Quân y, dân y ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)

64  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ  
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)  
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG*  
Trong kháng chiến chống Pháp, các tổ chức quân y và dân y ở Nam Bộ đã gắn  
liền với hoạt động chiến đấu của lực lượng vũ trang. Bằng phương pháp phân  
tích sử liệu và tiếp cận lịch sử, bài viết tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển  
các tổ chức quân y, dân y; đặc biệt là kết quả từ những nỗ lực trong công tác  
điều trị và thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh.  
Từ khóa: quân y, dân y, Nam Bộ, Sở Quân dân y Nam Bộ, kháng chiến chống Pháp  
Nhận bài ngày: 01/11/2021; đưa vào biên tập: 02/11/2021; phản biện: 08/11/2021;  
duyệt đăng: 02/12/2021  
ngày đầu kháng chiến, quân y và dân  
y đã cùng chăm sóc sức khỏe nhân dân  
và các lực lượng vũ trang cách mạng.  
1. DẪN NHẬP  
Trong kháng chiến chống Pháp, hoạt  
động y tế cách mạng ở Nam Bộ có hai  
hệ thống hình thành và phát triển là  
quân y và dân y. Quân y chăm sóc,  
khám chữa bệnh cho thương bệnh  
binh, các cơ quan dân, chính, đảng và  
nhân dân tại nơi đóng quân. Dân y  
phục vụ nhân dân trong vùng du kích  
và vùng bị tạm chiếm; vùng du kích thì  
hoạt động theo hình thức lưu động,  
vùng bị tạm chiếm thì lồng ghép vừa  
công khai vừa bí mật (Trung tâm Lưu  
trữ Quốc gia III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ  
số 97). Tuy nhiên, ngay từ những  
Từ những công trình nghiên cứu, văn  
bản hội nghị, báo cáo về quá trình  
hoạt động y tế của Bộ Y tế và Sở  
Quân dân y Nam Bộ, bài viết làm rõ  
vai trò và mối quan hệ giữa quân y và  
dân y thời kỳ kháng chiến chống Pháp,  
đồng thời gợi mở hướng kết hợp quân  
với dân y nhằm đối phó thiên tai, dịch  
bệnh và bảo vệ an ninh quốc phòng  
trong bối cảnh hiện nay.  
2. QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC QUÂN Y,  
DÂN Y Ở NAM BỘ TRONG KHÁNG  
CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
2.1. Các tổ chức tiền thân của quân y  
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…  
65  
(từ tháng 9/1945 đến trước tháng trong vài ngày về kỹ thuật cấp cứu,  
12/1945)  
làm nhiệm vụ cứu thương mặt trận,  
điều trị hàng ngày cho thương binh,  
bệnh binh. Đến tháng 10/1945, Ban  
Hồng thập tự làm nhiệm vụ chuyển  
thương binh, bệnh binh và thuốc,  
dụng cụ y tế rút theo cùng bộ đội. Lực  
lượng này là nòng cốt trong Ban Y tế  
Chi đội 6 sau này.  
Hưởng ứng lời kêu gọi của Xứ ủy và  
Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, các  
nhân viên y tế trong các bệnh viện ở  
Sài Gòn đã gia nhập các nhóm vũ  
trang, tự vệ chiến đấu. Một số bác sĩ,  
nhân viên y tế phục vụ các mặt trận  
bao quanh Sài Gòn, một số ở lại nội  
thành tổ chức các tổ cứu chữa, bảo  
vệ thương binh, bảo vệ thuốc men, y  
cụ và chuyển ra cho mặt trận chiến  
đấu. Các mặt trận đều tổ chức một số  
thanh niên nam nữ đưa vào Hội Chữ  
thập đỏ (còn có tên gọi là Ban Hồng  
thập tự) để làm nhiệm vụ cấp cứu và  
vận tải, chăm sóc thương binh. Lực  
lượng Hội Chữ thập đỏ đã góp phần  
đáng kể vào công tác cấp cứu và  
chăm sóc nuôi dưỡng thương binh  
trong những ngày đầu kháng chiến  
(Bộ Tư lệnh Quân khu 7, 2000: 21).  
Mặt trận Bà Quẹo, Ban Hồng thập tự  
ở Gò Vấp tổ chức nơi điều trị khoảng  
10 giường, lấy bốt lính cũ làm nhà  
thương. Ban Cứu thương theo sau bộ  
đội đánh đồn, cấp cứu thương binh và  
vận chuyển thương binh về cơ sở  
điều trị.  
