Hành vi của người tiêu dùng đối với dịch vụ Grabcar và giải pháp nâng cao thị phần taxi công nghệ tại Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phạm Văn Kiên và các tgk  
HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ GRABCAR  
VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỊ PHẦN TAXI  
CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM  
CONSUMER’S BEHAVIORS IN USING GRABCAR SERVICE AND MEASURES TO  
IMPROVE THE MARKET SHARE OF TECHNOLOGY TAXI IN VIETNAM  
PHẠM VĂN KIÊN, TĂNG MỸ HÀ(**), NGUYỄN TRẦN LÊ(**)  
,
ĐỖ THỊ THU HÀ(**) và HÀ LÊ THU HOÀI  
TÓM TẮT: Bài viết tập trung vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và thay đổi hành vi tiêu dùng  
của khách hàng trong việc lựa chọn và sử dụng các loại dịch vụ taxi công nghệ (cụ thể trong  
trường hợp Grabcar). Bên cạnh đó, dưới góc nhìn của các nhà quản lý, bài viết đề xuất một số giải  
pháp nhằm xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp cũng như phân bổ các nguồn lực đầu tư  
quan trọng cho loại hình dịch vụ taxi mới này.  
Từ khóa: Grabcar; hành vi người tiêu dùng; taxi công nghệ.  
ABSTRACT: The article focuses on study of factors influencing and changing consumer’s behaviors in  
selecting and using technology taxis (specifically in the case of Grabcar). In addition, from the  
perspective of managers, the article proposes some solutions to build appropriate business strategies as  
well as allocate important investment resources for this new type of taxi service.  
Key words: Grabcar; consumer’s behavior; technology taxi.  
Gojek, Bee,… thực sự tạo ra một cuộc cách  
mạng mới làm thay đổi hành vi tiêu dùng của  
người tiêu dùng tại thị trường Việt Nam.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Mô hình kinh doanh taxi kiểu mới theo  
dạng dịch vụ chia sẻ hành trình (Ride - sharing)  
áp dụng công nghệ dịch vụ dựa trên địa điểm  
(Location Based Service - LBS) và hệ thống định  
vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS) đi  
kèm với ứng dụng trên điện thoại thông minh  
của Grabcar bắt đầu xuất hiện tại thị trường Việt  
Nam từ đầu năm 2014 và ngày càng phát triển  
mạnh mẽ, phổ biến tại các đô thị lớn,... Loại  
hình taxi mới này mang lại nhiều lợi ích cho  
khách hàng như cước phí rẻ hơn, chủ động lựa  
chọn được nhiều loại xe, phương thức thanh  
toán linh hoạt có thể thanh toán tự động bằng thẻ  
không cần đem theo tiền mặt,... Các hãng kinh  
doanh dịch vụ taxi kiểu mới như Grab, Uber,  
Vậy, yếu tố nào đã tác động đến hành vi  
tiêu dùng của khách hàng khi lựa chọn sử dụng  
dịch vụ do các ứng dụng taxi công nghệ cung  
cấp? Yếu tố nào thực sự hữu ích để giúp các  
doanh nghiệp tập trung nỗ lực marketing nâng  
cao hiệu quả kinh doanh với chi phí hợp lý? Có  
khá nhiều doanh nghiệp cung ứng dịch vụ này  
nhưng chúng tôi chọn ứng dụng đặt xe của  
Grab, một ứng dụng theo kiểu mới điển hình và  
phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay, để tìm  
hiểu những yếu tố tác động đến hành vi sử  
dụng dịch vụ mới này của người tiêu dùng. Từ  
đó, giúp doanh nghiệp kinh doanh loại hình này  
 TS. Trường Đại học Văn Lang, [email protected]  
 ThS. Trường Đại học Kinh tế Tài chính, Mã số: TCKH23-04-2020  
36  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 23, Tháng 9 – 2020  
có những điều chỉnh hoạt động phù hợp với  
mong muốn của người tiêu dùng hơn.  
