Bước đầu nghiên cứu hoạt động tuần du của hoàng đế triều Nguyễn (1802-1883) qua nguồn sử liệu Đại Nam thực lục

56  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG TUẦN DU  
CỦA HOÀNG ĐẾ TRIỀU NGUYỄN (1802-1883)  
QUA NGUỒN SỬ LIỆU ĐẠI NAM THỰC LỤC  
TRƯƠNG ANH THUẬN*  
Hoạt động tuần du vào thời Nguyễn được đề cập khá nhiều trong các nguồn tư  
liệu do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Dựa trên sử liệu từ bộ Đại Nam  
thực lục bài viết tìm hiểu số lượng, thời điểm, thời lượng, quy mô, mục đích và  
phương thức tiến hành các cuộc tuần du của các hoàng đế triều Nguyễn từ năm  
1802 đến năm 1883, với mong muốn mở ra một góc nhìn mới về hoạt động tuần  
du của vương triều quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.  
Từ khóa: Triều Nguyễn; tuần du; hoàng đế; địa phương; Đại Nam thực lục  
Nhận bài ngày: 13/2/2021; đưa vào biên tập: 25/2/2021; phản biện: 8/3/2021; duyệt  
đăng: 10/7/2021  
1. DẪN NHẬP  
hay gần. Tuần du có hàm nghĩa gần  
với từ tuần thú [巡狩], nhưng khác ở  
chỗ tuần thú dùng để chỉ việc “vua đi  
xem xét tình hình ở các nơi xa kinh  
đô”. Như vậy, tuần du là thuật ngữ  
gốc Hán, dùng để chỉ hoạt động thăm  
thú, du ngoạn (đi chơi ngắm cảnh) kết  
hợp với xem xét tình hình ở các địa  
phương gần hoặc xa kinh đô của  
hoàng đế(1).  
Trong Đại Nam thực lục, khi nói về  
hoạt động đi đến các địa phương  
trong nước của hoàng đế và quan lại  
triều đình, các sử quan triều Nguyễn  
dùng hai từ “tuần du” và “kinh lý”.  
Nghĩa của từ tuần du [巡遊] trong Từ  
điển Trung-Việt chỉ hoạt động “đi dạo  
chơi”, “đi xem xét”. Trong Từ điển  
tiếng Việt tuần du là hoạt động “vua đi  
xem xét tình hình các nơi trong nước”, Căn cứ vào Đại Nam thực lục, từ năm  
nhưng không nói rõ phạm vi địa lý xa 1802 đến năm 1883 các hoàng đế Gia  
Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự  
* Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà  
Nẵng.  
Đức đã tiến hành 98 cuộc tuần du các  
địa phương trong cả nước (nhiều nhất  
TRƯƠNG ANH THUẬN – BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG…  
57  
là thời vua Minh Mệnh với 45 cuộc, 1825-1827, đặc biệt là từ 1831 đến  
Tự Đức với 37 cuộc). Trong 7 năm cai 1840, năm nào nhà vua cũng tuần du:  
trị (1841-1847), Thiệu Trị có 8 lần tuần năm 1836 với 8 lần, 1835 với 6 lần,  
du, bằng với thời Gia Long, nhưng tần 1837 với 5 lần, 1831 với 4 lần, các  
suất tuần du cao hơn, do thời gian năm 1826, 1832, 1840 với 3 lần và  
ngắn hơn.  
các năm 1821, 1825, 1827, 1833,  
1839 đều 2 lần. Dưới thời Thiệu Trị,  
số lần tuần du mỗi năm (một năm một  
lần) không có sự tăng vọt như thời  
Minh Mệnh. Đến thời vua Tự Đức,  
trong 36 năm trị vì có 37 lần tuần du,  
tuy nhiên, giữa các lần không liên tục  
(từ năm 1858 đến năm 1863 không  
thực hiện tuần du).  
Đại Nam thực lục ghi lại 2 cuộc tuần  
du vào năm 1809 của vua Gia Long  
đến Quảng Trị và Quảng Nam (các  
năm 1806, 1807, 1808, 1811, 1812,  
1814, 1815, 1817, 1818, 1819, không  
thấy đề cập). Các năm 1802, 1803,  
1805, 1810, 1813 mỗi năm tuần du chỉ  
1 lần. Vào thời Minh Mệnh (1820-  
1840), các giai đoạn 1821-1823,  
Bảng 1. Hoạt động tuần du địa phương của các hoàng đế triều Nguyễn (1802-1883)  
Số lần  
Triều vua  
Thời gian  
Địa điểm, khu vực tuần du  
tuần du  
Gia Long  
8
Tháng 5 đến tháng 10 Gia Long năm Bắc tuần (từ Quảng Trị đến  
thứ 1 (1802) Thăng Long)  
Tháng 2 Gia Long năm thứ 2 (1803) Quảng Bình, Quảng Trị  
Tháng 8 Gia Long năm thứ 2 (1803) Bắc tuần (từ Quảng Trị đến  
đến tháng 2 Gia Long năm thứ 3  
Thăng Long)  
(1804)  
Tháng 6 Gia Long năm thứ 4 (1805) Đồng Vân Trận (xã Vân Xã,  
Hương Trà, Thừa Thiên)  
Tháng 3 Gia Long năm thứ 8 (1809) Quảng Trị  
Tháng 4 Gia Long năm thứ 8 (1809) Quảng Nam  
Tháng 4 Gia Long năm thứ 9 (1810) Quảng Trị, Quảng Bình  
Tháng 5 Gia Long năm thứ 12 (1813) Quảng Nam  
Minh  
Mệnh  
45  
Tháng 2 Minh Mệnh năm thứ 2  
(1821)  
Xã An Vân, Cổ Vưu và sông Lợi  
Nông (Hương Thủy, Thừa Thiên)  
Tháng 10 Minh Mệnh năm thứ 2  
(1821) đến tháng giêng Minh Mệnh  
năm thứ 3 (1822)  
Bắc tuần  
Tháng giêng Minh Mệnh năm thứ 4 Phía đông Đàn Nam Giao  
(1823)  
Tháng 3 Minh Mệnh năm thứ 6 (1825) Cửa biển Thuận An, Tư Dung  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 6 (1825) Quảng Nam  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
58  
Tháng giêng Minh Mệnh năm thứ 7 Phía đông Kinh thành  
(1826)  
Tháng 3 Minh Mệnh năm thứ 7 (1826) Cửa biển Thuận An  
Tháng 4 Minh Mệnh năm thứ 7 (1826) Quảng Bình  
Tháng giêng Minh Mệnh năm thứ 8 Phía đông Đàn Nam Giao  
(1827)  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 8 (1827) Đà Nẵng, Quảng Nam  
Tháng giêng Minh Mệnh năm thứ 12 Phía đông Đàn Nam Giao  
(1831)  
Tháng 3 Minh Mệnh năm thứ 12 (1831) Đài Trấn Hải (cửa biển Thuận An)  
Tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) Đài Trấn Hải (cửa biển Thuận An)  
Tháng 12 Minh Mệnh năm thứ 12  
(1831)  
Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng giêng Minh Mệnh năm thứ 13 Phía đông Đàn Nam Giao  
(1832)  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 13 (1832) Đài Trấn Hải (cửa biển Thuận An)  
Tháng 12 Minh Mệnh năm thứ 13  
(1832)  
Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng giêng Minh Mệnh năm thứ 14 Phía đông Kinh thành, qua làng  
(1833) Dương Xuân  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 14 (1833) Cửa biển Thuận An  
Tháng 10 Minh Mệnh năm thứ 15  
(1834)  
Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng 4 Minh Mệnh năm thứ 16 (1835) Quảng Trị  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 16  
Cửa biển Thuận An, thành Trấn  
(1835)  
Hải  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 16  
(1835)  
Cửa biển Thuận An, thành Trấn  
Hải  
Tháng 6 Minh Mệnh năm thứ 16 (1835) Cửa biển Thuận An  
Tháng 6 (nhuận) Minh Mệnh năm thứ Cửa biển Thuận An  
16 (1835)  