Mặt trận Phú Lâm gồm có các đơn vị:  
Bộ đội Trần Quốc Toản, Sư đoàn  
Cộng hòa vệ binh, Bộ đội liên hiệp  
công đoàn Nam Bộ, Bộ đội Bảy Viễn,  
Bộ đội liên quận Hóc Môn - Bà Điểm -  
Đức Hòa. Lúc đầu, mỗi đơn vị đều có  
Ban Hồng thập tự riêng, khi mặt trận  
phòng thủ kéo dài đến đầu tháng  
10/1945, bác sĩ Nguyễn Văn Hoa  
thuộc Ban Hồng thập tự Trần Quốc  
Toản phụ trách chung công tác quân  
y mặt trận. Tại đây, Trạm Cấp cứu  
Phú Lâm đã đào tạo hàng trăm cứu  
thương với chương trình 3 ngày: 1  
ngày tải thương ở hỏa tuyến và 2  
ngày thực hành về các kỹ thuật cấp  
cứu cho các đơn vị dân quân xã,  
nhân viên cơ quan và bộ đội địa  
phương.  
Xung quanh Sài Gòn, lực lượng cách  
mạng hình thành 4 mặt trận bao vây  
quân Pháp trong thành phố để tạo  
điều kiện cho các địa phương khác ở  
Nam Bộ chuẩn bị kháng chiến.  
Mặt trận phía Đông, hướng cầu Thị  
Nghè - cầu Bông: Ban Hồng thập tự  
đóng ở Gò Vấp, có tương đối đầy đủ  
thuốc và dụng cụ y tế được chuyển từ  
Nhà thương Bà Chiểu (nay là Bệnh  
viện Nhân dân Gia Định). Ban Hồng  
thập tự gồm có 1 y sĩ, trên 10 y tá,  
khoảng 50 thanh niên xung phong vào  
học cứu thương (Bộ Y tế - Bộ Quốc  
phòng, 2006: 34). Sau đó, Ban Cứu  
thương mặt trận được thành lập từ  
Trong khi lực lượng vũ trang tại các  
mặt trận tạo thành vành đai bao vây  
Sài Gòn, ngăn cản sự tấn công lan  
những người được đào tạo cấp tốc rộng của quân Pháp, các tỉnh Nam Bộ  
66  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
đồng loạt tổ chức Ban Hồng thập tự 2.2. Quá trình kiện toàn tổ chức  
quân y, dân y ở Nam Bộ (1946-1954)  
chuẩn bị kháng chiến. Mỗi tỉnh lấy  
người và bệnh viện cũ của Pháp tổ  
chức thành cơ sở điều trị, đồng thời  
tranh thủ huấn luyện đào tạo cứu  
thương, lực lượng chủ yếu là phụ nữ,  
thời gian đào tạo từ 10 ngày đến 30  
ngày, sẵn sàng tham gia phục vụ  
kháng chiến.  
Tháng 12/1945, Ban Y tế Vệ quốc  
đoàn toàn quốc được thành lập, bác  
sĩ Vũ Văn Cẩn làm Giám đốc, đây là  
tổ chức tiền thân của quân y ở cấp  
Trung ương.  
Ngày 25/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh  
ký Sắc lệnh số 34/SL tổ chức Bộ  
Quốc phòng, trong đó có Quân y cục.  
Cùng ngày, bác sĩ Vũ Văn Cẩn được  
cử làm Quân y cục trưởng theo Sắc  
lệnh số 35/SL. Ngày 16/4/1946, Bộ  
Quốc phòng ra Nghị định số 12/NĐ  
quy định nhiệm vụ và tổ chức Quân y  
cục, đây được coi là ngày chính thức  
thành lập ngành quân y và là ngày  
truyền thống của ngành. Bên cạnh đó,  
Viện Bào chế tiếp tế Trung ương cũng  
được thành lập, Hệ quân y đại học  
được mở trong Trường Đại học Y  
dược Hà Nội. Tháng 6/1946, Quân y  
cục xuất bản số báo “Vui sống” để phổ  
cập một số vấn đề vệ sinh và y học  
thường thức.  
Cuối năm 1945, trước sức mạnh của  
quân xâm lược, các sư đoàn bị tan rã,  
bộ đội được Đảng bộ địa phương tổ  
chức thành các chi đội, phát triển  
chiến tranh du kích. Theo đó, hệ thống  
quân y các chi đội được hình thành để  
đáp ứng yêu cầu chăm sóc, cứu chữa  
thương bệnh binh. Ban đầu, mỗi chi  
đội có một dưỡng đường do một bác  
sĩ phụ trách chung, sau đó tách thành  
bộ phận riêng, gọi là Ban Y tế chi đội.  
Ban y tế ở nhờ nhà dân và thu dung  
thương binh, bệnh binh thuộc chi đội  
do tổ cứu thương các đại đội gửi lên.  
Ở cấp đại đội (tương đương cấp tiểu  
đoàn) có bệnh xá do y tá hoặc y tá  
trưởng phụ trách. Cấp phân đội có y  
tá hoặc cứu thương, nhưng hầu hết  
các chi đội rất thiếu nhân viên y tế.  
Đến năm 1947 các dưỡng đường  
được đổi tên là Quân y viện. Công tác  
quân y lúc này đối mặt với nhiều khó  
khăn, thiếu thốn về nhân lực, thuốc và  
dụng cụ, có trường hợp phải dùng  
cưa [thợ] sắt, dao thường để mổ cho  
thương binh. Trong điều kiện thiếu  
thốn, các đơn vị rút về nông thôn hay  
rừng núi đã học hỏi kinh nghiệm từ  
nhân dân, dùng thuốc nam ngày càng  
phổ biến (Cục Quân y, 1991: 41).  