tốt để dự đoán hành vi người tiêu dùng đối với các  
sản phẩm, dịch vụ liên quan đến công nghệ. Mô hình  
UTAUT2 cung cấp cho chúng ta một lý thuyết và mô  
hình tiêu chuẩn hữu ích sử dụng để dự đoán hành vi  
của người tiêu dùng trong việc sử dụng các sản  
phẩm, dịch vụ có liên quan đến công nghệ. Các ngữ  
cảnh áp dụng khác nhau đã được kiểm chứng như  
nghiên cứu sự khác biệt về văn hóa trong việc áp  
dụng công nghệ [1] đến chấp nhận dịch vụ Internet  
Banking [4]. Vì lý thuyết và mô hình UTAUT2 có  
tính tổng quát dựa trên tất cả những kiến thức mới  
nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về hành vi tiêu dùng  
và chấp nhận công nghệ đối với người tiêu dùng, do  
đó nó sẽ được sử dụng làm cơ sở nền tảng để phát  
triển cho nghiên cứu này với một số sửa đổi nhỏ.  
2.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất và phát  
triển giả thuyết  
2. NỘI DUNG  
2.1. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng và lý thuyết  
thốngnhấtvềchấpnhận,sửdụngcôngnghệ  
2.1.1. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng  
Nhiều học giả trên thế giới đã nghiên cứu  
và đưa ra các định nghĩa về hành vi của người  
tiêu dùng như Hoyer và Macinnis, Bennett,  
Schiffman, Kotler,… Philip Kotler, một trong  
những người được xem là tiên phong và có các  
nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi nhất trong  
lĩnh vực này. Hành vi của người tiêu dùng  
được hiểu là một quá trình xuyên suốt kéo dài  
từ khi người tiêu dùng nhận được các kích  
thích từ hoạt động marketing chủ động của  
doanh nghiệp (4P: Sản phẩm, giá cả, phân phối,  
chiêu thị) và các kích thích từ môi trường vĩ mô  
(kinh tế, chính trị, văn hóa, công nghệ), thông  
qua quá trình xử lý phức tạp của bộ não căn cứ  
vào đặc điểm của từng cá nhân (văn hóa, xã  
hội, tâm lý, cá nhân) và quá trình ra quyết định  
của từng cá nhân mà người tiêu dùng sẽ hình  
thành nên các phản hồi của mình liên quan đến  
việc mua sản phẩm dịch vụ cũng như những  
hành động sau khi mua [3, tr.177]. Quá trình xử  
lý các kích thích của bộ não con người diễn ra  
rất phức tạp và khó dự đoán chính xác do đó nó  
được xem là “hộp đen” của người tiêu dùng.  
2.1.2. Lý thuyết thống nhất về chấp nhận, sử  
dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance  
and Use of Technology - UTAUT)  
Phát triển thang đo lường các khái niệm.  
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước  
[3], [5], [7], mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 8  
yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ  
Grabcar của người tiêu dùng tại Việt Nam gồm:  
1) “Kỳ vọng về kết quả”: Kỳ vọng về những hiệu  
quả, tiện ích sẽ nhận được khi sử dụng dịch vụ; 2)  
“Mức độ dễ dàng”: Mức độ dễ dàng liên quan  
đến việc sử dụng dịch vụ; 3) “Sự ảnh hưởng  
của xã hội”: Mức độ nhận thức nên sử dụng hệ  
thống mới; 4) “Các điều kiện thuận lợi”: Kiến thức,  
kỹ năng đã tích lũy được cũng như cơ sở hạ tầng liên  
quan đã phát triển để hỗ trợ cho việc sử dụng dịch vụ;  
5) “Trải nghiệm thú vị cho người dùng”: Động  
lực dẫn dắt người tiêu dùng đến hành vi sử  
dụng dịch vụ; 6) “Giá trị về giá cả”: Nhận thức  
về sự cân bằng giữa lợi ích nhận được của ứng  
dụng và chi phí bằng tiền của việc sử dụng  
chúng; 7) “Sự hấp dẫn của phương tiện cá nhân”:  
Loại phương tiện có thể thay thế là xe máy, nó có  
thể tạo ra rào cản tác động đến hành vi sử dụng dịch  
vụ; 8) “Giá trị xã hội”: Lợi ích từ sự gắn kết của  
Lý thuyết và mô hình UTAUT lần đầu tiên  
được đề xuất nhằm vào đối tượng là các công ty  
công nghệ thông tin [6], sau đó phát triển mở  
rộng thành UTAUT2 vào năm 2012 nhằm xây  
dựng một lý thuyết chung thống nhất về dự đoán  
hành vi người tiêu dùng đối với các sản phẩm,  
dịch vụ có liên quan đến lĩnh vực công nghệ [7].  
