Hành vi của người tiêu dùng đối với dịch vụ Grabcar và giải pháp nâng cao thị phần taxi công nghệ tại Việt Nam
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Phạm Văn Kiên và các tgk
HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ GRABCAR
VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỊ PHẦN TAXI
CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
CONSUMER’S BEHAVIORS IN USING GRABCAR SERVICE AND MEASURES TO
IMPROVE THE MARKET SHARE OF TECHNOLOGY TAXI IN VIETNAM
PHẠM VĂN KIÊN, TĂNG MỸ HÀ(**), NGUYỄN TRẦN LÊ(**)
,
ĐỖ THỊ THU HÀ(**) và HÀ LÊ THU HOÀI
TÓM TẮT: Bài viết tập trung vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và thay đổi hành vi tiêu dùng
của khách hàng trong việc lựa chọn và sử dụng các loại dịch vụ taxi công nghệ (cụ thể trong
trường hợp Grabcar). Bên cạnh đó, dưới góc nhìn của các nhà quản lý, bài viết đề xuất một số giải
pháp nhằm xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp cũng như phân bổ các nguồn lực đầu tư
quan trọng cho loại hình dịch vụ taxi mới này.
Từ khóa: Grabcar; hành vi người tiêu dùng; taxi công nghệ.
ABSTRACT: The article focuses on study of factors influencing and changing consumer’s behaviors in
selecting and using technology taxis (specifically in the case of Grabcar). In addition, from the
perspective of managers, the article proposes some solutions to build appropriate business strategies as
well as allocate important investment resources for this new type of taxi service.
Key words: Grabcar; consumer’s behavior; technology taxi.
Gojek, Bee,… thực sự tạo ra một cuộc cách
mạng mới làm thay đổi hành vi tiêu dùng của
người tiêu dùng tại thị trường Việt Nam.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mô hình kinh doanh taxi kiểu mới theo
dạng dịch vụ chia sẻ hành trình (Ride - sharing)
áp dụng công nghệ dịch vụ dựa trên địa điểm
(Location Based Service - LBS) và hệ thống định
vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS) đi
kèm với ứng dụng trên điện thoại thông minh
của Grabcar bắt đầu xuất hiện tại thị trường Việt
Nam từ đầu năm 2014 và ngày càng phát triển
mạnh mẽ, phổ biến tại các đô thị lớn,... Loại
hình taxi mới này mang lại nhiều lợi ích cho
khách hàng như cước phí rẻ hơn, chủ động lựa
chọn được nhiều loại xe, phương thức thanh
toán linh hoạt có thể thanh toán tự động bằng thẻ
không cần đem theo tiền mặt,... Các hãng kinh
doanh dịch vụ taxi kiểu mới như Grab, Uber,
Vậy, yếu tố nào đã tác động đến hành vi
tiêu dùng của khách hàng khi lựa chọn sử dụng
dịch vụ do các ứng dụng taxi công nghệ cung
cấp? Yếu tố nào thực sự hữu ích để giúp các
doanh nghiệp tập trung nỗ lực marketing nâng
cao hiệu quả kinh doanh với chi phí hợp lý? Có
khá nhiều doanh nghiệp cung ứng dịch vụ này
nhưng chúng tôi chọn ứng dụng đặt xe của
Grab, một ứng dụng theo kiểu mới điển hình và
phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay, để tìm
hiểu những yếu tố tác động đến hành vi sử
dụng dịch vụ mới này của người tiêu dùng. Từ
đó, giúp doanh nghiệp kinh doanh loại hình này
ThS. Trường Đại học Kinh tế Tài chính, Mã số: TCKH23-04-2020
36
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
có những điều chỉnh hoạt động phù hợp với
mong muốn của người tiêu dùng hơn.
