Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính sách văn hóa về việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Mĩ và Trung Quốc

DOI: 10.35382/18594816.1.41.2020.652  
T Ạ P CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 N Ă M 2020  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN  
CHÍNH S Á C H VĂN HÓA VỀ VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH MỀM  
CỦA VĂN HÓA MĨ VÀ TRUNG QUỐC  
Phạm Tiết Khánh1, Diệp Thanh Tùng2  
INTERNATIONAL EXPERIENCE IN BUILDING AND IMPLEMENTING  
THE CULTURAL POLICIES IN PROMOTE  
THE SOFT POWER OF OF CULTURE OF THE US AND CHINA  
Pham Tiet Khanh1, Diep Thanh Tung2  
Tóm tắt – Thế giới đang thay đổi nhanh chóng,  
sức mạnh của các quốc gia chuyển biến từ “sức  
mạnh cứng” truyền thống sang phát huy lợi thế  
của “sức mạnh mềm”, bao gồm khía cạnh sức  
mạnh của văn hóa. Bài viết này tập trung vào  
việc lược khảo các cách tiếp cận về văn hóa và  
vai trò của các chính sách văn hóa trong việc  
phát huy sức mạnh mềm của quốc gia. Trong đó,  
kinh nghiệm của Mĩ và Trung Quốc trong xây  
dựng, thực hiện chính sách văn hóa và phát huy  
sức mạnh mềm của văn hóa lần lượt được nhấn  
mạnh. Bài học có thể rút ra từ những thay đổi  
trong cục diện thế giới là vai trò của văn hóa  
và sức mạnh mềm luôn là lực lượng quan trọng  
trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. Uy  
tín thực sự của một quốc gia được hình thành  
thông qua quá trình quan hệ quốc tế và quảng  
bá văn hóa được xem đã trở thành nền tảng vững  
chắc của sức mạnh mềm. Uy tín đó có thể được  
tạo dựng từ những giá trị văn hóa tốt đẹp mà  
quốc gia đó có được, theo đuổi và ảnh hưởng  
đến các quốc gia khác.  
the power of countries is shifting from tradi-  
tional "hard power" to taking advantage of "soft  
power", including the strength aspect of culture.  
This article focuses on reviewing cultural ap-  
proaches and the role of cultural policies in  
promoting national soft power. In particular, the  
experiences of the US and China in formulating,  
implementing cultural policies and promoting the  
soft power of culture are respectively emphasized.  
The lesson that can be learned from changes in  
the world situation is that the role of culture  
and soft power has always been an important  
force in the foreign policy of countries. The  
real prestige of a country formed through the  
process of international relations and cultural  
promotion is considered as a solid foundation of  
soft power. That prestige can be built from the  
good cultural values that the country has, pursues  
and influences other countries.  
Keywords: cultural policies, soft power, US,  
China.  
I. MỞ ĐẦU  
Từ khóa: chính sách v ă n hóa, sức mạnh  
mềm, Mĩ, Trung Quốc.  
Trong nhiều thập niên gần đây, phát triển bền  
vững luôn là trọng tâm của Mục tiêu Thiên niên  
kỉ của Liên Hợp Quốc. Tháng 9 năm 2015, Đại  
hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua chương  
trình nghị sự toàn cầu Biến đổi thế giới của chúng  
ta: Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển  
bền vững (Transforming Our World: the 2030  
Agenda for Sustainable Development, gọi tắt là  
Chương trình Nghị sự 2030) xác định 17 mục  
tiêu phát triển bền vững và 169 mục tiêu cụ thể  
Abstract – The world is changing rapidly,  
1,2Trường Đại học T rà Vinh  
Ngày nhận bài: 19/10/2020; Ngày nhận k ế t quả bình  
duyệt: 28/11/2020; Ngày chấp nhận đăng: 20/12/2020  
Email: dttung@tvu.edu.vn  
1,2T ra Vinh University  
Received date: 19th October 2020; Revised date: 28th  
November 2020; Accepted date: 20th December 2020  
34  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
đến năm 2030. Mặc dù trong số 17 mục tiêu phát  
triển bền vững, không có mục tiêu riêng về khía  
cạnh văn hóa, nhưng Chương trình Nghị sự 2030  
đã phản ánh khía cạnh văn hóa trong nội hàm  
của nhiều Mục tiêu Thiên niên kỉ. Trong thực tế,  
các khía cạnh văn hóa, bao gồm sự tham gia tích  
cực vào đời sống văn hóa, phát triển tự do văn  
hóa cá nhân và tập thể, bảo vệ các di sản văn  
hóa vật thể và phi vật thể, bảo vệ và phát huy  
các biểu hiện văn hóa đa dạng là những thành  
phần cốt lõi của sự phát triển bền vững và con  
người [1]. Trong Lời mở đầu của Chương trình  
Nghị sự 2030, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã  
viết:  
‘Chúng tôi thừa nhận sự đa dạng tự nhiên và  
văn hóa của thế giới và công nhận rằng tất cả các  
nền văn hóa và nền văn minh đều có thể đóng  
góp và là những yếu tố quyết định cho sự phát  
triển bền vững’ [2].  
Trong đó, quyền văn hóa, di sản, sự đa dạng  
và sáng tạo là những thành phần cốt lõi của sự  
phát triển bền vững của mỗi quốc gia.  
Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, văn hóa còn  
có vai trò đặc biệt, cấu thành nên “sức mạnh  
mềm” của một quốc gia cụ thể khi so sánh với  
các quốc gia còn lại. Khái niệm về sức mạnh  
mềm của một quốc gia lần đầu tiên được phát  
biểu bởi giáo sư người Mĩ Joseph S. Nye Jr., Đại  
học Harvard. Theo đó, sức mạnh mềm được mô  
tả như khả năng của một quốc gia để thu hút  
quốc gia khác thông qua các ý tưởng, giá trị và ý  
thức hệ. Loại quyền lực này tương tự như quyền  
lực vô hình, bao gồm văn hóa, ý thức hệ và hệ  
thống xã hội của quốc gia đó [3]. Sức mạnh mềm  
được tạo thành từ (1) sức mạnh chính trị, (2) sức  
mạnh văn hóa và giáo dục, (3) sức mạnh ngoại  
giao.  
Trong ba yếu tố cấu thành sức mạnh mềm, văn  
hóa là một thành phần quan trọng. Theo Nicolae  
Hanes and Adriana Andrei [4], nội dung văn hóa,  
theo nghĩa rộng, bao gồm sự giàu có về tinh thần  
được tạo ra trong lịch sử xã hội loài người. Theo  
nghĩa hẹp hơn, văn hóa là hệ tư tưởng xã hội  
cũng như các hệ thống và thể chế liên quan, bao  
gồm các ý tưởng, tư tưởng chính trị, luật pháp,  
đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo và khoa học. Tuy  
nhiên, khi nhìn ở bất kì góc độ nào, văn hóa  
không phải là một thực thể tĩnh mà là một quá  
trình động và biến chuyển theo thời gian. Joseph  
S. Nye Jr. [3] cho rằng sức mạnh vô hình của  
văn hóa có thể được ước tính dựa trên sự gắn kết  
của một quốc gia trong việc phổ biến văn hóa  
của quốc gia đó đến phạm vi toàn cầu và đóng  
vai trò quan trọng trong các tổ chức quốc tế.  