Mô hình UTAUT, UTAUT2 được sử dụng rộng khách hàng với những nhóm xã hội cụ thể như  
rãi trong nhiều nghiên cứu và các lĩnh vực khác nhau bạn bè và những nhóm có liên quan đóng vai  
ở cả dạng ban đầu, một phần hoặc các phiên bản đã trò quan trọng trong sự đánh giá của khách  
sửa đổi và đã được kiểm chứng là có độ tương thích  
hàng về sản phẩm, dịch vụ.  
37  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phạm Văn Kiên và các tgk  
Yếu tố “Ý định dẫn đến hành vi sử dụng”  
của mô hình UTAUT2 gốc được loại bỏ khỏi mô  
hình đề xuất do dịch vụ Grabcar tại Việt Nam  
hiện tại rất phổ biến, không còn là một loại hình  
dịch vụ mới để hạn chế được sai số khi không  
phải xem xét mối quan hệ giữa các biến độc lập  
với biến phụ thuộc hành vi sử dụng dịch vụ  
Grabcar qua biến trung gian. Có 2 yếu tố mới đưa  
vào mô hình là yếu tố “Nhận diện về phương tiện  
thay thế” do chúng tôi đề xuất và yếu tố “Giá trị  
xã hội” [5]. Như vậy, mô hình gồm 8 biến độc lập  
như trên được thể hiện qua 34 câu hỏi – gọi là các  
biến quan sát và một biến phụ thuộc là “Hành vi  
sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng”.  
Giả thuyết đặt ra là 8 biến độc lập đều có tác động  
tích cực tới biến phụ thuộc “Hành vi sử dụng dịch  
vụ Grabcar của người tiêu dùng”.  
cần thu thập dữ liệu với cỡ mẫu ít nhất là 5 mẫu  
trên mỗi biến quan sát và cỡ mẫu không được nhỏ  
hơn 100 [2]. Với 38 biến quan sát, người tham gia  
khảo sát là các khách hàng đã và đang sử dụng  
Grabcar tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và  
Đà Nẵng. Tổng số câu hỏi thu thập được là 255.  
Sau đây là mô tả cấu trúc tổng thể mẫu thu thập  
được sau khi đã làm sạch dữ liệu (Bảng 1).  
Bảng 1. Mô tả cấu trúc tổng thể mẫu  
STT  
1
Biến quan sát Tần suất  
Tỷ lệ %  
Giới tính  
Nam  
94  
36,9  
63,1  
Nữ  
161  
Tuổi  
2
3
4
5
18 - 22  
23 - 30  
31 - 40  
> 41  
83  
32,4  
47,1  
12,1  
5,4  
120  
31  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
14  
Nghề nghiệp  
Nghiên cứu được thực hiện bằng cả 2  
phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên  
cứu định lượng. Nghiên cứu định tính được  
thực hiện bằng phương pháp kết hợp giữa ý  
kiến 02 chuyên gia và phỏng vấn sâu 10 người  
tiêu dùng đã và đang sử dụng dịch vụ Grabcar.  
Kết hợp với các nghiên cứu trước và nghiên  
cứu định tính chúng tôi điều chỉnh thang đo cho  
phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở Việt Nam  
và đưa ra mô hình nghiên cứu ban đầu. Sau đó,  
sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu  
được mã hóa, nhập và làm sạch. Nghiên cứu  
định lượng thực hiện gồm 38 biến quan sát (32  
biến độc lập, 6 biến phụ thuộc) được sử dụng  
bằng thang đo Likert 5 mức độ. Phân tích dữ  
liệu sẽ được tiến hành bởi phần mềm SPSS với  
các kỹ thuật sau: thống kê mô tả, phân tích độ  
tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố  
khám phá – EFA, kiểm tra tương quan giữa các  
biến được đo bằng kiểm tra Bartletf với mức ý  
nghĩa 5% và phân tích hồi quy.  