Tháng 11 Minh Mệnh năm thứ 16  
Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
(1835)  
Thừa Thiên)  
Tháng 2 Minh Mệnh năm thứ 17  
(1836)  
Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng 3 Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) Cửa biển Thuận An  
Tháng 3 Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) Cửa biển Thuận An  
Tháng 4 Minh Mệnh năm thứ 17  
(1836)  
Cửa biển Tư Dung (Phú Lộc,  
Thừa Thiên)  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) Cửa biển Thuận An  
Tháng 7 Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) Quảng Trị  
TRƯƠNG ANH THUẬN – BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG…  
Tháng 7 Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) Cửa biển Thuận An  
59  
Tháng 8 Minh Mệnh năm thứ 17  
Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
(1836)  
Thừa Thiên)  
Tháng 2 Minh Mệnh năm thứ 18  
(1837)  
Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng 3 Minh Mệnh năm thứ 18  
Núi Thúy Hoa (Phú Lộc, Thừa  
(1837)  
Thiên)  
Tháng 4 Minh Mệnh năm thứ 18 (1837) Quảng Nam  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 18  
Cửa biển Thuận An, núi Thúy  
(1837)  
Hoa (Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 6 Minh Mệnh năm thứ 18  
(1837)  
Cửa biển Thuận An, núi Thúy  
Hoa (Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 4 (nhuận) Minh Mệnh năm thứ Cửa biển Thuận An, núi Thúy  
19 (1838)  
Hoa (Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 6 Minh Mệnh năm thứ 20  
Sông Hữu Hộ Thành (phía tây  
(1839)  
Kinh thành)  
Tháng 6 Minh Mệnh năm thứ 20  
(1839)  
Cửa biển Thuận An, núi Thúy Ba  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 4 Minh Mệnh năm thứ 21 (1840) Cửa biển Thuận An  
Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 21 (1840) Cửa biển Thuận An  
Tháng 6 Minh Mệnh năm thứ 21  
Núi Thúy Ba (Phú Lộc, Thừa  
(1840)  
Thiên), cửa biển Thuận An  
Thiệu Trị  
8
Tháng giêng đến tháng 4 Thiệu Trị  
năm thứ 2 (1842)  
Bắc tuần  
Tháng 3 Thiệu Trị năm thứ 3 (1843) Nguồn Hữu Trạch (Hương Trà,  
Thừa Thiên)  
Tháng giêng Thiệu Trị năm thứ 4 (1844) Phía đông Kinh thành  
Tháng 11 Thiệu Trị năm thứ 4 (1844) Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng 6 Thiệu Trị năm thứ 5 (1845) Cửa biển Tư Hiền, núi Linh Thái,  
núi Thúy Vân (Phú Lộc, Thừa  
Thiên)  
Tháng 2 Thiệu Trị năm thứ 6 (1846) Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng 5 Thiệu Trị năm thứ 7 (1847) Cửa biển Thuận An  
Tháng 5 Thiệu Trị năm thứ 7 (1847) Cửa biển Thuận An  
Tự Đức  
37  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 3 (1850)  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 3 (1850)  
Cửa biển Thuận An  
Cửa biển Thuận An và núi Thúy  
Vân (Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng giêng Tự Đức năm thứ 4  
(1851)  
Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 4 (1851)  
Cửa biển Thuận An  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
60  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 6 (1853)  
Cửa biển Thuận An  
Tháng 12 Tự Đức năm thứ 8 (1855) Xã Trúc Lâm (Hương Trà)  
Tháng 5 (nhuận) Tự Đức năm thứ 10 Cửa biển Thuận An  
(1857)  
Tháng giêng Tự Đức năm thứ 17  
Phía đông Kinh thành  
(1864)  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 20 (1867) Cửa biển Thuận An và Tư Hiền  
Tháng 12 Tự Đức năm thứ 21 (1868) Hành cung Thuận Trực (xã Hà  
Trung, Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng giêng Tự Đức năm thứ 22  
(1869)  
Xã Mậu Tài, huyện Phú Vinh,  
Thừa Thiên  
Tháng 8 Tự Đức năm thứ 22 (1869) Hành cung Thuận Trực (xã Hà  
Trung, Phú Lộc, Thừa Thiên) và  
eo biển Tam Giang  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 23 (1870) Cửa biển Thuận An  
Tháng 12 Tự Đức năm thứ 24 (1871) Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 24 (1871) Cửa biển Thuận An, hành cung  
Thúy Vân (Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 9 Tự Đức năm thứ 24 (1871) Hành cung Thuận Trực (xã Hà  
Trung, Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 25 (1872) Cửa biển Thuận An  
Tháng 2 Tự Đức năm thứ 26 (1873) Hai đồn Trào Sơn và Phổ Lợi  
Tháng 2 Tự Đức năm thứ 27 (1874) Cửa biển Thuận An  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 27 (1874) Cửa biển Thuận An  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 27 (1874) Núi Thúy Vân, cửa biển Tư Hiền  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 28 (1875) Cửa biển Thuận An  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 30 (1877) Cửa biển Thuận An  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 30 (1877) Núi Thúy Vân, cửa biển Tư Hiền  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 30 (1877) Cửa biển Thuận An  
Tháng 6 Tự Đức năm thứ 30 (1877) Núi Thúy Vân, cửa biển Tư Hiền  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 31 (1878) Cửa biển Thuận An  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 31 (1878) Núi Thúy Vân, cửa biển Tư Hiền  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 31 (1878) Núi Thúy Vân, cửa biển Tư Hiền  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 5 Tự Đức năm thứ 31 (1878) Cửa biển Thuận An  
Tháng 6 Tự Đức năm thứ 31 (1878) Núi Thúy Vân, cửa biển Tư Hiền  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
TRƯƠNG ANH THUẬN – BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG…  
61  
Tháng 6 Tự Đức năm thứ 31 (1878) Cửa biển Thuận An  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 32 (1879) Cửa biển Thuận An  
Tháng 6 Tự Đức năm thứ 34 (1881) Núi Thúy Vân, cửa biển Tư Hiền  
(Phú Lộc, Thừa Thiên)  
Tháng 6 Tự Đức năm thứ 34 (1881) Cửa biển Thuận An  
Tháng 6 Tự Đức năm thứ 35 (1882) Cửa biển Tư Hiền (Phú Lộc,  
Thừa Thiên)  
Tháng 4 Tự Đức năm thứ 36 (1883) Sông Lợi Nông (Hương Thủy,  
Thừa Thiên)  
Nguồn: Trương Anh Thuận tổng hợp từ Đại Nam thực lục – năm 2002, 2006(2).  