Văn hóa, như một sức mạnh mềm, là một phần  
thiết yếu của sức mạnh quốc gia. Nhiều quốc gia  
đã chọn cách tăng cường khả năng cạnh tranh  
và ảnh hưởng quốc tế thông qua phát triển văn  
hóa. Trong cuộc cạnh tranh giành quyền lực giữa  
các quốc gia trên thế giới, “sức mạnh cứng” (như  
quân sự) của một quốc gia không thể được cải  
thiện nếu không có sự phát triển của sức mạnh  
mềm (bao gồm văn hóa). Nicolae Hanes and  
Adriana Andrei [4] đã chỉ ra một số ví dụ về  
chiến lược của các cường quốc trong việc sử  
dụng sức mạnh mềm trong mối quan hệ quốc  
tế. Chẳng hạn, trong thời kì hậu chiến tranh thế  
giới thứ hai, cựu Thủ tướng Nhật Bản Nakasone  
Yasuhiro đã đề xuất một kế hoạch chiến lược  
cho việc tạo ra một quốc gia phát triển văn hóa,  
tăng cường quyền lực mềm (chẳng hạn thông qua  
viện trợ, các hoạt động gìn giữ hòa bình) để trấn  
an thế giới về sự hiện diện quốc tế của Nhật  
bản. Tại châu Âu, cựu Thủ tướng Pháp Jacques  
Chirac đã khởi xướng việc thiết lập một cộng  
đồng văn hóa châu Âu nhằm tăng cường sự ảnh  
hưởng của châu lục này. Tại Mĩ, từ tháng 9/1992,  
cựu Tổng thống Mĩ George Bush đã nhấn mạnh  
tầm quan trọng của việc sử dụng văn hóa Mĩ như  
một loại sức mạnh mềm trong chương trình nghị  
sự mang tên “Sự hồi sinh của nước Mĩ” (Agenda  
for America’s Revival). Trong khi đó, tại châu Á,  
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã phát biểu  
tại Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc lần thứ 17,  
năm 2007 rằng:  
‘Sự trẻ hóa tuyệt vời của đất nước Trung Quốc  
chắc chắn sẽ đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ  
của văn hóa Trung Quốc. . . Chúng ta phải nâng  
cao văn hóa như một phần sức mạnh mềm của  
đất nước chúng ta. .. Chúng ta sẽ truyền bá hơn  
nữa các truyền thống tốt đẹp của văn hóa Trung  
Quốc và tăng cường trao đổi văn hóa quốc tế để  
tăng cường ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc  
trên toàn thế giới’ [5].  
Trong suốt Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc  
lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào  
năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình  
đã nhận xét rằng ‘Chúng ta nên tăng sức mạnh  
35  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
mềm của Trung Quốc, kể những câu chuyện về  
Trung Quốc hay và truyền đạt tốt hơn các thông  
điệp của Trung Quốc đến thế giới’ [6].  
qua những thay đổi trong từng ý tưởng mới, sự  
phát triển mới, mỗi thế hệ mới và mỗi sự tương  
tác mới với các nền văn hóa và dân tộc khác.  
Langi Kavaliku [8] viết ‘Văn hóa sống dựa trên  
những di sản của quá khứ, những ý tưởng của  
hiện tại và những hi vọng cho tương lai’.  
Có thể thấy rằng, văn hóa, với vai trò là một  
sức mạnh mềm, đang được các quốc gia tận dụng  
để tăng cường ảnh hưởng đối với các quốc gia  
khác trên thế giới. Trong đó, Mĩ và Trung Quốc  
là hai cường quốc về kinh tế, quân sự, có nền văn  
hóa đa dạng và có vị thế quan trọng trên thế giới  
cả về sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Trong  
các phần kế tiếp của nghiên cứu này, chính sách  
văn hóa như một loại sức mạnh mềm sẽ được  
phân tích cụ thể; đồng thời, các chính sách văn  
hóa của Trung Quốc và Mĩ sẽ lần lượt được khái  
quát để đánh giá kinh nghiệm của hai quốc gia  
này trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh  
mềm của văn hóa.  
B. Vai trò của văn hóa  
Văn hóa là động lực trong phát triển kinh tế  
Trong nhiều thập kỉ qua, các số liệu thống kê  
đã chỉ ra rằng văn hóa có thể là động lực mạnh  
mẽ để phát triển, với các tác động đến xã hội,  
kinh tế và môi trường, lên toàn bộ cộng đồng.  
Thống kê của UNESCO [9] cho thấy, đến tháng  
1/2012, các hoạt động văn hóa được bao gồm  
trong 70% Khung Hỗ trợ Phát triển của Liên Hợp  
Quốc (United Nations Development Assistance  
Frameworks). Đặc biệt, văn hóa có vai trò quan  
trọng, đóng góp vào phát triển kinh tế, xóa đói  
giảm nghèo. Di sản văn hóa, ngành công nghiệp  
văn hóa và sáng tạo, du lịch văn hóa, hạ tầng văn  
hóa có thể đóng vai trò là công cụ chiến lược,  
tạo doanh thu, đặc biệt ở các quốc gia đang phát  
triển với di sản văn hóa thường rất phong phú và  
lực lượng lao động dồi dào.  
Ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo (cul-  
tural and creative industries) là một trong những  
ngành phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế  
toàn cầu với tốc độ tăng trưởng 17,6% ở Trung  
Đông, 13,9% ở châu Phi, 11,9% ở Nam Mĩ, 9,7%  
ở châu Á, 6,9% ở châu Đại Dương và 4,3% ở  
Bắc và Trung Mĩ [9]. Thúc đẩy sự phát triển  
của ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đòi  
hỏi đầu tư vốn hạn chế, liên quan đến các rào  
cản gia nhập thấp và có thể tác động trực tiếp  
đến các nhóm dân số dễ bị tổn thương, bao gồm  
phụ nữ. Ở Ecuador, các nghiên cứu gần đây cho  
thấy các hoạt động văn hóa chính thức và của  
tư nhân đã đóng góp 4,76% vào GDP năm 2010  
và có 2,64% tổng dân số làm việc trong ngành  
văn hóa; trong đó, gần 60% là phụ nữ. Riêng  
ngành du lịch, bao gồm du lịch văn hóa, cũng là  
một trong những ngành kinh tế tăng trưởng nhanh  
nhất thế giới. Tổng doanh thu du lịch trên toàn  
thế giới tăng trưởng trung bình 7% từ năm 1998  
đến năm 2008, với 12% cho các nước kém phát  
triển nhất trong cùng thời kì. Du lịch văn hóa,  
dựa vào tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể,  
II. CƠ SỞ LÍ THUYẾT  
A. Văn hóa  
Văn hóa là một thuật ngữ khó định nghĩa. Từ  
năm 1952, các nhà nhân chủng học người Mĩ,  
Kroeber and Kluckhohn đã phản biện và tổng  
hợp một danh sách gồm 164 khái niệm và định  
nghĩa về văn hóa [7]. Đến năm 1994, M. Apte  
(1994) (được trích dẫn bởi Helen Spencer-Oatey  
[7]) đã viết trong Bách khoa toàn thư về ngôn ngữ  
và ngôn ngữ học, được xuất bản bởi Nhà Xuất  
bản Oxford rằng: ‘Mặc dù có một thế kỉ nỗ lực  
để xác định văn hóa một cách đầy đủ, nhưng vào  
đầu những năm 1990, không có sự thống nhất  
nào giữa các nhà nhân học về bản chất của nó’.  
Trong số nhiều định nghĩa khác nhau về văn  
hóa, Langi Kavaliku [8] đã khái lược quan điểm  
về văn hóa trong Tuyên bố Mexico về chính sách  
văn hóa (Mexico City Declaration on Cultural  
Policies) năm 1982 của UNESCO. Theo đó, ‘văn  
hóa bao gồm toàn bộ phức hợp đặc sắc về đặc  
điểm tinh thần, trí tuệ và cảm xúc đặc trưng cho  
xã hội hoặc các nhóm xã hội. Văn hóa không chỉ  
bao gồm nghệ thuật và chữ viết, mà còn bao gồm  
các phương thức sống khác nhau, các quyền cơ  
bản của con người, hệ thống giá trị, truyền thống  
và tín ngưỡng’ [8].  