Ngày 22/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh  
ký Sắc lệnh số 71/SL xác định tổ chức  
biên chế các đơn vị, các cơ quan và  
lực lượng bảo đảm quân nhu, quân y,  
quân giới và vận tải các cấp. Sắc lệnh  
này xác định ngành quân y là một  
ngành độc lập từ trung ương xuống  
cơ sở (Cục Quân y, 1991: 51).  
Tháng 6/1946, Quân y cục tổ chức  
Hội nghị quân y lần thứ nhất, bước  
đầu thống nhất hình thành hệ thống tổ  
chức quân y. Lúc này, các chiến khu  
đã bắt đầu tổ chức quân y vụ - là tổ  
chức ngành dọc của Quân y cục, trực  
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…  
67  
thuộc Quân y cục, có quan hệ về mặt thuộc Bộ Tư lệnh khu tại bệnh viện do  
tổ chức với Bộ Chỉ huy Khu quân sự khu phụ trách. Việc cung cấp thuốc  
chứ không thuộc quyền chỉ huy trực của phòng y tế cho các đơn vị trực  
tiếp và có trách nhiệm chỉ đạo quân y thuộc chưa phải là chế độ cấp phát  
các đơn vị.  
mà có tính cách giúp đỡ tương trợ (Bộ  
Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 57).  
Theo Sắc lệnh 71/SL, hệ thống quân y  
các đơn vị được xác lập cụ thể với Từ cuối năm 1946 đến cuối năm 1947,  
các ban quân y ở đại đội, tiểu đoàn, tiếp nối sự ra đời của phòng y tế các  
khu, ở Khu 7 đã hình thành 7 quân y  
viện. Từ cuối năm 1947, tất cả 7 quân  
y viện này đều mở lớp đào tạo y tá  
khóa Pasteur cho các đơn vị và tỉnh  
trong khu vực trực thuộc.  
trung đoàn. Các ban quân y có y tá,  
cứu thương, tải thương. Từ tiểu đoàn  
trở lên có biên chế y sĩ, về tổ chức  
biên chế đề ra như vậy, tuy nhiên có  
thể linh hoạt tùy theo tình hình cụ thể  
từng đơn vị (Cục Quân y, 1991: 51).  
Tháng 8/1947, Sở Quân dân y Nam  
Bộ triệu tập hội nghị đầu tiên tại Cần  
Giờ với các nội dung: 1) thống nhất  
chương trình đào tạo và huấn luyện y  
tá; 2) thống nhất giải pháp cưa cắt chi  
thể của thương binh; 3) điều chỉnh  
một số tên gọi các tổ chức theo Cục  
Quân y: Phòng y tế các khu đổi thành  
Quân y vụ khu, Dưỡng đường đổi  
thành Quân y xá, nơi nào có y bác sĩ  
phụ trách thì gọi là Quân y viện.  
Tháng 9/1946, Nam Bộ tổ chức lại 3  
khu quân sự 7, 8 và 9. Bộ Tư lệnh  
Nam Bộ và Bộ Tư lệnh các khu thành  
lập Phòng Y tế các khu và Sở Quân  
dân y Nam Bộ, đồng thời chỉ định các  
y bác sĩ phụ trách. Bác sĩ Hồ Văn Huê  
phụ trách Phòng Y tế khu 7 kiêm  
Giám đốc Sở Quân dân y Nam Bộ,  
bác sĩ Văn Thùy phụ trách Phòng Y tế  
khu 8; bác sĩ Trương Công Trung phụ  
trách Phòng Y tế khu 9. Tổ chức này Tháng 9/1947, bác sĩ Nguyễn Văn  
đánh dấu sự hình thành của ngành Hưởng, ủy viên Kháng chiến Hành  
chính Nam Bộ được cử kiêm nhiệm  
Giám đốc Sở Quân dân y Nam Bộ.  
quân dân y Nam Bộ đầu tiên có hệ  
thống từ sở đến quân y các đại đội  
(Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 57).  
Đến cuối năm 1947, Sở Quân dân y  
Nam Bộ gồm có 3 quân y vụ (3 khu);  
10 quân y viện (Khu 7 có 7, Khu 8 có  
2, Khu 9 có 1); 12 ban y tế các chi đội,  
mỗi chi đội có từ 2 đến 3 quân y xá;  
mỗi đại đội đều có tổ cứu thương (Bộ  
Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 92).  
Tuy nhiên, nhiệm vụ và trách nhiệm  
quản lý từ Sở Quân dân y Nam Bộ với  
phòng y tế các khu và ban y tế các chi  
đội chưa được phân định rõ ràng. Do  
đó, bác sĩ phụ trách Sở Quân dân y  
Nam Bộ viết thư ủy nhiệm cho phòng  
y tế các khu tự giải quyết công việc.  
