Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính sách văn hóa về việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Mĩ và Trung Quốc
DOI: 10.35382/18594816.1.41.2020.652
T Ạ P CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 N Ă M 2020
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN
CHÍNH S Á C H VĂN HÓA VỀ VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH MỀM
CỦA VĂN HÓA MĨ VÀ TRUNG QUỐC
Phạm Tiết Khánh1, Diệp Thanh Tùng2
INTERNATIONAL EXPERIENCE IN BUILDING AND IMPLEMENTING
THE CULTURAL POLICIES IN PROMOTE
THE SOFT POWER OF OF CULTURE OF THE US AND CHINA
Pham Tiet Khanh1, Diep Thanh Tung2
Tóm tắt – Thế giới đang thay đổi nhanh chóng,
sức mạnh của các quốc gia chuyển biến từ “sức
mạnh cứng” truyền thống sang phát huy lợi thế
của “sức mạnh mềm”, bao gồm khía cạnh sức
mạnh của văn hóa. Bài viết này tập trung vào
việc lược khảo các cách tiếp cận về văn hóa và
vai trò của các chính sách văn hóa trong việc
phát huy sức mạnh mềm của quốc gia. Trong đó,
kinh nghiệm của Mĩ và Trung Quốc trong xây
dựng, thực hiện chính sách văn hóa và phát huy
sức mạnh mềm của văn hóa lần lượt được nhấn
mạnh. Bài học có thể rút ra từ những thay đổi
trong cục diện thế giới là vai trò của văn hóa
và sức mạnh mềm luôn là lực lượng quan trọng
trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. Uy
tín thực sự của một quốc gia được hình thành
thông qua quá trình quan hệ quốc tế và quảng
bá văn hóa được xem đã trở thành nền tảng vững
chắc của sức mạnh mềm. Uy tín đó có thể được
tạo dựng từ những giá trị văn hóa tốt đẹp mà
quốc gia đó có được, theo đuổi và ảnh hưởng
đến các quốc gia khác.
the power of countries is shifting from tradi-
tional "hard power" to taking advantage of "soft
power", including the strength aspect of culture.
This article focuses on reviewing cultural ap-
proaches and the role of cultural policies in
promoting national soft power. In particular, the
experiences of the US and China in formulating,
implementing cultural policies and promoting the
soft power of culture are respectively emphasized.
The lesson that can be learned from changes in
the world situation is that the role of culture
and soft power has always been an important
force in the foreign policy of countries. The
real prestige of a country formed through the
process of international relations and cultural
promotion is considered as a solid foundation of
soft power. That prestige can be built from the
good cultural values that the country has, pursues
and influences other countries.
Keywords: cultural policies, soft power, US,
China.
I. MỞ ĐẦU
Từ khóa: chính sách v ă n hóa, sức mạnh
mềm, Mĩ, Trung Quốc.
Trong nhiều thập niên gần đây, phát triển bền
vững luôn là trọng tâm của Mục tiêu Thiên niên
kỉ của Liên Hợp Quốc. Tháng 9 năm 2015, Đại
hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua chương
trình nghị sự toàn cầu Biến đổi thế giới của chúng
ta: Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển
bền vững (Transforming Our World: the 2030
Agenda for Sustainable Development, gọi tắt là
Chương trình Nghị sự 2030) xác định 17 mục
tiêu phát triển bền vững và 169 mục tiêu cụ thể
Abstract – The world is changing rapidly,
1,2Trường Đại học T rà Vinh
Ngày nhận bài: 19/10/2020; Ngày nhận k ế t quả bình
duyệt: 28/11/2020; Ngày chấp nhận đăng: 20/12/2020
Email: dttung@tvu.edu.vn
1,2T ra Vinh University
Received date: 19th October 2020; Revised date: 28th
November 2020; Accepted date: 20th December 2020
34
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
đến năm 2030. Mặc dù trong số 17 mục tiêu phát
triển bền vững, không có mục tiêu riêng về khía
cạnh văn hóa, nhưng Chương trình Nghị sự 2030
đã phản ánh khía cạnh văn hóa trong nội hàm
của nhiều Mục tiêu Thiên niên kỉ. Trong thực tế,
các khía cạnh văn hóa, bao gồm sự tham gia tích
cực vào đời sống văn hóa, phát triển tự do văn
hóa cá nhân và tập thể, bảo vệ các di sản văn
hóa vật thể và phi vật thể, bảo vệ và phát huy
các biểu hiện văn hóa đa dạng là những thành
phần cốt lõi của sự phát triển bền vững và con
người [1]. Trong Lời mở đầu của Chương trình
Nghị sự 2030, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã
viết:
‘Chúng tôi thừa nhận sự đa dạng tự nhiên và
văn hóa của thế giới và công nhận rằng tất cả các
nền văn hóa và nền văn minh đều có thể đóng
góp và là những yếu tố quyết định cho sự phát
triển bền vững’ [2].
Trong đó, quyền văn hóa, di sản, sự đa dạng
và sáng tạo là những thành phần cốt lõi của sự
phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, văn hóa còn
có vai trò đặc biệt, cấu thành nên “sức mạnh
mềm” của một quốc gia cụ thể khi so sánh với
các quốc gia còn lại. Khái niệm về sức mạnh
mềm của một quốc gia lần đầu tiên được phát
biểu bởi giáo sư người Mĩ Joseph S. Nye Jr., Đại
học Harvard. Theo đó, sức mạnh mềm được mô
tả như khả năng của một quốc gia để thu hút
quốc gia khác thông qua các ý tưởng, giá trị và ý
thức hệ. Loại quyền lực này tương tự như quyền
lực vô hình, bao gồm văn hóa, ý thức hệ và hệ
thống xã hội của quốc gia đó [3]. Sức mạnh mềm
được tạo thành từ (1) sức mạnh chính trị, (2) sức
mạnh văn hóa và giáo dục, (3) sức mạnh ngoại
giao.
Trong ba yếu tố cấu thành sức mạnh mềm, văn
hóa là một thành phần quan trọng. Theo Nicolae
Hanes and Adriana Andrei [4], nội dung văn hóa,
theo nghĩa rộng, bao gồm sự giàu có về tinh thần
được tạo ra trong lịch sử xã hội loài người. Theo
nghĩa hẹp hơn, văn hóa là hệ tư tưởng xã hội
cũng như các hệ thống và thể chế liên quan, bao
gồm các ý tưởng, tư tưởng chính trị, luật pháp,
đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo và khoa học. Tuy
nhiên, khi nhìn ở bất kì góc độ nào, văn hóa
không phải là một thực thể tĩnh mà là một quá
trình động và biến chuyển theo thời gian. Joseph
S. Nye Jr. [3] cho rằng sức mạnh vô hình của
văn hóa có thể được ước tính dựa trên sự gắn kết
của một quốc gia trong việc phổ biến văn hóa
của quốc gia đó đến phạm vi toàn cầu và đóng
vai trò quan trọng trong các tổ chức quốc tế.
