Chống bán phá giá – công cụ phòng vệ thương mại quan trọng cần được tăng cường sử dụng để bảo vệ sản xuất trong nước

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ  
– CÔNG CỤ PHÒNG VỆ THƢƠNG MẠI QUAN TRỌNG CẦN ĐƢỢC  
TĂNG CƢỜNG SỬ DỤNG ĐỂ BẢO VỆ SẢN XUẤT TRONG NƢỚC  
Ths. Trần Quang Phong/ Khoa Kinh tế & QTKD- ĐH Hải Phòng  
TÓM TẮT:  
Trong bối cảnh mở cửa thị trường, thực hiện các cam kết quốc tế đặc biệt là các Hiệp  
định thương mại tự do(FTA) đã ký kết, cũng như dưới tác động của cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0, các ngành sản xuất của Việt Nam đang phải đương đầu với những thách thức to  
lớn từ áp lực cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.  
Việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại phù hợp với quy định của WTO mà đặc biệt  
là công cụ chống bán phá giá được coi là rất cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp  
Việt Nam. Bài viết này trên cơ sở nghiên cứu tình hình áp dụng công cụ chống bán phá giá  
của Việt Nam thời gian qua để từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường sử dụng  
công cụ hữu ích này.  
Từ khóa: FTA, Phòng vệ thương mại, Bán phá giá, Chống trợ cấp, Tự vệ  
ĐẶT VẤN ĐỀ:  
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay,  
Việt Nam đang tích cực tham gia với việc đàm phán và ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự  
do (FTA) quan trọng với các đối tác lớn. Tuy nhiên bên cạnh những cơ hội, nền kinh tế Việt  
Nam lại đang đứng trước nhiều thách thức lớn khi phải mở cửa thị trường cho hàng hóa nước  
ngoài thông qua các cam kết cắt giảm và loại bỏ thuế quan. Mở cửa thị trường cho hàng hóa  
nước ngoài thì cũng đồng thời xuất hiện những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của  
hàng hóa nước ngoài trên thị trường Việt Nam, đặc biệt là việc giá bán quá thấp gây thiệt hại  
rất lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Với hiện tượng trên, đã từ rất sớm các nước trên thế  
giới, đặc biệt các nước phát triển đã sử dụng có hiệu quả các công cụ phòng vệ thương  
mại(PVTM) như chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại để bảo vệ các doanh  
nghiệp của mình trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu.  
Trong khi đó ở Việt Nam bởi nhiều lý do, việc sử dụng các công cụ PVTM mà đặc biệt là  
công cụ chống bán phá giá, chống trợ cấp còn rất hạn chế. Bởi vậy, việc nhận thức, nắm vững  
và tăng cường sử dụng công cụ chống bán phá giá hàng nhập khẩu là vô cùng quan trọng  
trong tình hình hiện nay.  
1.  
2. TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƢƠNG MẠI  
2.1  
Một số khái niệm:  
Có thể hiểu các biện pháp phòng vệ thương mại là một bộ phận của chính sách thương  
mại quốc tế của các quốc gia. Đó là các biện pháp được sử dụng để bảo vệ các ngành sản xuất  
trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài và nó bao gồm các biện pháp chống  
bán phá giáAD), chống trợ cấp(CVD) và tự vệ(SG).  
Trong khi các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được sử dụng nhằm  
chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu thì biện pháp tự vệ  
chủ yếu nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước tình trạng gia tăng đột biến của hàng  
hóa nhập khẩu.  
Biện pháp chống bán phá giá:  
Trong thương mại quốc tế, bán phá được hiểu là khi có hiện tượng một loại hàng hóa  
được xuất khẩu từ nước này sang nước khác với mức giá bán thấp hơn cả giá bán của hàng  
hóa đó trên thị trường nước xuất khẩu và gây thiệt hại cho ngành sản xuất hàng hóa đó ở nước  
438  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
nhập khẩu. Theo quy định của WTO, đây được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và  
biện pháp chống bán phá giá có thể được áp dụng.  