Nhân viên  
Kinh doanh  
Sinh viên  
Khác  
116  
45,5  
9,8  
25  
78  
30.5  
14,1  
36  
Trình độ  
18  
Trung học  
Cử nhân  
Cao học  
Khác  
7,0  
76,9  
7,5  
196  
19  
22  
8,6  
Thu nhập  
90  
<5 triệu VND  
35,3  
30,6  
19,6  
14,5  
5–10 triệu VND  
11–15 triệuVND  
> 15 triệu VND  
78  
50  
37  
Nguồn: Tổng hợp dữ liệu thu thập của nghiên cứu  
Nhóm này chủ yếu gồm nữ, tuổi từ 18 đến 30  
và trình độ đại học, hầu hết là nhân viên, thu nhập  
trung bình chủ yếu khoảng 5-10 triệu đồng và nhu  
cầu về Grabcar ở mức trung bình.  
2.4.2. Phân tích dữ liệu  
Độ tin cậy của thang đo: Sau khi phân tích  
độ tin cậy thang, cả 9 thang đo có hệ số  
Cronbach’s Alpha >0,7, các hệ số tương quan  
biến tổng lớn hơn 0,3, các hệ số tương quan nếu  
2.4. Kết quả nghiên cứu  
2.4.1. Mô tả mẫu  
Mẫu được chọn bằng phương pháp phi xác  
suất thuận tiện. Để tiến hành phân tích nhân tố,  
38  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 23, Tháng 9 – 2020  
bỏ biến nhỏ hơn Cronbach’s Alpha. Do đó, thang  
đo được chấp nhận. Kết quả chạy phân tích EFA  
cho thấy, hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) đạt  
0,850 thỏa mãn 0,5≤ KMO ≤1, sig của kiểm định  
Bartletf là 0,000 (có ý nghĩa thống kê).  
Bảng 2. Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo và phân tích EFA  
Ký  
Hệ số  
Hệ số  
Thang đo  
hiệu  
biến  
KV1  
KV2  
KV3  
KV4  
Mô tả biến  
Cronbach’  
hội tụ  
sAlpha  
Grabcar giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian.  
Grabcar giúp tiết kiệm rất nhiều tiền.  
Grabcargiúplàmđượcnhữngviệcquantrọnghơntrongngày.  
Grabcar giúp việc đi lại của dễ dàng hơn.  
0,868  
0,829  
0,880  
0,890  
0,755  
0,768  
0,794  
0,754  
0,707  
0,830  
Kỳ vọng về kết  
quả (KV)  
0,750  
0,76  
MUC1 Ứng dụng đặt xe Grabcar rất dễ sử dụng.  
MUC2 Có thể sử dụng Grabcar ở bất cứ đâu.  
MUC3 Có thể sử dụng Grabcar bất cứ lúc nào.  
MUC4 Sử dụng thành thạo dịch vụ Grabcar thật dễ dàng.  
ANH1 Bạn bè tôi khuyên nên sử dụng Grabcar.  
ANH2 Các thành viên trong gia đình khuyên nên sử dụng Grabcar.  
Mức độ dễ dàng  
(MUC)  
Sự ảnh hưởng của  
xã hội (ANH)  
Grabcar là một chủ đề thường xuyên được đề cập bởi  
những người xung quanh.  
Grabcar là một chủ đề thường xuyên được các  
phương tiện truyền thông nhắc đến.  
0,75  
ANH3  
0,789  
0,850  
ANH4  
DIE1  
DIE2  
Có đủ tiền để sử dụng Grabcar.  
Có đủ kiến thức công nghệ để sử dụng Grabcar.  
0,785  
0,702  
0,876  
0,821  
Các điều kiện  
thuận lợi (DIE)  
0,87  
0,85  
TRA1 Sử dụng Grabcar luôn khiến hài lòng.  
TRA2 Sử dụng Grabcar mang lại sự thoải mái.  
Trải nghiệm thú  
vị cho người dùng  
(TRA)  
Sử dụng Grabcar cho cảm giác tận hưởng những  
thành tựu của công nghệ.  
TRA3  
0,767  
TRA4 Ứng dụng Grabcar mobile được thiết kế thân thiện.  
0,710  
0,891  
0,774  
0,826  
0,811  
0,874  
0,865  
GIA1  
GIA2  
GIA3  
PHU1  
Dịch vụ Grabcar có giá hợp lý.  
Dịch vụ Grabcar đáng giá.  