Thiên. Dưới thời Thiệu Trị, ngoài 1 lần  
Bắc tuần vào tháng giêng năm 1842  
và 7 lần tuần du các địa phương trong  
phủ Thừa Thiên thì việc đi thăm các  
tỉnh gần Kinh thành có tiền lệ từ trước  
đó đã không được tiến hành. Vua Tự  
Đức, có 37 lần tuần du nhưng chỉ  
trong phạm vi phủ Thừa Thiên.  
2. QUY MÔ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA CÁC  
CUỘC TUẦN DU  
Từ các ghi chép trong Đại Nam thực  
lục, có thể chia phạm vi địa lý trong  
các cuộc tuần du của hoàng đế triều  
Nguyễn thành ba cấp độ: thứ nhất là  
tuần du cả một khu vực rộng lớn (Bắc  
tuần), thứ hai là tuần du các tỉnh thành  
lân cận Kinh đô và thứ ba là tuần du  
các địa phương trong phủ Thừa Thiên.  
Theo thống kê, 4 vị hoàng đế có 98  
cuộc tuần du, thì có 4 cuộc tuần du  
thuộc cấp độ thứ nhất, 11 cuộc thuộc  
cấp độ thứ hai và 83 cuộc thuộc cấp  
độ thứ ba. Thời vua Gia Long, mặc dù  
tuần du ít hơn (8 lần) so với Minh  
Thống kê còn cho thấy giai đoạn  
1802-1883, các hoàng đế triều  
Nguyễn chỉ thực hiện việc tuần du, thị  
sát từ Quảng Nam trở ra Bắc không  
thấy tuần du vào các địa phương phía  
Nam, thuật ngữ “Nam tuần” cũng  
không thấy trong Đại Nam thực lục.  
Tuy nhiên, căn cứ vào bối cảnh lịch  
Mệnh (45 lần) và Tự Đức (37 lần) sử của giai đoạn 1802-1883, có thể  
nhưng ông lại có 2 lần Bắc tuần (các đoán định, có lẽ các hoàng đế triều  
năm 1802, 1803), 5 lần đi thăm các Nguyễn cho rằng khu vực từ phủ  
vùng đất Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên trở vào vốn là vùng đất  
nằm dưới sự cai quản của các chúa  
Nguyễn xưa và cũng là chỗ dựa vững  
chắc giúp Gia Long khôi phục lại  
vương nghiệp của dòng họ; còn  
phương Nam quan lại địa phương và  
tầng lớp địa chủ vốn khá trung thành  
với triều đình. Trong khi đó, ở giai đoạn  
đầu thiết lập vương triều, việc muốn  
nắm bắt thực trạng đời sống của dân  
Quảng Nam (các năm 1803, 1809,  
1810, 1813), 1 lần tuần du địa phận  
phủ Thừa Thiên (năm 1805). Vua  
Minh Mệnh trị vì 20 năm (45 lần tuần  
du) thì 1 lần Bắc tuần, 6 lần tuần du  
các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị,  
Quảng Nam (các năm 1825, 1826,  
1827, 1835, 1836, 1837), 38 lần đi  
thăm các địa phương trong phủ Thừa  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
62  
chúng tại các địa phương từ Quảng xét địa phương, xem phong tục, thực  
Trị trở ra Bắc sau một thời gian dài là phép hay của đế vương xưa. Đời  
Nghiêu Thuấn 5 năm đi tuần 1 lần, 1  
năm đi khắp núi lớn ở bốn phương…  
Người làm vua mỗi lần đi tuần du là  
một lần kẻ hạ dân được giúp đỡ,  
được nghỉ ngơi. Xét những điều đó  
chép trong các sử sách đều đáng soi  
gương. Từ trước đến nay, trẫm cũng  
bắt chước phép xưa mà làm… Đi tuần  
để nhân đó gia ơn cho làng mạc, xem  
xét các quan lại, khiến sự tình kẻ dưới  
có gì bị che lấp oan uổng, đều được  
thông đạt lên trên. Trẫm quyết không  
ngại khó nhọc một mình mà không  
đoái đến ẩn tình của muôn dân” (Quốc  
sử quán triều Nguyễn, tập 4, 2006:  
910-912). Đây có lẽ là một trong số ít  
những lần hiếm hoi mà các sử thần  
triều Nguyễn có thể ghi chép lại một  
cách cụ thể, rõ ràng suy nghĩ của một  
vị hoàng đế triều Nguyễn về mục đích  
của hoạt động tuần du các địa  
phương.  
