Quân y, dân y ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
64
CHUYÊN MỤC
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC
QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG*
Trong kháng chiến chống Pháp, các tổ chức quân y và dân y ở Nam Bộ đã gắn
liền với hoạt động chiến đấu của lực lượng vũ trang. Bằng phương pháp phân
tích sử liệu và tiếp cận lịch sử, bài viết tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển
các tổ chức quân y, dân y; đặc biệt là kết quả từ những nỗ lực trong công tác
điều trị và thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh.
Từ khóa: quân y, dân y, Nam Bộ, Sở Quân dân y Nam Bộ, kháng chiến chống Pháp
Nhận bài ngày: 01/11/2021; đưa vào biên tập: 02/11/2021; phản biện: 08/11/2021;
duyệt đăng: 02/12/2021
ngày đầu kháng chiến, quân y và dân
y đã cùng chăm sóc sức khỏe nhân dân
và các lực lượng vũ trang cách mạng.
1. DẪN NHẬP
Trong kháng chiến chống Pháp, hoạt
động y tế cách mạng ở Nam Bộ có hai
hệ thống hình thành và phát triển là
quân y và dân y. Quân y chăm sóc,
khám chữa bệnh cho thương bệnh
binh, các cơ quan dân, chính, đảng và
nhân dân tại nơi đóng quân. Dân y
phục vụ nhân dân trong vùng du kích
và vùng bị tạm chiếm; vùng du kích thì
hoạt động theo hình thức lưu động,
vùng bị tạm chiếm thì lồng ghép vừa
công khai vừa bí mật (Trung tâm Lưu
trữ Quốc gia III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ
số 97). Tuy nhiên, ngay từ những
Từ những công trình nghiên cứu, văn
bản hội nghị, báo cáo về quá trình
hoạt động y tế của Bộ Y tế và Sở
Quân dân y Nam Bộ, bài viết làm rõ
vai trò và mối quan hệ giữa quân y và
dân y thời kỳ kháng chiến chống Pháp,
đồng thời gợi mở hướng kết hợp quân
với dân y nhằm đối phó thiên tai, dịch
bệnh và bảo vệ an ninh quốc phòng
trong bối cảnh hiện nay.
2. QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC QUÂN Y,
DÂN Y Ở NAM BỘ TRONG KHÁNG
CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
2.1. Các tổ chức tiền thân của quân y
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…
65
(từ tháng 9/1945 đến trước tháng trong vài ngày về kỹ thuật cấp cứu,
12/1945)
làm nhiệm vụ cứu thương mặt trận,
điều trị hàng ngày cho thương binh,
bệnh binh. Đến tháng 10/1945, Ban
Hồng thập tự làm nhiệm vụ chuyển
thương binh, bệnh binh và thuốc,
dụng cụ y tế rút theo cùng bộ đội. Lực
lượng này là nòng cốt trong Ban Y tế
Chi đội 6 sau này.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Xứ ủy và
Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, các
nhân viên y tế trong các bệnh viện ở
Sài Gòn đã gia nhập các nhóm vũ
trang, tự vệ chiến đấu. Một số bác sĩ,
nhân viên y tế phục vụ các mặt trận
bao quanh Sài Gòn, một số ở lại nội
thành tổ chức các tổ cứu chữa, bảo
vệ thương binh, bảo vệ thuốc men, y
cụ và chuyển ra cho mặt trận chiến
đấu. Các mặt trận đều tổ chức một số
thanh niên nam nữ đưa vào Hội Chữ
thập đỏ (còn có tên gọi là Ban Hồng
thập tự) để làm nhiệm vụ cấp cứu và
vận tải, chăm sóc thương binh. Lực
lượng Hội Chữ thập đỏ đã góp phần
đáng kể vào công tác cấp cứu và
chăm sóc nuôi dưỡng thương binh
trong những ngày đầu kháng chiến
(Bộ Tư lệnh Quân khu 7, 2000: 21).
Mặt trận Bà Quẹo, Ban Hồng thập tự
ở Gò Vấp tổ chức nơi điều trị khoảng
10 giường, lấy bốt lính cũ làm nhà
thương. Ban Cứu thương theo sau bộ
đội đánh đồn, cấp cứu thương binh và
vận chuyển thương binh về cơ sở
điều trị.
Mặt trận Phú Lâm gồm có các đơn vị:
Bộ đội Trần Quốc Toản, Sư đoàn
Cộng hòa vệ binh, Bộ đội liên hiệp
công đoàn Nam Bộ, Bộ đội Bảy Viễn,
Bộ đội liên quận Hóc Môn - Bà Điểm -
Đức Hòa. Lúc đầu, mỗi đơn vị đều có
Ban Hồng thập tự riêng, khi mặt trận
phòng thủ kéo dài đến đầu tháng
10/1945, bác sĩ Nguyễn Văn Hoa
thuộc Ban Hồng thập tự Trần Quốc
Toản phụ trách chung công tác quân
y mặt trận. Tại đây, Trạm Cấp cứu
Phú Lâm đã đào tạo hàng trăm cứu
thương với chương trình 3 ngày: 1
ngày tải thương ở hỏa tuyến và 2
ngày thực hành về các kỹ thuật cấp
cứu cho các đơn vị dân quân xã,
nhân viên cơ quan và bộ đội địa
phương.