Dịch vụ Grabcar rẻ hơn taxi truyền thống.  
Di chuyển bằng Grabcar thuận tiện hơn.  
Giá trị về giá cả  
0,83  
0,82  
(GIA)  
Sự hấp dẫn của  
phương tiện cá  
nhân (PHU)  
PHU2 Di chuyển bằng Grabcar nhanh hơn.  
PHU3 Du lịch với Grabcar rẻ hơn phương tiện cá nhân.  
Sử dụng dịch vụ Grabcar giúp kiểm soát thời gian di  
chuyển tốt hơn.  
PHU4  
0,765  
GTR1 Sử dụng dịch vụ Grabcar giúp tự tin hơn.  
GTR2 SửdụngdịchvụGrabcarkhiếncảmthấyđượctôntrọnghơn.  
GTR3 SửdụngdịchvụGrabcarchophépthểhiệnđẳngcấpcủamình.  
0,905  
0,840  
0,821  
0,754  
0,610  
0,719  
0,763  
Giá trị xã hội  
0,91  
0,83  
(GTR)  
SửdụngdịchvụGrabcarchophéptôithểhiệnphongcáchcánhân.  
GTR4  
HVI1  
HVI2  
HVI3  
Sẽ có thể tiếp tục sửdụng dịch vụ Grabcar trong tương lai.  
Sẽ nghĩ ngayđến dịch vụ Grabcarbất cứkhi nào tôi cần.  
Sẽ sử dụng Grabcar thường xuyên hơn.  
Hành vi sử dụng  
dịch vụ Grabcar  
(HVI)  
MuốngiớithiệuGrabcarchongườithân,bạnbèvàđốitáccủatôi.  
HVI4  
HVI5  
0,604  
0,611  
Sử dụng dịch vụ Grabcar đã trở thành thói quen.  
Sử dụng Grabcar đã trở thành một phần không thể  
thiếu trong cuộc sống.  
HVI6  
0,573  
KMO = 0,85; sig =0,000; % giải thích = 75,02%  
Nguồn: Tính toán bằng phần mềm SPSS của chúng tôi  
39  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phạm Văn Kiên và các tgk  
Phân tích nhân tố là thích hợp và các biến có  
liên quan với nhau trong tổng thể. Tất cả các biến  
độc lập đều có hệ số tải nhân tố ≥ 0,5, đạt yêu  
cầu. Các nhóm nhân tố sau khi chạy phân tích  
nhân tố giải thích được 75,02% biến thiên của dữ  
liệu. Biến quan sát phân thành 8 nhóm nhân tố  
ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar  
của người tiêu dùng tại Việt Nam như bảng kết  
quả phân tích nhân tố (Bảng 2).  
phần liên quan đến kỳ vọng về kết quả nhận được  
khi sử dụng dịch vụ Grabcar có thể được suy  
luận, làm rõ trong các nhóm nhân tố khác, đó là  
biến KV1 (Sử dụng dịch vụ Grabcar giúp tiết  
kiệm được nhiều thời gian) và biến KV3 (Sử  
dụng dịch vụ Grabcar giúp làm được nhiều việc  
quan trọng hơn trong ngày) có thể được làm rõ  
bởi các biến PHU2 (Di chuyển bằng dịch vụ  
Grabcar thì nhanh hơn phương tiện cá nhân) và  
Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính: Tiến PHU4 (Sử dụng dịch vụ Grabcar giúp kiểm soát  
hành phân tích mô hình hồi quy tuyến tính bằng phần thời gian di chuyển tốt hơn phương tiện cá nhân)  
mềmSPSS chúng ta có kết quả cuối cùng như sau:  
trong nhóm nhân tố sự hấp dẫn của phương tiện  
cá nhân. Qua đó, phương trình hồi quy tuyến tính  
được xây dựng như sau:  
Bảng 3. Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính  
Hệsố  
Hệsốchưachuẩnhóa  
chuẩnhóa  
Nhân  
HVI (Grabcar) = 0,155 * GTR + 0,214 * PHU +  
0,099*DIE+0,184*TRA+0,223*GIA+0,201*ANH  
Từ kết quả phân tích mô hồi quy và đối chiếu  
với các giả thuyết nghiên cứu ban đầu, có thể kết  
luận như sau: Với độ tin cậy 95%, có 6 nhân tố ảnh  
hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar của  
người tiêu dùng tại Việt Nam, xếp theo thứ tự quan  
trọng từ cao đến thấp, lần lượt: GIA (Giá trị về giá  
cả), PHU (Sự hấp dẫn của phương tiện cá nhân),  
ANH (Sự ảnh hưởng của xã hội), TRA (Trải  
nghiệm thú vị cho người dùng), GTR (Giá trị xã  
hội) và DIE (Các điều kiện thuận lợi). Sáu nhân tố  
này có mối quan hệ cùng chiều với hành vi sử  
dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng.  