Văn hóa, như một sức mạnh mềm, là một phần
thiết yếu của sức mạnh quốc gia. Nhiều quốc gia
đã chọn cách tăng cường khả năng cạnh tranh
và ảnh hưởng quốc tế thông qua phát triển văn
hóa. Trong cuộc cạnh tranh giành quyền lực giữa
các quốc gia trên thế giới, “sức mạnh cứng” (như
quân sự) của một quốc gia không thể được cải
thiện nếu không có sự phát triển của sức mạnh
mềm (bao gồm văn hóa). Nicolae Hanes and
Adriana Andrei [4] đã chỉ ra một số ví dụ về
chiến lược của các cường quốc trong việc sử
dụng sức mạnh mềm trong mối quan hệ quốc
tế. Chẳng hạn, trong thời kì hậu chiến tranh thế
giới thứ hai, cựu Thủ tướng Nhật Bản Nakasone
Yasuhiro đã đề xuất một kế hoạch chiến lược
cho việc tạo ra một quốc gia phát triển văn hóa,
tăng cường quyền lực mềm (chẳng hạn thông qua
viện trợ, các hoạt động gìn giữ hòa bình) để trấn
an thế giới về sự hiện diện quốc tế của Nhật
bản. Tại châu Âu, cựu Thủ tướng Pháp Jacques
Chirac đã khởi xướng việc thiết lập một cộng
đồng văn hóa châu Âu nhằm tăng cường sự ảnh
hưởng của châu lục này. Tại Mĩ, từ tháng 9/1992,
cựu Tổng thống Mĩ George Bush đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của việc sử dụng văn hóa Mĩ như
một loại sức mạnh mềm trong chương trình nghị
sự mang tên “Sự hồi sinh của nước Mĩ” (Agenda
for America’s Revival). Trong khi đó, tại châu Á,
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã phát biểu
tại Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc lần thứ 17,
năm 2007 rằng:
‘Sự trẻ hóa tuyệt vời của đất nước Trung Quốc
chắc chắn sẽ đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của văn hóa Trung Quốc. . . Chúng ta phải nâng
cao văn hóa như một phần sức mạnh mềm của
đất nước chúng ta. .. Chúng ta sẽ truyền bá hơn
nữa các truyền thống tốt đẹp của văn hóa Trung
Quốc và tăng cường trao đổi văn hóa quốc tế để
tăng cường ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc
trên toàn thế giới’ [5].
Trong suốt Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc
lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào
năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
đã nhận xét rằng ‘Chúng ta nên tăng sức mạnh
35
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
mềm của Trung Quốc, kể những câu chuyện về
Trung Quốc hay và truyền đạt tốt hơn các thông
điệp của Trung Quốc đến thế giới’ [6].
qua những thay đổi trong từng ý tưởng mới, sự
phát triển mới, mỗi thế hệ mới và mỗi sự tương
tác mới với các nền văn hóa và dân tộc khác.
Langi Kavaliku [8] viết ‘Văn hóa sống dựa trên
những di sản của quá khứ, những ý tưởng của
hiện tại và những hi vọng cho tương lai’.
Có thể thấy rằng, văn hóa, với vai trò là một
sức mạnh mềm, đang được các quốc gia tận dụng
để tăng cường ảnh hưởng đối với các quốc gia
khác trên thế giới. Trong đó, Mĩ và Trung Quốc
là hai cường quốc về kinh tế, quân sự, có nền văn
hóa đa dạng và có vị thế quan trọng trên thế giới
cả về sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Trong
các phần kế tiếp của nghiên cứu này, chính sách
văn hóa như một loại sức mạnh mềm sẽ được
phân tích cụ thể; đồng thời, các chính sách văn
hóa của Trung Quốc và Mĩ sẽ lần lượt được khái
quát để đánh giá kinh nghiệm của hai quốc gia
này trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh
mềm của văn hóa.
B. Vai trò của văn hóa
Văn hóa là động lực trong phát triển kinh tế
Trong nhiều thập kỉ qua, các số liệu thống kê
đã chỉ ra rằng văn hóa có thể là động lực mạnh
mẽ để phát triển, với các tác động đến xã hội,
kinh tế và môi trường, lên toàn bộ cộng đồng.
Thống kê của UNESCO [9] cho thấy, đến tháng
1/2012, các hoạt động văn hóa được bao gồm
trong 70% Khung Hỗ trợ Phát triển của Liên Hợp
Quốc (United Nations Development Assistance
Frameworks). Đặc biệt, văn hóa có vai trò quan
trọng, đóng góp vào phát triển kinh tế, xóa đói
giảm nghèo. Di sản văn hóa, ngành công nghiệp
văn hóa và sáng tạo, du lịch văn hóa, hạ tầng văn
hóa có thể đóng vai trò là công cụ chiến lược,
tạo doanh thu, đặc biệt ở các quốc gia đang phát
triển với di sản văn hóa thường rất phong phú và
lực lượng lao động dồi dào.
Ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo (cul-
tural and creative industries) là một trong những
ngành phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế
toàn cầu với tốc độ tăng trưởng 17,6% ở Trung
Đông, 13,9% ở châu Phi, 11,9% ở Nam Mĩ, 9,7%
ở châu Á, 6,9% ở châu Đại Dương và 4,3% ở
Bắc và Trung Mĩ [9]. Thúc đẩy sự phát triển
của ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đòi
hỏi đầu tư vốn hạn chế, liên quan đến các rào
cản gia nhập thấp và có thể tác động trực tiếp
đến các nhóm dân số dễ bị tổn thương, bao gồm
phụ nữ. Ở Ecuador, các nghiên cứu gần đây cho
thấy các hoạt động văn hóa chính thức và của
tư nhân đã đóng góp 4,76% vào GDP năm 2010
và có 2,64% tổng dân số làm việc trong ngành
văn hóa; trong đó, gần 60% là phụ nữ. Riêng
ngành du lịch, bao gồm du lịch văn hóa, cũng là
một trong những ngành kinh tế tăng trưởng nhanh
nhất thế giới. Tổng doanh thu du lịch trên toàn
thế giới tăng trưởng trung bình 7% từ năm 1998
đến năm 2008, với 12% cho các nước kém phát
triển nhất trong cùng thời kì. Du lịch văn hóa,
dựa vào tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể,
II. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
A. Văn hóa
Văn hóa là một thuật ngữ khó định nghĩa. Từ
năm 1952, các nhà nhân chủng học người Mĩ,
Kroeber and Kluckhohn đã phản biện và tổng
hợp một danh sách gồm 164 khái niệm và định
nghĩa về văn hóa [7]. Đến năm 1994, M. Apte
(1994) (được trích dẫn bởi Helen Spencer-Oatey
[7]) đã viết trong Bách khoa toàn thư về ngôn ngữ
và ngôn ngữ học, được xuất bản bởi Nhà Xuất
bản Oxford rằng: ‘Mặc dù có một thế kỉ nỗ lực
để xác định văn hóa một cách đầy đủ, nhưng vào
đầu những năm 1990, không có sự thống nhất
nào giữa các nhà nhân học về bản chất của nó’.
Trong số nhiều định nghĩa khác nhau về văn
hóa, Langi Kavaliku [8] đã khái lược quan điểm
về văn hóa trong Tuyên bố Mexico về chính sách
văn hóa (Mexico City Declaration on Cultural
Policies) năm 1982 của UNESCO. Theo đó, ‘văn
hóa bao gồm toàn bộ phức hợp đặc sắc về đặc
điểm tinh thần, trí tuệ và cảm xúc đặc trưng cho
xã hội hoặc các nhóm xã hội. Văn hóa không chỉ
bao gồm nghệ thuật và chữ viết, mà còn bao gồm
các phương thức sống khác nhau, các quyền cơ
bản của con người, hệ thống giá trị, truyền thống
và tín ngưỡng’ [8].