Xung quanh Sài Gòn, lực lượng cách
mạng hình thành 4 mặt trận bao vây
quân Pháp trong thành phố để tạo
điều kiện cho các địa phương khác ở
Nam Bộ chuẩn bị kháng chiến.
Mặt trận phía Đông, hướng cầu Thị
Nghè - cầu Bông: Ban Hồng thập tự
đóng ở Gò Vấp, có tương đối đầy đủ
thuốc và dụng cụ y tế được chuyển từ
Nhà thương Bà Chiểu (nay là Bệnh
viện Nhân dân Gia Định). Ban Hồng
thập tự gồm có 1 y sĩ, trên 10 y tá,
khoảng 50 thanh niên xung phong vào
học cứu thương (Bộ Y tế - Bộ Quốc
phòng, 2006: 34). Sau đó, Ban Cứu
thương mặt trận được thành lập từ
Trong khi lực lượng vũ trang tại các
mặt trận tạo thành vành đai bao vây
Sài Gòn, ngăn cản sự tấn công lan
những người được đào tạo cấp tốc rộng của quân Pháp, các tỉnh Nam Bộ
66
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
đồng loạt tổ chức Ban Hồng thập tự 2.2. Quá trình kiện toàn tổ chức
quân y, dân y ở Nam Bộ (1946-1954)
chuẩn bị kháng chiến. Mỗi tỉnh lấy
người và bệnh viện cũ của Pháp tổ
chức thành cơ sở điều trị, đồng thời
tranh thủ huấn luyện đào tạo cứu
thương, lực lượng chủ yếu là phụ nữ,
thời gian đào tạo từ 10 ngày đến 30
ngày, sẵn sàng tham gia phục vụ
kháng chiến.
Tháng 12/1945, Ban Y tế Vệ quốc
đoàn toàn quốc được thành lập, bác
sĩ Vũ Văn Cẩn làm Giám đốc, đây là
tổ chức tiền thân của quân y ở cấp
Trung ương.
Ngày 25/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký Sắc lệnh số 34/SL tổ chức Bộ
Quốc phòng, trong đó có Quân y cục.
Cùng ngày, bác sĩ Vũ Văn Cẩn được
cử làm Quân y cục trưởng theo Sắc
lệnh số 35/SL. Ngày 16/4/1946, Bộ
Quốc phòng ra Nghị định số 12/NĐ
quy định nhiệm vụ và tổ chức Quân y
cục, đây được coi là ngày chính thức
thành lập ngành quân y và là ngày
truyền thống của ngành. Bên cạnh đó,
Viện Bào chế tiếp tế Trung ương cũng
được thành lập, Hệ quân y đại học
được mở trong Trường Đại học Y
dược Hà Nội. Tháng 6/1946, Quân y
cục xuất bản số báo “Vui sống” để phổ
cập một số vấn đề vệ sinh và y học
thường thức.
Cuối năm 1945, trước sức mạnh của
quân xâm lược, các sư đoàn bị tan rã,
bộ đội được Đảng bộ địa phương tổ
chức thành các chi đội, phát triển
chiến tranh du kích. Theo đó, hệ thống
quân y các chi đội được hình thành để
đáp ứng yêu cầu chăm sóc, cứu chữa
thương bệnh binh. Ban đầu, mỗi chi
đội có một dưỡng đường do một bác
sĩ phụ trách chung, sau đó tách thành
bộ phận riêng, gọi là Ban Y tế chi đội.
Ban y tế ở nhờ nhà dân và thu dung
thương binh, bệnh binh thuộc chi đội
do tổ cứu thương các đại đội gửi lên.
Ở cấp đại đội (tương đương cấp tiểu
đoàn) có bệnh xá do y tá hoặc y tá
trưởng phụ trách. Cấp phân đội có y
tá hoặc cứu thương, nhưng hầu hết
các chi đội rất thiếu nhân viên y tế.
Đến năm 1947 các dưỡng đường
được đổi tên là Quân y viện. Công tác
quân y lúc này đối mặt với nhiều khó
khăn, thiếu thốn về nhân lực, thuốc và
dụng cụ, có trường hợp phải dùng
cưa [thợ] sắt, dao thường để mổ cho
thương binh. Trong điều kiện thiếu
thốn, các đơn vị rút về nông thôn hay
rừng núi đã học hỏi kinh nghiệm từ
nhân dân, dùng thuốc nam ngày càng
phổ biến (Cục Quân y, 1991: 41).