tốt để dự đoán hành vi người tiêu dùng đối với các
sản phẩm, dịch vụ liên quan đến công nghệ. Mô hình
UTAUT2 cung cấp cho chúng ta một lý thuyết và mô
hình tiêu chuẩn hữu ích sử dụng để dự đoán hành vi
của người tiêu dùng trong việc sử dụng các sản
phẩm, dịch vụ có liên quan đến công nghệ. Các ngữ
cảnh áp dụng khác nhau đã được kiểm chứng như
nghiên cứu sự khác biệt về văn hóa trong việc áp
dụng công nghệ [1] đến chấp nhận dịch vụ Internet
Banking [4]. Vì lý thuyết và mô hình UTAUT2 có
tính tổng quát dựa trên tất cả những kiến thức mới
nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về hành vi tiêu dùng
và chấp nhận công nghệ đối với người tiêu dùng, do
đó nó sẽ được sử dụng làm cơ sở nền tảng để phát
triển cho nghiên cứu này với một số sửa đổi nhỏ.
2.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất và phát
triển giả thuyết
2. NỘI DUNG
2.1. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng và lý thuyết
thốngnhấtvềchấpnhận,sửdụngcôngnghệ
2.1.1. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng
Nhiều học giả trên thế giới đã nghiên cứu
và đưa ra các định nghĩa về hành vi của người
tiêu dùng như Hoyer và Macinnis, Bennett,
Schiffman, Kotler,… Philip Kotler, một trong
những người được xem là tiên phong và có các
nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi nhất trong
lĩnh vực này. Hành vi của người tiêu dùng
được hiểu là một quá trình xuyên suốt kéo dài
từ khi người tiêu dùng nhận được các kích
thích từ hoạt động marketing chủ động của
doanh nghiệp (4P: Sản phẩm, giá cả, phân phối,
chiêu thị) và các kích thích từ môi trường vĩ mô
(kinh tế, chính trị, văn hóa, công nghệ), thông
qua quá trình xử lý phức tạp của bộ não căn cứ
vào đặc điểm của từng cá nhân (văn hóa, xã
hội, tâm lý, cá nhân) và quá trình ra quyết định
của từng cá nhân mà người tiêu dùng sẽ hình
thành nên các phản hồi của mình liên quan đến
việc mua sản phẩm dịch vụ cũng như những
hành động sau khi mua [3, tr.177]. Quá trình xử
lý các kích thích của bộ não con người diễn ra
rất phức tạp và khó dự đoán chính xác do đó nó
được xem là “hộp đen” của người tiêu dùng.
2.1.2. Lý thuyết thống nhất về chấp nhận, sử
dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance
and Use of Technology - UTAUT)
Phát triển thang đo lường các khái niệm.
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
[3], [5], [7], mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 8
yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ
Grabcar của người tiêu dùng tại Việt Nam gồm:
1) “Kỳ vọng về kết quả”: Kỳ vọng về những hiệu
quả, tiện ích sẽ nhận được khi sử dụng dịch vụ; 2)
“Mức độ dễ dàng”: Mức độ dễ dàng liên quan
đến việc sử dụng dịch vụ; 3) “Sự ảnh hưởng
của xã hội”: Mức độ nhận thức nên sử dụng hệ
thống mới; 4) “Các điều kiện thuận lợi”: Kiến thức,
kỹ năng đã tích lũy được cũng như cơ sở hạ tầng liên
quan đã phát triển để hỗ trợ cho việc sử dụng dịch vụ;
5) “Trải nghiệm thú vị cho người dùng”: Động
lực dẫn dắt người tiêu dùng đến hành vi sử
dụng dịch vụ; 6) “Giá trị về giá cả”: Nhận thức
về sự cân bằng giữa lợi ích nhận được của ứng
dụng và chi phí bằng tiền của việc sử dụng
chúng; 7) “Sự hấp dẫn của phương tiện cá nhân”:
Loại phương tiện có thể thay thế là xe máy, nó có
thể tạo ra rào cản tác động đến hành vi sử dụng dịch
vụ; 8) “Giá trị xã hội”: Lợi ích từ sự gắn kết của
Lý thuyết và mô hình UTAUT lần đầu tiên
được đề xuất nhằm vào đối tượng là các công ty
công nghệ thông tin [6], sau đó phát triển mở
rộng thành UTAUT2 vào năm 2012 nhằm xây
dựng một lý thuyết chung thống nhất về dự đoán
hành vi người tiêu dùng đối với các sản phẩm,
dịch vụ có liên quan đến lĩnh vực công nghệ [7].