Văn hóa vừa là công cụ, đồng thời là kết quả
của việc ra quyết định và thực thi. Văn hóa luôn
thay đổi theo thời gian một cách dần dần hoặc
nhanh chóng. Với văn hóa, sự thay đổi thể hiện
36
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
chiếm 40% doanh thu du lịch thế giới [9]. Nhiều
thành phố ở các quốc gia trên thế giới đã sử dụng
các di sản văn hóa, các sự kiện và thể chế văn
hóa để cải thiện hình ảnh, kích thích phát triển đô
thị, thu hút du khách và đầu tư. Các ngành công
nghiệp văn hóa và sáng tạo có tỉ trọng đáng kể
trong nền kinh tế. Tại EU, nền kinh tế văn hóa
chiếm khoảng 3% GDP và 5% việc làm trong
năm 2018 [10].
phần trong mô hình cấu trúc của quyền lực mềm
hoặc sức mạnh mềm, bao gồm các loại quyền lực:
(1) quyền lực mềm kinh tế, (2) quyền lực mềm
chính trị, (3) quyền lực mềm văn hóa, (4) quyền
lực mềm nhân lực, (5) quyền lực mềm ngoại giao.
Nghiên cứu của Ivanov V. G. [13] cho rằng,
ngày nay, quyền lực mềm là công cụ chính để
nhiều quốc gia ảnh hưởng đến tiến trình chính trị
ở các quốc gia mà họ quan tâm và mong muốn
tác động. Sự ảnh hưởng này có được thông qua
các tiến trình chính trị nhằm tác động đến và hình
thành nên các quan điểm của chính phủ và người
dân tại các quốc gia bị tác động, nhằm thúc đẩy
việc thực hiện các lợi ích quốc gia của mình. Sức
mạnh mềm thực sự là một công cụ chính trị trong
mối quan hệ giữa các quốc gia [14].
Các thành phần cơ bản của sức mạnh mềm là
những thước đo cụ thể cho sức mạnh mềm của
các quốc gia. Để đo lường sức mạnh mềm của
các quốc gia, Portland Communications (trụ sở
tại Anh), hằng năm thực hiện các khảo sát để
đánh giá sự ảnh hưởng của các quốc gia này đến
các quốc gia khác thông qua các phương tiện
ngoài sức mạnh quân sự, hình thành nên bảng
xếp hạng thường niên Soft Power 30. Trong năm
2018, Soft Power 30 thực hiện khảo sát lấy ý
kiến 11.000 người ở 25 quốc gia để thu thập ý
kiến của người tham gia khảo sát và bình chọn
ra 30 quốc gia có sức mạnh mềm lớn nhất. Dữ
liệu được cấu trúc thành sáu loại, mỗi loại hoạt
động như một tiêu chí phụ với trọng số riêng.
Sáu chỉ số phụ và trọng số lần lượt là: chính phủ
(Government, 20,8%), văn hóa (Culture, 12,7%),
tham gia toàn cầu (Engagement, 17,9%), giáo dục
(Education, 16,6%), kĩ thuật số (Digital, 14%) và
doanh nghiệp (Enterprise, 18%).
Văn hóa là vấn đề cốt lõi trong gìn giữ hòa
bình
Khi đề cập đến vai trò của văn hóa trong hòa
bình và hòa giải, UNESCO [11] mô tả sự hội
nhập văn hóa đóng vai trò cốt lõi trong tất cả
các sự xung đột. Các thách thức hiện tại của thế
giới bao gồm toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế,
khủng bố, phát triển không bền vững, sự tồn tại
của nghèo đói, các vấn đề đang nổi lên tại các
xã hội đang phát triển. Suy cho cùng, vấn đề cốt
lõi của những vấn đề này nằm ở khát vọng hòa
bình trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh
chóng, phức tạp. Thách thức quan trọng nhất là
làm thế nào để tiếp cận sự “thống nhất trong đa
dạng” (“unity-in-diversity”).
Trong bối cảnh đó, văn hóa nổi lên như một
yếu tố thiết yếu cho cả sự phát triển bền vững và
hòa bình trong lâu dài. Trên thực tế, không có
sự tiến bộ, công bằng, hay sự gắn kết xã hội nào
thực sự khả thi nếu văn hóa bị gạt sang một bên.
Michelle LeBaron viết: ‘Văn hóa là một phần
thiết yếu của xung đột và giải quyết xung đột.
Các nền văn hóa giống như những dòng sông
ngầm chảy qua cuộc sống và các mối quan hệ của
chúng ta, mang đến cho chúng ta những thông
điệp, định hình nhận thức, sự phân bổ, phán đoán
và ý tưởng của bản thân và của người khác’ [11].
Văn hóa như một thành phần của “sức mạnh
mềm” trong quan hệ quốc tế
Như đã đề cập ở phần đầu tiên của bài viết này,
khái niệm “sức mạnh mềm” (soft power), được
phát biểu lần đầu tiên bởi Joseph S. Nye Jr. [3],
đã mang lại một cái nhìn mới mẻ về việc giải
thích các khái niệm quyền lực. Có một số cách
nhìn nhận về các thành phần của sức mạnh mềm.
Trong khi Joseph S. Nye Jr. [3] mô tả sức mạnh
mềm được tạo thành từ (1) sức mạnh chính trị,
(2) sức mạnh văn hóa và giáo dục, (3) sức mạnh
ngoại giao. Cùng với những thay đổi nhanh chóng
của thế giới, Holik G. G. [12] đã xác định năm
Kết quả đánh giá của Soft Power 30 vào năm
2018 cho thấy trong số 30 quốc gia có sức mạnh
mềm lớn nhất thế giới, với năm quốc gia dẫn đầu
thì Anh giữ vị trí số 1 về sức mạnh mềm tổng
thể, các vị trí kế tiếp là Pháp, Đức, Mĩ, Nhật Bản.
Trong bảng xếp hạng này, quốc gia đông dân nhất
thế giới – Trung Quốc – có xếp hạng sức mạnh
mềm tổng thể ở mức 27/30 quốc gia. Cần lưu
ý, sức mạnh mềm tổng thể được cấu thành từ
sáu thành phần nêu trên. Sức mạnh mềm của các
quốc gia sẽ thay đổi như thế nào nếu chỉ tính
riêng yếu tố văn hóa – nói cách khác: sức mạnh
mềm từ yếu tố văn hóa hoặc sức mạnh văn hóa?
37
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
lược khảo, đánh giá và từ đó, đưa đến một số kết
luận chung.
III. KINH NGHIỆM PHÁT HUY SỨC MẠNH
MỀM CỦA VĂN HÓA MĨ VÀ TRUNG QUỐC
A. Tổng quan về chính sách văn hóa của Mĩ
Các chính sách văn hóa thường gắn liền với
ngành công nghiệp văn hóa tại các quốc gia.
Ngành công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan
trọng trong nhiều lĩnh vực trọng yếu như kinh tế
(đóng góp vật chất và việc làm), chính trị (văn
hóa như một phương tiện để truyền đạt các giá
trị, sức mạnh mềm của quốc gia) và những vấn
đề về bản sắc dân tộc.
Hình 1: Xếp hạng 30 quốc gia có sức mạnh
mềm nhất thế giới năm 2018, chỉ tính theo tiêu
chí văn hóa
Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa
của Mĩ
Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa
của Mĩ thường có thể được tiếp cận theo các mốc
thời gian/sự kiện khác nhau. Sau đây là tiếp cận
theo nghiên cứu của Guan Ping Qin, Hao Wei
et al. [16]. Theo đó, ngành công nghiệp văn hóa
của Mĩ có thể được chia thành bốn giai đoạn:
• Giai đoạn 1: từ năm 1920 – cuối thế chiến
thứ II, năm 1945
Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa
Mĩ gắn liền với sự phát triển của khoa học công
nghệ. Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
nhất và thứ hai, các phương tiện điện tử như điện
báo, đài phát thanh, truyền hình đã trở thành một
phần của cuộc sống con người trên toàn thế giới
từ những năm 1920.
