bản sắc văn hóa của người Khmer qua lễ hội Chol Chnam Thmay  
ở huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước  
Trần Dũng  
55  
65  
73  
Một số đặc điểm ngôn ngữ văn hoá thổ ngữ Ngọc Vừng, Vân Đồn, Quảng Ninh  
Nguyễn Thu Huyền  
Diện mạo của văn học dịch Việt Nam tại Đài Loan từ năm 1990 đến nay  
Trịnh Thùy Trang  
Giấy phép xuất bản số 104/GP – BTTTT cấp ngày 22 tháng 4 năm 2013  
Chế bản điện tử tại Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ; In 250 cuốn khổ 19 x 27cm; Số 04 năm 2021.  
In tại Công ty TNHH MTV In Tổng hợp Đà Nẵng  
Số 2, Lý Thường Kiệt - P. Thạch Thang - Q. Hải Châu - TP. Đà Nẵng * ĐT: 0236.3821038; Nộp lưu chiểu tháng 08/2021  
Central Vietnamese Review of Social Sciences  
ISSN 1859 – 2635  
Bimonthly Review  
No. 04, 2021  
The 14th Year  
Contents  
Circular economy: Theoretical issues and international experience  
Hoang Hong Hiep, Phan Thi Song Thuong, Dinh The Toan, Le Van Ha, Tran Thi Phuong  
3
Solutions to protecting and developing V. I. Lenin’legacy of ideology in the new context  
Nguyen Quang Binh, Dang Trung Kien  
14  
Improving people’s knowledge - From ideology to reality of Duy Tan movement  
in Quang Nam in the early 20th century  
Ngo Van Minh  
20  
30  
Han Chinese epitaphs of Chinese people in Hoi An and adjacent areas  
Dinh Khac Thuan  
Some characteristics of Cham people in Vietnam demonstrated by survey results  
of socio-economic situation in 53 ethnic minorities in 2019  
Tran Thi Phuong Anh  
44  
55  
Identifying cultural identity of Khmer people through Chol Cham Thmay festival  
in Loc Ninh district, Binh Phuoc province  
Tran Dung  
Linguistic characteristics and dialect spoken in Ngoc Vung commune,  
Van Don district, Quang Ninh  
Nguyen Thu Huyen  
65  
73  
A review of translated Vietnamese literature in Taiwan since 1990  
Trinh Thuy Trang  
30  
Đinh Khắc Thuân  
Văn bia chữ Hán về người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận  
Đinh Khắc Thuân  
Viện Nghiên cứu Hán Nôm  
Email: thuanhanno[email protected]  
Tóm tắt: Hội An là thương cảng cổ ở miền Trung Việt Nam, hình thành từ thế kỷ XVI,  
thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII, nơi có nhiều thương thuyền người nước ngoài đến làm  
ăn, sinh sống, trong đó số đông là người Hoa. Họ để lại dấu ấn văn hóa, tín ngưỡng khá đậm  
nét. Đây là kết quả tất yếu của chính sách mở cửa của chúa Nguyễn và triều đình nhà Nguyễn,  
khi tạo điều kiện cho người Hoa buôn bán khắp nơi trên đất Việt Nam. Khoảng đời vua Gia  
Long, Minh Mệnh sang đến Tự Đức, cộng đồng người Hoa ở đây khá phát triển, góp phần tạo  
nên sự phồn thịnh của các đô thị vùng ven biển miền Trung thời bấy giờ. Đồng thời, họ cũng  
đóng góp tích cực trong việc trùng tu, tôn tạo di tích danh thắng mà ở đó còn lưu giữ khá  
nhiều tư liệu văn bia chữ Hán. Bài viết khái quát về đặc điểm, hình thức văn bia chữ Hán, cũng  
như thông tin tiêu biểu từ nội dung tư liệu liên quan đến cộng đồng người Hoa ở Hội An và  
vùng ven biển miền Trung Việt Nam.  
Từ khóa: Người Hoa, Hội quán, văn bia chữ Hán, Hội An  
Han Chinese epitaphs of Chinese people in Hoi An and adjacent areas  
Abstract: Hoi An is an ancient trading port in the Central region of Vietnam, which  
was formed in the sixteenth century and regarded most prosperously in the seventeenth-  
eighteenth century with numerous interactions from foreign merchant ships, mostly Chinese  
people. As a result, a strong cultural and religious imprint has been left in the region. This  
is considered an inevitable consequence resulting from the Nguyễn Dynasty's open door  
policy, which facilitated Chinese people’s trade all over Vietnam. Remarkably, under the  
reigns of Emperor Gia Long, Minh Mạng, and Tự Đức, Chinese community in the region grew  
quickly, contributing to the prosperity of the Central Coast urban areas. Besides, they actively  
participated in restoration of Hoi An's famous cultural and historical sites/relics, in which a  
number of Han Chinese epitaphs remained. The article summarizes characteristics and forms  
of Han Chinese epitaphs, as well as typical information related to Chinese community in Hoi  
An and in the Central Coast of Vietnam.  
Keywords: Chinese people, guildhalls, Han Chinese epitaphs, Hoi An  
Ngày nhận bài: 01/03/2021  
Ngày duyệt đăng: 10/7/2021  
1. Đặt vấn đề  
Người Hoa mà chủ yếu là thương thuyền đến sinh sống và làm ăn ở khu vực ven biển  
miền Trung, Việt Nam từ khá sớm, nhưng chủ yếu từ sau phong trào phản Minh của người  
Thanh vào những năm cuối thế kỷ XVII. Với chính sách mở cửa và bảo hộ của các chúa Nguyễn  
và triều đình nhà Nguyễn, nên người Hoa làm ăn ở đây ngày càng phát đạt. Đồng thời họ cũng  
để lại dấu ấn văn hóa, tín ngưỡng khá đậm nét. Đó là các Hội quán, chùa miếu, từ đường, mộ  
địa mà ở đó hiện còn bảo lưu khá nhiều văn bia chữ Hán, trong đó tiêu biểu là khu phố cổ và  
31  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
Hội quán người Hoa ở Hội An. Văn bia là nguồn sử liệu quan trọng và xác thực bởi nó có xuất  
xứ cụ thể, gắn với sự kiện, con người, cũng như những hoạt động cụ thể diễn ra qua mỗi giai  
đoạn lịch sử. Những văn bia này nếu được sưu tập, hệ thống lại sẽ là một trong nguồn tư liệu  
Hán Nôm quan trọng về người Hoa ở khu vực ven biển miền Trung và ở Việt Nam.  
2. Khái quát văn bia chữ Hán về người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận  
Văn bia chữ Hán về Hội quán người Hoa ở Hội An, cũng như văn bia tại khu vực Quảng  
Nam - Đà Nẵng đã được một số công trình nghiên cứu giới thiệu, trong đó Nguyễn Hoàng  
Thân (2014) đã giới thiệu chung về văn bia chữ Hán ở Quảng Nam - Đà Nẵng, cũng như văn  
bia về Hội quán người Hoa ở Hội An. Nghiên cứu này chỉ tập trung vào những văn bia về người  
Hoa do người Hoa hoặc do người Việt soạn khắc trên địa bàn thành phố Hội An và khu vực ven  
biển miền Trung, Việt Nam.  