Văn hóa vừa là công cụ, đồng thời là kết quả  
của việc ra quyết định và thực thi. Văn hóa luôn  
thay đổi theo thời gian một cách dần dần hoặc  
nhanh chóng. Với văn hóa, sự thay đổi thể hiện  
36  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
chiếm 40% doanh thu du lịch thế giới [9]. Nhiều  
thành phố ở các quốc gia trên thế giới đã sử dụng  
các di sản văn hóa, các sự kiện và thể chế văn  
hóa để cải thiện hình ảnh, kích thích phát triển đô  
thị, thu hút du khách và đầu tư. Các ngành công  
nghiệp văn hóa và sáng tạo có tỉ trọng đáng kể  
trong nền kinh tế. Tại EU, nền kinh tế văn hóa  
chiếm khoảng 3% GDP và 5% việc làm trong  
năm 2018 [10].  
phần trong mô hình cấu trúc của quyền lực mềm  
hoặc sức mạnh mềm, bao gồm các loại quyền lực:  
(1) quyền lực mềm kinh tế, (2) quyền lực mềm  
chính trị, (3) quyền lực mềm văn hóa, (4) quyền  
lực mềm nhân lực, (5) quyền lực mềm ngoại giao.  
Nghiên cứu của Ivanov V. G. [13] cho rằng,  
ngày nay, quyền lực mềm là công cụ chính để  
nhiều quốc gia ảnh hưởng đến tiến trình chính trị  
ở các quốc gia mà họ quan tâm và mong muốn  
tác động. Sự ảnh hưởng này có được thông qua  
các tiến trình chính trị nhằm tác động đến và hình  
thành nên các quan điểm của chính phủ và người  
dân tại các quốc gia bị tác động, nhằm thúc đẩy  
việc thực hiện các lợi ích quốc gia của mình. Sức  
mạnh mềm thực sự là một công cụ chính trị trong  
mối quan hệ giữa các quốc gia [14].  
Các thành phần cơ bản của sức mạnh mềm là  
những thước đo cụ thể cho sức mạnh mềm của  
các quốc gia. Để đo lường sức mạnh mềm của  
các quốc gia, Portland Communications (trụ sở  
tại Anh), hằng năm thực hiện các khảo sát để  
đánh giá sự ảnh hưởng của các quốc gia này đến  
các quốc gia khác thông qua các phương tiện  
ngoài sức mạnh quân sự, hình thành nên bảng  
xếp hạng thường niên Soft Power 30. Trong năm  
2018, Soft Power 30 thực hiện khảo sát lấy ý  
kiến 11.000 người ở 25 quốc gia để thu thập ý  
kiến của người tham gia khảo sát và bình chọn  
ra 30 quốc gia có sức mạnh mềm lớn nhất. Dữ  
liệu được cấu trúc thành sáu loại, mỗi loại hoạt  
động như một tiêu chí phụ với trọng số riêng.  
Sáu chỉ số phụ và trọng số lần lượt là: chính phủ  
(Government, 20,8%), văn hóa (Culture, 12,7%),  
tham gia toàn cầu (Engagement, 17,9%), giáo dục  
(Education, 16,6%), kĩ thuật số (Digital, 14%) và  
doanh nghiệp (Enterprise, 18%).  
Văn hóa là vấn đề cốt lõi trong gìn giữ hòa  
bình  
Khi đề cập đến vai trò của văn hóa trong hòa  
bình và hòa giải, UNESCO [11] mô tả sự hội  
nhập văn hóa đóng vai trò cốt lõi trong tất cả  
các sự xung đột. Các thách thức hiện tại của thế  
giới bao gồm toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế,  
khủng bố, phát triển không bền vững, sự tồn tại  
của nghèo đói, các vấn đề đang nổi lên tại các  
xã hội đang phát triển. Suy cho cùng, vấn đề cốt  
lõi của những vấn đề này nằm ở khát vọng hòa  
bình trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh  
chóng, phức tạp. Thách thức quan trọng nhất là  
làm thế nào để tiếp cận sự “thống nhất trong đa  
dạng” (“unity-in-diversity”).  
Trong bối cảnh đó, văn hóa nổi lên như một  
yếu tố thiết yếu cho cả sự phát triển bền vững và  
hòa bình trong lâu dài. Trên thực tế, không có  
sự tiến bộ, công bằng, hay sự gắn kết xã hội nào  
thực sự khả thi nếu văn hóa bị gạt sang một bên.  
Michelle LeBaron viết: ‘Văn hóa là một phần  
thiết yếu của xung đột và giải quyết xung đột.  
Các nền văn hóa giống như những dòng sông  
ngầm chảy qua cuộc sống và các mối quan hệ của  
chúng ta, mang đến cho chúng ta những thông  
điệp, định hình nhận thức, sự phân bổ, phán đoán  
và ý tưởng của bản thân và của người khác’ [11].  
Văn hóa như một thành phần của “sức mạnh  
mềm” trong quan hệ quốc tế  
Như đã đề cập ở phần đầu tiên của bài viết này,  
khái niệm “sức mạnh mềm” (soft power), được  
phát biểu lần đầu tiên bởi Joseph S. Nye Jr. [3],  
đã mang lại một cái nhìn mới mẻ về việc giải  
thích các khái niệm quyền lực. Có một số cách  
nhìn nhận về các thành phần của sức mạnh mềm.  
Trong khi Joseph S. Nye Jr. [3] mô tả sức mạnh  
mềm được tạo thành từ (1) sức mạnh chính trị,  
(2) sức mạnh văn hóa và giáo dục, (3) sức mạnh  
ngoại giao. Cùng với những thay đổi nhanh chóng  
của thế giới, Holik G. G. [12] đã xác định năm  
Kết quả đánh giá của Soft Power 30 vào năm  
2018 cho thấy trong số 30 quốc gia có sức mạnh  
mềm lớn nhất thế giới, với năm quốc gia dẫn đầu  
thì Anh giữ vị trí số 1 về sức mạnh mềm tổng  
thể, các vị trí kế tiếp là Pháp, Đức, Mĩ, Nhật Bản.  
Trong bảng xếp hạng này, quốc gia đông dân nhất  
thế giới – Trung Quốc – có xếp hạng sức mạnh  
mềm tổng thể ở mức 27/30 quốc gia. Cần lưu  
ý, sức mạnh mềm tổng thể được cấu thành từ  
sáu thành phần nêu trên. Sức mạnh mềm của các  
quốc gia sẽ thay đổi như thế nào nếu chỉ tính  
riêng yếu tố văn hóa – nói cách khác: sức mạnh  
mềm từ yếu tố văn hóa hoặc sức mạnh văn hóa?  
37  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
lược khảo, đánh giá và từ đó, đưa đến một số kết  
luận chung.  
III. KINH NGHIỆM PHÁT HUY SỨC MẠNH  
MỀM CỦA VĂN HÓA MĨ VÀ TRUNG QUỐC  
A. Tổng quan về chính sách văn hóa của Mĩ  
Các chính sách văn hóa thường gắn liền với  
ngành công nghiệp văn hóa tại các quốc gia.  
Ngành công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan  
trọng trong nhiều lĩnh vực trọng yếu như kinh tế  
(đóng góp vật chất và việc làm), chính trị (văn  
hóa như một phương tiện để truyền đạt các giá  
trị, sức mạnh mềm của quốc gia) và những vấn  
đề về bản sắc dân tộc.  
Hình 1: Xếp hạng 30 quốc gia có sức mạnh  
mềm nhất thế giới năm 2018, chỉ tính theo tiêu  
chí văn hóa  
Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa  
của Mĩ  
Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa  
của Mĩ thường có thể được tiếp cận theo các mốc  
thời gian/sự kiện khác nhau. Sau đây là tiếp cận  
theo nghiên cứu của Guan Ping Qin, Hao Wei  
et al. [16]. Theo đó, ngành công nghiệp văn hóa  
của Mĩ có thể được chia thành bốn giai đoạn:  
• Giai đoạn 1: từ năm 1920 – cuối thế chiến  
thứ II, năm 1945  
Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa  
Mĩ gắn liền với sự phát triển của khoa học công  
nghệ. Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ  
nhất và thứ hai, các phương tiện điện tử như điện  
báo, đài phát thanh, truyền hình đã trở thành một  
phần của cuộc sống con người trên toàn thế giới  
từ những năm 1920.  