Theo đó, sự phát triển của ngành truyền thanh
đóng vai trò quan trọng, góp phần đưa văn hóa
Mĩ bùng nổ đến toàn thế giới trong suốt những
năm 1930 – 1940. Tiếp theo là sự phát triển của
ngành truyền hình và điện ảnh. Đây là cơ sở nền
tảng dẫn đến sự tập trung của ngành công nghiệp
điện ảnh vào tay các hãng phim lớn nhất nước Mĩ.
Trong khoảng thời gian tiếp theo, Mĩ chiếm lĩnh
thị trường ngành công nghiệp văn hóa thế giới
bằng sức mạnh tài chính và công nghệ truyền
thông tiên tiến.
Trong giai đoạn này, các chính sách về ngành
công nghiệp văn hóa ít khi được quan tâm ở
các quốc gia khác trên thế giới. Việc này đã tạo
ra những khoảng trống cho sự phát triển chính
sách của Mĩ theo khuynh hướng ít hạn chế đối
với ngành văn hóa. Đi cùng với sự phát triển tự
(Nguồn: Tác giả trình bày dựa trên dữ liệu của
Soft Power 30 [15])
Hình 1 mô tả thứ hạng các quốc gia đã thay đổi
sau khi chỉ tính sức mạnh văn hóa. Mĩ – quốc
gia hợp chủng quốc với đa dạng các sắc tộc –
chiếm vị trí dẫn đầu về sức mạnh văn hóa. Các
quốc gia trong nhóm năm quốc gia dẫn đầu kế
tiếp lần lượt là Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha.
Đối với Trung Quốc, khi chỉ tính riêng thành
phần văn hóa, sức mạnh mềm của quốc gia này
đã thay đổi từ vị trí 27/30 quốc gia (về sức mạnh
mềm tổng thể), trở thành vị trí số 6/30 quốc gia
(về sức mạnh văn hóa).
Có thể nói, các cách tiếp cận ngày nay vẫn chủ
yếu dựa trên những hiểu biết của Joseph S. Nye
Jr. [3]. Nhưng có một nhận thức ngày càng tăng
rằng sức mạnh mềm là một yếu tố thiết yếu của
chính sách đối ngoại. Trong đó, văn hóa ngày
càng được coi là yếu tố cốt lõi của sức mạnh
mềm. Do đó, điều quan trọng là phải hiểu cách
thức văn hóa tác động khi nó vượt ra ngoài biên
giới quốc gia, làm tăng ảnh hưởng và sức hấp
dẫn qua lại giữa các quốc gia. Các quốc gia tin
vào sức mạnh mềm, nhưng họ cần giải pháp để
phát huy sức mạnh mềm của văn hóa.
Trong phần tiếp theo của nghiên cứu này, kinh
nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính
sách văn hóa về việc phát huy sức mạnh mềm của
văn hóa của Mĩ và Trung Quốc sẽ lần lượt được
38
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
do của các đài phát thanh, truyền hình, Mĩ đã
ban hành một số đạo luật để làm khung pháp lí
cho ngành công nghiệp văn hóa như Đạo luật Vô
tuyến năm 1927 (Radio Act of 1927) và Đạo luật
Truyền thông năm 1934 (Communications Act of
1934).
các thế lực của ngành văn hóa Mĩ, mở rộng ra thị
trường quốc tế. Về chính sách, Mĩ đã ban hành
các đạo luật nhằm hỗ trợ tiến trình này, chẳng
hạn, Đạo luật Viễn thông (Telecommunication
Act) năm 1996 là một ví dụ điển hình. Đạo luật
này đã kêu gọi bãi bỏ quy định về sản xuất văn
hóa. Kết quả là, việc mua lại và sáp nhập trong
ngành truyền thông Mĩ bắt đầu từ năm 1980 đã
đạt đến đỉnh cao của nó [19].
• Giai đoạn 2: từ những năm 1950 – cuối
Chiến tranh lạnh, năm 1989
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc,
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 đã diễn ra.
Sự ra đời của máy tính vào những năm 1950 đã
thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành truyền
truyền thông và công nghệ thông tin. Sự nổi lên
của Internet được nhìn nhận như một phương tiện
truyền thông phổ biến thứ tư, sau báo in, phát
thanh, truyền hình [17].
• Giai đoạn 4: Từ những năm 2000 đến hiện
tại
Sự phát triển của công nghệ thông tin liên kết
các quốc gia ở nhiều nơi trên thế giới theo một
cách gần gũi hơn và sự phân chia lao động và hợp
tác quốc tế cũng tăng cường. Tất cả điều này đã
mở ra cho Mĩ một cơ hội chưa từng có. Nổi bật
với sự phát triển trong giai đoạn này là sự phát
triển của các doanh nghiệp văn hóa công nghệ
cao, mở ra thời kì phát triển vàng cho Mĩ trong
ngành công nghiệp văn hóa. Sự hình thành của
các nhóm công nghiệp văn hóa quy mô lớn chi
phối xu hướng. Đây là những người khổng lồ văn
hóa, có các hoạt động vượt qua ranh giới của các
quốc gia và ngành công nghiệp, dẫn đến việc cải
tổ các thực thể văn hóa. Các nhóm truyền thông
hàng đầu ở Mĩ là những nhóm văn hóa khổng
lồ bao gồm đài phát thanh, truyền hình, truyền
hình cáp, truyền hình vệ tinh và đài phát thanh,
báo, tạp chí, ấn phẩm, phim, âm nhạc, giải trí,
điện thoại, Internet, thể thao, bán lẻ và quảng cáo
[20].
Chính phủ Mĩ đã nỗ lực để biến Mĩ từ một
quốc gia khan hiếm tài nguyên văn hóa sang
ngành công nghiệp văn hóa mạnh mẽ tiếp tục đẩy
mạnh việc mở rộng ra nước ngoài, kết hợp với
ứng dụng công nghệ tăng cường, tách phần mềm
khỏi phần cứng trong ngành công nghiệp văn hóa.
Bằng cách phân loại phần cứng vào ngành công
nghiệp truyền thống, Mĩ đã tập trung vào ngành
công nghiệp văn hóa dựa trên việc tập trung đổi
mới nội dung.
Năm 1952, bốn mạng lưới truyền hình được
thành lập tại Mĩ. Năm 1972, số lượng đài truyền
hình trên khắp nước Mĩ đã tăng vọt lên tới hơn
600 và đến năm 1980; truyền hình đã đạt tới
80% dân số Mĩ, khiến nó trở thành quốc gia sở
hữu nhiều tivi nhất thế giới. Năm 1962, vệ tinh
truyền hình và truyền thông đầu tiên của Mĩ đã
được phóng lên, giúp truyền bá các chương trình
truyền hình Mĩ trên toàn thế giới. Đến năm 1980,
doanh thu truyền hình ở Mĩ đã lên tới 11,488 tỉ
đô la. Ngoài ra, phim hoạt hình Mĩ quét qua thị
trường phim hoạt hình toàn cầu, dẫn đầu trong
thời kì vinh quang của Tập đoàn Disney [18].
Về chính sách, Mĩ thành lập Đạo luật về Hội
đồng Quốc gia về Nghệ thuật và Nhân văn năm
1965 (National Foundation on the Arts and the
Humanities Act). Đạo luật này có thể được xem
như sự tham gia trực tiếp đầu tiên của chính phủ
Mĩ vào sự phát triển của ngành văn hóa. Ngoài
ra, một số đạo luật khác như Luật Bản quyền
và Giải trí Gia đình (Family Entertainment and
Copyright Act) vào năm 2005 cũng đã góp phần
thúc đẩy sự phát triển của ngành văn hóa Mĩ
trong giai đoạn này.