Phòng y tế các khu thực hiện công tác  
điều trị và khám bệnh cho chiến sĩ các  
đơn vị ở gần và của các cơ quan trực  
Sở Quân dân y Nam Bộ (đóng ở Khu  
9) cung cấp thuốc phòng ngừa (vacxin)  
cho các quân y trung đoàn, tiểu đoàn  
và các quân y viện khu. Cuối năm  
68  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
1948, Sở Quân dân y Nam Bộ triệu trong tình hình chiến trường bị chia  
tập hội nghị tại Bến Tre thống nhất cắt nhỏ, tuy nhiên, đã dẫn đến việc  
chủ trương tổ chức quân y trong quân tách rời hệ thống quân y và dân y, các  
đội và kết hợp hoạt động giữa quân tỉnh đều thiếu cán bộ quân dân y,  
và dân y (Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, trách nhiệm lãnh đạo cũng không rõ  
2006: 99).  
ràng. Đến tháng 4/1954, quân dân y  
Nam Bộ lại thống nhất trở lại từ Sở  
đến tỉnh, huyện, xã, vừa phục vụ  
kháng chiến vừa phục vụ kiến quốc.  
Trước nguy cơ vùng Đồng Tháp Mười  
và rừng U Minh không còn an toàn,  
đầu năm 1951, Bộ Tư lệnh Nam Bộ  
dời từ U Minh đến chiến khu D, và  
đến tháng 10/1951 dời lên Tây Ninh,  
thành lập chiến khu Dương Minh Châu.  
Về hệ thống  
- Sở Quân dân y: thuộc hệ thống dọc  
với Bộ Y tế và Quân y cục; có hệ  
thống ngang với Ủy ban Kháng chiến  
Hành chánh Nam Bộ và Bộ Tư lệnh  
Nam Bộ.  
Tháng 8/1951, Sở Quân dân y Nam  
Bộ thực hiện chủ trương “thống nhất  
lãnh đạo quân dân y từ Sở đến xã phù  
hợp với chiến trường chia cắt, du kích  
và giặc đang lấn chiếm” (Bộ Y tế - Bộ  
Quốc phòng, 2006:158).  
- Ty Quân dân y: thuộc hệ thống dọc  
với Sở Quân dân y và có hệ thống  
ngang với Ủy ban Kháng chiến Hành  
chánh tỉnh và tỉnh đội - Bộ Chỉ huy  
(tương đương Bộ Chỉ huy Quân sự  
tỉnh hiện nay).  
Cuối năm 1951 Bộ Tư lệnh Nam Bộ  
phân chia Nam Bộ thành Phân liên  
khu miền Đông và Phân liên khu miền  
Tây, tổ chức quân y (tách ra khỏi tổ  
chức của Sở Quân dân y Nam Bộ)  
thành lập Phòng Quân y Phân liên khu  
miền Đông (quân y vụ Khu 7 và Khu 8  
được giải tán) và Phòng Quân y Phân  
liên khu miền Tây (từ quân y vụ Khu 9  
trước đó), và thuộc hệ thống ngang  
- Cấp huyện: thuộc hệ thống dọc với  
ty và hệ thống ngang với Ủy ban  
Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ xã  
và xã đội (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia  
III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ 127).  
Về tổ chức  
với Bộ Tư lệnh phân liên khu nhưng Sở Quân dân y Nam Bộ có Ban Giám  
không có hệ thống dọc của Quân dân  
y Nam Bộ (tức là Sở). Còn hệ thống  
của Sở Y tế đối với các Ty Y tế lại  
không được rõ ràng, vì một số Ty y tế  
đã sát nhập với Quân y tỉnh đội mà  
Quân y tỉnh đội thuộc hệ thống ngang  
với Ban Chỉ huy tỉnh đội và hệ thống  
dọc với Phòng Quân y liên khu.  
đốc và các bộ phận trực thuộc: Văn  
phòng, Phòng Kiểm vệ (kiểm tra và  
vệ sinh chữa bệnh chống dịch),  
Phòng Huấn luyện (đào tạo và huấn  
luyện cán bộ), Phòng Hộ sinh (hộ  
sinh, bảo vệ sản phụ, hài ấu nhi),  
Quân y viện (điều trị, chăm sóc phục  
vụ bộ đội), Viện (điều trị riêng cho  
dân y phục vụ các khối Dân, Chính,  
Đảng), Phòng Nha y, Phòng Dược  
Việc phân chia hai phòng quân y phân  
liên khu nhằm đảm bảo sự lãnh đạo  
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…  
69  
khoa (có Ban sản xuất Filatov và Bên cạnh đó, dữ liệu về những bệnh  
phổ biến mà quân đội Pháp mắc phải  
khi ở Việt Nam góp phần làm rõ hơn  
bức tranh về những bệnh thường gặp  
ở Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói  
riêng từ năm 1945 đến 1954. Từ  
những dữ liệu thu thập về bệnh tật  
trong dân số Việt Nam và quân đội  
Pháp, đối chiếu tình trạng nguy hiểm  
của bệnh tật theo tỷ lệ mắc bệnh, thì  
các bệnh về da, đường tiêu hóa và  
nhiễm trùng đường hô hấp (ngoại trừ  
bệnh lao) là những bệnh phổ biến của  
quân Pháp tại Việt Nam. Các bệnh  
còn lại không phải là vấn đề đối với  
quân viễn chính Pháp trong suốt thời  
gian trên (dẫn theo Barrett, 1982: 11).  