Theo đó, sự phát triển của ngành truyền thanh  
đóng vai trò quan trọng, góp phần đưa văn hóa  
Mĩ bùng nổ đến toàn thế giới trong suốt những  
năm 1930 – 1940. Tiếp theo là sự phát triển của  
ngành truyền hình và điện ảnh. Đây là cơ sở nền  
tảng dẫn đến sự tập trung của ngành công nghiệp  
điện ảnh vào tay các hãng phim lớn nhất nước Mĩ.  
Trong khoảng thời gian tiếp theo, Mĩ chiếm lĩnh  
thị trường ngành công nghiệp văn hóa thế giới  
bằng sức mạnh tài chính và công nghệ truyền  
thông tiên tiến.  
Trong giai đoạn này, các chính sách về ngành  
công nghiệp văn hóa ít khi được quan tâm ở  
các quốc gia khác trên thế giới. Việc này đã tạo  
ra những khoảng trống cho sự phát triển chính  
sách của Mĩ theo khuynh hướng ít hạn chế đối  
với ngành văn hóa. Đi cùng với sự phát triển tự  
(Nguồn: Tác giả trình bày dựa trên dữ liệu của  
Soft Power 30 [15])  
Hình 1 mô tả thứ hạng các quốc gia đã thay đổi  
sau khi chỉ tính sức mạnh văn hóa. Mĩ – quốc  
gia hợp chủng quốc với đa dạng các sắc tộc –  
chiếm vị trí dẫn đầu về sức mạnh văn hóa. Các  
quốc gia trong nhóm năm quốc gia dẫn đầu kế  
tiếp lần lượt là Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha.  
Đối với Trung Quốc, khi chỉ tính riêng thành  
phần văn hóa, sức mạnh mềm của quốc gia này  
đã thay đổi từ vị trí 27/30 quốc gia (về sức mạnh  
mềm tổng thể), trở thành vị trí số 6/30 quốc gia  
(về sức mạnh văn hóa).  
Có thể nói, các cách tiếp cận ngày nay vẫn chủ  
yếu dựa trên những hiểu biết của Joseph S. Nye  
Jr. [3]. Nhưng có một nhận thức ngày càng tăng  
rằng sức mạnh mềm là một yếu tố thiết yếu của  
chính sách đối ngoại. Trong đó, văn hóa ngày  
càng được coi là yếu tố cốt lõi của sức mạnh  
mềm. Do đó, điều quan trọng là phải hiểu cách  
thức văn hóa tác động khi nó vượt ra ngoài biên  
giới quốc gia, làm tăng ảnh hưởng và sức hấp  
dẫn qua lại giữa các quốc gia. Các quốc gia tin  
vào sức mạnh mềm, nhưng họ cần giải pháp để  
phát huy sức mạnh mềm của văn hóa.  
Trong phần tiếp theo của nghiên cứu này, kinh  
nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính  
sách văn hóa về việc phát huy sức mạnh mềm của  
văn hóa của Mĩ và Trung Quốc sẽ lần lượt được  
38  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
do của các đài phát thanh, truyền hình, Mĩ đã  
ban hành một số đạo luật để làm khung pháp lí  
cho ngành công nghiệp văn hóa như Đạo luật Vô  
tuyến năm 1927 (Radio Act of 1927) và Đạo luật  
Truyền thông năm 1934 (Communications Act of  
1934).  
các thế lực của ngành văn hóa Mĩ, mở rộng ra thị  
trường quốc tế. Về chính sách, Mĩ đã ban hành  
các đạo luật nhằm hỗ trợ tiến trình này, chẳng  
hạn, Đạo luật Viễn thông (Telecommunication  
Act) năm 1996 là một ví dụ điển hình. Đạo luật  
này đã kêu gọi bãi bỏ quy định về sản xuất văn  
hóa. Kết quả là, việc mua lại và sáp nhập trong  
ngành truyền thông Mĩ bắt đầu từ năm 1980 đã  
đạt đến đỉnh cao của nó [19].  
• Giai đoạn 2: từ những năm 1950 – cuối  
Chiến tranh lạnh, năm 1989  
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc,  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 đã diễn ra.  
Sự ra đời của máy tính vào những năm 1950 đã  
thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành truyền  
truyền thông và công nghệ thông tin. Sự nổi lên  
của Internet được nhìn nhận như một phương tiện  
truyền thông phổ biến thứ tư, sau báo in, phát  
thanh, truyền hình [17].  
• Giai đoạn 4: Từ những năm 2000 đến hiện  
tại  
Sự phát triển của công nghệ thông tin liên kết  
các quốc gia ở nhiều nơi trên thế giới theo một  
cách gần gũi hơn và sự phân chia lao động và hợp  
tác quốc tế cũng tăng cường. Tất cả điều này đã  
mở ra cho Mĩ một cơ hội chưa từng có. Nổi bật  
với sự phát triển trong giai đoạn này là sự phát  
triển của các doanh nghiệp văn hóa công nghệ  
cao, mở ra thời kì phát triển vàng cho Mĩ trong  
ngành công nghiệp văn hóa. Sự hình thành của  
các nhóm công nghiệp văn hóa quy mô lớn chi  
phối xu hướng. Đây là những người khổng lồ văn  
hóa, có các hoạt động vượt qua ranh giới của các  
quốc gia và ngành công nghiệp, dẫn đến việc cải  
tổ các thực thể văn hóa. Các nhóm truyền thông  
hàng đầu ở Mĩ là những nhóm văn hóa khổng  
lồ bao gồm đài phát thanh, truyền hình, truyền  
hình cáp, truyền hình vệ tinh và đài phát thanh,  
báo, tạp chí, ấn phẩm, phim, âm nhạc, giải trí,  
điện thoại, Internet, thể thao, bán lẻ và quảng cáo  
[20].  
Chính phủ Mĩ đã nỗ lực để biến Mĩ từ một  
quốc gia khan hiếm tài nguyên văn hóa sang  
ngành công nghiệp văn hóa mạnh mẽ tiếp tục đẩy  
mạnh việc mở rộng ra nước ngoài, kết hợp với  
ứng dụng công nghệ tăng cường, tách phần mềm  
khỏi phần cứng trong ngành công nghiệp văn hóa.  
Bằng cách phân loại phần cứng vào ngành công  
nghiệp truyền thống, Mĩ đã tập trung vào ngành  
công nghiệp văn hóa dựa trên việc tập trung đổi  
mới nội dung.  
Năm 1952, bốn mạng lưới truyền hình được  
thành lập tại Mĩ. Năm 1972, số lượng đài truyền  
hình trên khắp nước Mĩ đã tăng vọt lên tới hơn  
600 và đến năm 1980; truyền hình đã đạt tới  
80% dân số Mĩ, khiến nó trở thành quốc gia sở  
hữu nhiều tivi nhất thế giới. Năm 1962, vệ tinh  
truyền hình và truyền thông đầu tiên của Mĩ đã  
được phóng lên, giúp truyền bá các chương trình  
truyền hình Mĩ trên toàn thế giới. Đến năm 1980,  
doanh thu truyền hình ở Mĩ đã lên tới 11,488 tỉ  
đô la. Ngoài ra, phim hoạt hình Mĩ quét qua thị  
trường phim hoạt hình toàn cầu, dẫn đầu trong  
thời kì vinh quang của Tập đoàn Disney [18].  
Về chính sách, Mĩ thành lập Đạo luật về Hội  
đồng Quốc gia về Nghệ thuật và Nhân văn năm  
1965 (National Foundation on the Arts and the  
Humanities Act). Đạo luật này có thể được xem  
như sự tham gia trực tiếp đầu tiên của chính phủ  
Mĩ vào sự phát triển của ngành văn hóa. Ngoài  
ra, một số đạo luật khác như Luật Bản quyền  
và Giải trí Gia đình (Family Entertainment and  
Copyright Act) vào năm 2005 cũng đã góp phần  
thúc đẩy sự phát triển của ngành văn hóa Mĩ  
trong giai đoạn này.  