• Giai đoạn 3: từ cuối Chiến tranh lạnh – cuối
những năm 1990
Những thử thách đối với sức mạnh mềm của
Sau Chiến tranh lạnh, Mĩ một mình trở thành
siêu cường duy nhất trên thế giới. Dựa vào sức
mạnh vượt trội về kinh tế, chính trị, quân sự,
Mĩ nhanh chóng triển khai xuất khẩu văn hóa ra
nước ngoài. Với hơn nửa thế kỉ phát triển, các
doanh nghiệp trong ngành văn hóa của Mĩ đã đủ
lớn mạnh để thâu tóm lẫn nhau và hình thành nên
Mĩ trong thời kì hiện tại
Người đầu tiên đưa ra khái niệm “sức mạnh
mềm” – Joseph S. Nye Jr. – gần đây đã viết:
‘Sức mạnh mềm là khả năng có được những gì
bạn muốn thông qua sự hấp dẫn hơn là ép buộc
hoặc dùng tiền bạc. Khi bạn có thể khiến người
khác muốn những gì bạn muốn, bạn không cần
39
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
phải chi nhiều tiền cho cây gậy và cà rốt để di
chuyển họ theo hướng của bạn. Trong khi sức
mạnh cứng, khả năng cưỡng chế, hình thành từ
sức mạnh quân sự và kinh tế, sức mạnh mềm
phát sinh từ sự hấp dẫn của văn hóa, lí tưởng
chính trị và chính sách của một quốc gia. Khi
chính sách của quốc gia là phù hợp trong mắt
của người khác, khi đó, sức mạnh mềm của quốc
gia được tăng cường’ [21].
Trong thực tế, những năm gần đây, chủ nghĩa
chống Mĩ đã gia tăng không chỉ tại các quốc gia
đối lập với Mĩ mà còn xuất hiện những rạn nứt
từ trong lòng nước Mĩ. Thomas Pickering, một
nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm, đã coi năm
2003 là một đỉnh cao của chủ nghĩa chống Mĩ
như chúng ta đã thấy trong một thời gian dài [21].
Một cuộc thăm dò của Eurobarometer năm 2003
cho thấy đa số người châu Âu tin rằng Mĩ có xu
hướng đóng vai trò tiêu cực trong việc chống đói
nghèo toàn cầu, bảo vệ môi trường và duy trì hòa
bình trên thế giới [22].
Những người hoài nghi về sức mạnh mềm trấn
an rằng, Mĩ có thể hành động mà không cần tiếng
vỗ tay của thế giới. Chúng tôi rất mạnh và vì vậy
chúng tôi có thể làm những gì chúng tôi muốn và
‘Mĩ không cần phải lo lắng về những trái tim và
khối óc ở những vùng đất xa lạ’ [23]. Nhưng ở
chiều ngược lại, cũng có những quan điểm lo ngại
về sự suy giảm quyền lực mềm của Mĩ. Sự suy
giảm đó tạo ra những lỗ hổng mà những cường
quốc mới có thể chen vào, bao gồm Trung Quốc
[24].
quan hệ bên ngoài. Đặc điểm này được thể hiện
qua sự hình thành và hội nhập tương đối chậm
của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc.
Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa
của Trung Quốc
Sau khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa vào năm 1949, một hệ thống kinh tế tập
trung và có kế hoạch cao được mô phỏng theo
Liên Xô cũ đã được giới thiệu ở Trung Quốc
[25]. Một hệ thống nhằm loại trừ mọi nguy cơ
phát triển văn hóa thành chủ nghĩa tiêu dùng.
Văn hóa trong một thời gian dài được gọi là chủ
trương văn hóa, được chính phủ tài trợ hoàn toàn,
và đóng vai trò như một công cụ tuyên truyền tư
tưởng [25]. Phương thức quản lí này tiếp tục được
kéo dài trong gần ba thập kỉ cho đến cuối những
năm 1970, khi Trung Quốc bắt đầu xây dựng nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường.
Theo Guan Ping Qin, Hao Wei [16], những năm
cuối thập niên 1970 là điểm khởi đầu, ba giai
đoạn đặc biệt có thể được xác định trong sự phát
triển của ngành công nghiệp văn hóa ở Trung
Quốc bao gồm:
• Giai đoạn 1: Từ năm 1978 đến năm 1992
Năm 1978 đánh dấu sự khởi đầu của các cải
cách và mở cửa do Đặng Tiểu Bình khởi xướng,
tập trung vào phát triển kinh tế ở Trung Quốc.
Trong bối cảnh chính trị xã hội như vậy, ngành
công nghiệp văn hóa bắt đầu đâm chồi ở Trung
Quốc. Trong giai đoạn này, khái niệm về ‘sức
mạnh toàn diện của quốc gia’ đã xuất hiện. Sức
mạnh toàn diện của quốc gia đề cập đến các điều
kiện, sức mạnh tổng thể của một quốc gia và các
chỉ số sức mạnh được thiết kế để đo lường sức
mạnh quốc gia của một quốc gia một cách toàn
diện và từ mọi góc độ – bao gồm cả văn hóa.
Như Đặng Tiểu Bình tuyên bố: ‘Để đo lường sức
mạnh của một quốc gia, người ta phải nhìn nhận
toàn diện và từ đó tất cả các mặt’ [26].
B. Tổng quan về chính sách văn hóa của Trung
Quốc
Sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong
thập kỉ qua đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức hấp
dẫn của nó đối với phần còn lại của thế giới. Điều
này đã khiến chính phủ Trung Quốc tăng cường
sử dụng văn hóa trong quan hệ đối ngoại như một
công cụ để định hình nhận thức và quảng bá hình
ảnh của Trung Quốc ở nước ngoài và mở rộng
ảnh hưởng quốc tế. Toàn cầu hóa đã mang lại cho
văn hóa một giá trị và địa vị mới như là công cụ
của quyền lực mềm của Trung Quốc. Tuy nhiên,
lịch sử cho thấy Trung Quốc đã tương đối chậm
trong việc nắm bắt khái niệm quyền lực mềm
và đầu tư thích đáng cho văn hóa trong các mối
Mặc dù vậy, văn hóa vẫn chưa được xem là
một ngành công nghiệp trong thời gian này. Các
chủ trương văn hóa nhằm nhấn mạnh bản chất tốt
đẹp của văn hóa công vẫn đang độc quyền trên
toàn quốc. Các lĩnh vực văn hóa ngoài nước, vốn
liên kết lỏng lẻo và xa vời với ý thức hệ, bắt đầu
tín hiệu của ngành công nghiệp văn hóa, với sự
đầu tư từ khu vực tư nhân. Mặc dù vậy, sự phát
triển của ngành công nghiệp văn hóa của Trung
Quốc ở giai đoạn này còn rất rời rạc và đơn giản
40
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
về hình thức và nội dung. Vào cuối những năm
Chính phủ Trung Quốc đã sử dụng miễn giảm
1980, ngành công nghiệp điện ảnh Trung Quốc
đã trải qua một cuộc khủng hoảng sâu sắc: giảm
đáng kể lượng người tham gia rạp chiếu phim và
cả quá trình sản xuất phim [27].
thuế như một đòn bẩy kinh tế hiệu quả để thể
hiện sự hỗ trợ cho sự phát triển của ngành công
nghiệp văn hóa. Giữa năm 2004 và năm 2008,
hai chính sách quan trọng về ưu đãi thuế đối với
các tổ chức văn hóa vì mục tiêu lợi nhuận đã
được Bộ Tài chính Trung Quốc, Cục Thuế Quốc
gia và Cục Hải quan Quốc gia ban hành, bao
gồm Thông tư về Chính sách thuế đối với các
doanh nghiệp văn hóa vì mục tiêu lợi nhuận và
Thông tư về Chính sách thuế để thúc đẩy sự phát
triển của ngành công nghiệp văn hóa. Trong cả
hai chính sách này, các doanh nghiệp kinh doanh
văn hóa vì mục tiêu lợi nhuận được miễn tất cả
thuế thu nhập [16].