trải qua binh lửa chiến trận nên Gia  
Long đã liên tục tiến hành 2 cuộc Bắc  
tuần vào năm 1802 và 1803. Đến thời  
Minh Mệnh, Thiệu Trị, việc thực hiện  
Bắc tuần ngoài mục đích khảo sát tình  
hình các địa phương thì còn kết hợp  
với việc nhận sắc phong từ triều đình  
Mãn Thanh. Đối với hoạt động đi thăm  
các tỉnh lân cận, vua Gia Long và  
Minh Mệnh cũng chỉ tập trung ở một  
số địa phương như Quảng Bình,  
Quảng Trị, Quảng Nam; các cuộc tuần  
du trên địa phận phủ Thừa Thiên, nơi  
các hoàng đế thường xuyên lui tới,  
thăm thú là cửa biển Thuận An, sông  
Lợi Nông (Hương Thủy, Thừa Thiên),  
núi Thúy Hoa(3), cửa biển Tư Hiền  
(Phú Lộc, Thừa Thiên). Mặc dù Đại  
Nam thực lục không ghi chép nhiều về  
mục đích tuần du, tuy nhiên, thông  
qua những việc làm trong quá trình  
tuần du của các vị vua có thể xác định  
ý nghĩa tích cực của hoạt động này. Ví  
dụ: tháng 3 năm 1836, nhân sự việc  
Bố chính Quảng Nam kiêm Hộ lý Tuần  
phủ Nam-Ngãi là Phan Thanh Giản có  
lời can ngăn vua không nên đi tuần du  
Tuy nhiên, mục đích của việc tuần du  
tùy vào bối cảnh lịch sử bấy giờ mà  
được biểu hiện với các chiều hướng  
cụ thể khác nhau. Ví dụ, sau khi lên  
ngôi, vua Gia Long đã tiến hành liên  
địa phương này vào tháng 5, vì sợ tục 2 cuộc Bắc tuần (từ tháng 5 năm  
1802 đến tháng 2 năm 1803 và từ  
tháng 8 năm 1803 đến tháng 2 năm  
1804), ngoài xem xét dân tình, chấn  
chỉnh hoạt động quan lại các địa  
phương, vua Gia Long còn có mục  
đích truy sát số quân Tây Sơn còn lại  
đang ẩn náu ở các địa phương từ  
Quảng Trị trở ra Bắc. Tháng giêng  
năm 1842, vua Thiệu Trị tuần du phía  
Bắc, thị sát đời sống, phong tục trong  
ảnh hưởng đến việc nông vụ của dân  
chúng, vua Minh Mệnh tỏ ra không hài  
lòng và thể hiện rõ quan điểm của ông  
về mục đích của hoạt động tuần du  
như sau: “Việc đi tuần du nguyên có  
hai ý nghĩa: nếu chỉ lấy việc đi chơi  
làm vui, mà chẳng quan tâm đến việc  
dân, thì thực không nên; nếu thời  
thường tuần du các nơi, nhân đó để  
TRƯƠNG ANH THUẬN – BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG…  
63  
dân chúng, sửa đổi việc xét xử, dân 3. THỜI ĐIỂM VÀ THỜI LƯỢNG  
chính các địa phương, nhưng chủ yếu TIẾN HÀNH TUẦN DU  
là ra Thăng Long để nhận sắc phong  
từ sứ thần nhà Thanh (Trung Quốc)  
thấy thời điểm thực hiện các cuộc  
(Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 6,  
2006: 289). Hay dưới thời Tự Đức,  
trong Đại Nam thực lục không ít lần  
động tuần du của các vua triều  
ghi chép việc nhà vua đi tuần du cửa  
Thống kê từ Đại Nam thực lục cho  
tuần du như sau (Bảng 1).  
Từ bảng thống kê, có thể thấy hoạt  
Nguyễn chủ yếu từ tháng giêng đến  
biển Thuận An, bên cạnh mục đích  
tháng sáu hàng năm, nhất là vào  
giải trí, nghỉ ngơi thì các lần ấy cũng là  
tháng tư và tháng năm. Đây là “truyền  
dịp để Tự Đức xem xét tình hình huấn  
thống” của các tiên đế được các vị  
luyện thủy binh và việc phòng thủ tại  
cửa biển trọng yếu này (Quốc sử  
đó, có thể vì đây chính là lúc đất trời  
quán triều Nguyễn, tập 7, 2006: 165-  
166, 277, 1064, 1235, 1282; tập 8: 20,  
hậu ôn hòa (xuân), nắng ráo (hạ), ít  
33, 125-126, 246). Từ những phân  
tích ở trên, có thể thấy, việc tiến hành  
lụt…), thuận lợi cho việc đi lại, thăm  
tuần du các địa phương của hoàng đế  
vua triều Nguyễn kế thừa. Bên cạnh  
bước vào mùa xuân và mùa hạ, khí  
xuất hiện thiên tai (mưa gió, bão, lũ  
thú.  
triều Nguyễn, dù ở quy mô nào thì  
cũng đều có sự kết hợp nhiều mục  
Tùy vào quy mô địa lý của các cuộc  
tuần du mà thời gian diễn ra hoạt  
đích khác nhau.  
Bảng 1. Số lần tuần du địa phương của hoàng đế triều Nguyễn (1802-1883) phân bố  
theo các tháng trong năm  
Triều vua  
Gia Long  
8
Minh Mệnh  
Thiệu Trị  
Tự Đức  
Tổng cộng  
Số lần tuần du  
Tháng  
45  
8
37  
98  
Tháng giêng  
Tháng hai  
0
0
2
2
2
1
0
1
0
0
0
0
6
3
2
1
1
0
2
1
0
0
0
0
1
0
3
2
11  
6
Tháng ba  
6
0
9
Tháng tư  
6
9
17  
26  
14  
2
Tháng năm  
Tháng sáu  
10  
6
12  
6
Tháng bảy  
2
0
Tháng tám  
Tháng chín  
Tháng mười  
Tháng mười một  
Tháng mười hai  
1
1
3
0
1
1
2
0
2
1
0
2
2
3
5
Nguồn: Trương Anh Thuận tổng hợp từ Đại Nam thực lục – năm 2002, 2006(4).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
64  
động này dài ngắn khác nhau. Trong thời Tự Đức, các chuyến đi trong khu  
số 83 cuộc tuần du của 4 hoàng đế có vực phủ Thừa Thiên có xu hướng  
41 cuộc được Đại Nam thực lục ghi tăng lên về thời lượng, khi xuất hiện  
chép lại thời lượng chính xác: 1 ngày ngày càng nhiều các cuộc hành trình  
có 3 cuộc, 2 ngày có 16 cuộc, 3 ngày kéo dài 4, 5, 6, và 7 ngày.  
có 5 cuộc, 4 ngày có 1 cuộc, 5 ngày  
Theo ghi chép trong Đại Nam thực lục  
có 13 cuộc, 6 ngày có 1 cuộc và 7  
các cuộc tuần du tại Quảng Nam,  
ngày có 2 cuộc(5). Như vậy, hoạt động  
Quảng Trị, Quảng Bình chỉ xuất hiện  
thị sát các địa phương trong phủ Thừa  
dưới thời vua Gia Long, Minh Mệnh từ  
Thiên thường diễn ra trong khoảng  
5 đến 14 ngày, có lần chỉ 3 ngày, như  
thời gian không quá 7 ngày. Nếu như  
cuộc tuần du Quảng Trị của vua Minh  
dưới thời Gia Long, Minh Mệnh và  
Mệnh từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 7  
Thiệu Trị, thời gian của mỗi cuộc tuần  
năm 1836 (Quốc sử quán triều  
du dao động trong khoảng từ 1 đến 3  
Nguyễn, tập 4, 2006: 977-979).  