Theo quy định của WTO, biện pháp chống bán phá giá có thời hạn áp dụng tối đa là 5  
năm nhưng có thể gia hạn nhiều lần sau mỗi lần rà soát lại. Biện pháp chống bán phá giá chỉ  
có thể được áp dụng nếu cơ quan hành chính của nước nhập khẩu sau khi tiến hành điều tra  
việc bán phá giá, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 3 yếu tố sau đây:  
- Hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá với biên độ từ 2% trở lên  
- Có sự thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc đe dọa thiệt  
hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước  
- Có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và các thiệt hại kể trên  
Biện pháp chống bán phá giá về thực chất là để chống lại các hành vi cạnh tranh  
không lành mạnh và trong đó thuế chống bán phá giá là công cụ được sử dụng phổ biến nhất.  
Thuế chống bán phá giá thực tế là khoản thuế bổ sung thường là rất cao ngoài thuế nhập khẩu  
thông thường đánh vào hàng hóa nhập khẩu được xác định là bán phá giá và gây thiệt hại cho  
sản xuất trong nước.  
2.2  
Cơ sở pháp lý của biện pháp chống bán phá giá  
Theo WTO, các nguyên tắc về chống bán phá giá được quy định tại:  
Điều VI, Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch(GATT) quy định những nguyên  
tắc chung  
Hiệp định về chống bán phá giá(ADA) giải thích cụ thể cho Điều VI của Hiệp định  
GATT bao gồm các quy tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp chống  
bán phá giá  
Đối với pháp luật Việt nam, chống bán phá giá được quy định tai:  
Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/4/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc  
hội quy định về chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam  
Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi  
hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam  
Nghị định số 04/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng,  
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ  
cấp và tự vệ  
Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 5/2/2013 của Bộ Công Thương quy định quy định  
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh  
Thông tư 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục Hải  
quan, kiểm tra giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng  
hóa xuất khẩu và nhập khẩu.  
3.TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƢƠNG MẠI VÀ  
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY  
2.1 Tình hình chung  
Trong những năm vừa qua cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu thì số  
lượng các vụ kiện PVTM nước ngoài áp dụng với hàng hóa Việt Nam ngày một tăng và số  
liệu sau đây chứng tỏ điều này.  
439  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Biểu đồ 1. Số lượng các vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài tính đến  
12/2015  
Nguồn: VCA  
Xét về cơ cấu các biện pháp PVTM được sử dụng bởi nước ngoài và bởi Việt Nam  
lại có sự khác biệt rất lớn.  
Bảng 1. Số lượng các vụ điều tra PVTM đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt nam  
tính tới năm 2017  
Biện pháp PVTM  
Số vụ áp dụng biện pháp PVTM  
Chống bán phá giá  
Chống trợ cấp  
Tự vệ  
93  
9
18  
120  
Tổng số  
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Trung tâm WTO – VCCI 2017  
Biểu đồ 2. Tỷ lệ áp dụng các biện pháp PVTM đốivới hàng  
xuất khẩu Việt Nam  
SG: 15%  
CVD:  
7,5%  
AD:77,5%  
AD CVD SG  
440  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Qua số liệu trên có thể thấy phía nước ngoài chủ yếu sử dụng nhóm các biện pháp  
chống bán phá giá và chống trợ cấp(85%) mà ít sử dụng hơn biện pháp tự vệ (15%)  
Bảng 2. Số lượng các vụ điều tra PVTM của Việt nam đối với hàng hóa nhập khẩu  
tính đến nay  
Biện pháp PVTM  
Số vụ áp dụng biện pháp PVTM  
Chống bán phá giá  
Chống trợ cấp  
Tự vệ  
3
0
6
9
Tổng số  
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Trung tâm WTO – VCCI 2017  
Nhìn vào 2 bảng trên ta thấy số lượng các vụ kiện và áp dụng các biện pháp  
PVTM của Việt Nam đối với hàng nhập khẩu là ít hơn nhiều so với số lượng các vụ kiện  
và áp dụng biện pháp PVTM mà phía nước ngoài áp dụng đối với hàng xuất khẩu của Việt  
Nam. Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp Việt nam còn ít quan tâm đến các biện pháp  
PVTM.  
Vấn đề thứ hai là ở chỗ trong khi chống bán phá giá và chống trợ cấp là các biện  
pháp chủ yếu của nước ngoài thì ở Việt Nam lại chủ yếu lựa chọn biện pháp tự vệ.  