Những văn bia này không chỉ ở các Hội quán, mà còn ở một số ngôi chùa, đền, miếu, từ  
đường dòng họ và công trình công cộng ở Hội An và vùng phụ cận, tức là văn bia về người  
Hoa ở khu phố cổ Hội An và một số địa phương thuộc tỉnh Quảng Ngãi và Thừa Thiên Huế.  
Qua khảo sát thực địa và sưu tập trong kho thác bản văn bia chữ Hán tại Viện Nghiên cứu Hán  
Nôm, chúng tôi xác định được khoảng hơn 40 văn bia chữ Hán về người Hoa ở Hội An và vùng  
phụ cận thể hiện qua bảng 1.  
Trong số 43 văn bia này, có 28 văn bia ở 5 Hội quán tại Hội An, 3 bia ở Hội quán Quảng  
Ngãi, 3 bia ở Hội quán Thừa Thiên Huế, cùng 2 bia cầu, 2 bia chùa, 3 bia từ đường và 2 bia miếu  
Quan Thánh ở Hội An. Như vậy, văn bia ở các Hội quán người Hoa trực tiếp do người Hoa soạn,  
khắc chiếm tỉ lệ cao. Ngoài ra là một số văn bia ở các di tích khác liên quan đến người Hoa hoặc  
do người Hoa, hoặc do người Việt soạn, khắc.  
Khác với văn bia chữ Hán ở các địa phương khác, văn bia chữ Hán ở Hội quán người Hoa  
tại Hội An và miền Trung vẫn xuất hiện sau năm 1945 đến những năm gần đây. Thực tế, chữ  
Hán ở Việt Nam được sử dụng trong suốt các triều đại phong kiến Việt Nam và chính thức kết  
thúc sau khi vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn thoái vị năm 1945. Lệ dựng đá khắc  
văn bia chữ Hán ở các di tích công cộng và làng xã, trong đó có các Hội quán người Hoa, nhất  
là ở miền Bắc Việt Nam cũng chấm dứt từ đó. Tuy nhiên, lệ dựng đá khắc văn bia chữ Hán trong  
các di tích Hội quán người Hoa ở Hội An thì khác. Sau năm 1945 và nhất là sau năm 1954, Hội  
quán vẫn được cộng đồng người Hoa duy trì hoạt động và tu sửa. Mỗi lần trùng tu đều được  
dựng bia ghi lại. Những văn bia này cũng được viết bằng chữ Hán, nhưng là chữ Hán của  
người Hoa hải ngoại. Vì vậy văn bia chữ Hán ở đây được chúng tôi phân làm hai giai đoạn đoạn  
để khảo sát: Giai đoạn đầu từ năm 1945 trở về trước, giai đoạn sau từ sau năm 1945.  
Bia cổ thuộc giai đoạn đầu (trước năm 1945) thường được khắc trên loại đá đen, nên  
mặt bia không thật nhẵn, có nhiều vết nứt; ngược lại bia ở giai đoạn sau thì phần lớn được làm  
bằng đá cẩm thạch, vật liệu đá được sử dụng phổ biến thời hiện đại, đá màu xanh, mặt nhẵn,  
bóng, nên chữ khắc khá nét và đẹp.  
Hầu hết văn bia tại các di tích người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận đều được gắn trên  
tường mà không có nhà bia riêng biệt. Có lẽ do các di tích này, nhất là Hội quán đều ở trong  
phố cổ, chật hẹp, nên tiết kiệm diện tích mà ốp bia lên tường. Vì thế, bia thường không có đế  
bia như các bia đá thường gặp ở các di tích làng xã người Việt.  
Phần lớn bia người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận đều không có trán bia. Một số bia  
có niên đại sớm thì được cắt vát hai góc trên bia để tạo thành trán bia như bia Phước Kiến hội  
(Bia 1), hoặc bia Xướng kiến Quang Triệu hội  
quán Càn Long Đinh Sửu bi/  
32  
Đinh Khắc Thuân  
quán bi thạch/  
(Bia 10). Không giống hình trang trí trên trán bia và diềm bia  
thường gặp trên bia ở các di tích người Việt, bia Hội quán ở đây cũng không có diềm bia và  
hoa văn trang trí, mà thường tô thêm đường viền bằng hoa văn chữ triện tạo nên hình dạng  
như một cái khung cho bài văn bia, như các bia: Bổn hội quán trùng tu gian chí/  
(Bia 7), Quỳnh Phủ hội quán bi kí/  
(Bia 12)…  
Tiêu đề văn bia Hội quán người Hoa Hội An ở một số văn bia cổ thì có nét tương đồng  
với tiêu đề văn bia Hán văn truyền thống. Đó là tiêu đề văn bia được khắc chữ to ở phía trên  
văn bản theo hàng ngang từ phải qua trái, như văn bia Dương Thương hội quán công nghị điều  
lệ/  
(Bia 22), hay văn bia Trùng tu đầu môn phụ đầu bi kí/  
(Bia 23)... Ngược lại với cách thức trang trí tiêu đề văn bia ở giai đoạn đầu, phần lớn văn bia  
được khắc ở giai đoạn sau đều không được khắc theo hàng ngang trên trán bia mà khắc theo  
hàng dọc ở cột chữ đầu tiên từ bên phải với cỡ chữ lớn hơn như văn bia Trùng tu Hội An Trung  
Hoa hội quán bi kí/  
(Bia 25)…  
Chữ khắc trên bia hoàn toàn là chữ Hán, chữ khắc theo lối chữ khải chân phương, rõ  
ràng. Trong những văn bia ở giai đoạn đầu, chữ viết được viết theo thông lệ văn bản Hán văn  
cổ truyền, trong đó có phần viết cách, viết đài, tôn xưng, khiêm xưng và kiêng húy. Những  
chữ kiêng húy thường gặp là chữ húy phổ biến của triều Nguyễn, Việt Nam như chữ Thời 時  
được đổi viết sang Thìn , chữ chủng , chữ hoa viết bớt nét,... nhưng chỉ xuất hiện trên  
văn bia ở các di tích ngoài Hội quán người Hoa. Chữ Hán khắc trên bia ở giai đoạn sau cũng  
là chữ Hán phồn thể, văn phạm theo cách thức cổ văn tương tự văn bản chữ Hán trên bia ở  
giai đoạn trước. Tuy nhiên, văn bia đã xuất hiện một số từ ngữ hiện đại, kết cấu ngữ pháp của  
tiếng Hán hiện đại, như từ Kê khai, toàn bộ: “Kê khai phương danh liệt thứ/  
”,  
hoặc “Trùng tu Hội An Trung Hoa Hội quán chính điện, Đông tây lang ốc diện môn song, cập  
toàn bộ trùng tân du tất, tổng cộng nhất vạn tam thiên bát bách ngũ mỹ nguyên/  
(Bia số 28,  
khắc năm 1995),…  
Niên đại văn bia chữ Hán ở Hội quán Hội An sớm nhất là năm Vĩnh Hựu thứ 7 (1741)  
thời Lê, Việt Nam và năm Đinh Sửu (1757) niên hiệu Càn Long đời Thanh, Trung Quốc, văn bia  
muộn nhất là năm 1999.  