• Giai đoạn 3: từ cuối Chiến tranh lạnh – cuối  
những năm 1990  
Những thử thách đối với sức mạnh mềm của  
Sau Chiến tranh lạnh, Mĩ một mình trở thành  
siêu cường duy nhất trên thế giới. Dựa vào sức  
mạnh vượt trội về kinh tế, chính trị, quân sự,  
Mĩ nhanh chóng triển khai xuất khẩu văn hóa ra  
nước ngoài. Với hơn nửa thế kỉ phát triển, các  
doanh nghiệp trong ngành văn hóa của Mĩ đã đủ  
lớn mạnh để thâu tóm lẫn nhau và hình thành nên  
Mĩ trong thời kì hiện tại  
Người đầu tiên đưa ra khái niệm “sức mạnh  
mềm” – Joseph S. Nye Jr. – gần đây đã viết:  
‘Sức mạnh mềm là khả năng có được những gì  
bạn muốn thông qua sự hấp dẫn hơn là ép buộc  
hoặc dùng tiền bạc. Khi bạn có thể khiến người  
khác muốn những gì bạn muốn, bạn không cần  
39  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
phải chi nhiều tiền cho cây gậy và cà rốt để di  
chuyển họ theo hướng của bạn. Trong khi sức  
mạnh cứng, khả năng cưỡng chế, hình thành từ  
sức mạnh quân sự và kinh tế, sức mạnh mềm  
phát sinh từ sự hấp dẫn của văn hóa, lí tưởng  
chính trị và chính sách của một quốc gia. Khi  
chính sách của quốc gia là phù hợp trong mắt  
của người khác, khi đó, sức mạnh mềm của quốc  
gia được tăng cường’ [21].  
Trong thực tế, những năm gần đây, chủ nghĩa  
chống Mĩ đã gia tăng không chỉ tại các quốc gia  
đối lập với Mĩ mà còn xuất hiện những rạn nứt  
từ trong lòng nước Mĩ. Thomas Pickering, một  
nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm, đã coi năm  
2003 là một đỉnh cao của chủ nghĩa chống Mĩ  
như chúng ta đã thấy trong một thời gian dài [21].  
Một cuộc thăm dò của Eurobarometer năm 2003  
cho thấy đa số người châu Âu tin rằng Mĩ có xu  
hướng đóng vai trò tiêu cực trong việc chống đói  
nghèo toàn cầu, bảo vệ môi trường và duy trì hòa  
bình trên thế giới [22].  
Những người hoài nghi về sức mạnh mềm trấn  
an rằng, Mĩ có thể hành động mà không cần tiếng  
vỗ tay của thế giới. Chúng tôi rất mạnh và vì vậy  
chúng tôi có thể làm những gì chúng tôi muốn và  
‘Mĩ không cần phải lo lắng về những trái tim và  
khối óc ở những vùng đất xa lạ’ [23]. Nhưng ở  
chiều ngược lại, cũng có những quan điểm lo ngại  
về sự suy giảm quyền lực mềm của Mĩ. Sự suy  
giảm đó tạo ra những lỗ hổng mà những cường  
quốc mới có thể chen vào, bao gồm Trung Quốc  
[24].  
quan hệ bên ngoài. Đặc điểm này được thể hiện  
qua sự hình thành và hội nhập tương đối chậm  
của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc.  
Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa  
của Trung Quốc  
Sau khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung  
Hoa vào năm 1949, một hệ thống kinh tế tập  
trung và có kế hoạch cao được mô phỏng theo  
Liên Xô cũ đã được giới thiệu ở Trung Quốc  
[25]. Một hệ thống nhằm loại trừ mọi nguy cơ  
phát triển văn hóa thành chủ nghĩa tiêu dùng.  
Văn hóa trong một thời gian dài được gọi là chủ  
trương văn hóa, được chính phủ tài trợ hoàn toàn,  
và đóng vai trò như một công cụ tuyên truyền tư  
tưởng [25]. Phương thức quản lí này tiếp tục được  
kéo dài trong gần ba thập kỉ cho đến cuối những  
năm 1970, khi Trung Quốc bắt đầu xây dựng nền  
kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường.  
Theo Guan Ping Qin, Hao Wei [16], những năm  
cuối thập niên 1970 là điểm khởi đầu, ba giai  
đoạn đặc biệt có thể được xác định trong sự phát  
triển của ngành công nghiệp văn hóa ở Trung  
Quốc bao gồm:  
• Giai đoạn 1: Từ năm 1978 đến năm 1992  
Năm 1978 đánh dấu sự khởi đầu của các cải  
cách và mở cửa do Đặng Tiểu Bình khởi xướng,  
tập trung vào phát triển kinh tế ở Trung Quốc.  
Trong bối cảnh chính trị xã hội như vậy, ngành  
công nghiệp văn hóa bắt đầu đâm chồi ở Trung  
Quốc. Trong giai đoạn này, khái niệm về ‘sức  
mạnh toàn diện của quốc gia’ đã xuất hiện. Sức  
mạnh toàn diện của quốc gia đề cập đến các điều  
kiện, sức mạnh tổng thể của một quốc gia và các  
chỉ số sức mạnh được thiết kế để đo lường sức  
mạnh quốc gia của một quốc gia một cách toàn  
diện và từ mọi góc độ – bao gồm cả văn hóa.  
Như Đặng Tiểu Bình tuyên bố: ‘Để đo lường sức  
mạnh của một quốc gia, người ta phải nhìn nhận  
toàn diện và từ đó tất cả các mặt’ [26].  
B. Tổng quan về chính sách văn hóa của Trung  
Quốc  
Sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong  
thập kỉ qua đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức hấp  
dẫn của nó đối với phần còn lại của thế giới. Điều  
này đã khiến chính phủ Trung Quốc tăng cường  
sử dụng văn hóa trong quan hệ đối ngoại như một  
công cụ để định hình nhận thức và quảng bá hình  
ảnh của Trung Quốc ở nước ngoài và mở rộng  
ảnh hưởng quốc tế. Toàn cầu hóa đã mang lại cho  
văn hóa một giá trị và địa vị mới như là công cụ  
của quyền lực mềm của Trung Quốc. Tuy nhiên,  
lịch sử cho thấy Trung Quốc đã tương đối chậm  
trong việc nắm bắt khái niệm quyền lực mềm  
và đầu tư thích đáng cho văn hóa trong các mối  
Mặc dù vậy, văn hóa vẫn chưa được xem là  
một ngành công nghiệp trong thời gian này. Các  
chủ trương văn hóa nhằm nhấn mạnh bản chất tốt  
đẹp của văn hóa công vẫn đang độc quyền trên  
toàn quốc. Các lĩnh vực văn hóa ngoài nước, vốn  
liên kết lỏng lẻo và xa vời với ý thức hệ, bắt đầu  
tín hiệu của ngành công nghiệp văn hóa, với sự  
đầu tư từ khu vực tư nhân. Mặc dù vậy, sự phát  
triển của ngành công nghiệp văn hóa của Trung  
Quốc ở giai đoạn này còn rất rời rạc và đơn giản  
40  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
về hình thức và nội dung. Vào cuối những năm  
Chính phủ Trung Quốc đã sử dụng miễn giảm  
1980, ngành công nghiệp điện ảnh Trung Quốc  
đã trải qua một cuộc khủng hoảng sâu sắc: giảm  
đáng kể lượng người tham gia rạp chiếu phim và  
cả quá trình sản xuất phim [27].  
thuế như một đòn bẩy kinh tế hiệu quả để thể  
hiện sự hỗ trợ cho sự phát triển của ngành công  
nghiệp văn hóa. Giữa năm 2004 và năm 2008,  
hai chính sách quan trọng về ưu đãi thuế đối với  
các tổ chức văn hóa vì mục tiêu lợi nhuận đã  
được Bộ Tài chính Trung Quốc, Cục Thuế Quốc  
gia và Cục Hải quan Quốc gia ban hành, bao  
gồm Thông tư về Chính sách thuế đối với các  
doanh nghiệp văn hóa vì mục tiêu lợi nhuận và  
Thông tư về Chính sách thuế để thúc đẩy sự phát  
triển của ngành công nghiệp văn hóa. Trong cả  
hai chính sách này, các doanh nghiệp kinh doanh  
văn hóa vì mục tiêu lợi nhuận được miễn tất cả  
thuế thu nhập [16].  