ngày là tương đối phổ biến, thì sang  
Bảng 3. Thời lượng các cuộc tuần du một số tỉnh gần kinh thành của vua Gia Long và  
Minh Mệnh  
Triều vua  
Địa điểm tuần du  
Thời gian  
Thời lượng  
Gia Long Quảng Trị, Quảng Bình Từ ngày Tân Mùi đến ngày Canh Thìn 10 ngày  
tháng 2 năm Gia Long thứ 2 (1803)  
Quảng Trị  
Từ ngày Giáp Tuất đến ngày Canh Thìn 8 ngày  
tháng 3 Gia Long năm thứ 8 (1809)  
Quảng Nam  
Từ ngày Canh Tuất đến ngày Nhâm Tuất 13 ngày  
tháng 5 Gia Long năm thứ 8 (1809)  
Quảng Trị, Quảng Bình Từ ngày Đinh Dậu đến ngày Đinh Mùi 11 ngày  
tháng 4 Gia Long năm thứ 9 (1810)  
Quảng Nam  
Quảng Nam  
Quảng Bình  
Từ ngày Mậu Dần đến ngày Tân Mão 14 ngày  
tháng 5 Gia Long năm thứ 12 (1813)  
Minh  
Mệnh  
Từ ngày Ất Mùi đến ngày Quý Mão tháng 9 ngày  
5 Minh Mệnh năm thứ 6 (1825)  
Từ ngày Tân Dậu đến ngày Mậu Thìn 8 ngày  
tháng 4 Minh Mệnh năm thứ 7 (1826)  
Đà Nẵng, Quảng Nam Từ ngày Ất Dậu đến ngày Nhâm Thìn 8 ngày  
tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 8 (1827)  
Quảng Trị  
Quảng Trị  
Quảng Nam  
Từ ngày Tân Sửu đến ngày Ất Tỵ tháng 4 5 ngày  
Minh Mệnh năm thứ 16 (1835)  
Từ ngày Nhâm Thìn đến ngày Giáp Ngọ 3 ngày  
tháng 7 Minh Mệnh năm thứ 17 (1836)  
Từ ngày Ất Mão đến ngày Giáp Tý tháng 10 ngày  
4 Minh Mệnh năm thứ 18 (1837)  
Nguồn: Trương Anh Thuận tổng hợp từ Đại Nam thực lục lục – năm 2002, 2006(6).  
TRƯƠNG ANH THUẬN – BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG…  
65  
Còn đối với việc tuần du một khu vực biển Tư Hiền và núi Thúy Hoa (Phú  
rộng lớn từ Quảng Trị đến Hà Nội Lộc, Thừa Thiên) (Quốc sử quán triều  
(Bắc tuần), thì ít nhất là 4 tháng, như Nguyễn, tập 5, 2006: 86, 113-114, 322;  
cuộc Bắc tuần dưới thời Minh Mệnh Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 8,  
(từ tháng 10 năm 1821 đến tháng 2006: 34, 242, 247, 287, 288, 294,  
giêng năm 1822) (Quốc sử quán triều 476) nên đoàn tuần du của nhà vua  
Nguyễn, tập 2, 2006: 157-166, 178- phải đồng thời sử dụng cả hai phương  
179) và Thiệu Trị (từ tháng giêng đến thức di chuyển.  
tháng 4 năm 1842) (Quốc sử quán  
Sự kết hợp giữa di chuyển bằng  
triều Nguyễn, tập 6, 2006: 289), và có  
đường thủy và đường bộ thể hiện rõ  
thể kéo dài từ 6 đến 8 tháng, như  
trong những chuyến tuần du có quy  
cuộc Bắc tuần ở thời vua Gia Long (từ  
mô địa lý lớn đến các tỉnh khu vực  
tháng 5 năm 1802 đến tháng 10 năm  
phía Bắc. Đó là lần vua Gia Long Bắc  
1802 và từ tháng 7 năm 1803 đến  
tuần đi đường bộ qua khu vực từ  
tháng 2 năm 1804) (Quốc sử quán  
Quảng Trị đến Nghệ An, nhưng khi  
triều Nguyễn, tập 1, 2002: 498-505,  
đến Thanh Hóa, nhà vua lại chọn đi  
529-530, 547, 569-573, 582-588).  
đường thủy ra Ninh Bình và về Thăng  
4. PHƯƠNG THỨC TIẾN HÀNH VÀ  
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ TRONG  
CÁC CHUYẾN TUẦN DU  
Long (Quốc sử quán triều Nguyễn,  
tập 1, 2002: 569-573, 582-588). Hay  
trong chuyến Bắc tuần vào tháng 10  
năm 1821, vua Minh Mệnh đi bằng  
đường thủy đến các tỉnh Quảng Trị,  
Quảng Bình, rồi từ đây đi đường bộ  
thăm thú một số địa phương Nghệ An,  
Thanh Hóa, Ninh Bình trước khi đến  
Bắc thành (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, tập 2, 2006: 157-166, 178-  
179).  
Tùy quy mô địa lý của cuộc tuần du,  
nhất là đặc điểm địa hình, thủy văn  
thời tiết của địa điểm sắp đến mà  
đoàn hộ giá lựa chọn phương thức di  
chuyển, bằng đường bộ hay đường  
thủy. Khi tiến hành tuần du các địa  
phương trong phủ Thừa Thiên, đối với  
những nơi gắn liền với sông, biển như  
Thuận An, Tư Dung, Lợi Nông…, triều  
đình thường lựa chọn di chuyển bằng  
đường thủy (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, tập 2, 2006: 409; Quốc sử  
quán triều Nguyễn, tập 4, 2006: 652,  
821, 903). Tuy nhiên, trong mỗi chuyến  
tuần du, nhà vua có thể đến thăm  
nhiều địa điểm với điều kiện tự nhiên  
khác nhau, chẳng hạn như kết hợp đi  
thăm cửa biển Thuận An hoặc cửa  
Sử liệu ghi chép trong Đại Nam thực  
lục mặc dù không quá nhiều, nhưng  
cũng đủ để thấy cả hai phương thức  
di chuyển đều được đoàn hộ giá  
chuẩn bị mỗi khi vua tuần du, như  
cuộc tuần du Quảng Nam (tháng 4  
năm 1837) của vua Minh Mệnh: “ngày  
Ất Mão, xe vua tự Kinh sư khởi hành,  
thuyền vua theo sông Hương tiến đến  
hành cung Phúc Tượng. Ngày Bính  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
66  
Thìn, xe vua đến hành cung Hải nhà vua đã hạ chiếu sửa lại sổ điền  
Vân… Ngày Đinh Tỵ đến hành cung của các địa phương ở Bắc Hà, nhằm  
Đà Nẵng… Ngày Tân Dậu, thuyền vua  
đến thành tỉnh Quảng Nam. Đến ngày  
Nhâm Tuất, xe vua trở về, sai tế thần  
biển. Ngày Giáp Tý, xe vua về đến  
Kinh thành” (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, tập 5, 2006: 69-72).  
kiểm soát chặt chẽ vấn đề ruộng đất  
và tô thuế trên toàn khu vực (Quốc sử  
quán triều Nguyễn, tập 1, 2002: 583).  