Cách ghi niên đại ở giai đoạn đầu được ghi theo niên hiệu vua Việt Nam và Trung Quốc  
kết hợp với năm can chi. Cụ thể như năm Vĩnh Hựu thất niên tuế thứ Tân Dậu/  
(1741), niên hiệu thời Lê và Tự Đức thập tam niên/  
niên/ (1880), Khải Định nguyên niên/  
Việt Nam; Càn Long Đinh Sửu/  
(1860), Tự Đức tam thập tam  
(1916) niên hiệu thời Nguyễn,  
(1757), Hàm Phong nhị niên/  
(1852,Hàm  
(1887), Quang Tự thập  
Phong ngũ niên/  
bát niên/  
(1855), Quang Tự thập tam niên/  
(1893), Quang Tự tam thập nhị niên/  
(1894) niên hiệu triều  
Thanh và Trung Hoa Dân Quốc Nhâm Dần niên/  
(1902), Trung Hoa Dân Quốc  
lục niên/  
(1915), Trung Hoa Dân Quốc thập niên/ (1921), Trung  
Hoa Dân Quốc thập lục niên/  
(1927), Trung Hoa Dân Quốc thập thất niên/  
(1928), Trung Hoa Dân Quốc tam thập ngũ niên /  
(1945),  
Trung Hoa Dân Quốc ngũ thập cửu niên  
(1970). Phần lớn bia khác có niên  
đại thuộc giai đoạn sau đều dùng số chữ Hán hay chữ số Ảrập như Công nguyên nhất cửu thất  
linh niên/ (1970), hoặc 1974, Công nguyên 1992, 1995, Ất Hợi 1999, 1999....  
33  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
Người Hoa đến Hội An chủ yếu từ sau phong trào phản Thanh phục Minh, nên phần lớn  
những người lánh nạn nhà Thanh sang Việt Nam đều không chấp nhận nhà Thanh. Chính vì  
thế mà văn bia sớm nhất khắc ở Hội quán Dương Thương vào năm 1741 lại ghi niên đại theo  
niên hiệu Vĩnh Hựu nhà Lê mà không ghi theo niên hiệu Càn Long nhà Thanh. Đến khi Tôn  
Trung Sơn lập ra Trung Hoa dân quốc vào năm 1912, họ hưởng ứng và ngưỡng vọng, nên  
những văn bia dựng khắc từ năm này trở đi đều tính theo quốc hiệu Trung Hoa Dân Quốc, kể  
cả sau khi Quốc hiệu này kết thúc.  
Các văn bia trên đều gắn với các Hội quán người Hoa ở Hội An và ở Quảng Ngãi, do cộng  
đồng người Hoa tại địa phương và các nơi khác tạo dựng. Ngoài những văn bia ở các Hội quán  
này, còn có không ít văn bia chữ Hán khác cũng do người Hoa dựng khắc liên quan đến cộng  
đồng người Hoa ở Hội An, như văn bia ở miếu Quan Thánh, chùa Ông, chùa Cầu, từ đường,  
mộ địa người Hoa, cũng như những minh văn khắc trên chuông đồng, đại tự khắc trên biển  
gỗ trong các Hội quán này,… Đây là kho tàng tư liệu xác thực, phong phú phản ánh sinh động  
hoạt động của người Hoa tại Hội An và khu vực miền Trung Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử.  
Bang 1. Thống kê văn bia chữ Hán văn về người Hoa tại Hội An và vùng phụ cận  
Kí hiệu  
thác ban  
Hội quán  
Tên bia  
Nội dung  
Niên đại  
Càn Long  
Đinh Sửu  
(1757)  
1. Phúc Kiến hội quán Càn Long Đinh  
sửu bi/  
Khởi dựng  
Hội quán  
Sửa  
Hội quán  
1900  
2. Tiếp tu bái đình/  
Phúc Kiến,  
Hội An  
Các Bang người  
Hoa trùng tu  
3.Trùng tuPhúc Kiến hội quá/  
1974  
(5 bia)  
4. Bổn hội quán trùng tu cập tăng kiến  
tiềnmônbikí/  
Trùng tu  
Hội quán  
1974  
5. Thiên Hậu Thánh Mẫu sử lược giản Lược sử Thiên  
giới  
hậu Thánh mẫu  
6.HộiAnQuảngTriệuhộiquántrùngtu  
giản chí  
Trùng tu  
Hội quán  
Lược ghi việc  
trùng tu  
Hội quán  
Dân Quốc 6  
(1917)  
56449  
56447  
7. Bổn hội quán trùng tu giản chí/  
1971  
8. Quảng Triệu hải nội ngoại  
trùng  
tu  
hội  
quán/  
Trùng tu  
Hội quán  
1992  
56450  
Quảng Triệu,  
Hội An  
(5 bia)  
9.Mỹ quốc Hội An đồng kiều tán trợ  
trùng tu Hội An Quảng Triệu hội quán  
VạnThiệnđườngkinhphí/  
Trùng tu  
Hội quán  
1999  
56451  
56452  
10. Xướng kiến Quảng Triệu hội quán Xây dựng Hội  
bi thạch/ quán  
34  
Đinh Khắc Thuân  
Sửa chữa  
Hội quán  
Quang Tự  
18 (1893)  
11.TutạoBảoLongđình/  
56435  
Dân Quốc,  
Nhâm Dần 56433  
(1902)  
12. Quỳnh Phủ hội quán bi ký/  
Xây dựng  
Hội quán  
13.LữViệtHộiAnQuỳnhPhủhộiquánbi Trùng tu Hội  
Quỳnh Phủ,  
1974  
1975  
56434  
thạch/  
quán  
Hội An  
(5 bia)  
14. Nhất cửu thất ngũ niên hậu  
lữ ngoại đồng hương quyên trợ  
tu tập hội quán thiện trường  
Trùng tu  
Hội quán  
phương  
danh  
lục/  
15. Chiêu Ứng Công sự giản lược giới/ Lịch sử 108 vị  
Chiêu Ứng công  
16. Phước Duyên thiện khánh/ Phục Ba tướng Hàm Phong  
56455  
56456  
quân sự tích  
2 (1852)  
17. Triều Châu Hội quán trùng kiến bi  
kí/  
Xây dựng  
Hội quán  
Quang Tự  
13 (1887)  
Triều Châu,  
Hội An  
18. Hội An Triều Châu hội quán trùng  
tu bi kí/  
Trùng tu  
Hội quán  
Dân quốc  
59 (1970)  
(4 bia)  
19. Hội An Triều Châu hội  
quán trùng tu lạc thành bi kí/  
Trùng tu  
Hội quán  
1995  
20. Thiên Hậu Thánh Mẫu sử lược giản Sự tích Thiên  
giới/  
Hậu Thánh Mẫu  
21. Chính tân kiến Thiên hậu  
thánh mẫu long tòa giản chí/ Xây mới điện thờ  
22. Dương Thương hội quán công Điều lệ Hội quán Vĩnh Hựu 7  
56462  
56463  
nghị điều lệ/  
Dương Thương  
(1741)  
23. Trùng tu đầu môn phụ đầu bi kí/  
Trùng tu Hội Hàm Phong  
quán  
5 (1855)  
Hội quán  
Trung Hoa,  
Hội An  
24.  