Ngày 22/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký Sắc lệnh số 71/SL xác định tổ chức
biên chế các đơn vị, các cơ quan và
lực lượng bảo đảm quân nhu, quân y,
quân giới và vận tải các cấp. Sắc lệnh
này xác định ngành quân y là một
ngành độc lập từ trung ương xuống
cơ sở (Cục Quân y, 1991: 51).
Tháng 6/1946, Quân y cục tổ chức
Hội nghị quân y lần thứ nhất, bước
đầu thống nhất hình thành hệ thống tổ
chức quân y. Lúc này, các chiến khu
đã bắt đầu tổ chức quân y vụ - là tổ
chức ngành dọc của Quân y cục, trực
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…
67
thuộc Quân y cục, có quan hệ về mặt thuộc Bộ Tư lệnh khu tại bệnh viện do
tổ chức với Bộ Chỉ huy Khu quân sự khu phụ trách. Việc cung cấp thuốc
chứ không thuộc quyền chỉ huy trực của phòng y tế cho các đơn vị trực
tiếp và có trách nhiệm chỉ đạo quân y thuộc chưa phải là chế độ cấp phát
các đơn vị.
mà có tính cách giúp đỡ tương trợ (Bộ
Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 57).
Theo Sắc lệnh 71/SL, hệ thống quân y
các đơn vị được xác lập cụ thể với Từ cuối năm 1946 đến cuối năm 1947,
các ban quân y ở đại đội, tiểu đoàn, tiếp nối sự ra đời của phòng y tế các
khu, ở Khu 7 đã hình thành 7 quân y
viện. Từ cuối năm 1947, tất cả 7 quân
y viện này đều mở lớp đào tạo y tá
khóa Pasteur cho các đơn vị và tỉnh
trong khu vực trực thuộc.
trung đoàn. Các ban quân y có y tá,
cứu thương, tải thương. Từ tiểu đoàn
trở lên có biên chế y sĩ, về tổ chức
biên chế đề ra như vậy, tuy nhiên có
thể linh hoạt tùy theo tình hình cụ thể
từng đơn vị (Cục Quân y, 1991: 51).
Tháng 8/1947, Sở Quân dân y Nam
Bộ triệu tập hội nghị đầu tiên tại Cần
Giờ với các nội dung: 1) thống nhất
chương trình đào tạo và huấn luyện y
tá; 2) thống nhất giải pháp cưa cắt chi
thể của thương binh; 3) điều chỉnh
một số tên gọi các tổ chức theo Cục
Quân y: Phòng y tế các khu đổi thành
Quân y vụ khu, Dưỡng đường đổi
thành Quân y xá, nơi nào có y bác sĩ
phụ trách thì gọi là Quân y viện.
Tháng 9/1946, Nam Bộ tổ chức lại 3
khu quân sự 7, 8 và 9. Bộ Tư lệnh
Nam Bộ và Bộ Tư lệnh các khu thành
lập Phòng Y tế các khu và Sở Quân
dân y Nam Bộ, đồng thời chỉ định các
y bác sĩ phụ trách. Bác sĩ Hồ Văn Huê
phụ trách Phòng Y tế khu 7 kiêm
Giám đốc Sở Quân dân y Nam Bộ,
bác sĩ Văn Thùy phụ trách Phòng Y tế
khu 8; bác sĩ Trương Công Trung phụ
trách Phòng Y tế khu 9. Tổ chức này Tháng 9/1947, bác sĩ Nguyễn Văn
đánh dấu sự hình thành của ngành Hưởng, ủy viên Kháng chiến Hành
chính Nam Bộ được cử kiêm nhiệm
Giám đốc Sở Quân dân y Nam Bộ.
quân dân y Nam Bộ đầu tiên có hệ
thống từ sở đến quân y các đại đội
(Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 57).
Đến cuối năm 1947, Sở Quân dân y
Nam Bộ gồm có 3 quân y vụ (3 khu);
10 quân y viện (Khu 7 có 7, Khu 8 có
2, Khu 9 có 1); 12 ban y tế các chi đội,
mỗi chi đội có từ 2 đến 3 quân y xá;
mỗi đại đội đều có tổ cứu thương (Bộ
Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 92).
Tuy nhiên, nhiệm vụ và trách nhiệm
quản lý từ Sở Quân dân y Nam Bộ với
phòng y tế các khu và ban y tế các chi
đội chưa được phân định rõ ràng. Do
đó, bác sĩ phụ trách Sở Quân dân y
Nam Bộ viết thư ủy nhiệm cho phòng
y tế các khu tự giải quyết công việc.