Bogomoletz), Phòng Giống ngừa và  
Nhà xuất bản.  
Ở Ty Quân dân y có Ban Chỉ huy,  
Đoàn Kiểm vệ, Nhà bảo sanh, Phòng  
Nha y, Phòng Bào chế. Ở huyện có  
Ban Quân dân y huyện, Quân dân y  
xá huyện, Tổ Nha y, Tổ Hộ sinh, Tổ  
Bào chế. Ở Xã, có Ban Y tế xã, Trạm  
cứu thương, Nhà bảo sanh.  
3. HOẠT ĐỘNG Y TẾ CỦA QUÂN  
DÂN Y NAM BỘ TRONG KHÁNG  
CHIẾN CHỐNG PHÁP  
Ở Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 các  
bệnh thường mắc phải là dịch tả,  
thương hàn, kiết lỵ, đậu mùa, bại liệt,  
mắt hột, ký sinh trùng (giun sán, chấy  
rận, ghẻ ngứa), hoa liễu (lậu, giang  
mai…) (Đỗ Hồng Ngọc, 2001: 38-39).  
Các bệnh này có nguồn gốc từ đặc  
điểm lịch sử, xã hội và môi trường  
sống của cư dân Nam Bộ lúc bấy giờ.  
Đó là do ảnh hưởng của nạn đói năm  
1945 và cuộc kháng chiến chống thực  
dân Pháp dai dẳng từ năm 1945 đến  
1954 dẫn đến sự thiếu thốn về nguồn  
thực phẩm, gây nên sự thiếu thốn  
dinh dưỡng trong chế độ ăn của  
người dân, đặc biệt ở vùng nông thôn.  
Vấn đề giữ vệ sinh cá nhân trong sinh  
hoạt hằng ngày cũng như điều kiện  
nhà ở không có nhà vệ sinh của phần  
lớn người dân, đặc biệt ở môi trường  
sông nước tại các tỉnh miền Tây Nam  
Bộ, là nhân tố trực tiếp dẫn đến  
những đợt dịch lớn ở Nam Bộ. Một số  
bệnh xã hội có nguồn gốc liên quan  
đến sự có mặt của quân đội viễn  
chinh Pháp tại đây.  
Về hoạt động y tế ở Nam Bộ, trong  
suốt quá trình hình thành và kiện toàn  
về mặt tổ chức, hệ thống quân - dân y  
đã từng bước khắc phục khó khăn,  
vừa phục vụ kháng chiến vừa mang  
lại những thành quả lớn lao trong lĩnh  
vực y tế: điều trị vết thương, vệ sinh  
chữa bệnh chống dịch, bảo vệ sản  
phụ ấu nhi, bào chế thuốc trị bệnh,  
vacxin phòng bệnh, nghiên cứu vận  
dụng Đông y, đào tạo huấn luyện cán  
bộ, xuất bản tài liệu phổ biến kiến  
thức y khoa.  
Công tác điều trị vết thương: Mức độ  
cuộc chiến ngày càng gia tăng, mức  
độ thương tật của thương binh ngày  
càng phức tạp. Tình trạng phổ biến là  
các thương bệnh binh bị thương tứ  
chi phần mềm hoặc bị gãy xương phải  
cố định, hoặc cắt đoạn, vết thương  
ngực, vết thương đầu không chạm  
não. Tuy nhiên, do thiếu dụng cụ và  
70  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
yếu về chuyên môn kỹ thuật nên có + Bộ Y tế đề nghị lên Hội đồng Chính  
những trường hợp thương tích tứ chi phủ đổi tên là Bộ Vệ sinh, đồng thời  
không đáng kể nhưng bị nhiễm trùng Quân y Cục cũng đề nghị lên Bộ Quốc  
và phải cắt đoạn (Cục Quân y, 1991: phòng đổi tên là Cục Vệ sinh Quân đội  
58-59). Những nỗ lực ban đầu của đội trong Hội nghị quân dân y ngày 14-  
ngũ y tế Nam Bộ trong thời kỳ này 15/8/1950 (Trung tâm Lưu trữ Quốc  
chính là đi đến thống nhất giải pháp gia III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ số 25).  
cưa cắt chi thể của thương binh (Bộ Y  
+ Sở Quân dân y Nam Bộ được đổi  
tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 92).  
tên thành Sở Y tế Vệ sinh Nam Bộ,  
Do quân Pháp tăng cường sử dụng Ban Vệ sinh do Ban Giám đốc Sở trực  
tiếp phụ trách (Trung tâm Lưu trữ  
Quốc gia III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ  
97).  