Trung  
lục  
Hoa  
niên  
dân  
kính  
quốc  
Di chúc của  
Dân Quốc  
thập  
tuyên/  
56464  
56465  
Tôn Trung Sơn 16 (1927)  
(9 bia)  
25.TrùngtuHộiAnTrungHoahộiquán  
bi kí/  
Trùng tu  
Hội quán  
Dân Quốc  
17 (1928)  
26. Thập liệt sĩ tuẫn quốc kỷ niệm bi  
kí/  
Dân Quốc 35  
(1945)  
Bi kỷ niệm 10 liệt sĩ  
27. Lữ Mĩ Hội An đồng kiều  
trùng tu Trung Hoa hội quán/  
Trùng tu Hội  
quán  
1995  
28. Hội An Trung Hoa hội Kê các lần tu sửa.  
quán  
trùng  
tu  
giản  
chí/ Hội AnTrung Hoa Ất Hợi (1995)  
hội quán  
35  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
29. Việt Nam Quảng Ngãi tỉnh  
Hội quán  
Quang Tự  
Quỳnh Châu Hội quán tự/ Quỳnh Châu, vốn 32 (1907)  
20432  
20433  
phủ Tư Nghĩa  
(1945)  
Hội quán  
tỉnh  
Quảng Ngãi  
(3 bia)  
Hội quán  
Phúc Kiến, vốn  
phủ Tư Nghĩa  
Hội quán  
Triều Châu,  
vốn phủ Tư  
Nghĩa  
Hội Triều Âm thờ  
Quan Âm  
Hòa thượng  
Minh Hải sang từ  
thời Minh  
Quang Tự  
Giáp Ngọ  
(1894)  
30. Trùng tân công từ bi/  
31. Triều thương công sở bi ký/  
32. Triều Âm phổ bi văn/  
Tự Đức 32  
(1879)  
20434  
19337  
19339  
19323  
Chùa Chúc  
Thánh,  
Hội An  
(2 bia)  
Quang Tự  
18 (1893)  
33. Vô đề  
Chức sắc xã Minh Quang Tự  
Hương tu sửa cầu 32 (1894)  
34.Trùng tu LaiViễn kiều ký/  
Cầu Lai  
Viễn, Hội An  
(2 bia)  
Dân Quốc,  
Chức sắc xã Minh  
Nhâm Dần  
35. Tu tạo Lai Viễn kiều/  
Hương tu sửa cầu  
(1902)  
Người Hoa giữ  
36. Vô đề  
1974  
19322  
19314  
cước sắc làng xã  
Vị họ Trương  
Khải Định 1  
sang lập ra thôn  
(1916)  
Từ đường,  
Hội An  
(3 bia)  
37. Vô đề  
Nam Cường  
Ghi các họ từ  
38. Tụy Tiên đường/  
39. Vô đề  
Trung Quốc sang  
Dân xã Minh  
Hàm Phong  
Hương sửa miếu  
2 (1852)  
Miếu  
Quan  
Thánh,  
Hội An  
(2bia)  
19316  
19319  
Quan Thánh  
Trùng tu miếu Tự Đức 32  
40. Vô đề  
thờ Quan Công  
(1879)  
41.SángkiếnQuảngTriệuHộiquáncác Ghi tên người  
Quang Tự  
24 (1898)  
thiêm đề phương danh khai liệt  
42. Bổn Hội quán trùng tu tiểu dẫn /  
43. Quan Đế miếu bi văn  
xây dựng  
Hội quán  
Hội quán  
Thừa Thiên-  
Huế (3 bia)  
Ghi tên người  
trùng tu  
Dân Quốc  
51 (1962)  
Hội quán  
Ngũ bang trùng  
tu miếu  
Tân Tỵ  
(1881)  
19299  
(Nguồn: Đinh Khắc Thuân tổng hợp, 2021)  
3. Tư liệu văn bia người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận  
3.1. Về các công trình công cộng kiến trúc người Hoa  
Trong thời gian làm ăn và sinh sống tại Hội An và khu vực miền Trung, người Hoa xây  
dựng nhiều công trình công cộng, tiêu biểu là Hội quán, đền, miếu, chùa, từ đường dòng họ.  
36  
Đinh Khắc Thuân  
Trong số các Hội quán người Hoa ở Hội An và phụ cận, tiêu biểu nhất là Hội quán Phước Kiến  
và Hội quán Trung Hoa ở Hội An.  
Hội quán Phước Kiến do cộng đồng người Hoa tỉnh Phúc Kiến xây dựng sớm nhất vào  
những năm cuối thế kỷ XVII với tên gọi là chùa Kim Sơn, đến năm 1757 được xây mới và lấy  
tên là Mân Thương hội quán  
, đến năm 1900 mới đổi gọi là Phước Kiến Hội quán  
. Vì thế trong khuôn viên Hội quán này ngày nay vẫn có ngôi chùa Kim Sơn. Điều đó được  
phản ánh khá cụ thể trong bài văn bia Bổn hội quán trùng tu cập tăng kiến tiền môn bi kí/  
khắc năm 1974, có đoạn viết:  
“Nhớ lại hội quán ta sáng lập vào khoảng năm Khang Hy, cách nay đã hơn hai trăm bảy  
mươi năm. Lúc đầu, chọn nơi đất thờ lớn dựng cỏ tranh làm miếu để phụng cúng Thiên Hậu  
Thánh Mẫu, lấy tên là chùa Kim Sơn. Trải qua hơn sáu mươi năm, nhân vì miếu tranh khó bảo  
trì, nên vào năm Càn Long, Đinh Sửu, công nguyên năm 1757, mọi người góp tiền của xây  
dựng miếu ngói, đặt tên lại là “Mân Thương hội quán”. Khi này quán xá ẩm thấp nhỏ hẹp, nên  
vào năm Đạo Quang Ất Dậu, tức năm 1849, xây thêm Hậu điện phụng thờ Lục tánh Vương Da  
công, cùng các tòa trước sau đều được xây dựng lại. Sau đó đến năm Quang Tự Ất Mùi, tức  
năm 1895, lại trùng tu lớn đến năm Quang Tự Canh Tý, tức năm 1900 thì hoàn thành toàn bộ.  
Do đó đặt tên là Phúc Kiến Hội quán duy trì đến nay”(Bia số 4)(1).  
Lần xây dựng Hội quán vào năm Càn Long Đinh Sửu (1757) được ghi lại cụ thể qua văn  
bia có nội dung như sau:  
“Ngẫm đến ánh sáng ngũ sắc rạng rỡ, hẳn không quên lòng từ bi hiện hóa thành thuyền  
từ đến phương nam cứu giúp chúng sinh yên lành. Trong lúc khốn khó thì có Nương Nương  
ở đây. Ai đắc tội nào, kẻ chịu tai ách gì, cầu khẩn đều được cứu giúp. Vào giờ Ngọ, theo xuống  
biển, ôm thân vàng, vượt sóng đến đất Cẩm An Chiêm Thành, xây dựng miếu thờ ở đây đã  
hơn 60 năm rồi. Nhân miếu lợp tranh lá, e rằng không được lâu bền, nên nay vào tháng 3 cho  
người hưng công ngói miếu thiêng, lưu danh cứu đời, ai cầu tài cầu lợi đều đến đây cả.  