Cũng trong thời gian này, Gia Long  
còn ban định điều lệ hương đảng cho  
các xã dân ở Bắc Hà, với mục đích  
chấn chỉnh, sửa đổi phong tục, nghi lễ  
ở các địa phương đúng theo truyền  
thống của dân tộc (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, tập 1, 2002: 583).  
Sau một thời gian lên ngôi, vua  
thường tuần du để biết rõ hơn tình  
hình công việc cai trị, thái độ làm việc  
của quan lại địa phương, đời sống và  
tâm tư của dân binh; hoặc ân thưởng,  
giảm tô thuế, phát chẩn,…  
Thứ hai, nhắc nhở, chấn chỉnh thái độ  
làm việc của quan lại địa phương.  
Trong Đại Nam thực lục ghi: tháng 10  
Dựa vào các tư liệu được ghi chép  
trong Đại Nam thực lục, có thể thấy năm 1821, Minh Mệnh tiến hành Bắc  
các hoạt động này được biểu hiện tập  
trung ở một số phương diện sau:  
tuần. Khi đặt chân đến Nghệ An, thấy  
các hành cung ở đây xây dựng quá to  
rộng, vua tỏ ra không hài lòng, quở  
mắng quan lại sở tại. Minh Mệnh năm  
thứ 6 (1825), tháng 3, khi nhà vua đi  
thăm cửa biển Tư Dung, thấy nơi này  
phù sa bồi đắp quá dày, nhiều lần  
khơi đào nhưng chưa thể lưu thông  
dòng nước, nhà vua yêu cầu quan  
quân cũng như dân địa phương phải  
chăm chỉ và kiên trì thực hiện công  
việc trên, để đảm bảo tàu thuyền có  
thể ra vào cửa biển trọng yếu này  
(Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 2,  
2006: 409). Minh Mệnh năm thứ 8  
(1827), tháng 5, nhà vua đi tuần du  
Quảng Nam: khi thuyền ngự từ Hóa  
Khê đến bến Dinh Thành, vì đường  
sông có chỗ nông, nên phải mướn  
dân khơi đào. Tuy nhiên, quan lại sở  
Thứ nhất, sắp đặt lại công việc cai trị,  
sửa đổi phong tục, nghi lễ của các địa  
phương. Trong Đại Nam thực lục ghi:  
tháng 5 năm 1802, Gia Long tiến hành  
Bắc tuần. Khi đoàn tuần du đến Nghệ  
An, nhà vua đã dừng lại vài ngày để  
duyệt xét các loại ghe thuyền, kiểm tra  
sổ quân, lương thực, đo đạc lại  
đường xá (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, tập 1, 2002: 499). Sau đó, khi  
đến Thăng Long, để ổn định tình hình  
các địa phương ở Bắc thành, Gia  
Long đã cho sắp đặt lại công việc cai  
trị trên toàn khu vực, bằng cách sai các  
quan văn võ chia trị các trấn. Trong đó,  
mỗi trấn đặt ba viên quan: Trấn thủ,  
Hiệp trấn và Tham trấn (Quốc sử quán  
triều Nguyễn, tập 1, 2002: 504). Đến  
tháng giêng, năm 1804, đoàn tuần du tại cho rằng, dân phu làm việc, nước  
của vua Gia Long từ Thăng Long trở lên mới làm còn nước xuống lại nghỉ,  
về Kinh đô Huế, khi đến Thanh Hoa,  
nên làm 2 ngày thì chỉ dồn tính 1 ngày  
TRƯƠNG ANH THUẬN – BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG…  
67  
để chi cấp tiền gạo. Minh Mệnh không phương từ Quảng Trị trở ra Bắc diễn  
ra từ tháng 10 năm 1821 đến tháng  
giêng năm 1822, Minh Mệnh cũng  
nhiều lần việc miễn giảm tô thuế, phát  
chẩn, thưởng tiền cho dân chúng các  
địa phương.  
đồng tình với ý kiến như vậy, ông  
nhắc nhở quan lại: “Việc tuần hành  
muốn gia ơn cho chốn thôn quê, nếu  
là tiện cho dân thì dẫu phí đến hàng  
vạn cũng không tiếc, huống là việc  
khơi sông, dùng đến nhân công, dẫu  
chưa làm hết ngày nhưng khó nhọc  
cũng hết một ngày, nay theo đó mà so  
kè thời khắc thì có phải là ý Trẫm yêu  
dân thế đâu” (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, tập 2, 2006: 620); đồng thời,  
nhà vua hạ lệnh cho quan lại địa  
phương phải cấp đủ gạo tiền từng  
ngày cho dân phu.  
Dưới thời Thiệu Trị và Tự Đức, mặc  
dù việc miễn giảm tô thuế, phát chẩn,  
thưởng tiền cho dân chúng trong các  
lần tuần du không thấy ghi chép nhiều  
trong Đại Nam thực lục, tuy nhiên,  
thông qua một vài chi tiết, có thể thấy  
hoạt động này vẫn tiếp tục được hai  
hoàng đế duy trì, như vua Thiệu Trị  
năm thứ 4 (1844), tháng giêng, nhà  
vua đi thăm chơi phía đông Kinh  
thành. Khi xa giá trở về, Thiệu Trị ra  
lệnh thưởng 2000 quan tiền cho các  
xã dân đón rước ở hai bên đường  
(Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 6,  
2006: 567).  
Thứ ba, miễn giảm tô thuế, phát chẩn,  
thưởng tiền cho dân chúng các địa  
phương. Dân chúng vì phải trải qua  
binh lửa chiến trận trong một thời gian  
dài nên khi nắm quyền thống trị toàn  
bộ đất nước, trong các chuyến tuần  
du, Gia Long thường xuyên thực hiện  
việc miễn giảm tô thuế, phát chẩn đối  
với những địa phương gặp thiên tai,  
bệnh dịch, đồng thời gia ân cho nhân  
dân các địa phương bằng cách ban  
thưởng tiền. Đó là: vào tháng 5 năm  
Gia Long thứ nhất (1802), trên đường  
Bắc tuần đến Thanh Hóa, nhà vua đã  
ra lệnh hoãn việc tuyển binh và nộp tô  
thuế cho địa phương này nhằm khoan  
thư sức dân (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, tập 1, 2002: 500). Gia Long  
năm thứ 2 (1803), tháng 8, trong  
chuyến Bắc tuần thứ hai, khi đến châu  
Bố Chánh ngoại (tức tỉnh Hà Tĩnh  
ngày nay), trước cảnh dân chúng nơi  
đây bị đói kém, nhà vua đã sai phát  
1500 phương gạo kho để chẩn cấp.  