Trong giai đoạn này, thị trường phim ảnh ở  
Trung Quốc tăng trưởng ấn tượng, cao gấp bốn  
hoặc năm lần so với mức tăng trưởng GDP của  
Trung Quốc trong cùng thời kì. Năm 2004, tổng  
doanh thu thị trường phim đạt 435 triệu đô la.  
Đến năm 2013, Trung Quốc là thị trường phim  
lớn thứ hai thế giới và tạo ra 3,6 tỉ đô la Mĩ từ  
doanh thu phòng vé [11]. Trước đó, năm 2012,  
Tập đoàn tư nhân Dalian Wanda Group của Trung  
Quốc đã chính thức hoàn tất thương vụ mua lại  
Tập đoàn AMC Entertainment Holdings, Inc của  
Mĩ với mức giá 2,6 tỉ USD, mở rộng sang Mĩ để  
tạo ra chủ sở hữu rạp chiếu phim lớn nhất thế  
giới [32]. Thỏa thuận này đánh dấu việc mua lại  
một công ti lớn nhất từ trước đến nay của một  
công ti Mĩ. Có thể nói, ngành công nghiệp văn  
hóa của Trung Quốc đã đạt được vị thế chiến  
lược quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, với  
các đặc điểm nổi bật đánh dấu sự chuyển mình  
của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc dựa  
trên công nghệ cao và khuynh hướng toàn cầu  
hóa.  
• Giai đoạn 2: Từ năm 1993 đến năm 2002  
Đây là thời điểm mà ngành công nghiệp văn  
hóa ở Trung Quốc mở rộng một cách chưa từng  
thấy với các chủ trương văn hóa đa dạng. Ngành  
công nghiệp văn hóa nhanh chóng phát triển và  
bắt đầu có tác động đến việc hoạch định chính  
sách quốc gia [28]. Trong giai đoạn này, các cải  
cách đã đạt được những bước tiến lớn trong cấu  
trúc văn hóa của quốc gia, với sự thay đổi của  
chính phủ từ quản lí trực tiếp sang quản lí gián  
tiếp. Chính phủ Trung Quốc đã dần thay đổi cách  
tiếp cận truyền thống, giảm các chính sách trợ cấp  
hoàn toàn, giảm bớt can thiệp vào các hoạt động,  
sự kiện văn hóa và mở cửa cho thị trường phim  
nước ngoài. Kể từ năm 1996, các bộ phim nước  
ngoài, và đặc biệt là phim Hollywood, đã chiếm  
40% – 50% cổ phần tại thị trường Trung Quốc  
[29].  
Cột mốc quan trọng là vào năm 2000, khi các  
chính sách của ngành văn hóa được chính thức  
thể chế hóa trong văn kiện của Đảng Cộng sản  
Trung Quốc về việc thực hiện Chiến lược 05 năm  
lần thứ X về phát triển kinh tế – xã hội quốc gia.  
Theo đó, lần đầu tiên ở Trung Quốc, bản chất  
tạo ra lợi nhuận đã được chính thức công nhận  
và có tính hợp pháp trong ngành văn hóa đi cùng  
với áp lực phải duy trì bản chất tốt đẹp vốn có  
của văn hóa. Đầu tư từ khu vực tư nhân và nước  
ngoài đã được khuyến khích trong lĩnh vực văn  
hóa. Đến năm 1997, khu vực tư nhân đã chiếm  
88,6% tổng vốn đầu tư vào nghệ thuật, giải trí  
và thị trường âm thanh và video trong khi chỉ có  
khoảng 10% là từ nhà nước [30].  
• Giai đoạn 3: từ năm 2003 đến nay  
C. Đánh giá kinh nghiệm của Mĩ và Trung Quốc  
trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh mềm  
của văn hóa  
Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới  
vào tháng 12/2001, cạnh tranh văn hóa quốc tế  
ngày càng mạnh mẽ. Năm 2003, các chính sách  
về các ngành công nghiệp mới nổi như Internet và  
khuyến khích sự tham gia của các quỹ tư nhân và  
cá nhân trong ngành văn hóa đã được ban hành.  
Năm 2005, các chính sách về xuất khẩu và nhập  
khẩu các sản phẩm văn hóa và ưu đãi thuế cho  
việc thành lập các tổ chức văn hóa đã được ban  
hành [31].  
Sẽ là khập khiễng nếu so sánh giữa Vạn Lí  
Trường Thành (Great Wall of China) của Trung  
Quốc và bức tường vật lí của cựu Tổng thống Mĩ  
Donald J. Trump (Great Wall of America) bởi sự  
khác biệt về lịch sử, văn hóa của hai thực thể  
này. Tuy nhiên, như nhận định của Mimi Yang  
(một học giả người Trung Quốc) [33] trong bài  
41  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
viết được đăng trên tạp chí danh tiếng Nature, cả  
hai bức tường đang chia sẻ những đoạn mã giống  
nhau từ trong DNA của chúng (Wall-DNA):  
‘Mã 1 được lưu trữ trong DNA-wall: chúng tôi  
là người văn minh và vượt trội so với họ là người  
man rợ và thấp kém.  
Việt Nam, Donald Trump đã xác nhận lại chính  
sách "Nước Mĩ trước tiên" của mình.  
Asit K. Biswas [34] cho rằng cách tiếp cận này  
sẽ làm giảm sức mạnh mềm của Mĩ. Sức mạnh,  
quyền lực mềm của Mĩ đang suy giảm và việc  
suy giảm này đang mở ra cơ hội cho Trung Quốc  
lấp vào khoảng trống mà Mĩ để lại.  
Thành công kinh tế của Trung Quốc, phát triển  
cơ sở hạ tầng lớn, tiến bộ học thuật và nghiên  
cứu, di sản văn hóa và thành công trong thể thao  
sẽ tiếp tục tăng sức mạnh mềm của Trung Quốc  
trong tương lai.  
Mã 2 được lưu trữ trong Wall-DNA: từ chủ  
nghĩa tự nhiên đến chủ nghĩa dân tộc  
... Trong một ý nghĩa văn hóa, cả Vạn Lí  
Trường Thành của Trung Quốc và Bức tường  
Trump là những công trình tinh thần và tâm lí  
nhiều hơn là các công trình kiến trúc và vật lí’.  
Vấn đề đặt ra là một bức tường biên giới có thể  
thực sự ngăn chặn những kẻ xâm lược và những  
kẻ vượt biên, trong khi bảo vệ, thống nhất và duy  
trì sự thuần khiết của văn hóa Trung Hoa của nền  
văn hóa mà nó bao bọc hay không? Hoàng đế  
đầu tiên của Trung Hoa Tần Thủy Hoàng (259-  
210 trước Công nguyên) và những người kế vị  
trong các triều đại sau đã cố gắng đạt được mục  
đích này, nhưng khó có thể có câu trả lời đầy đủ.  
Mimi Yang [33] đặt câu hỏi tương tự khi Tổng  
thống Trump thề sẽ xây dựng một “bức tường  
vĩ đại, vĩ đại” (great, great) vật lí và không thể  
xuyên thủng ở biên giới Mĩ – Mexico. Bức tường  
Trump được thiết kế để ngăn chặn những người  
nhập cư bất hợp pháp ở Mexico vào Mĩ để bảo  
vệ lợi ích của người Mĩ và bảo vệ các giá trị Mĩ.  
Bức tường Trump đặt ra để phân định rõ nước  
Mĩ là gì và do đó, những nỗ lực để làm cho nước  
Mĩ trở nên vĩ đại trở lại.  