máy bay ném bom và chế tạo nhiều  
vũ khí mới mà lực lượng chiến đấu  
thiếu điều kiện bảo đảm an toàn nên  
thương binh ngày càng nhiều với  
những vết thương phức tạp trong khi  
thuốc và dụng cụ y tế thiếu thốn. Vì  
vậy Sở Quân dân y Nam Bộ và quân y  
Đồng thời, nhận thấy nguyên nhân  
dẫn đến các bệnh dịch (đậu mùa, dịch  
tả, thương hàn) phần lớn là do tập  
quán sinh hoạt nhân dân không đảm  
vụ các khu đẩy mạnh công tác huấn bảo vệ sinh (như đi tiêu dưới sông,  
quăng xác súc vật xuống sông, uống  
nước sông rạch không đun sôi),  
không ngủ màn/mùng…, Sở Y tế Vệ  
sinh Nam Bộ thành lập Đoàn Truyền  
bá vệ sinh(2), và tổ chức các nhóm  
nhỏ đi sâu vào dân khám chữa bệnh  
cho dân.  
luyện, chú trọng cải tiến phương pháp  
điều trị nhằm tránh tốn nhiều thuốc,  
giảm bớt đau đớn cho thương bệnh  
binh và rút ngắn thời gian điều trị.  
Bên cạnh đó, việc áp dụng “tổ chức  
liệu pháp Filatov” tại Quân y viện  
Phân liên khu miền Tây do bác sĩ  
Nguyễn Thiện Thành nghiên cứu đã  
đem lại thành quả lớn trong y học(1) ở  
Nam Bộ lúc bấy giờ.  
Năm 1950 Sở còn nghiên cứu bổ  
sung bảng kỷ luật về thiếu vệ sinh  
trong quân đội, cụ thể Sở đề ra 16  
điều kỷ luật về thiếu vệ sinh và 12  
điều kiện nhà vệ sinh kiểu mẫu. Sở đề  
nghị Ủy ban Kháng chiến Hành chính  
Nam Bộ ra Chỉ thị 36 VS-1 về vệ sinh  
cho toàn quân và toàn dân Nam Bộ thi  
hành. Tháng 10/1950, Phòng Vệ sinh  
Nam Bộ xuất bản và phát hành 3.000  
quyển giải thích Chỉ thị 36 VS-1  
(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III,  
Phông Bộ Y tế: Hồ sơ số 97). Trong  
thời gian này Quân y vụ Khu 8 cũng  
Vệ sinh phòng bệnh chống dịch  
Trong những năm kháng chiến chống  
Pháp ở Nam Bộ, đặc biệt từ sau năm  
1950, vấn đề vệ sinh phòng dịch được  
xem là vấn đề chính trong y tế, thậm  
chí mức độ quan trọng được đặt  
ngang với vấn đề điều trị.  
Điều đó được thể hiện qua tên gọi của  
tổ chức y tế từ trung ương đến địa  
phương:  
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…  
71  
xuất bản và phát hành 3.000 quyển được sản xuất ở Nam Bộ từ năm  
Khỏe để chiến đấu (Bộ Y tế - Bộ Quốc  
phòng, 2006: 127). Năm 1951, tài liệu  
tuyên truyền vệ sinh được bổ sung: ca  
dao vui sống, ca dao vui sống khỏe,  
hò vui sống, mỗi thứ in 1.500 quyển  
và nhiều tài liệu tuyên truyền khác  
như kịch, tranh ảnh (Trung tâm Lưu  
trữ Quốc gia III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ  
số 97).  
1947 đến năm 1954 đã kịp thời ngăn  
chặn dịch bệnh lây lan.  
Về nghiên cứu vận dụng Đông y  
Do cuộc kháng chiến chống Pháp ở  
Nam Bộ diễn ra sớm nên công tác tiếp  
tế thuốc dựa vào dân y, khả năng tiếp  
tế của Cục Quân y còn rất hạn chế.  
Trong điều kiện thiếu thốn thuốc men,  
Sở Quân dân y Nam Bộ khuyến khích  
nghiên cứu và vận dụng các phương  
thuốc cổ truyền dân tộc ngay từ lúc  
mới thành lập. Phương hướng được  
xác định là “khoa học hóa các phương  
thức thuốc Đông y để phối hợp Đông-  
Tây y, địa phương hóa các phương  
thức Tây y để áp dụng vào bối cảnh  
Nam Bộ” (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia  
III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ số 97) nhằm  
tránh tình trạng lệ thuộc vào thuốc.  
Năm 1950, Sở Quân dân y Nam Bộ  
đã biên soạn và phát hành rộng rãi  
đến các địa phương sách Dược tính  
Đông y. Những năm sau đó, sách Tủ  
thuốc nhân dân được xuất bản hàng  
ngàn quyển và cấp phát các nơi hướng  
dẫn cách sử dụng các vị thuốc Đông y  
cũng như tận dụng cây thuốc sẵn có  
để điều trị các bệnh thông thường.  