Đệ tử ơn nhờ ân trạch người họ Trần huyện Tấn Giang phủ Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến  
kính cẩn dựng bia. Ngày lành tháng 5 năm Càn Long Đinh Sửu (1757)”(Bia số 1)(2).  
Nội dung văn bia trên cho biết, Hội quán lần đầu được xây gạch lợp mái ngói vào năm  
1757, nhưng trước đó khoảng trên 60 năm, tức khoảng năm 1690, Hội quán đã có, nhưng  
chỉ là vách đất, mái cỏ. Ngoài ra, ở đây hiện còn một quả chuông chùa cổ được đúc vào năm  
Khang Hy thứ 26 (1687). Đó là dấu tích ngôi chùa Kim Sơn trước khi được cộng đồng người  
Hoa Phúc Kiến dựng Hội quán Mân Thương hay Phúc Kiến. Sau đó, Hội quán tiếp tục được  
trùng tu, mở mang quy mô và lần trùng tu lớn gần đây nhất là từ năm 1971 đến năm 1974  
như văn bia Bổn hội quán trùng tu cập tăng kiến tiền môn bi kí/  
nêu trên đã ghi lại.  
Hội quán Trung Hoa là nơi sinh hoạt chung của Hoa Kiều tại Hội An, vốn ban đầu có tên  
gọi là Dương Thương hội quán, hay Chùa Ngũ Bang. Kể từ sau Cách mạng Tân Hợi (1911), Hội  
quán này được gọi là là Hội quán Trung Hoa. Về nguồn gốc và quá trình xây dựng Hội quán  
này, bài văn bia Trùng tu Hội An Trung Hoa hội quán bi kí/  
khắc năm  
Trung Hoa Dân Quốc thứ 17 (1927) mở đầu có đoạn viết:  
“Hội quán Trung Hoa xưa là hội quán Dương Thương. Nay đề bảng tên là Trung Hoa,  
ý bày tỏ không quên tổ tiên vậy! Theo khảo cứu, bến đỗ Hội An là dinh trấn quan trọng của  
Quảng Nam, trước thuộc đất Chiêm Thành, sau quy về nước Việt Nam, ngày càng phồn thịnh,  
37  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
cuối cùng thành bến giao thương phía Nam. Hoa kiều đầu tiên thiên di là Giang Tô, Triết Giang  
và sau đó là Phúc Kiến, Quảng Đông. Thuyền buồm vãng lai đến trọ ở đất này. Vào lúc nhà Chu  
Minh thất thủ, nhiều người khẳng khái theo cách hái rau Vi ở đất Thủ Dương, tiếp tục nối gót  
mà đến nơi này, mọi người tụ hội, cùng nhau xây dựng hội quán phồn hoa, vì vậy đặt tên như  
vậy”(Bia 25)(3).  
Đặc biệt văn bia Hội An Trung Hoa hội quán tu gian chí/  
khắc  
năm 1995 cho biết Hội quán này trải qua 8 lần xây dựng, trùng tu lớn như sau: Lần thứ nhất  
(1855), trùng tu cổng ngõ, bến thuyền. Lần thứ 2 (1891), ghi lại các hoành phi. Lần thứ 3  
(1928), đổi tên “Dương Thương hội quán” thành “Trung Hoa hội quán” và dựng trụ sắt hành  
lang đông tây. Lần thứ 4 (1958), sơn tô mới toàn bộ gian thờ Thiên Hậu và tu sửa cửa sổ, mái  
nhà, bờ tường… Lần thứ 5 (1970), sửa đổi bộ phận kèo cột gian thờ Thiên Hậu, gắn gạch hoa  
toàn bộ, sơn tô đỉnh nóc tường nhà, cửa sổ… Lần thứ 6 (1993), sửa lại khám thờ chánh điện  
Thiên Hậu và sửa nhà Đông, nhà Tây, kẻ hoa văn trên cửa và sơn tô toàn bộ. Lần thứ 7 (1994),  
xây dựng lại vườn sau, xây tường rào hội quán Trung Hoa. Lần thứ 8 (1995), hoàn thành toàn  
bộ bên trong bên ngoài của công trình.  
Như vậy, ban đầu Hội quán này có tên là Dương Thương hội quán, tức là Hội quán của  
những thuyền buôn. Do đó, văn bia sớm nhất ở đây khắc vào thế kỷ XVIII là những quy ước  
hoạt động của các thương thuyền người Hoa khi đến Hội An, sau đó mới thành Hội quán  
chung cho các bang Hoa kiều ở Hội An, nên có tên Trung Hoa Hội quán.  
Ngoài hai Hội quán này ra, các Hội quán khác như Hội quán Triều Châu được xây dựng  
muộn hơn vào năm 1845, Hội quán Quỳnh Phủ được xây dựng từ năm 1875 mà ban đầu  
mang tên là Nghĩa liệt huynh đệ miếu, Hội quán Quảng Triệu hay Hội quán Quảng Đông, chùa  
Quảng Triệu được xây dựng vào năm 1884. Hội quán Phúc Kiến ở Quảng Ngãi được xây dựng  
năm Tự Đức 32 (1879). Tại Thừa Thiên- Huế, có bốn Hội quán được dựng, đó là Hội quán Quỳnh  
Châu, Quảng Triệu, Triều Châu và Hội quán Phúc Kiến. Trừ Hội quán Phúc Kiến được xây dựng  
sớm vào thời Chúa Nguyễn, còn lại đều được xây dựng dưới triều nhà Nguyễn, tương đương  
các Hội quán cùng Bang như ở Hội An vào thế kỷ XIX. Ở Thừa Thiên-Huế không chỉ có Hội quán  
mà còn có miếu Quan Thánh, cung Thiên Hậu do người Hoa dựng, nhất là miếu Quan Thánh  
trở thành nơi tụ hội thương thuyền của cả Ngũ bang“Quan đế miếu là nơi đi đến, tụ tập hàng  
hóa của thuyền khách Ngũ bang”/  
miếu bi văn , kí hiệu 19299)  
(Quan đế  
3.2. Về cộng đồng người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận  
Cộng đồng người Hoa ở Hội An và miền Trung Việt Nam khá hưng thịnh cùng với sự  
hưng thịnh của thị tứ Hội An vào thế kỷ XVII, XVIII. Cùng với các nhà buôn là các vị sư người  
Hoa đã đến vùng đất Hội An từ khá sớm. Văn bia Vô đề chùa Chúc Thánh, phường Tân An,  
thành phố Hội An, kí hiệu 19339, cho biết Minh Hai hòa thượng tổ sư người huyện Đồng An  
phủ Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến vào năm Giáp Tý niên hiệu Cảnh Thái (1444) đã đến đây lập  
chùa với tên gọi là chùa Chúc Thánh, như văn bia đã ghi “Truy nguồn trước ngày vào năm  
Giáp Tý (1444) niên hiệu Cảnh Thái, có Sư tổ là Hòa thượng hương Minh Hải huyện Đồng An  
phủ Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến đến xây dựng thành chùa, để lại 5 dòng, 7 phái mãi mãi lưu  
danh”(4). Sau đó chùa này được xây dựng mới và trùng tu vào các năm 1845, 1849, trở thành  
nơi khai sinh ra chi phái Thiền Chúc Thánh của Thiền Lâm Tế.  