Giải thích về tình trạng trên có thể thấy, biện pháp tự vệ đơn thuần chỉ là biện pháp  
bảo hộ tạm thời trong điều kiện có sự gia tăng đột biến của hàng hóa nhập khẩu gây thiệt hại  
cho ngành sản xuất trong nước chứ không phải là biện pháp chống các hành vi cạnh tranh  
không lành mạnh nên thủ tục đi kiện đơn giản hơn nhiều so với các biện pháp khác, cụ thể là  
bên đi kiện không có nghĩa vụ chứng minh hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Các doanh  
nghiệp Việt Nam và các cơ quan điều tra của Việt nam thường là ít kinh nghiệm và khó tiếp  
cận các thông tin về chi phí của hàng nhập khẩu nên gặp khó khăn trong việc chứng minh  
hành vi cạnh tranh không lành mạnh nên ít lựa chọn biện pháp chống bán phá giá hay chống  
trợ cấp mà chủ yếu áp dụng biện pháp tự vệ.  
441  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
2.2. Tình hình áp dụng biện pháp chống bán phá giá hàng nhập khẩu:  
Trong thời gian qua, mặc dù còn ít nhưng tính đến nay các danh nghiệp Việt Nam  
đã có 3 vụ kiện chống bán phá giá thành công cho thấy những tín hiệu tích cực về sự thay đổi  
trong nhận thức, tư duy, năng lực của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp Việt nam. Có thể  
tóm tắt 3 vụ kiện chống bán phá giá như sau:  
Bảng 3. Các vụ kiện chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam  
Thời gian  
Vụ việc  
Nguyên đơn  
Biện pháp áp dụng  
Năm 2013 Kiện chống bán phá giá Công ty POSCO VST Áp dụng biện pháp  
mặt hàng thép không gỉ và Công ty CP Inox Hòa chống bán phá giá  
nhập khẩu từ Trung Bình  
Quốc, Indonesia,  
với thuế bổ sung từ  
6,45%-30,73%  
Malaysia, Đài Loan  
(Trung Quốc)  
Năm 2016 Kiện chống bán phá giá Công ty cổ phần China Áp dụng biện pháp  
mặt hàng tôn mạ nhập Steel Sumikin Việt chống bán phá giá  
khẩu từ Trung Quốc và Nam, Công ty Tôn với thuế nhập khẩu  
hàn Quốc  
Phương Nam, Công ty bổ sung 3,17% –  
thép Nam Kim, Công ty 38,34%  
Tôn Đông Á  
Năm 2017 Kiện chống bán phá giá Công ty TNHH Posco Áp dụng biện pháp  
mặt hàng thép hình chữ SS Vina  
H nhập khẩu từ Trung  
Quốc(Kể cả Hong  
Kong)  
chống bán phá giá  
với thuế nhập khẩu  
bổ sung 21,18% -  
36,33%  
Như vậy cả ba vụ kiện chống bán phá giá hàng nhập khẩu của Việt nam tính đến thời  
điểm này đều thuộc ngành thép, đồng thời tính trên tổng số các vụ kiện PVTM đối với hàng  
nhập khẩu của Việt nam thì ngành thép cũng chiếm đa số với 5/9 các vụ kiện PVTM.  