Phòng y tế các khu thực hiện công tác
điều trị và khám bệnh cho chiến sĩ các
đơn vị ở gần và của các cơ quan trực
Sở Quân dân y Nam Bộ (đóng ở Khu
9) cung cấp thuốc phòng ngừa (vacxin)
cho các quân y trung đoàn, tiểu đoàn
và các quân y viện khu. Cuối năm
68
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
1948, Sở Quân dân y Nam Bộ triệu trong tình hình chiến trường bị chia
tập hội nghị tại Bến Tre thống nhất cắt nhỏ, tuy nhiên, đã dẫn đến việc
chủ trương tổ chức quân y trong quân tách rời hệ thống quân y và dân y, các
đội và kết hợp hoạt động giữa quân tỉnh đều thiếu cán bộ quân dân y,
và dân y (Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, trách nhiệm lãnh đạo cũng không rõ
2006: 99).
ràng. Đến tháng 4/1954, quân dân y
Nam Bộ lại thống nhất trở lại từ Sở
đến tỉnh, huyện, xã, vừa phục vụ
kháng chiến vừa phục vụ kiến quốc.
Trước nguy cơ vùng Đồng Tháp Mười
và rừng U Minh không còn an toàn,
đầu năm 1951, Bộ Tư lệnh Nam Bộ
dời từ U Minh đến chiến khu D, và
đến tháng 10/1951 dời lên Tây Ninh,
thành lập chiến khu Dương Minh Châu.
Về hệ thống
- Sở Quân dân y: thuộc hệ thống dọc
với Bộ Y tế và Quân y cục; có hệ
thống ngang với Ủy ban Kháng chiến
Hành chánh Nam Bộ và Bộ Tư lệnh
Nam Bộ.
Tháng 8/1951, Sở Quân dân y Nam
Bộ thực hiện chủ trương “thống nhất
lãnh đạo quân dân y từ Sở đến xã phù
hợp với chiến trường chia cắt, du kích
và giặc đang lấn chiếm” (Bộ Y tế - Bộ
Quốc phòng, 2006:158).
- Ty Quân dân y: thuộc hệ thống dọc
với Sở Quân dân y và có hệ thống
ngang với Ủy ban Kháng chiến Hành
chánh tỉnh và tỉnh đội - Bộ Chỉ huy
(tương đương Bộ Chỉ huy Quân sự
tỉnh hiện nay).
Cuối năm 1951 Bộ Tư lệnh Nam Bộ
phân chia Nam Bộ thành Phân liên
khu miền Đông và Phân liên khu miền
Tây, tổ chức quân y (tách ra khỏi tổ
chức của Sở Quân dân y Nam Bộ)
thành lập Phòng Quân y Phân liên khu
miền Đông (quân y vụ Khu 7 và Khu 8
được giải tán) và Phòng Quân y Phân
liên khu miền Tây (từ quân y vụ Khu 9
trước đó), và thuộc hệ thống ngang
- Cấp huyện: thuộc hệ thống dọc với
ty và hệ thống ngang với Ủy ban
Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ xã
và xã đội (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ 127).
Về tổ chức
với Bộ Tư lệnh phân liên khu nhưng Sở Quân dân y Nam Bộ có Ban Giám
không có hệ thống dọc của Quân dân
y Nam Bộ (tức là Sở). Còn hệ thống
của Sở Y tế đối với các Ty Y tế lại
không được rõ ràng, vì một số Ty y tế
đã sát nhập với Quân y tỉnh đội mà
Quân y tỉnh đội thuộc hệ thống ngang
với Ban Chỉ huy tỉnh đội và hệ thống
dọc với Phòng Quân y liên khu.
đốc và các bộ phận trực thuộc: Văn
phòng, Phòng Kiểm vệ (kiểm tra và
vệ sinh chữa bệnh chống dịch),
Phòng Huấn luyện (đào tạo và huấn
luyện cán bộ), Phòng Hộ sinh (hộ
sinh, bảo vệ sản phụ, hài ấu nhi),
Quân y viện (điều trị, chăm sóc phục
vụ bộ đội), Viện (điều trị riêng cho
dân y phục vụ các khối Dân, Chính,
Đảng), Phòng Nha y, Phòng Dược
Việc phân chia hai phòng quân y phân
liên khu nhằm đảm bảo sự lãnh đạo
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…
69
khoa (có Ban sản xuất Filatov và Bên cạnh đó, dữ liệu về những bệnh
phổ biến mà quân đội Pháp mắc phải
khi ở Việt Nam góp phần làm rõ hơn
bức tranh về những bệnh thường gặp
ở Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói
riêng từ năm 1945 đến 1954. Từ
những dữ liệu thu thập về bệnh tật
trong dân số Việt Nam và quân đội
Pháp, đối chiếu tình trạng nguy hiểm
của bệnh tật theo tỷ lệ mắc bệnh, thì
các bệnh về da, đường tiêu hóa và
nhiễm trùng đường hô hấp (ngoại trừ
bệnh lao) là những bệnh phổ biến của
quân Pháp tại Việt Nam. Các bệnh
còn lại không phải là vấn đề đối với
quân viễn chính Pháp trong suốt thời
gian trên (dẫn theo Barrett, 1982: 11).