Hầu hết trên các văn bia xây dựng, tu tạo di tích tôn giáo, tín ngưỡng ở Hội An đều ghi  
lại họ tên, quê quán, cũng như tổ chức người Hoa tham gia, qua đó thấy rõ cộng đồng người  
Hoa ở đây trong từng giai đoạn lịch sử. Trên văn bia sớm nhất hiện biết ở Hội An là Phổ Đà Sơn  
38  
Đinh Khắc Thuân  
Linh trung Phật  
, khắc năm Canh Thìn (1640) niên hiệu Dương Hòa thời Lê ghi lại  
được hai người Hoa là cúng tiền xây dựng chùa là Đại Minh quốc họ Lã và họ Lâm mỗi người  
cúng 50 quan tiền.  
Người Hoa đến Hội An khai khẩn đất đai, lập ra làng xã. Văn bia mộ tổ họ Trương, kí hiệu  
19314 khắc năm Khải Định nguyên niên (1916), cho biết họ Trương này từ Trung Quốc đến Hội  
An lập ra thôn Nam Cường, sau thành xã Lương Châu, sinh sống đến năm 1916 được 17 đời(5).  
Văn bia Cung Trừng Hán  
người dân Triều Châu đến đây khai khẩn lập ra xã Triều Châu  
, kí hiệu 20390, khắc năm Tự Đức thứ 13 (1860) cho biết  
. Điều đặc biệt là người  
thời Minh đến Hội An lập ra làng Minh Hương sau trở thành xã Minh Hương, đơn vị hành chính  
cơ sở của triều đình nhà Lê, Nguyễn, Việt Nam. Văn bia miếu Quan Thánh, kí hiệu 19316, khắc  
năm Long Phi Quý Dậu, ghi họ tên chức sắc xã Minh Hương dựng bia, gồm: Các chức sắc và  
hương lão và hương trưởng xã Minh Hương, chủ yếu là người Hoa, gồm; Tăng Long Bá, Trần  
Duy Đức, Kha Quốc Thụy, Quách Duy Hinh, Quách Tự Minh, Từ Thiên Sán, Thiều Thiên Tích,  
Khang Đình Tuân,… Một văn bia trùng tu cầu Lai Viễn khắc năm Minh Mệnh Đinh Hợi (1827),  
cũng ghi lại các chức sắc hương lão, hương trưởng xã Minh Hương đứng ra sửa cầu.  
Để tôn thờ bậc tiền hiền đến khai khẩn vùng đất này và để lại cơ nghiệp lớn lao cho con  
cháu, những người Hoa ở Hội An dựng ngôi đền chung, gọi là Tụy Tiên đường. Văn bia Tụy Tiên  
đường萃先堂, khắc năm Duy Tân thứ 2 (1908), có nội dung như sau: “Đền thờ làng ta phụng  
thờ năm đại lão gia họ Ngụy, Trang, Ngô, Thiều, Hứa vốn là cựu thần nhà Minh. Bởi vận nước  
nhà Minh đã đổi thay, tấm lòng trung không thể thờ hai vua, bèn giấu quan hàm, họ tên, tránh  
sang phía Nam, tập hợp lại gọi là người nhà Đường (người Hoa), lập nghiệp ở phương Nam thì  
lấy chữ Minh để bảo tồn quốc hiệu. Sáu châu tỉnh lúc đầu đều đến lập nghiệp ở Quảng Nam  
cả”(6).  
Người Hoa đến từ nhiều vùng miền khác nhau của Trung Quốc, nên họ lập ra các Bang  
riêng tập hợp những người cùng quê quán, như Bang Phúc Kiến, Bang Quảng Đông, Bang  
Triều Châu,...Mỗi Bang có một Bang trưởng, được nhiều văn bia ghi lại, như văn bia Tu tạo Lai  
Viễn kiều/  
, khắc năm Khải Định thứ 2 (1917) cho biết thời điểm đó có 5 vị Bang  
trưởng là: Đức Ký hiệu Bang trưởng Bang Phúc Kiến, Nam Lai hiệu Bang trưởng Bang Quảng  
Đông, Hứa Hoàng Hợp Bang trưởng Bang Triều Châu, Thành Phúc Lợi Bang trưởng Bang  
Quỳnh Phủ và Chấn Long đường Bang trưởng Bang Gia Ứng(7).  
Ở Hội quán Trung Hoa có bài văn bia Trùng tu đầu môn phụ đầu bi ký/  
khắc năm Hàm Phong 5 (1855) cho biết, Hội quán Dương Thương năm 1855 có 4 vị Bang  
trưởng thuộc 4 bang làm thường trực là Dương Nghĩa Hợp Bang trưởng Bang Gia Ứng, Thẩm  
Thuận Ký Bang trưởng Bang Phúc Kiến, Trần Đức Thắng Bang trưởng Bang Triều Châu và Lợi  
Hiệp Thắng Bang trưởng Bang Quảng Đông, cùng 115 thương nhân khác là các công ty và cửa  
hiệu đóng góp tiền tu sửa Hội quán (8).  
Văn bia người Hoa ở Thừa Thiên Huế cũng cho biết, nơi đây có 5 bang người Hoa. Đặc  
biệt, cộng đồng người Hoa ở Huế được các Bang người Hoa ở các địa phương khác, nhất là  
khu vực miền Trung liên kết hỗ trợ nhau trong làm ăn và xây dựng Hội quán. Văn bia “Sáng  
kiến Quảng Triệu Hội quán các thiêm đề phương danh” (Bia số 41) ở Hội quán Quảng Triệu,  
Huế cho biết năm 1898 tham gia xây dựng Hội quán này không chỉ có cộng đồng người Hoa  
ở Huế (Thuận Kinh), mà còn có khá nhiều người Hoa ở các địa phương khác như Hiến Cảng  
(Đà Nẵng), Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An,  
thanh hóa.  
39  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
Điều nổi bật nữa là tư liệu văn bia ở Hội An và phụ cận cho biết việc buôn bán kinh  
doanh của người Hoa khá thành đạt và được tổ chức chặt chẽ. Vì thế, cộng đồng người Hoa  
ở Hội An từ rất sớm đã lập ra hội tương tế, giúp đỡ nhau làm ăn, sinh sống. Chẳng vậy mà  
Hội quán đầu tiên mang tên là Dương Thương Hội quán  
thuyền hải ngoại), sau mới đổi thành Hội quán Trung Hoa  
(Hội quán cho các thương  
Hội quán này khi đầu như  
một trụ sở chung cho thương thuyền người Hoa khi đến Hội An. Do đó, cộng đồng người Hoa  
ở đây sớm có điều lệ chung để thực thi. Điều lệ đó được khắc trên văn bia sớm nhất ở Hội quán  
Hội An, là Dương Thương hội quán công nghị điều lệ/  
khắc năm Vĩnh Hựu  
thứ 7 (1741) niên hiệu vua Lê, Việt Nam qua đoạn dịch dưới đây.  