Còn trong chuyến tuần du các địa  
Thứ tư, ân thưởng cho quan quân các  
địa phương. Trong quá trình tuần du,  
hoàng đế triều Nguyễn ghi nhận công  
lao của quan lại, binh lính các địa  
phương về công việc xây dựng, tu  
sửa hành cung, chuẩn bị đón tiếp  
hoặc giải quyết những sự vụ phát sinh  
đột xuất đối với đoàn tuần du khi đang  
ở trên địa bàn của mình. Đặc biệt, để  
động viên, khích lệ đội ngũ quan quân  
ở các địa phương, làm cho họ ngày  
càng trung thành hơn với triều đình và  
thực hiện tốt chức trách của mình trên  
các lĩnh vực khác nhau, nên các  
hoàng đế triều Nguyễn thường ân  
thưởng cho họ trong các lần tuần du.  
Gia Long năm thứ 8 (1809), tháng 3,  
khi đi thăm Quảng Trị, nhà vua đã  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
68  
thưởng 2000 quan tiền cho binh lính nếu ai có việc gì cần tâu báo hoặc có  
địa phương, vì đã tham gia vào việc nội tình oan ức thì có thể đón đoàn  
xây dựng hai kho Quảng Thịnh và tuần du để đệ đơn kêu oan. Gia Long  
Quảng Chừ theo lệnh của nhà vua năm thứ 2 (1803), tháng 2, khi nhà  
(Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 1, vua đi tuần du Quảng Bình, Quảng Trị  
2002: 749). Gia Long năm thứ 12 đã cho phép dân chúng tại các địa  
(1813), tháng 5, nhà vua đi tuần du phương mà đoàn tuần du đi qua, nếu  
Quảng Nam, đã hạ lệnh phát thưởng có oan uất thì được đến hành tại để  
3000 quan tiền cho các binh lính địa tâu bày. Nhà vua sẽ đích thân xem xét  
phương này, vì đã có công nạo vét các sự việc đó. Nghe vậy, dân chúng  
sông Hà Thân (Quốc sử quán triều vô cùng vui mừng (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, tập 1, 2002: 862).  
Nguyễn, tập 1, 2002: 547). Đến tháng  
7 năm 1803, trên đường Bắc tuần,  
Gia Long đã sắc cho các xã dân từ  
Nghệ An ra Bắc, nếu ai có việc đau  
khổ hay bị kẻ mạnh ức hiếp thì cho  
phép được tâu bày hoặc đệ đơn lên  
để nhà vua xem xét, giải quyết (Quốc  
sử quán triều Nguyễn, tập 1, 2002:  
570). Minh Mệnh năm thứ 2 (1821),  
tháng 10, khi đoàn Bắc tuần của  
hoàng đế đến Nghệ An, dân chúng địa  
phương này biết tin nên đã đón dâng  
hàng trăm tấu sớ mỗi ngày. Trước  
thực tế như vậy, Minh Mệnh dụ cho  
bộ Lại phải tiếp nhận tất cả các tấu sớ  
Dưới thời Minh Mệnh, trong các lần  
tuần du, vua ân thưởng cho quan lại  
và quân lính địa phương thường  
xuyên hơn. Minh Mệnh năm thứ 2  
(1821), tháng 10, khi thực hiện Bắc  
tuần và dừng chân ở Nghệ An, nhà  
vua đã ân thưởng cho quan Trấn thủ  
Nguyễn Văn Xuân (tuy tuổi đã cao  
nhưng rất tận tụy với công việc) 1  
thanh kiếm Tây chạm mạ vàng, 1  
khẩu súng Tây, đồng thời cho 19  
người Vệ úy, Phó Vệ úy Vệ Thần sách  
ở trấn Nghệ An, mỗi người 1 thanh  
kiếm Tây mạ bạc, 1 khẩu súng Tây  
mạ vàng (Quốc sử quán triều Nguyễn, và cần phân định rõ tính chất của các  
tập 2, 2006: 160). Dưới thời Tự Đức, sự việc được đệ trình, để có cách giải  
việc ân thưởng cho quan quân các địa  
phương trong các lần tuần du vẫn  
được hoàng đế duy trì.  
quyết hợp lý và kịp thời: “Trẫm có việc  
Bắc tuần, nhân xem xét địa phương,  
hỏi han phong tục, nay dân đem nỗi  
đau khổ mà kêu, sao nỡ làm lơ.  
Nhưng trong lúc đi qua dọc đường, có  
thể làm rõ lẽ ngay sao được? Vậy nên  
chấp đơn, đợi sau khi hồi loan sẽ giải  
quyết. Duy những sự tình cấp thiết và  
quan lại tham nhũng thì tâu ngay”  
(Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 2,  
2006: 159). Minh Mệnh năm thứ 18  
Thứ năm, tiếp nhận và giải quyết các  
tấu sớ khiếu kiện hoặc kêu oan của  
dân chúng các địa phương mà đoàn  
tuần du đi qua. Ghi chép trong Đại  
Nam thực lục cho biết, mỗi lần tiến  
hành tuần du, các hoàng đế triều  
Nguyễn đều sai quan lại bố cáo cho  
dân chúng các địa phương được biết,  
TRƯƠNG ANH THUẬN – BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG…  
69  
(1837), tháng 4, khi tiến hành tuần du Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức đã  
tiến hành nhiều cuộc tuần du trong  
phạm vi phủ Thừa Thiên cũng như  
các địa phương lân cận Kinh thành  
(Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình)  
và đặc biệt là các cuộc Bắc tuần. Trên  
thực tế, để thực hiện các cuộc tuần du,  
dù ở quy mô nào thì các hoàng đế và  
nhất là đội ngũ quan lại đi theo hộ giá  
cũng phải có sự chuẩn bị chu đáo,  
tính toán kỹ lưỡng và lên kế hoạch chi  
tiết về thời điểm, thời gian tiến hành,  
phương thức di chuyển. Nguồn sử  
liệu cho thấy tùy vào bối cảnh cụ thể  
của từng triều vua mà việc tuần du  
được thực hiện với nhiều mục đích cụ  
thể khác nhau như nắm bắt tình cảnh  
của dân chúng, chấn chỉnh hoạt động  
của đội ngũ quan lại các địa phương,  
thụ lý, xét xử các vụ việc oan sai trong  
thiên hạ, khảo sát việc phòng thủ ở  
nơi hiểm yếu. Chính điều đó đã khiến  
cho hoạt động tuần du của các hoàng  
đế triều Nguyễn trong giai đoạn 1802-  
1883 mang một ý nghĩa tích cực nhất  
định.  
Quảng Nam, vua lại truyền lệnh cho  
đặt trước các sở hành cung thuộc địa  
phương này một cái trống, gọi là trống  
đăng văn, người nào có điều gì oan  
uổng thì được đánh trống giải bày.  