Bogomoletz), Phòng Giống ngừa và
Nhà xuất bản.
Ở Ty Quân dân y có Ban Chỉ huy,
Đoàn Kiểm vệ, Nhà bảo sanh, Phòng
Nha y, Phòng Bào chế. Ở huyện có
Ban Quân dân y huyện, Quân dân y
xá huyện, Tổ Nha y, Tổ Hộ sinh, Tổ
Bào chế. Ở Xã, có Ban Y tế xã, Trạm
cứu thương, Nhà bảo sanh.
3. HOẠT ĐỘNG Y TẾ CỦA QUÂN
DÂN Y NAM BỘ TRONG KHÁNG
CHIẾN CHỐNG PHÁP
Ở Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 các
bệnh thường mắc phải là dịch tả,
thương hàn, kiết lỵ, đậu mùa, bại liệt,
mắt hột, ký sinh trùng (giun sán, chấy
rận, ghẻ ngứa), hoa liễu (lậu, giang
mai…) (Đỗ Hồng Ngọc, 2001: 38-39).
Các bệnh này có nguồn gốc từ đặc
điểm lịch sử, xã hội và môi trường
sống của cư dân Nam Bộ lúc bấy giờ.
Đó là do ảnh hưởng của nạn đói năm
1945 và cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp dai dẳng từ năm 1945 đến
1954 dẫn đến sự thiếu thốn về nguồn
thực phẩm, gây nên sự thiếu thốn
dinh dưỡng trong chế độ ăn của
người dân, đặc biệt ở vùng nông thôn.
Vấn đề giữ vệ sinh cá nhân trong sinh
hoạt hằng ngày cũng như điều kiện
nhà ở không có nhà vệ sinh của phần
lớn người dân, đặc biệt ở môi trường
sông nước tại các tỉnh miền Tây Nam
Bộ, là nhân tố trực tiếp dẫn đến
những đợt dịch lớn ở Nam Bộ. Một số
bệnh xã hội có nguồn gốc liên quan
đến sự có mặt của quân đội viễn
chinh Pháp tại đây.
Về hoạt động y tế ở Nam Bộ, trong
suốt quá trình hình thành và kiện toàn
về mặt tổ chức, hệ thống quân - dân y
đã từng bước khắc phục khó khăn,
vừa phục vụ kháng chiến vừa mang
lại những thành quả lớn lao trong lĩnh
vực y tế: điều trị vết thương, vệ sinh
chữa bệnh chống dịch, bảo vệ sản
phụ ấu nhi, bào chế thuốc trị bệnh,
vacxin phòng bệnh, nghiên cứu vận
dụng Đông y, đào tạo huấn luyện cán
bộ, xuất bản tài liệu phổ biến kiến
thức y khoa.
Công tác điều trị vết thương: Mức độ
cuộc chiến ngày càng gia tăng, mức
độ thương tật của thương binh ngày
càng phức tạp. Tình trạng phổ biến là
các thương bệnh binh bị thương tứ
chi phần mềm hoặc bị gãy xương phải
cố định, hoặc cắt đoạn, vết thương
ngực, vết thương đầu không chạm
não. Tuy nhiên, do thiếu dụng cụ và
70
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
yếu về chuyên môn kỹ thuật nên có + Bộ Y tế đề nghị lên Hội đồng Chính
những trường hợp thương tích tứ chi phủ đổi tên là Bộ Vệ sinh, đồng thời
không đáng kể nhưng bị nhiễm trùng Quân y Cục cũng đề nghị lên Bộ Quốc
và phải cắt đoạn (Cục Quân y, 1991: phòng đổi tên là Cục Vệ sinh Quân đội
58-59). Những nỗ lực ban đầu của đội trong Hội nghị quân dân y ngày 14-
ngũ y tế Nam Bộ trong thời kỳ này 15/8/1950 (Trung tâm Lưu trữ Quốc
chính là đi đến thống nhất giải pháp gia III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ số 25).
cưa cắt chi thể của thương binh (Bộ Y
+ Sở Quân dân y Nam Bộ được đổi
tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 92).
tên thành Sở Y tế Vệ sinh Nam Bộ,
Do quân Pháp tăng cường sử dụng Ban Vệ sinh do Ban Giám đốc Sở trực
tiếp phụ trách (Trung tâm Lưu trữ
Quốc gia III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ
97).