Các hoạt động tuyên truyền vệ sinh  
trong nhân dân và bộ đội đã phần nào  
hạn chế được tập quán đi tiêu dưới  
sông, đi tiêu ngoài đồng. Đồng thời,  
công tác tiêm chủng phòng dịch tả,  
đậu mùa được thực hiện đầy đủ nên  
về cơ bản phòng được hai dịch bệnh  
trên.  
Về hoạt động bào chế, sản xuất  
vacxin phòng bệnh  
Trong kháng chiến chống Pháp, việc  
sản xuất vacxin là một trong những  
thế mạnh của dân y, ngành quân y  
không có khả năng trong lĩnh vực này  
(Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 168).  
Ngành dân y đã bào chế, sản xuất  
thành công nhiều loại vacxin(3) phòng  
dịch bệnh nguy hiểm không chỉ cung  
cấp cho bộ đội mà còn phục vụ đắc  
lực trong việc bảo vệ sức khỏe nhân  
dân.  
Bên cạnh sử dụng các toa thuốc gia  
truyền, Ban Nghiên cứu Đông y Nam  
Bộ còn nghiên cứu bào chế các thế  
phẩm Đông y như tán thuốc bột, viên,  
nấu cao và ngâm rượu. Các loại thuốc  
đông y được sản xuất chủ yếu là sốt  
rét, thuốc bổ, thuốc xổ, ho, lỵ, bột đau  
dạ dày, thuốc xoa bóp(4).  
Từ năm 1953 trở đi, vacxin bệnh tả  
được trộn lẫn với vacxin thương hàn  
và có tên gọi là vacxin Tả-TAB.  
So với cả nước trong giai đoạn này,  
chỉ có Bắc Bộ và Trung Bộ có Viện Vi  
trùng học, còn ở Nam Bộ và Liên khu  
5 không có, tuy nhiên, lượng vacxin  
Tư tưởng kết hợp Đông - Tây y và  
những công trình nghiên cứu đầu tiên  
72  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
về Đông y đã đặt tiền đề vững chắc mật thiết trong hoạt động bảo đảm y  
cho chủ trương kết hợp y học cổ tế, cứu thương phục vụ đơn vị chủ lực,  
truyền dân tộc với y học hiện đại sau bảo vệ sức khỏe nhân dân. Qua quá  
này. Việc kế thừa và phát huy y học trình hoạt động, mối liên hệ không  
dân tộc đã khắc phục được những tách rời của quân y và dân y càng thể  
khó khăn về thiếu thốn thuốc tây trong hiện rõ: 1) nhân tố hình thành lực  
điều kiện kháng chiến gian khổ.  
lượng quân y trong kháng chiến  
chống Pháp xuất phát từ những người  
dân tham gia kháng chiến ở Nam Bộ;  
2) trong điều kiện vừa chiến đấu vừa  
bảo vệ dân trong vùng giải phóng,  
nguồn tiếp tế thuốc men và vacxin chủ  
yếu dựa vào nguồn lực y tế của dân y.  
Về hoạt động, những nỗ lực và kết  
quả đạt được của quân y và dân y  
Nam Bộ, đặc biệt trong công tác sản  
xuất vacxin phòng bệnh và vận dụng  
phương pháp điều trị theo Đông y đã  
đặt nền tảng cho một số vấn đề mang  
tính lý luận và thực tiễn mà ý nghĩa  
khoa học của nó vẫn còn giá trị trong  
bối cảnh hiện nay.  
4. KẾT LUẬN  
Trong giai đoạn 1945-1954, lực lượng  
y tế kháng chiến ở Nam Bộ được hình  
thành và phát triển từ yêu cầu phục vụ  
lực lượng kháng chiến. Về mặt tổ  
chức, các tổ chức quân y được xây  
dựng trong các đơn vị quân đội và có  
sự phát triển gắn liền với sự phát triển  
của quân đội. Các tổ chức dân y được  
hình thành sau quân y, hoạt động  
song song với quân y và có sự thống  
nhất về chỉ đạo với quân y. Hệ thống  
quân y, dân y nhiều lần thay đổi về cơ  
cấu tổ chức để phù hợp với tình hình  
chiến trường Nam Bộ. Về sự kết hợp  
quân - dân y, quân y và dân y gắn bó  
CHÚ THÍCH  
(1) Đây là một dạng thuốc bổ, được bào chế từ nhau thai, ca cấy nhau đầu tiên được thực  
hiện thành công đối với bệnh binh bị suy kiệt do sốt rét kéo dài. Qua quá trình thực nghiệm  
và 44 lần cải tiến, hiệu quả mà phương pháp này mang lại đã vượt qua những kết quả điều  
trị y học trước đó: tăng cường khả năng đề kháng, giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục  
sức khỏe. Liệu pháp Filatov nhanh chóng gây tiếng vang rộng khắp, được áp dụng cho cả  
chiến trường Nam Bộ.  