Xét trong bối cảnh hiện nay ở Việt nam thì việc bắt đầu áp dụng các biện pháp PVTM  
mà chủ yếu biện pháp tự vệ cũng là hợp lý, nó bắt đầu cho thấy có sự quan tâm của Chính phủ  
cũng như các doanh nghiệp Việt nam đến các biện pháp phòng vệ thương mại. Tuy nhiên nhìn  
vào dài hạn thì chúng ta cần quan tâm nhiều hơn vào biện pháp chống bán phá giá bởi những  
điểm mạnh riêng có của nó. So sánh 2 biện pháp PVTM như sau:  
Bảng 4. So sánh 2 biện pháp chống bán phá giá và tự vệ  
Biện pháp chống bán phá giá  
Biện pháp tự vệ  
-
Mục đích: chống lại các hành vi cạn -  
Mục đích: Kéo dài thời gian cho  
tranh không lành mạnh  
ngành sản xuất trong nước điều chỉnh để  
thích ứng với tự do hóa thương mại  
-
Thời hạn hiệu lực: 3 năm, có thể gia  
hạn nhưng tối đa không quá 8 năm  
Tự điều tra, công bố, không có  
nghĩa vụ chứng minh  
-
Thời hạn hiệu lực: 5 năm, có thể gia  
hạn nhiều lần, thậm chí vài chục năm  
-
cạnh tranh không lành mạnh  
-
Có nghĩa vụ chứng minh hành vi  
-
Thủ tục đỡ phức tạp hơn  
-
Thủ tục đi kiện phức tạp, tốn nhiều  
thời gian, chi phí  
-
Rủi ro Chính phủ phải đền bù cho  
nước xuất khẩu  
-
Không chịu rủi ro đền bù cho nước  
xuất khẩu  
442  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Rõ ràng là việc kiện và áp dụng biện pháp chống bán phá giá là khó khăn, phức tạp  
hơn nhiều, đòi hỏi phải thu thập thông tin sản xuất của phía nước ngoài, phân tích chi phí của  
hàng hóa nhập khẩu…nhưng bù lại có thời hạn dài hơn, với mục đích xây dựng môi trường  
cạnh tranh lành mạnh nên giảm rủi ro trả đũa thương mại.  
4.  
TĂNG CƢỜNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ  
4.1 Nguyên nhân của những hạn chế  
NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP  
Hệ thống Pháp luật về các công cụ PVTM chưa hoàn thiện: Việt Nam mới chỉ có các  
Pháp lệnh, Nghị định về chống bán phá giá và cũng chưa hoàn chỉnh, đặc biệt là thiếu các  
Thông tư hướng dẫn nên gây khó khăn cho các cơ quan chức năng cũng như doanh nghiệp  
trong thực hiện.  
Hiểu biết của doanh nghiệp Việt nam về các biện pháp PVTM, đặc biệt công cụ chống  
bán phá giá còn hạn chế trong khi thông tin đến với doanh nghiệp cũng rất ít ỏi và thường  
chậm.  
Khả năng tài chính hạn hẹp: Các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết là các doanh nghiệp  
nhỏ và vừa, tài chính hạn hẹp nên khó lòng theo đuổi các vụ kiện chống bán phá giá hay  
chống trợ cấp đòi hỏi việc thu thập thông tin, chứng minh phức tạp, tốn kém.  
Năng lực pháp lý hạn chế cũng là rào cản để doanh nghiệp tiếp cận nguồn thông tin về  
sản xuất và chi phí của doanh nghiệp xuất khẩu hàng vào Việt nam.  
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ đưa đến cơ hội mà còn tạo ra một áp lực  
cạnh tranh rất lớn đối với doanh nghiệp còn yếu thế của Việt nam  
Khả năng liên kết các doanh nghiệp chua cao: Để áp dụng biện pháp chống bán phá  
giá đồi hỏi nguyên đơn phải có thị phần đủ lớn(Ví dụ tối thiểu sản xuất 25% khối lượng sản  
phẩm toàn ngành) nên cần sự liên kết nhiều doanh nghiệp cùng ngành, nhưng đây cũng là 1  
khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam.  
3.2. Một số biện pháp nhằm t ng cƣờng sử dụng biện pháp chống bán phá giá  
hàng nhập khẩu  
Đối với cơ quan nhà nước:  
Cần hoàn thiện hệ thống luật pháp cùng các Thông tư hướng dẫn cụ thể để thuận tiện  
cho doanh nghiệp  
Tăng cường thông tin, tư vấn cho doanh nghiệp thông qua các trang thông tin điện tử,  
các cuộc hội thảo, các khóa học, tài liệu  
Thành lập cơ quan chuyên trách về PVTM (Hiện giờ Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công  
Thương đam đảm nhiệm chức năng này) và chủ động hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thu thập,  
xử lý thông tin  
Hài hòa hóa quan hệ lợi ích giữa các nhà sản xuất trong nước với các nhà nhập khẩu  
hàng hóa: Thường luôn có sự xung đột lợi ích giữa các nhà sản xuất kiện chống bán phá giá  
với các nhà kinh doanh nhập khẩu hàng hóa cùng ngành,. Bởi vậy rất cần vai trò của nhà nước  
trong việc giải quyết xung đột này vì lợi ích của cả nền kinh tế  
Đối với doanh nghiệp:  
Nâng cao vai trò của tổ chức hiệp hội: Các vụ kiện chống bán phá giá rất cần đến vai  
trò của các hiệp hội trong việc kết nối doanh nghiệp cùng đứng đơn kiện và thu thập thông tin  
Các doanh nghiệp cần tăng cường mối liên kết để có đủ khả năng về pháp lý, tài chính  
theo đuổi các vụ kiện chống bán phá giá  
Cuối cùng, cần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt ngành thép  
tận dụng những cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đây chính là biện pháp để doanh  
nghiệp Việt Nam có thể để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa  
nhập khẩu một cách hiệu quả nhất.  