máy bay ném bom và chế tạo nhiều
vũ khí mới mà lực lượng chiến đấu
thiếu điều kiện bảo đảm an toàn nên
thương binh ngày càng nhiều với
những vết thương phức tạp trong khi
thuốc và dụng cụ y tế thiếu thốn. Vì
vậy Sở Quân dân y Nam Bộ và quân y
Đồng thời, nhận thấy nguyên nhân
dẫn đến các bệnh dịch (đậu mùa, dịch
tả, thương hàn) phần lớn là do tập
quán sinh hoạt nhân dân không đảm
vụ các khu đẩy mạnh công tác huấn bảo vệ sinh (như đi tiêu dưới sông,
quăng xác súc vật xuống sông, uống
nước sông rạch không đun sôi),
không ngủ màn/mùng…, Sở Y tế Vệ
sinh Nam Bộ thành lập Đoàn Truyền
bá vệ sinh(2), và tổ chức các nhóm
nhỏ đi sâu vào dân khám chữa bệnh
cho dân.
luyện, chú trọng cải tiến phương pháp
điều trị nhằm tránh tốn nhiều thuốc,
giảm bớt đau đớn cho thương bệnh
binh và rút ngắn thời gian điều trị.
Bên cạnh đó, việc áp dụng “tổ chức
liệu pháp Filatov” tại Quân y viện
Phân liên khu miền Tây do bác sĩ
Nguyễn Thiện Thành nghiên cứu đã
đem lại thành quả lớn trong y học(1) ở
Nam Bộ lúc bấy giờ.
Năm 1950 Sở còn nghiên cứu bổ
sung bảng kỷ luật về thiếu vệ sinh
trong quân đội, cụ thể Sở đề ra 16
điều kỷ luật về thiếu vệ sinh và 12
điều kiện nhà vệ sinh kiểu mẫu. Sở đề
nghị Ủy ban Kháng chiến Hành chính
Nam Bộ ra Chỉ thị 36 VS-1 về vệ sinh
cho toàn quân và toàn dân Nam Bộ thi
hành. Tháng 10/1950, Phòng Vệ sinh
Nam Bộ xuất bản và phát hành 3.000
quyển giải thích Chỉ thị 36 VS-1
(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III,
Phông Bộ Y tế: Hồ sơ số 97). Trong
thời gian này Quân y vụ Khu 8 cũng
Vệ sinh phòng bệnh chống dịch
Trong những năm kháng chiến chống
Pháp ở Nam Bộ, đặc biệt từ sau năm
1950, vấn đề vệ sinh phòng dịch được
xem là vấn đề chính trong y tế, thậm
chí mức độ quan trọng được đặt
ngang với vấn đề điều trị.
Điều đó được thể hiện qua tên gọi của
tổ chức y tế từ trung ương đến địa
phương:
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…
71
xuất bản và phát hành 3.000 quyển được sản xuất ở Nam Bộ từ năm
Khỏe để chiến đấu (Bộ Y tế - Bộ Quốc
phòng, 2006: 127). Năm 1951, tài liệu
tuyên truyền vệ sinh được bổ sung: ca
dao vui sống, ca dao vui sống khỏe,
hò vui sống, mỗi thứ in 1.500 quyển
và nhiều tài liệu tuyên truyền khác
như kịch, tranh ảnh (Trung tâm Lưu
trữ Quốc gia III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ
số 97).
1947 đến năm 1954 đã kịp thời ngăn
chặn dịch bệnh lây lan.
Về nghiên cứu vận dụng Đông y
Do cuộc kháng chiến chống Pháp ở
Nam Bộ diễn ra sớm nên công tác tiếp
tế thuốc dựa vào dân y, khả năng tiếp
tế của Cục Quân y còn rất hạn chế.
Trong điều kiện thiếu thốn thuốc men,
Sở Quân dân y Nam Bộ khuyến khích
nghiên cứu và vận dụng các phương
thuốc cổ truyền dân tộc ngay từ lúc
mới thành lập. Phương hướng được
xác định là “khoa học hóa các phương
thức thuốc Đông y để phối hợp Đông-
Tây y, địa phương hóa các phương
thức Tây y để áp dụng vào bối cảnh
Nam Bộ” (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
III, Phông Bộ Y tế: Hồ sơ số 97) nhằm
tránh tình trạng lệ thuộc vào thuốc.
Năm 1950, Sở Quân dân y Nam Bộ
đã biên soạn và phát hành rộng rãi
đến các địa phương sách Dược tính
Đông y. Những năm sau đó, sách Tủ
thuốc nhân dân được xuất bản hàng
ngàn quyển và cấp phát các nơi hướng
dẫn cách sử dụng các vị thuốc Đông y
cũng như tận dụng cây thuốc sẵn có
để điều trị các bệnh thông thường.