t
Sig  
tố  
Độ lệch  
chuẩn  
B
Beta  
Hằng  
số  
-0,218  
0,208  
-
-1,051  
0,294  
GTR  
PHU  
DIE  
0,126  
0,168  
0,109  
0,199  
0,214  
0,185  
0,019  
0,051  
0,039  
0,040  
0,055  
0,061  
0,050  
0,044  
0,033  
0,042  
0,155  
0,214  
0,099  
0,184  
0,223  
0,201  
0,027  
0,058  
3,239  
4,221  
1,998  
3,231  
4,272  
4,237  
0,583  
1,211  
0,001  
0,000  
0,047  
0,001  
0,000  
0,000  
0,561  
0,227  
TRA  
GIA  
ANH  
MUC  
KV  
R2 hiệu chỉnh = 0.720  
Nguồn: Dữ liệu phân tích hồi quy từ phần mềm SPSS  
Giá trị của kiểm định t đối với giả thuyết về  
các hệ số hồi quy nếu có mức ý nghĩa sig < 0,05  
chứng tỏ rằng, giả thuyết H0: hệ số hồi quy bằng  
0 (βi=0) bị bác bỏ với độ tin cậy 95%. Từ kết quả  
hồi quy tại bảng 3 cho thấy, giá trị kiểm định t đối  
với hệ số hồi quy của các nhân tố GTR, PHU,  
DIE, TRA, GIA, ANH có mức ý nghĩa sig < 0,05  
thỏa mãn tiêu chuẩn thống kê nên được chấp  
nhận và giữ lại trong mô hình hồi quy. Các nhân  
tố MUC và KV có sig > 0,05 không có ý nghĩa  
thống kê nên bị bác bỏ và loại khỏi mô hình hồi  
quy. Điều này có thể giải thích được như sau: 1)  
Với mô hình và cách thức vận hành kinh doanh  
hiện tại đa phần người tiêu dùng đều cảm thấy là  
không quá phức tạp để sử dụng do đó vấn đề sử  
dụng dịch vụ Grabcar có dễ dàng hay không là  
không quan trọng đối với họ; 2) Các biến thành  
Kết quả phân tích độ phù hợp của mô hình  
hồi quy mới mẫu nghiên cứu cho thấy, R2 hiệu  
chỉnh = 0,620 nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính  
đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu của mẫu  
nghiên cứu ở mức 62%, nói cách khác trong phạm  
vi dữ liệu thu thập được từ mẫu nghiên cứu cho  
thấy, trong 100% sự biến động của biến phụ thuộc  
“Hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu  
dùng tại Việt Nam”, có 62% sự biến động là do tác  
động từ các biến độc lập, còn lại 38% là do sai số  
ngẫu nhiên hoặc các yếu tố khác ngoài mô hình.  