Trong giai đoạn này, thị trường phim ảnh ở
Trung Quốc tăng trưởng ấn tượng, cao gấp bốn
hoặc năm lần so với mức tăng trưởng GDP của
Trung Quốc trong cùng thời kì. Năm 2004, tổng
doanh thu thị trường phim đạt 435 triệu đô la.
Đến năm 2013, Trung Quốc là thị trường phim
lớn thứ hai thế giới và tạo ra 3,6 tỉ đô la Mĩ từ
doanh thu phòng vé [11]. Trước đó, năm 2012,
Tập đoàn tư nhân Dalian Wanda Group của Trung
Quốc đã chính thức hoàn tất thương vụ mua lại
Tập đoàn AMC Entertainment Holdings, Inc của
Mĩ với mức giá 2,6 tỉ USD, mở rộng sang Mĩ để
tạo ra chủ sở hữu rạp chiếu phim lớn nhất thế
giới [32]. Thỏa thuận này đánh dấu việc mua lại
một công ti lớn nhất từ trước đến nay của một
công ti Mĩ. Có thể nói, ngành công nghiệp văn
hóa của Trung Quốc đã đạt được vị thế chiến
lược quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, với
các đặc điểm nổi bật đánh dấu sự chuyển mình
của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc dựa
trên công nghệ cao và khuynh hướng toàn cầu
hóa.
• Giai đoạn 2: Từ năm 1993 đến năm 2002
Đây là thời điểm mà ngành công nghiệp văn
hóa ở Trung Quốc mở rộng một cách chưa từng
thấy với các chủ trương văn hóa đa dạng. Ngành
công nghiệp văn hóa nhanh chóng phát triển và
bắt đầu có tác động đến việc hoạch định chính
sách quốc gia [28]. Trong giai đoạn này, các cải
cách đã đạt được những bước tiến lớn trong cấu
trúc văn hóa của quốc gia, với sự thay đổi của
chính phủ từ quản lí trực tiếp sang quản lí gián
tiếp. Chính phủ Trung Quốc đã dần thay đổi cách
tiếp cận truyền thống, giảm các chính sách trợ cấp
hoàn toàn, giảm bớt can thiệp vào các hoạt động,
sự kiện văn hóa và mở cửa cho thị trường phim
nước ngoài. Kể từ năm 1996, các bộ phim nước
ngoài, và đặc biệt là phim Hollywood, đã chiếm
40% – 50% cổ phần tại thị trường Trung Quốc
[29].
Cột mốc quan trọng là vào năm 2000, khi các
chính sách của ngành văn hóa được chính thức
thể chế hóa trong văn kiện của Đảng Cộng sản
Trung Quốc về việc thực hiện Chiến lược 05 năm
lần thứ X về phát triển kinh tế – xã hội quốc gia.
Theo đó, lần đầu tiên ở Trung Quốc, bản chất
tạo ra lợi nhuận đã được chính thức công nhận
và có tính hợp pháp trong ngành văn hóa đi cùng
với áp lực phải duy trì bản chất tốt đẹp vốn có
của văn hóa. Đầu tư từ khu vực tư nhân và nước
ngoài đã được khuyến khích trong lĩnh vực văn
hóa. Đến năm 1997, khu vực tư nhân đã chiếm
88,6% tổng vốn đầu tư vào nghệ thuật, giải trí
và thị trường âm thanh và video trong khi chỉ có
khoảng 10% là từ nhà nước [30].
• Giai đoạn 3: từ năm 2003 đến nay
C. Đánh giá kinh nghiệm của Mĩ và Trung Quốc
trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh mềm
của văn hóa
Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
vào tháng 12/2001, cạnh tranh văn hóa quốc tế
ngày càng mạnh mẽ. Năm 2003, các chính sách
về các ngành công nghiệp mới nổi như Internet và
khuyến khích sự tham gia của các quỹ tư nhân và
cá nhân trong ngành văn hóa đã được ban hành.
Năm 2005, các chính sách về xuất khẩu và nhập
khẩu các sản phẩm văn hóa và ưu đãi thuế cho
việc thành lập các tổ chức văn hóa đã được ban
hành [31].
Sẽ là khập khiễng nếu so sánh giữa Vạn Lí
Trường Thành (Great Wall of China) của Trung
Quốc và bức tường vật lí của cựu Tổng thống Mĩ
Donald J. Trump (Great Wall of America) bởi sự
khác biệt về lịch sử, văn hóa của hai thực thể
này. Tuy nhiên, như nhận định của Mimi Yang
(một học giả người Trung Quốc) [33] trong bài
41
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
viết được đăng trên tạp chí danh tiếng Nature, cả
hai bức tường đang chia sẻ những đoạn mã giống
nhau từ trong DNA của chúng (Wall-DNA):
‘Mã 1 được lưu trữ trong DNA-wall: chúng tôi
là người văn minh và vượt trội so với họ là người
man rợ và thấp kém.
Việt Nam, Donald Trump đã xác nhận lại chính
sách "Nước Mĩ trước tiên" của mình.
Asit K. Biswas [34] cho rằng cách tiếp cận này
sẽ làm giảm sức mạnh mềm của Mĩ. Sức mạnh,
quyền lực mềm của Mĩ đang suy giảm và việc
suy giảm này đang mở ra cơ hội cho Trung Quốc
lấp vào khoảng trống mà Mĩ để lại.
Thành công kinh tế của Trung Quốc, phát triển
cơ sở hạ tầng lớn, tiến bộ học thuật và nghiên
cứu, di sản văn hóa và thành công trong thể thao
sẽ tiếp tục tăng sức mạnh mềm của Trung Quốc
trong tương lai.
Mã 2 được lưu trữ trong Wall-DNA: từ chủ
nghĩa tự nhiên đến chủ nghĩa dân tộc
... Trong một ý nghĩa văn hóa, cả Vạn Lí
Trường Thành của Trung Quốc và Bức tường
Trump là những công trình tinh thần và tâm lí
nhiều hơn là các công trình kiến trúc và vật lí’.
Vấn đề đặt ra là một bức tường biên giới có thể
thực sự ngăn chặn những kẻ xâm lược và những
kẻ vượt biên, trong khi bảo vệ, thống nhất và duy
trì sự thuần khiết của văn hóa Trung Hoa của nền
văn hóa mà nó bao bọc hay không? Hoàng đế
đầu tiên của Trung Hoa Tần Thủy Hoàng (259-
210 trước Công nguyên) và những người kế vị
trong các triều đại sau đã cố gắng đạt được mục
đích này, nhưng khó có thể có câu trả lời đầy đủ.
Mimi Yang [33] đặt câu hỏi tương tự khi Tổng
thống Trump thề sẽ xây dựng một “bức tường
vĩ đại, vĩ đại” (great, great) vật lí và không thể
xuyên thủng ở biên giới Mĩ – Mexico. Bức tường
Trump được thiết kế để ngăn chặn những người
nhập cư bất hợp pháp ở Mexico vào Mĩ để bảo
vệ lợi ích của người Mĩ và bảo vệ các giá trị Mĩ.
Bức tường Trump đặt ra để phân định rõ nước
Mĩ là gì và do đó, những nỗ lực để làm cho nước
Mĩ trở nên vĩ đại trở lại.