Các hoạt động tuyên truyền vệ sinh
trong nhân dân và bộ đội đã phần nào
hạn chế được tập quán đi tiêu dưới
sông, đi tiêu ngoài đồng. Đồng thời,
công tác tiêm chủng phòng dịch tả,
đậu mùa được thực hiện đầy đủ nên
về cơ bản phòng được hai dịch bệnh
trên.
Về hoạt động bào chế, sản xuất
vacxin phòng bệnh
Trong kháng chiến chống Pháp, việc
sản xuất vacxin là một trong những
thế mạnh của dân y, ngành quân y
không có khả năng trong lĩnh vực này
(Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 168).
Ngành dân y đã bào chế, sản xuất
thành công nhiều loại vacxin(3) phòng
dịch bệnh nguy hiểm không chỉ cung
cấp cho bộ đội mà còn phục vụ đắc
lực trong việc bảo vệ sức khỏe nhân
dân.
Bên cạnh sử dụng các toa thuốc gia
truyền, Ban Nghiên cứu Đông y Nam
Bộ còn nghiên cứu bào chế các thế
phẩm Đông y như tán thuốc bột, viên,
nấu cao và ngâm rượu. Các loại thuốc
đông y được sản xuất chủ yếu là sốt
rét, thuốc bổ, thuốc xổ, ho, lỵ, bột đau
dạ dày, thuốc xoa bóp(4).
Từ năm 1953 trở đi, vacxin bệnh tả
được trộn lẫn với vacxin thương hàn
và có tên gọi là vacxin Tả-TAB.
So với cả nước trong giai đoạn này,
chỉ có Bắc Bộ và Trung Bộ có Viện Vi
trùng học, còn ở Nam Bộ và Liên khu
5 không có, tuy nhiên, lượng vacxin
Tư tưởng kết hợp Đông - Tây y và
những công trình nghiên cứu đầu tiên
72
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
về Đông y đã đặt tiền đề vững chắc mật thiết trong hoạt động bảo đảm y
cho chủ trương kết hợp y học cổ tế, cứu thương phục vụ đơn vị chủ lực,
truyền dân tộc với y học hiện đại sau bảo vệ sức khỏe nhân dân. Qua quá
này. Việc kế thừa và phát huy y học trình hoạt động, mối liên hệ không
dân tộc đã khắc phục được những tách rời của quân y và dân y càng thể
khó khăn về thiếu thốn thuốc tây trong hiện rõ: 1) nhân tố hình thành lực
điều kiện kháng chiến gian khổ.
lượng quân y trong kháng chiến
chống Pháp xuất phát từ những người
dân tham gia kháng chiến ở Nam Bộ;
2) trong điều kiện vừa chiến đấu vừa
bảo vệ dân trong vùng giải phóng,
nguồn tiếp tế thuốc men và vacxin chủ
yếu dựa vào nguồn lực y tế của dân y.
Về hoạt động, những nỗ lực và kết
quả đạt được của quân y và dân y
Nam Bộ, đặc biệt trong công tác sản
xuất vacxin phòng bệnh và vận dụng
phương pháp điều trị theo Đông y đã
đặt nền tảng cho một số vấn đề mang
tính lý luận và thực tiễn mà ý nghĩa
khoa học của nó vẫn còn giá trị trong
bối cảnh hiện nay.
4. KẾT LUẬN
Trong giai đoạn 1945-1954, lực lượng
y tế kháng chiến ở Nam Bộ được hình
thành và phát triển từ yêu cầu phục vụ
lực lượng kháng chiến. Về mặt tổ
chức, các tổ chức quân y được xây
dựng trong các đơn vị quân đội và có
sự phát triển gắn liền với sự phát triển
của quân đội. Các tổ chức dân y được
hình thành sau quân y, hoạt động
song song với quân y và có sự thống
nhất về chỉ đạo với quân y. Hệ thống
quân y, dân y nhiều lần thay đổi về cơ
cấu tổ chức để phù hợp với tình hình
chiến trường Nam Bộ. Về sự kết hợp
quân - dân y, quân y và dân y gắn bó
CHÚ THÍCH
(1) Đây là một dạng thuốc bổ, được bào chế từ nhau thai, ca cấy nhau đầu tiên được thực
hiện thành công đối với bệnh binh bị suy kiệt do sốt rét kéo dài. Qua quá trình thực nghiệm
và 44 lần cải tiến, hiệu quả mà phương pháp này mang lại đã vượt qua những kết quả điều
trị y học trước đó: tăng cường khả năng đề kháng, giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục
sức khỏe. Liệu pháp Filatov nhanh chóng gây tiếng vang rộng khắp, được áp dụng cho cả
chiến trường Nam Bộ.
(2) Đoàn khoảng 10 người, hoạt động nhiều tỉnh ở Khu 8 và 9, tổ chức tuyên truyền trong
nhân dân qua tranh ảnh, ca dao, chủ yếu là diễn kịch hướng dẫn người dân giữ vệ sinh
phòng bệnh.