“Các điều lệ cụ thể kê ra sau đây:  
Điều 1: Việc cúng tiền vào miếu thờ, thì mỗi 2 lượng nạp 3 ly, Hội quán thiết lập sổ bạ,  
mỗi thuyền 1 bản giao cho công ty khai thu theo hóa đơn xuất hàng ngày. Sau đó, sổ bạ liền  
nộp cho người quản lý Hội quán. Nếu sổ bạ giữ lại không nộp, có ý dấu diếm tiền nộp, thì gửi  
lại cho thuyền trưởng thu nộp.  
Điều 2: Trong Hội quán thiết lập một hòm lớn đựng quỹ, đương sự thu tiền ghi sổ bạ  
rồi để vào trong hòm. Đến trước lúc dùng đến tiền, người quản lý cùng mọi người mở lấy chi  
dùng, một người không được mở. Thuyền trưởng tập hợp kiểm tra mỗi năm một lần.  
Điều 3: Thu bãi đỗ cửa bến không đủ thì trích thu từ thuyền nhỏ và thuyền không, số  
tiền là 5 quan.  
Điều 4: Những khi mất nước, khó khăn cho khách trú ở Hội quán, thì mỗi tháng trợ cấp  
cho mỗi người 3 mạch tiền. Chờ đến tháng 3 khi gió lên thường có thuyền hàng, nếu ai quả  
không có người thân để cậy nhờ, thì tạm cho ở thêm, nhưng không cấp tiền trợ cấp. Đến hạn,  
thuyền hàng khởi hành, cấm chỉ không được trú lại lâu.  
Điều 5: Định lệ khách nào không có người thân thích mà ốm đau tại Hội quán thì mỗi  
tháng cấp cho 3 mạch tiền cứu trợ. Bệnh khỏi, liền rời đi, không được ở lâu. Thầy cúng làm lễ,  
trước tiên hỏi bệnh nhân quê quán, họ tên, thuyền nào đỗ lại để tránh bị giả mạo. Nếu không  
may bị ốm chết, thì cấp cho 2 quan tiền để chi phí mai táng. Chôn cất ở nơi nào báo để người  
quản lý biết ghi vào sổ. Đợi người thân đến kiểm tra, không được để hồn thác không có nơi  
nương cậy.  
Điều 6: Bọn côn đồ không chịu làm ăn, cùng kẻ cờ bạc, nghiện hút, loạn tặc thì không  
cho ở trong Hội quán. Ai vi phạm giao người quản lý bẩm báo với quan trên trừng trị, trục xuất.  
Điều thứ 7: Khách mới đến đây lấy vợ, vợ mang thai, tất phải đăng ký rõ người tỉnh nào,  
làng xã nào, có đơn nộp cho chấp sự. Đến ngày sinh con, hoặc nam hoặc nữ thì cho người  
nhà bên vợ đưa đơn đến Hội quán trình báo rõ với người quản lý, ngày tháng nào sinh con và  
người vợ sinh quán, sinh sống ở đâu, khai báo rõ ràng ghi trong sổ bạ để tránh thất lạc về sau.  
Điều thứ 8: Hội quán nếu có tiền thặng dư thì không cho vay sinh lợi mà tạm chuyển giữ  
để phòng chi dùng lúc sớm tối, khi mất nước, gió lớn, e rằng gặp sự cố đó đối phó không kịp.  
Điều thứ 9: Hội quán khi bài trí đồ đạc, khí cụ cúng tế, tất phải đăng ký vào sổ. Nếu lâu  
ngày bị hư hại, thì người quản lý kiểm tra yêu cầu tu sửa, hoặc khi cho mượn dùng mà tổn hại  
thì người nào mượn phải sửa chữa hoặc bù vào, nếu bị thất lạc do thầy cúng thì đền gấp đôi.  
Người quản lý Hội quán luôn kiểm tra đồ thờ, thầy cúng kiểm tra kinh sách, không được lơ đãng.  
Điều thứ 10: Người quản lý Hội quán không được dấu diếm, không được chối việc không  
làm, cũng không được thông đồng kéo níu vào làng Minh Hương, tất phải bị phán xét hoặc  
40  
Đinh Khắc Thuân  
phải chuyển đi nơi khác, hoặc phải hồi hương, châm chước bàn bạc thay thế người mới phải  
thành thực, biện luận, không được tùy ý tiến cử, không để hoang phế nền móng mà tiền nhân  
đã gây dựng”(9).  
Điều lệ chung của Hội quán này bao gồm 10 điều, quy định liên quan đến việc lập quỹ  
hội quán, số tiền nộp, tiền thuyền đỗ bến, vấn đề khách trú tại hội quán, việc tử tuất, hôn nhân  
hộ tịch, an ninh trật tự, quản lý tiền quỹ hội quán, chức trách, nhiệm vụ của Lý sự hội quán. Tất  
cả những điều khoản này được cho giữ đạo công bằng, phân rõ thị phi, cắt đứt tranh trụng.  
Một văn bia khác ở Hội quán Triều Dương ở Quảng Ngãi là Triều Thương công sở bi ký/  
kí hiệu 20434, khắc năm Tự Đức 32 (1879) ghi lại điều lệ của các Các công ty cửa  
hiệu buôn bán trong bang như sau:  
“Điều 1: Thuyền mới đến vào đỗ trong bến, lệ thu tiền cho Hội quán là 200 quan. Điều 2:  
Thuyền mới đến dừng ở ngoài bến, theo lệ tu sửa quán trang nghiêng, thu tiền 100 quan. Điều  
3: Công sở đặt việc chi tiêu công gồm 4 điều để tiện các thuyền buôn dùng để tránh tranh cãi.  
Điều 4: Các khách buôn, hộ buôn thuộc bang khi mua đường xuất ở cảng thì mỗi giác thu 12  
văn”(10).  
Hội tương tế không chỉ giúp nhau làm ăn buôn bán, mà còn giúp đỡ nhau cả trong sinh  
hoạt, cuộc sống hàng ngày, cũng như việc tang ma, ốm đau, hoạn nạn. Điều đó góp phần hình  
thành phong tục tập quán cố kết cộng đồng truyền thống của người Hoa ở hải ngoại.  
Đặc biệt, Bang hội người Hoa có vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động và duy  
tu các công trình kiến trúc Hội quán ở Hội An. Họ đã lập ra Hội trùng tu Hội quán ở Hội An, như  
trong các lần tu sửa Hội quán Trung Hoa vào năm 1928 và năm 1995. Các ủy viên Hội trùng tu  
này đã vận động tiền của để tu bổ Hội quán, như văn bia“Trùng tu Hội An Trung Hoa hội quán  
bi kí”, khắc năm Dân Quốc thứ 17 tức năm 1928, cho biết, Hội trùng tu Hội quán Trung Hoa đã  
vận động được khoảng 150 công ty, cửa hiệu và cá nhân người Hoa đóng góp tiền được trên  
6.000 đồng để tu sửa Hội quán Trung Hoa. Một văn bia khác cũng ở Hội quán Trung Hoa này có  
tiêu đề là “Hội An Trung Hoa Hội quán trùng tu giản chí”, khắc năm 1995 ghi lại lần tu sửa Hội  
quán vào thời điểm này huy động được 13.850 Mỹ kim và 11 tỷ đồng tiền Việt từ thành viên  
các bang hội người Hoa, trong đó có Hội Hoa kiều tại Mỹ. Người Hoa luôn coi các Hội quán là  
di sản văn hóa của họ ở hải ngoại, nên dù ở đâu, họ luôn quan tâm đến việc duy trì hoạt động,  
cũng như duy tu các Hội quán này.  