Nói cách khác, cả hai bức tường vật lí này đều  
là những biểu tượng cho sức mạnh cứng. Cần  
thiết để nhắc lại quan điểm của Joseph S. Nye  
Jr. rằng ‘Sức mạnh mềm là khả năng có được  
những gì bạn muốn thông qua sự hấp dẫn hơn  
là ép buộc hoặc dùng tiền bạc’ [21]. Kể từ khi  
Donald Trump được bầu làm tổng thống, Mĩ đã  
nỗ lực chứng tỏ “sức mạnh cứng” (hard power)  
của mình, lần lượt đã rút khỏi thỏa thuận biến đổi  
khí hậu toàn cầu; đàm phán lại một số hiệp ước  
song phương, rút khỏi Hiệp ước Hạt nhân INF và  
công khai "Nước Mĩ trước tiên" (America First),  
nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đơn  
phương của Mĩ, và lập trường có phần cô lập.  
Mối quan hệ thân mật của Mĩ với nhiều đồng  
minh truyền thống đã trở nên căng thẳng. Trong  
Hội nghị thượng đỉnh hợp tác kinh tế châu Á –  
Thái Bình Dương vào tháng 11 năm 2017, tại  
Sức mạnh mềm này, trước hết, có thể nhìn thấy  
từ tăng trưởng của ngành du lịch Trung Quốc.  
Văn hóa và du lịch luôn là khía cạnh quan trọng  
của sức mạnh mềm. Các số liệu thống kê từ Asit  
K. Biswas [34] cho thấy: Khoảng 138 triệu khách  
du lịch đã đến thăm Trung Quốc vào năm 2016,  
tăng 3,5% so với năm 2015. Tương tự, 122 triệu  
khách Trung Quốc đã ra nước ngoài vào năm  
2016, tăng 4,3% so với năm 2015. Sự trao đổi  
ngày càng tăng này của du khách sẽ giúp người  
nước ngoài hiểu biết về văn hóa Trung Quốc, lịch  
sử và sức mạnh kinh tế của nó – tất cả những điều  
này sẽ tăng cường hơn nữa sức mạnh mềm của  
Trung Quốc.  
Trung Quốc cũng đang nổi lên như một nhà  
lãnh đạo toàn cầu về tiến độ học tập và nghiên  
cứu. Tỉ lệ chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển  
(R&D) toàn cầu của các nước thu nhập cao đã  
giảm từ 88% xuống 69,3% từ năm 1996 đến  
2013. Nhưng chỉ riêng Trung Quốc đã lấp đầy  
khoảng trống này. Trung Quốc đã tăng thị phần  
của mình từ 2,5% lên 19,6% trong 17 năm. Gần  
đây, tăng trưởng chi tiêu R&D trung bình hàng  
năm của Trung Quốc là 18,3%, so với tốc độ tăng  
trưởng ở các nước thu nhập trung bình và cao là  
1,4% [34].  
Các hoạt động giáo dục và nghiên cứu ngày  
càng tăng đã đảm bảo rằng số lượng sinh viên  
nước ngoài ở Trung Quốc đang tăng nhanh. Trung  
Quốc hiện đứng thứ ba trong việc thu hút sinh  
viên nước ngoài, sau Mĩ và Anh. Các trường đại  
học của Trung Quốc đang leo lên bảng xếp hạng  
toàn cầu. Điều này, cùng với quốc tế hóa nhanh  
chóng, các chính sách hỗ trợ sinh viên nước ngoài  
và khả năng chi trả cho học tập và sinh hoạt so với  
phương Tây, có nghĩa là Trung Quốc có thể sớm  
trở thành điểm đến hàng đầu của sinh viên quốc  
42  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
tế. Ở chiều ngược lại, trong số khoảng 5 triệu  
sinh viên quốc tế theo đuổi giáo dục đại học bên  
ngoài quốc gia của họ, gần 25% là người Trung  
Quốc. Đó là một hình thức trao đổi văn hóa khác  
sẽ đóng góp cho sức mạnh mềm của Trung Quốc,  
cũng như nhiều Viện Khổng Tử được thành lập  
trên khắp thế giới để giới thiệu văn hóa, lịch sử,  
ngôn ngữ, kinh tế và xã hội của Trung Quốc [34].  
Khác với Mĩ – thay vì rút khỏi các thỏa thuận  
thương mại – Trung Quốc đang nỗ lực vận động  
để tham gia sâu rộng vào cộng đồng thế giới, mà  
trong đó Trung Quốc đóng vai trò người dẫn dắt.  
Trong khi Mĩ rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên  
Thái Bình Dương mà cựu Tổng thống Mĩ Obama  
đã nỗ lực xây dựng, thì Trung Quốc đang tích cực  
để thúc đẩy sáng kiến “Một vành đai, một con  
đường” (One belt, one road) để phát huy vai trò,  
tăng cường sức mạnh mềm của mình đối với thế  
giới. Tại châu Á, Trung Quốc kí Hiệp định thương  
mại tự do ASEAN – Trung Quốc. Tổng thương  
mại giữa Trung Quốc và ASEAN năm 2005 là  
khoảng 130 tỉ USD, dần đuổi kịp tổng thương  
mại của Mĩ – ASEAN năm 2005 là khoảng 150  
tỉ USD [35]. Cho Y. and Jeong J. [36] cho rằng,  
bên cạnh sự gia tăng sức mạnh kinh tế và quân  
sự, việc tăng cường sức mạnh mềm của Trung  
Quốc là mấu chốt trong việc mở rộng ảnh hưởng  
của quốc gia đến khu vực, như một đối thủ tiềm  
năng của Mĩ trong khu vực châu Á.  
các chính sách văn hóa trong việc phát huy sức  
mạnh mềm của quốc gia. Trong đó, kinh nghiệm  
của quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính  
sách văn hóa về việc phát huy sức mạnh mềm  
của văn hóa Mĩ và Trung Quốc lần lượt được  
nhấn mạnh.  
Các nghiên cứu đã chứng minh vai trò và mối  
liên hệ của văn hóa, sức mạnh mềm và sức mạnh  
tổng thể của quốc gia ở nhiều khía cạnh, từ  
phát triển kinh tế thông qua thu hút đầu tư nước  
ngoài, thu hút khách du lịch, giáo dục quốc tế  
cho đến việc các chính phủ sử dụng sức mạnh  
mềm của văn hóa để truyền bá tác động của họ  
đến các quốc gia khác thông qua các thiết chế  
văn hóa như Hội đồng Anh (Anh), Viện Goethe  
(Đức), Alliance Franc¸aise (Pháp), Viện Khổng Tử  
(Trung Quốc),. .. Mặc dù vẫn còn đó các tranh  
luận về phương thức triển khai và hiệu quả của  
các thiết chế văn hóa này; tuy nhiên, các nghiên  
cứu đều có cùng nhận định về vai trò quan trọng  
của các thiết chế văn hóa như các công cụ của  
các chính phủ để quảng bá, thực thi sức mạnh  
mềm của quốc gia.  
Trong thời kì hiện tại, có sự khác biệt trong  
cách tiếp cận của các cường quốc trong việc  
phối hợp giữa sức mạnh cứng và sức mạnh  
mềm. Trong khi Mĩ, dưới thời kì của Tổng thống  
Donald J. Trump, dường như đang chú trọng đến  
sức mạnh cứng, thông qua việc thúc đẩy chủ  
nghĩa dân tộc và chiến lược “Nước Mĩ trước tiên”  
(America First), xây dựng nên bức tường vật lí để  
bao bọc, bảo vệ các giá trị Mĩ thì ở chiều ngược  
lại, Trung Quốc đang tăng cường lấp vào khoảng  
trống sức mạnh mềm mà Mĩ để lại. Trung Quốc  
không ngừng gia tăng, mở rộng ảnh hưởng đến  
các quốc gia khác thông qua các khoản viện trợ,  
thúc đẩy các sáng kiến liên kết kinh tế, văn hóa.  