443  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
KẾT LUẬN:  
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, đặc biệt khi các  
FTA thế hệ mới có hiệu lực với mức thuế giảm về 0%, chắc chắn một lượng hàng hóa khổng  
lồ có điều kiện đổ vào thị trường Việt Nam và kèm theo đó là các hành vi cạnh tranh không  
lành mạnh gây thiệt hại to lớn đến các ngành sản xuất trong nước. Trước viễn cảnh đó, các  
công cụ PVTM phù hợp với luật pháp quốc tế sẽ được coi là những biện pháp cuối cùng để  
bảo vệ thị trường nội địa. Mặc dù việc áp dụng các biện pháp PVTM của doanh nghiệp Việt  
Nam mới chỉ là bước đầu, còn nhiều hạn chế nhưng cho đến nay với 9 vụ kiện PVTM thành  
công trong đó có 3 vụ kiện chống bán phá giá chứng tỏ Việt nam đã có sự quan tâm hơn đến  
các công cụ PVTM, đã trưởng thành hơn về nhận thức, năng lực pháp lý… Tuy nhiên các cơ  
quan chức năng, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động, tích cực hơn nữa trong việc sử dụng  
các công cụ PVTM đặc biệt là các công cụ chống bán phá giá và chống trợ cấp để bảo vệ hiệu  
quả lợi ích của mình và giành thắng lợi trên thương trường./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO:  
1. Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/4/2004 của Ủy ban Thường vụ  
Quốc hội quy định về chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam  
2. Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi  
hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam  
3. Nghị định số 04/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức  
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá,  
chống trợ cấp và tự vệ  
4. Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 5/2/2013 của Bộ Công Thương quy định quy  
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh  
5. Điều VI, Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch(GATT) quy định những  
nguyên tắc chung  
6. Hiệp định về chống bán phá giá(ADA) giải thích cụ thể cho Điều VI của Hiệp  
định GATT bao gồm các quy tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp  
chống bán phá giá  
7. Cổng thông tin điện tử Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương  
8. Trung tâm WTO (2015), Báo cáo “Sử dụng các công cụ PVTM trong bối cảnh  
Việt Nam thực thi các FTAs và Cộng đồng kinh tế ASEAN”.  
9. Marc L, Eric R và Gregory S. (2008), Does Legal Capacity Matter? Explaining  
Dispute Initiation and Antidumping Actions in the WTO, Phòng Giải quyết tranh chấp và các  
Khía cạnh pháp lý quốc tế của ICTSD;  
ANTI-DUMPING – AN IMPORTANT TRADE REMEDY SHOULD BE  
STRENGTHENED USED TO PROTECT HOME MANUFACTURERS  
Abstract:  
In the background of home market opening and FTAs activated according to the  
international agreements, and also under the impact of the Industrial revolution 4.0, Viet Nam  
manufacturers are facing with fierce challenges from foreign commodities and unfair  
competition activities. WTO‟s trade remedies, especially Anti-dumping measure are very  
important for Viet Nam to protect it‟s manufacturers. Basing on the research on the use of  
Anti-dumping measure in Viet Nam, the report proposes some solutions to strengthen the use  
of this useful measure.  
Key words: FTA, Trade remedies, Anti-dumping, Subsidies countervailing measure,  
Safe-guard .  
444  
pdf 7 trang Thùy Anh 18360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chống bán phá giá – công cụ phòng vệ thương mại quan trọng cần được tăng cường sử dụng để bảo vệ sản xuất trong nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchong_ban_pha_gia_cong_cu_phong_ve_thuong_mai_quan_trong_can.pdf