Nói cách khác, cả hai bức tường vật lí này đều
là những biểu tượng cho sức mạnh cứng. Cần
thiết để nhắc lại quan điểm của Joseph S. Nye
Jr. rằng ‘Sức mạnh mềm là khả năng có được
những gì bạn muốn thông qua sự hấp dẫn hơn
là ép buộc hoặc dùng tiền bạc’ [21]. Kể từ khi
Donald Trump được bầu làm tổng thống, Mĩ đã
nỗ lực chứng tỏ “sức mạnh cứng” (hard power)
của mình, lần lượt đã rút khỏi thỏa thuận biến đổi
khí hậu toàn cầu; đàm phán lại một số hiệp ước
song phương, rút khỏi Hiệp ước Hạt nhân INF và
công khai "Nước Mĩ trước tiên" (America First),
nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đơn
phương của Mĩ, và lập trường có phần cô lập.
Mối quan hệ thân mật của Mĩ với nhiều đồng
minh truyền thống đã trở nên căng thẳng. Trong
Hội nghị thượng đỉnh hợp tác kinh tế châu Á –
Thái Bình Dương vào tháng 11 năm 2017, tại
Sức mạnh mềm này, trước hết, có thể nhìn thấy
từ tăng trưởng của ngành du lịch Trung Quốc.
Văn hóa và du lịch luôn là khía cạnh quan trọng
của sức mạnh mềm. Các số liệu thống kê từ Asit
K. Biswas [34] cho thấy: Khoảng 138 triệu khách
du lịch đã đến thăm Trung Quốc vào năm 2016,
tăng 3,5% so với năm 2015. Tương tự, 122 triệu
khách Trung Quốc đã ra nước ngoài vào năm
2016, tăng 4,3% so với năm 2015. Sự trao đổi
ngày càng tăng này của du khách sẽ giúp người
nước ngoài hiểu biết về văn hóa Trung Quốc, lịch
sử và sức mạnh kinh tế của nó – tất cả những điều
này sẽ tăng cường hơn nữa sức mạnh mềm của
Trung Quốc.
Trung Quốc cũng đang nổi lên như một nhà
lãnh đạo toàn cầu về tiến độ học tập và nghiên
cứu. Tỉ lệ chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển
(R&D) toàn cầu của các nước thu nhập cao đã
giảm từ 88% xuống 69,3% từ năm 1996 đến
2013. Nhưng chỉ riêng Trung Quốc đã lấp đầy
khoảng trống này. Trung Quốc đã tăng thị phần
của mình từ 2,5% lên 19,6% trong 17 năm. Gần
đây, tăng trưởng chi tiêu R&D trung bình hàng
năm của Trung Quốc là 18,3%, so với tốc độ tăng
trưởng ở các nước thu nhập trung bình và cao là
1,4% [34].
Các hoạt động giáo dục và nghiên cứu ngày
càng tăng đã đảm bảo rằng số lượng sinh viên
nước ngoài ở Trung Quốc đang tăng nhanh. Trung
Quốc hiện đứng thứ ba trong việc thu hút sinh
viên nước ngoài, sau Mĩ và Anh. Các trường đại
học của Trung Quốc đang leo lên bảng xếp hạng
toàn cầu. Điều này, cùng với quốc tế hóa nhanh
chóng, các chính sách hỗ trợ sinh viên nước ngoài
và khả năng chi trả cho học tập và sinh hoạt so với
phương Tây, có nghĩa là Trung Quốc có thể sớm
trở thành điểm đến hàng đầu của sinh viên quốc
42
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
tế. Ở chiều ngược lại, trong số khoảng 5 triệu
sinh viên quốc tế theo đuổi giáo dục đại học bên
ngoài quốc gia của họ, gần 25% là người Trung
Quốc. Đó là một hình thức trao đổi văn hóa khác
sẽ đóng góp cho sức mạnh mềm của Trung Quốc,
cũng như nhiều Viện Khổng Tử được thành lập
trên khắp thế giới để giới thiệu văn hóa, lịch sử,
ngôn ngữ, kinh tế và xã hội của Trung Quốc [34].
Khác với Mĩ – thay vì rút khỏi các thỏa thuận
thương mại – Trung Quốc đang nỗ lực vận động
để tham gia sâu rộng vào cộng đồng thế giới, mà
trong đó Trung Quốc đóng vai trò người dẫn dắt.
Trong khi Mĩ rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên
Thái Bình Dương mà cựu Tổng thống Mĩ Obama
đã nỗ lực xây dựng, thì Trung Quốc đang tích cực
để thúc đẩy sáng kiến “Một vành đai, một con
đường” (One belt, one road) để phát huy vai trò,
tăng cường sức mạnh mềm của mình đối với thế
giới. Tại châu Á, Trung Quốc kí Hiệp định thương
mại tự do ASEAN – Trung Quốc. Tổng thương
mại giữa Trung Quốc và ASEAN năm 2005 là
khoảng 130 tỉ USD, dần đuổi kịp tổng thương
mại của Mĩ – ASEAN năm 2005 là khoảng 150
tỉ USD [35]. Cho Y. and Jeong J. [36] cho rằng,
bên cạnh sự gia tăng sức mạnh kinh tế và quân
sự, việc tăng cường sức mạnh mềm của Trung
Quốc là mấu chốt trong việc mở rộng ảnh hưởng
của quốc gia đến khu vực, như một đối thủ tiềm
năng của Mĩ trong khu vực châu Á.
các chính sách văn hóa trong việc phát huy sức
mạnh mềm của quốc gia. Trong đó, kinh nghiệm
của quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính
sách văn hóa về việc phát huy sức mạnh mềm
của văn hóa Mĩ và Trung Quốc lần lượt được
nhấn mạnh.
Các nghiên cứu đã chứng minh vai trò và mối
liên hệ của văn hóa, sức mạnh mềm và sức mạnh
tổng thể của quốc gia ở nhiều khía cạnh, từ
phát triển kinh tế thông qua thu hút đầu tư nước
ngoài, thu hút khách du lịch, giáo dục quốc tế
cho đến việc các chính phủ sử dụng sức mạnh
mềm của văn hóa để truyền bá tác động của họ
đến các quốc gia khác thông qua các thiết chế
văn hóa như Hội đồng Anh (Anh), Viện Goethe
(Đức), Alliance Franc¸aise (Pháp), Viện Khổng Tử
(Trung Quốc),. .. Mặc dù vẫn còn đó các tranh
luận về phương thức triển khai và hiệu quả của
các thiết chế văn hóa này; tuy nhiên, các nghiên
cứu đều có cùng nhận định về vai trò quan trọng
của các thiết chế văn hóa như các công cụ của
các chính phủ để quảng bá, thực thi sức mạnh
mềm của quốc gia.
Trong thời kì hiện tại, có sự khác biệt trong
cách tiếp cận của các cường quốc trong việc
phối hợp giữa sức mạnh cứng và sức mạnh
mềm. Trong khi Mĩ, dưới thời kì của Tổng thống
Donald J. Trump, dường như đang chú trọng đến
sức mạnh cứng, thông qua việc thúc đẩy chủ
nghĩa dân tộc và chiến lược “Nước Mĩ trước tiên”
(America First), xây dựng nên bức tường vật lí để
bao bọc, bảo vệ các giá trị Mĩ thì ở chiều ngược
lại, Trung Quốc đang tăng cường lấp vào khoảng
trống sức mạnh mềm mà Mĩ để lại. Trung Quốc
không ngừng gia tăng, mở rộng ảnh hưởng đến
các quốc gia khác thông qua các khoản viện trợ,
thúc đẩy các sáng kiến liên kết kinh tế, văn hóa.