2.4.3. Một số giải pháp nâng cao hành vi sử  
dụng dịch vụ taxi công nghệ  
Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng và  
thảo luận đã trình bày ở phần trên, chúng tôi  
40  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 23, Tháng 9 – 2020  
khuyến nghị muốn tăng lợi nhuận, mở rộng thị  
phần Grabcar nói riêng và các doanh nghiệp  
kinh doanh dịch vụ taxi công nghệ nên chú trọng  
đến các yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi sử  
dụng dịch vụ của người tiêu dùng và phân bổ  
nguồn lực nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh  
theo các mức độ ưu tiên như sau:  
đến một số giải pháp như: Nâng cao hoạt động  
quản lý, điều phối xe để đảm bảo luôn có đủ số  
lượng xe duy trì phục vụ người tiêu dùng tại  
từng thời điểm,... quan tâm nâng cao hoạt động  
quản lý và thiết lập tiêu chuẩn chất lượng dịch  
vụ để các tài xế tuân thủ cam kết về thời gian di  
chuyển đối với người tiêu dùng;  
Giá trị về giá cả có tác động mạnh nhất đến  
hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu  
dùng. Lưu ý vấn đề giá cả cần đặt bên cạnh yếu tố  
về chất lượng dịch vụ để xem xét trong mối quan  
hệ tổng thể. Nói cách khác, các doanh nghiệp có  
thể cung cấp mức giá rẻ hơn đối thủ ở cùng mức  
chất lượng dịch vụ hoặc thực hiện bằng cách cung  
cấp chất lượng dịch vụ tốt hơn đối thủ với cùng  
mức giá. Với mô hình kinh doanh hiện tại,  
Grabcar cũng như các doanh nghiệp kinh doanh  
dịch vụ taxi kiểu mới đang có nhiều lợi thế (quản  
lý tự động bằng phần mềm, cần ít nhân sự, không  
tốn chi phí lãi vay để đầu tư ban đầu, không cần  
trả lương cố định cho tài xế, không cần nhân sự  
duy trì hệ thống tổng đài...) để tiết giảm chi phí  
dẫn đến giảm giá với cùng mức dịch vụ cung cấp  
so với đối thủ là taxi truyền thống. Grabcar cần  
tiếp tục khai thác lợi thế này của mình và ngày  
càng nâng cao hơn bằng những biện pháp như tiếp  
tục hoàn thiện hệ thống phần mềm dịch vụ, thiết  
kế linh hoạt nhiều phương thức thanh toán...  
Tương lai, kinh doanh dịch vụ taxi kiểu mới sẽ  
ngày càng suy giảm và các doanh nghiệp taxi  
truyền thống sẽ dần cân bằng các lợi thế này, khi  
đó cuộc chiến sẽ chuyển hướng sang cạnh tranh ở  
yếu tố cung cấp dịch vụ tốt hơn ở cùng mức giá;  
Sự hấp dẫn của phương tiện cá nhân đứng  
thứ 2/6 yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng  
dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng. Yếu tố này  
tập trung vào những giá trị do dịch vụ Grabcar  
đem lại gồm sự thuận tiện, nhanh chóng, chi phí  
thấp, kiểm soát thời gian di chuyển tốt hơn so  
với phương tiện cá nhân (xe máy) sẽ góp phần  
thúc đẩy hành vi sử dụng dịch vụ của người tiêu  
dùng. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ taxi  
kiểu mới để tăng tính cạnh tranh cần quan tâm  
Sự ảnh hưởng của xã hội (lời khuyên từ gia  
đình, bạn bè, thông tin trao đổi truyền miệng từ  
mọi người xung quanh) có ảnh hưởng đến hành  
vi sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng.  
Các doanh nghiệp nên tập trung vào cách tiếp cận  
người tiêu dùng tiềm năng của mình gián tiếp  
thông qua những bài chia sẻ trải nghiệm, đánh giá  
dịch vụ của bên thứ ba có uy tín trên các blog,  
diễn đàn hay kênh fanpage Facebook, Youtube sẽ  
đem lại nhiều hiệu quả hơn là dồn nỗ lực vào các  
kênh giới thiệu trực tiếp dịch vụ với người tiêu  
dùng. Khi tiến hành hoạt động gây ảnh hưởng lên  
người tiêu dùng tiềm năng bằng cách sử dụng ý  
kiến chia sẻ của bên thứ ba do đặc điểm khách  
hàng sử dụng dịch vụ, doanh nghiệp nên tập trung  
trong độ tuổi học sinh, sinh viên và nhiều nhất là  
người đang đi làm có thu nhập ổn định;  
Trải nghiệm thú vị cho người dùng cũng là  
một yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng đến hành vi  
sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng.  