Bài học có thể rút ra từ những thay đổi trong  
cục diện thế giới là vai trò của văn hóa và sức  
mạnh mềm luôn là lực lượng quan trọng trong  
chính sách đối ngoại của các quốc gia, mặc dù  
có thể có thay đổi theo từng giai đoạn phát triển.  
Trong khi trước đây, các chính phủ chủ yếu kiểm  
soát các phương thức truyền thông thông tin chủ  
yếu, nhằm kiểm soát ảnh hưởng của họ đối với  
quyền lực mềm. Tuy nhiên, với sự phát triển của  
truyền thông ngày nay, các chính phủ phải cạnh  
tranh với các nguồn truyền thông khác trong việc  
chia sẻ thông tin. Chính vì lí do này mà uy tín  
IV. KẾT LUẬN  
Thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Các  
cường quốc ngày nay không chỉ dựa vào “sức  
mạnh cứng” truyền thống, mà còn chú trọng gia  
tăng ảnh hưởng của họ thông qua phát huy lợi thế  
của “sức mạnh mềm”. Trong khi quyền lực cứng  
là một trong những lực lượng phổ biến nhất trong  
lịch sử quan hệ quốc tế, có những quan điểm tin  
rằng sức mạnh cứng đang suy giảm, hoặc sử dụng  
vũ lực trực tiếp cho lợi ích kinh tế nói chung là  
quá tốn kém và nguy hiểm. Các cường quốc hiện  
đại cần nhấn mạnh vào quyền lực mềm hay sức  
mạnh mềm.  
Cấu thành nên sức mạnh mềm, văn hóa có vai  
trò quan trọng trong việc lôi cuốn, hấp dẫn các  
quốc gia khác theo định hướng mà một quốc gia  
mong muốn. Bài viết này tập trung vào việc lược  
khảo các cách tiếp cận về văn hóa và vai trò của  
43  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020  
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT  
thực sự của một quốc gia được hình thành thông  
qua quá trình quan hệ quốc tế được xem đã trở  
thành nền tảng vững chắc của sức mạnh mềm.  
Uy tín đó có thể được tạo dựng từ những giá trị  
văn hóa tốt đẹp mà quốc gia đó có được, theo  
đuổi và ảnh hưởng đến các quốc gia khác.  
[15] Portland. Soft Power 30: A global ranking of soft  
power 2018; 2019.  
[16] Guan Ping Qin, Hao Wei, Xi Wang. Culture Industry  
Policy in China and the United States: A Comparative  
Analysis: Kennesaw State University; 2009.  
[17] People’s Daily. “Fourth Media” to See Fast Growth,  
Internet Users to Top 200 Million by 2005; 2001.  
[18] Edward Papazian. Television ’97. New York: Media  
LỜI CẢM ƠN  
Dynamics Inc.; 1997.  
[19] Rongting Zhi. A Historic Study of the Media In-  
dustrialization in the West. Guangdong: Guangdong  
People’s Publishing House; 2004.  
Bài báo là sản phẩm của Đề tài cấp Nhà nước:  
“Văn hóa trong phát triển bền vững vùng Tây  
Nam Bộ”, mã số KHCN-TNB.ĐT/14-19/X21,  
do PGS.TS. Phạm Tiết Khánh làm chủ nhiệm,  
Trường Đại học Trà Vinh chủ trì thực hiện năm  
2018-2020, thuộc Chương trình Tây Nam Bộ.  
[20] Kim Mcavoy. The B&C 25. Media Groups; 2003.  
[21] Joseph S. Nye Jr. Soft Power and American  
Foreign Policy. Political Science Quarterly. 2004;  
119(2):255–70.  
[22] Eurobarometer. Eurobarometer 59: Public opinion in  
the European Union; 2003.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[23] Fouad Ajami. The Falseness of Anti-Americanism.  
Foreign Policy; 2003.  
[24] Eric X. Li. The Rise and Fall of Soft Power. Foreign  
[1] UCLG (The World Organization of United Cities  
and Local Governments). Culture in the sustainable  
development goals: A guide for local action; 2018.  
Policy; 2018.  
[2] UN (United Nation). Resolution adopted by the Gen-  
eral Assembly on 25 September 2015; 2015.  
[3] Joseph S. Nye Jr. Bound to Lead: The Changing  
Nature of American Power; 1990.  
[4] Nicolae Hanes, Adriana Andrei, editors. Culture  
as soft power in internatioal relations. Interna-  
tional Conference Knowledge-based organization. De  
Gruyter; 2015.  
[5] Chinadaily. Hu urges enhancing ’soft power’ of Chi-  
nese culture. Chinadaily; 2007.  
[25] Yongjin Han. Review and Revelation on the Reform  
of China’s Cultural System; 2005.  
[26] Weihong Zhang. China’s cultural future: from soft  
power to comprehensive national power. International  
Journal of Cultural Policy. 2010; 16(4):383–402.  
[27] Zhu Y, Nakajima S. The evolution of Chinese Film  
as an industry. Hong Kong: Hong Kong University  
Press; 2010.  
[28] Hesmondhalgh, Andy. Cultural Industries and Cul-  
tural Policies. International Journal of Cultural Pol-  
icy. 2005; 11(1):1–13.  
[6] Chinadaily. China’s soft power is on the rise. Chi-  
nadaily; 2018.  
[29] Antonios Vlassi. Soft power, global governance of  
cultural industries and rising powers: the case of  
China. International Journal of Cultural Policy. 2013  
; 22(4):481-496.  
[7] Helen Spencer-Oatey. What is culture? A compilation  
of quotations. GlobalPAD Core Concepts; 2012.  
[8] Langi Kavaliku. Culture and Sustainable Develop-  
ment in the Pacific. In: Culture and Sustainable De-  
velopment in the Pacific: ANU PressAntony. Hooper  
(Editor); 2005.  
[30] Enfu Cheng. Studies on Cultural Economies. Shang-  
hai: Shanghai University of Finance; 1999.  
[31] Jihua Yang. Review and reflection on China’s cul-  
ture industry policy since 1978. Journal of Shanghai  
Administration Institute. 2006; 7(6):15-20.  
[32] Đại Hải. Tập đoàn Trung Quốc thâu tóm chuỗi rạp  
phim AMC của Mĩ. Vietnamplus; 2012.  
[9] UNESCO (The United Nations Educational, Scien-  
tific and Cultural Organization). Culture: a driver  
and an enabler of sustainable development: Thematic  
Think Piece; 2012.  
[10] OECD (Organisation for Economic Co-Operation and  
Development). Culture and local development; 2018.  
[33] Mimi Yang. Crossing between the Great Wall of  
China and the “Great” Trump Wall. Palgrave Com-  
munications. 2017; 3(1):25.  
[34] Asit K. Biswas. Africa: China Steps Into Soft Power  
Vacuum As the U.S. Retreats Under Trump. Allafrica;  
2018.  
[11] UNESCO (The United Nations Educational, Scien-  
tific and Cultural Organization). The role of culture  
in peace and reconciliation; 2013.  
[12] Holik G. G. Paper Tiger? Chinese soft power in East  
Asia. Political Science Quaterly. 2011; 126(2):223–  
54.  
[35] Kurlantzick J. Charm Offensive: How China’s soft  
power is transforming the world. New Haven: Yale  
University Press; 2007.  
[36] Cho Y., Jeong J. China’s Soft Power: Discus-  
sions, Resources, and Prospects. Asian Survey. 2008;  
48(3):453–72.  
[13] Ivanov V. G. "Charts Power" as an instrument of po-  
litical and economic influence: conceptual analysis,  
strategies of use and the counteraction models; 2016.  
[14] Kovba D. M. Theoretical and practical adaptation  
of the concept of "soft power” by the East Asian  
countries. Prostranstvo i vremia. 2014; 4(18):111–8.  
44  
pdf 11 trang Thùy Anh 14081 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính sách văn hóa về việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Mĩ và Trung Quốc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkinh_nghiem_quoc_te_trong_xay_dung_va_thuc_hien_chinh_sach_v.pdf