Bài học có thể rút ra từ những thay đổi trong
cục diện thế giới là vai trò của văn hóa và sức
mạnh mềm luôn là lực lượng quan trọng trong
chính sách đối ngoại của các quốc gia, mặc dù
có thể có thay đổi theo từng giai đoạn phát triển.
Trong khi trước đây, các chính phủ chủ yếu kiểm
soát các phương thức truyền thông thông tin chủ
yếu, nhằm kiểm soát ảnh hưởng của họ đối với
quyền lực mềm. Tuy nhiên, với sự phát triển của
truyền thông ngày nay, các chính phủ phải cạnh
tranh với các nguồn truyền thông khác trong việc
chia sẻ thông tin. Chính vì lí do này mà uy tín
IV. KẾT LUẬN
Thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Các
cường quốc ngày nay không chỉ dựa vào “sức
mạnh cứng” truyền thống, mà còn chú trọng gia
tăng ảnh hưởng của họ thông qua phát huy lợi thế
của “sức mạnh mềm”. Trong khi quyền lực cứng
là một trong những lực lượng phổ biến nhất trong
lịch sử quan hệ quốc tế, có những quan điểm tin
rằng sức mạnh cứng đang suy giảm, hoặc sử dụng
vũ lực trực tiếp cho lợi ích kinh tế nói chung là
quá tốn kém và nguy hiểm. Các cường quốc hiện
đại cần nhấn mạnh vào quyền lực mềm hay sức
mạnh mềm.
Cấu thành nên sức mạnh mềm, văn hóa có vai
trò quan trọng trong việc lôi cuốn, hấp dẫn các
quốc gia khác theo định hướng mà một quốc gia
mong muốn. Bài viết này tập trung vào việc lược
khảo các cách tiếp cận về văn hóa và vai trò của
43
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 41, THÁNG 12 NĂM 2020
VĂN HÓA – GIÁO DỤC – NGHỆ THUẬT
thực sự của một quốc gia được hình thành thông
qua quá trình quan hệ quốc tế được xem đã trở
thành nền tảng vững chắc của sức mạnh mềm.
Uy tín đó có thể được tạo dựng từ những giá trị
văn hóa tốt đẹp mà quốc gia đó có được, theo
đuổi và ảnh hưởng đến các quốc gia khác.
[15] Portland. Soft Power 30: A global ranking of soft
power 2018; 2019.
[16] Guan Ping Qin, Hao Wei, Xi Wang. Culture Industry
Policy in China and the United States: A Comparative
Analysis: Kennesaw State University; 2009.
[17] People’s Daily. “Fourth Media” to See Fast Growth,
Internet Users to Top 200 Million by 2005; 2001.
[18] Edward Papazian. Television ’97. New York: Media
LỜI CẢM ƠN
Dynamics Inc.; 1997.
[19] Rongting Zhi. A Historic Study of the Media In-
dustrialization in the West. Guangdong: Guangdong
People’s Publishing House; 2004.
Bài báo là sản phẩm của Đề tài cấp Nhà nước:
“Văn hóa trong phát triển bền vững vùng Tây
Nam Bộ”, mã số KHCN-TNB.ĐT/14-19/X21,
do PGS.TS. Phạm Tiết Khánh làm chủ nhiệm,
Trường Đại học Trà Vinh chủ trì thực hiện năm
2018-2020, thuộc Chương trình Tây Nam Bộ.
[20] Kim Mcavoy. The B&C 25. Media Groups; 2003.
[21] Joseph S. Nye Jr. Soft Power and American
Foreign Policy. Political Science Quarterly. 2004;
119(2):255–70.
[22] Eurobarometer. Eurobarometer 59: Public opinion in
the European Union; 2003.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[23] Fouad Ajami. The Falseness of Anti-Americanism.
Foreign Policy; 2003.
[24] Eric X. Li. The Rise and Fall of Soft Power. Foreign
[1] UCLG (The World Organization of United Cities
and Local Governments). Culture in the sustainable
development goals: A guide for local action; 2018.
Policy; 2018.
[2] UN (United Nation). Resolution adopted by the Gen-
eral Assembly on 25 September 2015; 2015.
[3] Joseph S. Nye Jr. Bound to Lead: The Changing
Nature of American Power; 1990.
[4] Nicolae Hanes, Adriana Andrei, editors. Culture
as soft power in internatioal relations. Interna-
tional Conference Knowledge-based organization. De
Gruyter; 2015.
[5] Chinadaily. Hu urges enhancing ’soft power’ of Chi-
nese culture. Chinadaily; 2007.
[25] Yongjin Han. Review and Revelation on the Reform
of China’s Cultural System; 2005.
[26] Weihong Zhang. China’s cultural future: from soft
power to comprehensive national power. International
Journal of Cultural Policy. 2010; 16(4):383–402.
[27] Zhu Y, Nakajima S. The evolution of Chinese Film
as an industry. Hong Kong: Hong Kong University
Press; 2010.
[28] Hesmondhalgh, Andy. Cultural Industries and Cul-
tural Policies. International Journal of Cultural Pol-
icy. 2005; 11(1):1–13.
[6] Chinadaily. China’s soft power is on the rise. Chi-
nadaily; 2018.
[29] Antonios Vlassi. Soft power, global governance of
cultural industries and rising powers: the case of
China. International Journal of Cultural Policy. 2013
; 22(4):481-496.
[7] Helen Spencer-Oatey. What is culture? A compilation
of quotations. GlobalPAD Core Concepts; 2012.
[8] Langi Kavaliku. Culture and Sustainable Develop-
ment in the Pacific. In: Culture and Sustainable De-
velopment in the Pacific: ANU PressAntony. Hooper
(Editor); 2005.
[30] Enfu Cheng. Studies on Cultural Economies. Shang-
hai: Shanghai University of Finance; 1999.
[31] Jihua Yang. Review and reflection on China’s cul-
ture industry policy since 1978. Journal of Shanghai
Administration Institute. 2006; 7(6):15-20.
[32] Đại Hải. Tập đoàn Trung Quốc thâu tóm chuỗi rạp
phim AMC của Mĩ. Vietnamplus; 2012.
[9] UNESCO (The United Nations Educational, Scien-
tific and Cultural Organization). Culture: a driver
and an enabler of sustainable development: Thematic
Think Piece; 2012.
[10] OECD (Organisation for Economic Co-Operation and
Development). Culture and local development; 2018.
[33] Mimi Yang. Crossing between the Great Wall of
China and the “Great” Trump Wall. Palgrave Com-
munications. 2017; 3(1):25.
[34] Asit K. Biswas. Africa: China Steps Into Soft Power
Vacuum As the U.S. Retreats Under Trump. Allafrica;
2018.
[11] UNESCO (The United Nations Educational, Scien-
tific and Cultural Organization). The role of culture
in peace and reconciliation; 2013.
[12] Holik G. G. Paper Tiger? Chinese soft power in East
Asia. Political Science Quaterly. 2011; 126(2):223–
54.
[35] Kurlantzick J. Charm Offensive: How China’s soft
power is transforming the world. New Haven: Yale
University Press; 2007.
[36] Cho Y., Jeong J. China’s Soft Power: Discus-
sions, Resources, and Prospects. Asian Survey. 2008;
48(3):453–72.
[13] Ivanov V. G. "Charts Power" as an instrument of po-
litical and economic influence: conceptual analysis,
strategies of use and the counteraction models; 2016.
[14] Kovba D. M. Theoretical and practical adaptation
of the concept of "soft power” by the East Asian
countries. Prostranstvo i vremia. 2014; 4(18):111–8.
44
Bạn đang xem tài liệu "Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính sách văn hóa về việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Mĩ và Trung Quốc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
kinh_nghiem_quoc_te_trong_xay_dung_va_thuc_hien_chinh_sach_v.pdf