Điều này gợi ý một số giải pháp gồm: Kiểm soát  
chất lượng xe tham gia dịch vụ ở ngưỡng tối thiểu  
cho phép để đem đến cảm giác hài lòng, thoải mái  
cho khách hàng; Tạo ra sự vui vẻ, thoải mái hơn  
cho khách hàng khi đi xe (mở nhạc giao hưởng,  
phục vụ khách hàng....); Trang bị thiết bị sạc điện  
thoại trên xe phục vụ khách hàng; Tiếp tục nâng  
cao tính thân thiện với người dùng trên ứng dụng  
di động để đem lại nhiều trải nghiệm tích cực hơn;  
Giá trị xã hội cũng ảnh hưởng tích cực đến  
hành vi sử dụng Grabcar, được đánh giá thông qua  
các tiêu chí như việc sử dụng dịch vụ giúp bản  
thân người tiêu dùng cảm thấy tự tin hơn, được tôn  
trọng, thể hiện đẳng cấp, phong cách cá nhân tốt  
hơn. Các doanh nghiệp cần xem xét đa dạng hóa  
danh mục sản phẩm bằng cách thiết kế thêm các  
41  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phạm Văn Kiên và các tgk  
loại hình taxi đặc biệt để phục vụ phân khúc khách  
hàng này như taxi bằng các loại xe cao cấp, taxi  
cho phép chọn loại xe đặt lịch trước,...;  
là 255. Phân tích hồi quy giữa nhân tố phụ thuộc  
(hành vi sử dụng dịch vụ) và 8 nhân tố độc lập đạt  
được khi phân tích nhân tố khám phá cho thấy có 6  
nhân tố có ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ  
Grabcar của người tiêu dùng tại Việt Nam với mức  
độ quan trọng được sắp xếp theo thứ tự từ cao đến  
thấp như sau: 1) Giá trị về giá cả; 2) Sự hấp dẫn  
của phương tiện cá nhân; 3) Sự ảnh hưởng của xã  
hội; 4) Trải nghiệm thú vị cho người dùng; 5) Giá  
trị xã hội; và 6) Các điều kiện thuận lợi. Chúng tôi  
cũng khuyến nghị một số giải pháp các doanh  
nghiệp nên chú trọng để ảnh hưởng tích cực đến  
hành vi sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng và  
phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hoạt động kinh  
doanh, tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần.  
Các điều kiện thuận lợi được đánh giá đứng ở  
vị trí thấp nhất trong 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến  
hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu  
dùng. Hàm ý quản trị rút ra từ nhóm yếu tố các  
điều kiện thuận lợi là Grabcar cũng như các doanh  
nghiệp kinh doanh dịch vụ taxi kiểu mới cần quan  
tâm nhiều hơn đến vấn đề thiết kế ứng dụng đặt xe  
trên di động dễ dàng cho người tiêu dùng sử dụng.  
3. KẾT LUẬN  
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thông qua  
hai giai đoạn là nghiên cứu định tính và nghiên cứu  
định lượng. Việc khảo sát dữ liệu bằng cách khảo  
sát trực tiếp người tiêu dùng số lượng mẫu khảo sát  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Im, I., Hong, S., & Kang, M. S. (2011), An international comparison of technology adoption:  
Testing the UTAUT model, Information & management, 48(1).  
[2] Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J. & Anderson, R. E. (2016), Multivariate data analysis (7th  
ed., pp. 207-219), Pearson Education.  
[3] Kotler, P. & Keller, K. L. (2012), Marketing Management (12th ed.), Pearson Prentice Hall.  
[4] Martins, C., Oliveira, T., & Popovič, A. (2014), Understanding the Internet banking adoption:  
A unified theory of acceptance and use of technology and perceived risk application,  
International Journal of Information Management, 34(1).  
[5] Sheth, J. N., Newman, B. I., & Gross, B. L. (1991), Consumption values and market choices:  
Theory and applications, Cinicinnati, OH: South-Western Pub.  
[6] Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003), User acceptance of  
information technology: Toward a unified view, MIS quarterly.  
[7] Venkatesh,V.,Thong,J.,&Xu,X.(2012), Consumer Acceptance and Use of Information Technology:  
Extending the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology, MIS Quarterly, 36(1).  
Ngày nhận bài: 03-4-2020. Ngày biên tập xong: 04-9-2020. Duyệt đăng: 24-9-2020  
42  
pdf 7 trang Thùy Anh 12060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hành vi của người tiêu dùng đối với dịch vụ Grabcar và giải pháp nâng cao thị phần taxi công nghệ tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhanh_vi_cua_nguoi_tieu_dung_doi_voi_dich_vu_grabcar_va_giai.pdf