Các quan lại đi trong đoàn tuần du  
phải phân công nhau, luân phiên tiếp  
nhận đơn từ để biết rõ lòng dân (Quốc  
sử quán triều Nguyễn, tập 5, 2006:  
69). Dưới thời Tự Đức, việc sử dụng  
trống đăng văn để kêu oan của dân  
chúng các địa phương mà đoàn tuần  
du đi qua vẫn tiếp tục được duy trì.  
Tháng 5 năm 1853, khi Tự Đức đi  
tuần du cửa biển Thuận An, có người  
đón đường kêu kiện, nhưng bị thị vệ  
ngăn cản. Nhà vua sai quan lại tiếp  
nhận đơn và “hạ lệnh cho quan dân,  
ai có tình trạng bị sách nhiễu, bức  
bách mà khiếu khống không được, thì  
đánh trống đăng văn để tố cáo” (Quốc  
sử quán triều Nguyễn, tập 7, 2006: 277).  
5. KẾT LUẬN  
Trong giai đoạn 1802-1883, 4 vị  
hoàng đế triều Nguyễn là Gia Long,  
CHÚ THÍCH  
(1) Cần lưu ý rằng, chỉ có những chuyến đi của hoàng đế đến các địa phương trong nước thì  
mới được gọi là tuần du. Còn thuật ngữ kinh lý (經理), 古代漢語詞典 (Từ điển Hán ngữ cổ đại),  
có 3 ý nghĩa: một là thường lý (常理), có nghĩa là quy tắc hoặc đạo lý thông thường; hai là trị  
lý [治理], tức là sắp đặt, sửa sang, sửa trị, lo liệu, quản lý; ba là liệu lý (料理) có nghĩa là xử lý,  
chỉnh đốn. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2003) giải thích, kinh lý là “đi kiểm tra  
xem xét tình hình ở các địa phương (nói về quan chức viên chức cao cấp trong chế độ cũ)”.  
Từ một số cách giải thích trên đây, có thể hiểu kinh lý là thuật ngữ gốc Hán, dùng để chỉ việc  
các quan lại cao cấp trong triều đình nhận mệnh lệnh của hoàng đế đi kiểm tra, xem xét, xử  
lý, chấn chỉnh các sự vụ ở địa phương. Đây là hoạt động thực thi nhiệm vụ mang tính chất  
quan phương gắn liền với vai trò của các quan lại chứ không phải là một cuộc thăm chơi  
các địa phương (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2006: 1366; Viện Ngôn ngữ học, 2003:  
529, 1061; 古代汉语词典编写组编, 2002: 811).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (275) 2021  
70  
(2) Cụ thể từ các tập: tập 1: tr. 498-505, 529-530, 547, 569-573, 582-588, 634, 749, 754-755,  
784-785, 862, 922; tập 2: tr. 119, 157-166, 178-179, 255, 409, 427-428, 474, 494, 499-500,  
573, 620; tập 3: tr.129, 158, 172, 263, 268, 318, 446, 455, 574; tập 4: tr. 380, 616-619, 628,  
652, 668, 692, 821, 895, 900, 903, 922, 935-936, 977-979, 984, 999; tập 5: tr. 40, 57, 69-72,  
86, 113-114, 322, 523, 525, 688, 717, 737; tập 6: tr. 289, 472, 567, 675-676, 741-742, 839,  
1026, 1030; tập 7: tr. 165-166, 168, 193, 201, 277, 417, 512, 837, 1064, 1156, 1174-1175,  
1206, 1235, 1269, 1282, 1308, 1349, 1390; tập 8: tr. 20, 33, 34, 125-126, 241, 242, 246,  
247, 286-287, 287, 288, 290, 294, 294, 345, 476, 478, 539, 574-575.  
(3) Núi này ở huyện Phú Lộc (Thừa Thiên) nguyên tên là Mỹ Yêm, năm Minh Mệnh thứ 6 đổi  
tên là Thúy Hoa, sau này vì húy chữ “Hoa” nên biên làm chữ “Ba”, đến năm Thiệu Trị thứ  
nhất đổi gọi là Thúy Vân (Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 5, 2006: 525).  
(4) Cụ thể từ các tập: tập 1: tr. 498-505, 529-530, 547, 569-573, 582-588, 634, 749, 754-755,  
784-785, 862, 922; tập 2: tr. 119, 157-166, 178-179, 255, 409, 427-428, 474, 494, 499-500,  
573, 620; tập 3: tr.129, 158, 172, 263, 268, 318, 446, 455, 574; tập 4: tr. 380, 616-619, 628,  
652, 668, 692, 821, 895, 900, 903, 922, 935-936, 977-979, 984, 999; tập 5: tr. 40, 57, 69-72,  
86, 113-114, 322, 523, 525, 688, 717, 737; tập 6: tr. 289, 472, 567, 675-676, 741-742, 839,  
1026, 1030; tập 7: tr. 165-166, 168, 193, 201, 277, 417, 512, 837, 1064, 1156, 1174-1175,  
1206, 1235, 1269, 1282, 1308, 1349, 1390; tập 8: tr. 20, 33, 34, 125-126, 241, 242, 246,  
247, 286-287, 287, 288, 290, 294, 294, 345, 476, 478, 539, 574-575.  
(5) Cụ thể từ các tập: , tập 1: tr. 634; tập 3: tr.172, 318; tập 4: tr. 652, 668, 895, 922, 935-936,  
984, 999; tập 5: tr. 40, 525, 717; tập 6: tr. 472, 741-742, 1026, 1030; tập 7: tr. 165-166, 168,  
201, 277, 417, 512, 1235, 1282; tập 8: tr. 33-34, 125-126, 241-242, 246-247, 286-288, 290,  
294, 345, 476, 478, 539.  
(6) Cụ thể từ các tập: tập 1: tr. 547, 749, 754-755, 784-785, 862; tập 2: tr. 427-428, 499-500,  
620; tập 4: tr. 616-619, 977-979; tập 5: tr. 69-72.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Quốc sử quán triều Nguyễn. 2002. Đại Nam thực lục – tập 1. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  
2. Quốc sử quán triều Nguyễn. 2006. Đại Nam thực lục – tập 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8. Hà Nội:  
Nxb. Giáo dục.  
3. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. 2006. Từ điển Trung-Việt. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã  
hội.  
4. Viện Ngôn ngữ học. 2003. Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng.  
5. 古代漢語詞典編寫組編. 2002. 古代漢語詞典. 北京: 商務印書館.  
pdf 15 trang Thùy Anh 22500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu nghiên cứu hoạt động tuần du của hoàng đế triều Nguyễn (1802-1883) qua nguồn sử liệu Đại Nam thực lục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_nghien_cuu_hoat_dong_tuan_du_cua_hoang_de_trieu_ngu.pdf