(2) Đoàn khoảng 10 người, hoạt động nhiều tỉnh ở Khu 8 và 9, tổ chức tuyên truyền trong  
nhân dân qua tranh ảnh, ca dao, chủ yếu là diễn kịch hướng dẫn người dân giữ vệ sinh  
phòng bệnh.  
(3)  
Sở Quân dân y Nam Bộ có Phòng Giống ngừa chuyên nghiên cứu, sản xuất trái giống  
(vacxin phòng đậu mùa), vacxin phòng tả, thương hàn và vacxin phòng bệnh dại. Để sản  
xuất trái giống phải dùng nghé (trâu con) khỏe mạnh. Nghé được trồng trái vào da bụng, sau  
một tuần lễ, trái nổi khắp (đậu mọc) thân nghé, nhân viên y tế phải thay phiên nhau canh  
chừng suốt ngày đêm, giữ nốt đậu không bị dính bẩn nhiễm tạp trùng, nếu không vacxin sẽ  
hỏng. Ban đêm phải hun khói đuổi muỗi và giăng màn để cho nghé khỏi bị muỗi đốt làm cho  
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…  
73  
nghé dùng đuôi về hoặc chân gãi vào chỗ ngứa làm hỏng nốt đậu. Sau khi cạo lớp vảy lấy  
giống xong, vảy được làm khô bằng gạo rang rồi được tán nhỏ thành bột chứa vào chai, lọ  
thủy tinh. Các chai, ống thủy tinh này được bảo quản lạnh, nhưng trong chiến tranh không  
có tủ lạnh mà phải nhét vào thân cây chuối để giữ mát. Với cách làm này có thể giữ vacxin  
trong vòng 20 ngày, đủ thời gian gửi đến các đơn vị quân dân y sử dụng (Bộ Y tế - Bộ Quốc  
phòng, 2006: 168).  
(3)  
Thuốc sốt rét được điều chế từ thường sơn và dây cóc bạch phơi khô tán nhỏ ép thành  
viên như viên aspirin lấy tên là quinita để các nơi dễ sử dụng và bảo quản (thay quinin).  
Thuốc bổ được làm từ nhiều loại dược liệu và có nhiều hình thức như bột mã tiền, rượu mã  
tiền (thay strychnin), vỏ cây ô tước tán nhỏ và bột mã tiền ép thành viên. Hà thủ ô bổ máu  
tán nhỏ vo thành viên hoặc nấu cao, bột xương hoặc cao xương (xương bò, lợn, xương nai,  
khỉ), bột sâm (củ sâm đất). Thuốc xổ làm bằng nhiều thứ nhưng dược liệu dễ sưu tầm nhất  
là cây gió ma, phơi khô tán nhỏ ép thành viên. Thuốc lỵ (thay thế émétine) thường làm từ  
cây nút áo. Bột đau dạ dày làm bằng bột xay lúa nếp, dần dần lúa nếp không đủ ăn, chiến  
trường tăng gia nhiều ngô, nên sau chuyển qua sản xuất bột mộng bằng ngô. Bào chế dầu  
xoa theo hình thức dầu cù là dùng rộng rãi và giản tiện trị cảm sương, cảm lạnh, ăn khó tiêu  
hoặc khi sưng chân, trật chân (Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 165-166).  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Barrett, O., 1982. “Internal Medicine in Vietnam”, Volume II: General Medicine and  
Infectious Diseases. Washington, DC. Office of the Surgeon General and Center of  
Military History United State Army.  
2. Bộ Tư lệnh Quân khu 7. 2000. Lịch sử hậu cần Quân khu 7 1945-2000. TPHCM:  
Nxb. Quân đội Nhân dân.  
3. Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng. 2006. Lịch sử kết hợp quân dân y Việt Nam 1945-2000. Hà  
Nội: Nxb. Y học.  
4. Cục Quân y. 1991. Lịch sử quân y Quân đội Nhân dân Việt Nam – Tập 1. Hà Nội:  
Tổng cục Hậu cần.  
5. Đỗ Hồng Ngọc (chủ biên). 2001. Y tế Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh 300 năm (1698-  
1998). TPHCM: Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe.  
6. Lê Phương. “‘Bác sĩ Filatov’ Nguyễn Thiện Thành - Người lính gác tù Pháp vốn là  
sinh viên y, quý mến Nguyễn Thiện Thành đã tuồn tài liệu y học, tạo tiền đề để ông  
thien-thanh/20201101091450502, truy cập ngày 10/11/2021.  
7. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III. Phông Bộ Y tế. Báo cáo 9 năm kháng chiến 1945-  
1954 của Sở Quân dân y Nam Bộ. Hồ sơ số 97.  
8. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III. Phông Bộ Y tế. Biên bản của Bộ Y tế về hội nghị y tế  
quân dân y trong năm 1950. Hồ sơ số 25.  
9. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III. Phông Bộ Y tế. Hồ sơ về hội nghị quân dân y Nam Bộ  
năm 1954. Hồ sơ số 127.  
pdf 10 trang Thùy Anh 21280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quân y, dân y ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_y_dan_y_o_nam_bo_trong_khang_chien_chong_phap_1945_1954.pdf