(3)
Sở Quân dân y Nam Bộ có Phòng Giống ngừa chuyên nghiên cứu, sản xuất trái giống
(vacxin phòng đậu mùa), vacxin phòng tả, thương hàn và vacxin phòng bệnh dại. Để sản
xuất trái giống phải dùng nghé (trâu con) khỏe mạnh. Nghé được trồng trái vào da bụng, sau
một tuần lễ, trái nổi khắp (đậu mọc) thân nghé, nhân viên y tế phải thay phiên nhau canh
chừng suốt ngày đêm, giữ nốt đậu không bị dính bẩn nhiễm tạp trùng, nếu không vacxin sẽ
hỏng. Ban đêm phải hun khói đuổi muỗi và giăng màn để cho nghé khỏi bị muỗi đốt làm cho
NGUYỄN THỊ KIM NƯƠNG – QUÂN Y, DÂN Y Ở NAM BỘ…
73
nghé dùng đuôi về hoặc chân gãi vào chỗ ngứa làm hỏng nốt đậu. Sau khi cạo lớp vảy lấy
giống xong, vảy được làm khô bằng gạo rang rồi được tán nhỏ thành bột chứa vào chai, lọ
thủy tinh. Các chai, ống thủy tinh này được bảo quản lạnh, nhưng trong chiến tranh không
có tủ lạnh mà phải nhét vào thân cây chuối để giữ mát. Với cách làm này có thể giữ vacxin
trong vòng 20 ngày, đủ thời gian gửi đến các đơn vị quân dân y sử dụng (Bộ Y tế - Bộ Quốc
phòng, 2006: 168).
(3)
Thuốc sốt rét được điều chế từ thường sơn và dây cóc bạch phơi khô tán nhỏ ép thành
viên như viên aspirin lấy tên là quinita để các nơi dễ sử dụng và bảo quản (thay quinin).
Thuốc bổ được làm từ nhiều loại dược liệu và có nhiều hình thức như bột mã tiền, rượu mã
tiền (thay strychnin), vỏ cây ô tước tán nhỏ và bột mã tiền ép thành viên. Hà thủ ô bổ máu
tán nhỏ vo thành viên hoặc nấu cao, bột xương hoặc cao xương (xương bò, lợn, xương nai,
khỉ), bột sâm (củ sâm đất). Thuốc xổ làm bằng nhiều thứ nhưng dược liệu dễ sưu tầm nhất
là cây gió ma, phơi khô tán nhỏ ép thành viên. Thuốc lỵ (thay thế émétine) thường làm từ
cây nút áo. Bột đau dạ dày làm bằng bột xay lúa nếp, dần dần lúa nếp không đủ ăn, chiến
trường tăng gia nhiều ngô, nên sau chuyển qua sản xuất bột mộng bằng ngô. Bào chế dầu
xoa theo hình thức dầu cù là dùng rộng rãi và giản tiện trị cảm sương, cảm lạnh, ăn khó tiêu
hoặc khi sưng chân, trật chân (Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, 2006: 165-166).
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Barrett, O., 1982. “Internal Medicine in Vietnam”, Volume II: General Medicine and
Infectious Diseases. Washington, DC. Office of the Surgeon General and Center of
Military History United State Army.
2. Bộ Tư lệnh Quân khu 7. 2000. Lịch sử hậu cần Quân khu 7 1945-2000. TPHCM:
Nxb. Quân đội Nhân dân.
3. Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng. 2006. Lịch sử kết hợp quân dân y Việt Nam 1945-2000. Hà
Nội: Nxb. Y học.
4. Cục Quân y. 1991. Lịch sử quân y Quân đội Nhân dân Việt Nam – Tập 1. Hà Nội:
Tổng cục Hậu cần.
5. Đỗ Hồng Ngọc (chủ biên). 2001. Y tế Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh 300 năm (1698-
1998). TPHCM: Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe.
6. Lê Phương. “‘Bác sĩ Filatov’ Nguyễn Thiện Thành - Người lính gác tù Pháp vốn là
sinh viên y, quý mến Nguyễn Thiện Thành đã tuồn tài liệu y học, tạo tiền đề để ông
7. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III. Phông Bộ Y tế. Báo cáo 9 năm kháng chiến 1945-
1954 của Sở Quân dân y Nam Bộ. Hồ sơ số 97.
8. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III. Phông Bộ Y tế. Biên bản của Bộ Y tế về hội nghị y tế
quân dân y trong năm 1950. Hồ sơ số 25.
9. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III. Phông Bộ Y tế. Hồ sơ về hội nghị quân dân y Nam Bộ
năm 1954. Hồ sơ số 127.
Bạn đang xem tài liệu "Quân y, dân y ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_y_dan_y_o_nam_bo_trong_khang_chien_chong_phap_1945_1954.pdf