Hội quán người Hoa ở Hội An nằm trong khu di tích phố cổ Hội An được UNESCO công  
nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Sau lần vinh danh này, Hội An trở nên nổi tiếng  
và thu hút ngày một nhiều du khách quốc tế tham quan, du lịch. Tuy nhiên, việc quản lý và tổ  
chức hoạt động ở các Hội quán này có những thay đổi nhất định. Việc duy tu các công trình  
kiến trúc cổ ở Hội An, trong đó có các Hội quán người Hoa gặp không ít trở ngại, bởi nhu cầu  
lượng kinh phí lớn vượt quá sự đáp ứng của chính quyền và người dân địa phương. Vấn đề đặt  
ra ở đây là cần duy trì mối liên hệ chặt chẽ với các Bang hội người Hoa ở các địa phương trong  
nước và ở nước ngoài trong việc duy trì hoạt động và duy tu các di tích Hội quán này.  
4. Kết luận  
So với văn bia chữ Hán về người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Phố Hiến  
(Hưng Yên), văn bia ở ven biển miền Trung, nhất là Hội An chiếm số lượng khá lớn và khá  
phong phú về thông tin tư liệu. Bài viết chủ yếu điều tra tư liệu từ kho thác bản văn bia tại  
Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bước đầu sưu tập được 43 văn bia, trong đó chủ yếu tập trung ở  
khu phố cổ và Hội quán người Hoa Hội An. Niên đại văn bia sớm nhất khắc vào năm Vĩnh Hựu  
41  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
thứ 7 (1741) thời Lê, Việt Nam, số còn lại chủ yếu được khắc dựng vào thời Nguyễn đến năm  
1945. Tuy nhiên, văn bia Hội quán người Hoa ở Hội An vẫn được khắc dựng sau năm 1945 đến  
những năm gần đây (1999). Văn bia chủ yếu viết được soạn bằng chữ Hán với đặc điểm văn  
bản, văn phong khác nhau gắn với hai giai đoạn dựng khắc khác nhau: trước và sau năm 1945.  
Nội dung tư liệu văn bia khá phong phú, trực tiếp ghi lại các sự kiện cụ thể diễn ra, như  
các lần xây dựng, trùng tu Hội quán, chùa miếu và các công trình kiến trúc khác. Đặc biệt ghi  
chép khá chi tiết về danh tính, cùng quê quán các thương thuyền, hiệu buôn người Hoa là  
hưng công hội chủ và người đóng góp xây dựng các công trình công cộng ở đây. Ngoài ra là  
những quy định hoạt động của Bang hội người Hoa trong làm ăn, sinh sống và hoạt động tín  
ngưỡng. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi mới chỉ điểm ra đôi điều về một số Hội quán và  
cộng đồng người Hoa ở khu vực miền Trung mà tiêu biểu là ở Hội An. Vì vậy, cần thiết sưu tập,  
giới thiệu tập sách văn bia chữ Hán về người Hoa ở ven biển miền Trung với đông đảo bạn  
đọc, nhà nghiên cứu nhằm đi sâu nghiên cứu toàn diện hơn nữa, đồng thời đề xuất giải pháp  
nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa quý giá này.  
Chú thích:  
(1). Nguyên văn chữ Hán:  
Bia Bổn hội quán trùng tu cập tăng kiến tiền môn bi kí /  
(2). Nguyên văn chữ Hán:  
Bia Phúc Kiến hội quán Càn Long Đinh sửu bi/  
(3). Nguyên văn chữ Hán:  
Bia Trùng tu Hội An Trung Hoa hội quán bi kí/  
(4). Nguyên văn chữ Hán:  
Văn bia chùa Chúc Thánh, kí hiệu 19339.  
(5). Nguyên văn chữ Hán:  
Bia mộ, kí hiệu 19314.  
(6) Nguyên văn chữ Hán:  
Văn bia Tụy Tiên đường  
khắc năm Duy Tân thứ  
2 (1908).  
(7). Nguyên văn chữ Hán:  
Bia Tu tạo Lai Viễn kiều/  
(8). Nguyên văn chữ Hán  
Bia Trùng tu đầu môn phụ đầu bi ký  
42  
Đinh Khắc Thuân  
(9). Nguyên văn chữ Hán: Bia Dương Thương hội quán công nghị điều lệ/  
kí hiệu 20434.  
Ghi chú: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia  
(NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.05-2019.01  
Tài liệu tham khao:  
Viện Nghiên cứu Hán Nôm (2005). Tổng tập thác ban văn khắc Hán Nôm. Nxb Khoa học  
xã hội. Hà Nội.  
43  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
Châu Thị Hải. (1992). Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội.  
Hà Nội  
Tống Quốc Hưng. (2009). Cộng đồng người Hoa – Minh Hương ở thương cảng Hội An.  
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3, tr.67-75.  
Nguyễn Ngọc Thơ. (2011). Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hoa Nam. Tạp chí Phát triển khoa học  
và công nghệ, tập 14: 42-60.  
Phạm Thúc Hồng. (2012). Hội quán, đền miếu người Hoa ở Hội An. Nxb. Đà Nẵng.  
Nguyễn Hoàng Thân. (2013). Đặc điểm ngôn ngữ văn bản văn bia trùng tu hội quán  
người Hoa ở Hội An. Tạp chí Khoa học và Giáo dục, ĐHSP-ĐHĐN, số 8 (03).  
Nguyễn Hoàng Thân. (2014). Nghiên cứu văn bia Hán Nôm tỉnh Quang Nam. Luận án Tiến  
sĩ Ngữ văn. Học viện Khoa học xã hội.  
Đoàn Trung Hữu, Nguyễn Hoàng Thân. (2014). Tình hình văn bia tỉnh Thừa Thiên - Huế”.  
Tạp chí Khoa học xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 4, số 3, tr.26-35.  
Nguyễn Hoàng Thân. (2017). Văn bia Hội quán người Hoa ở Hội An. Kỷ yếu hội thao khoa  
học quốc tế Việt Nam học lần 3.  
Đỗ Minh Điền, Đỗ Ngọc Bảo Thư. (2021). Một số hiệu buôn người Hoa ở Huế qua khảo  
sát văn bia ở Hội quán Quảng Triệu. Tạp chí Sông Hương Online.  
Đinh Khắc Thuân. (2020). Tư liệu Hán văn về người Hoa lưu giữ tại Hà Nội. Tạp chí Hán  
Nôm, số 3, tr. 73-82.  
Phụ lục 1: Bia “Dương Thương Hội quán  
công nghị điều lệ”  
Phụ lục 2: Ảnh thác ban văn bia  
“Việt Nam Quang Ngãi tỉnh Quỳnh Châu  
Hội quán tự”, kí hiệu 20432  
Nguồn: Bia Hội quán Trung Hoa, Hội An,  
Nguồn: Ảnh thác ban văn bia  
Viện Nghiên cứu Hán Nôm  
anh tác gia (2019)  
pdf 18 trang Thùy Anh 19200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn bia chữ Hán về người Hoa ở Hội An và vùng phụ cận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_khoa_hoc_xa_hoi_mien_trung_so_4_nam_2021.pdf