Mô hình UTAUT, UTAUT2 được sử dụng rộng khách hàng với những nhóm xã hội cụ thể như
rãi trong nhiều nghiên cứu và các lĩnh vực khác nhau bạn bè và những nhóm có liên quan đóng vai
ở cả dạng ban đầu, một phần hoặc các phiên bản đã trò quan trọng trong sự đánh giá của khách
sửa đổi và đã được kiểm chứng là có độ tương thích
hàng về sản phẩm, dịch vụ.
37
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Phạm Văn Kiên và các tgk
Yếu tố “Ý định dẫn đến hành vi sử dụng”
của mô hình UTAUT2 gốc được loại bỏ khỏi mô
hình đề xuất do dịch vụ Grabcar tại Việt Nam
hiện tại rất phổ biến, không còn là một loại hình
dịch vụ mới để hạn chế được sai số khi không
phải xem xét mối quan hệ giữa các biến độc lập
với biến phụ thuộc hành vi sử dụng dịch vụ
Grabcar qua biến trung gian. Có 2 yếu tố mới đưa
vào mô hình là yếu tố “Nhận diện về phương tiện
thay thế” do chúng tôi đề xuất và yếu tố “Giá trị
xã hội” [5]. Như vậy, mô hình gồm 8 biến độc lập
như trên được thể hiện qua 34 câu hỏi – gọi là các
biến quan sát và một biến phụ thuộc là “Hành vi
sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng”.
Giả thuyết đặt ra là 8 biến độc lập đều có tác động
tích cực tới biến phụ thuộc “Hành vi sử dụng dịch
vụ Grabcar của người tiêu dùng”.
cần thu thập dữ liệu với cỡ mẫu ít nhất là 5 mẫu
trên mỗi biến quan sát và cỡ mẫu không được nhỏ
hơn 100 [2]. Với 38 biến quan sát, người tham gia
khảo sát là các khách hàng đã và đang sử dụng
Grabcar tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và
Đà Nẵng. Tổng số câu hỏi thu thập được là 255.
Sau đây là mô tả cấu trúc tổng thể mẫu thu thập
được sau khi đã làm sạch dữ liệu (Bảng 1).
Bảng 1. Mô tả cấu trúc tổng thể mẫu
STT
1
Biến quan sát Tần suất
Tỷ lệ %
Giới tính
Nam
94
36,9
63,1
Nữ
161
Tuổi
2
3
4
5
18 - 22
23 - 30
31 - 40
> 41
83
32,4
47,1
12,1
5,4
120
31
2.3. Phương pháp nghiên cứu
14
Nghề nghiệp
Nghiên cứu được thực hiện bằng cả 2
phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên
cứu định lượng. Nghiên cứu định tính được
thực hiện bằng phương pháp kết hợp giữa ý
kiến 02 chuyên gia và phỏng vấn sâu 10 người
tiêu dùng đã và đang sử dụng dịch vụ Grabcar.
Kết hợp với các nghiên cứu trước và nghiên
cứu định tính chúng tôi điều chỉnh thang đo cho
phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở Việt Nam
và đưa ra mô hình nghiên cứu ban đầu. Sau đó,
sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu
được mã hóa, nhập và làm sạch. Nghiên cứu
định lượng thực hiện gồm 38 biến quan sát (32
biến độc lập, 6 biến phụ thuộc) được sử dụng
bằng thang đo Likert 5 mức độ. Phân tích dữ
liệu sẽ được tiến hành bởi phần mềm SPSS với
các kỹ thuật sau: thống kê mô tả, phân tích độ
tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố
khám phá – EFA, kiểm tra tương quan giữa các
biến được đo bằng kiểm tra Bartletf với mức ý
nghĩa 5% và phân tích hồi quy.
Nhân viên
Kinh doanh
Sinh viên
Khác
116
45,5
9,8
25
78
30.5
14,1
36
Trình độ
18
Trung học
Cử nhân
Cao học
Khác
7,0
76,9
7,5
196
19
22
8,6
Thu nhập
90
<5 triệu VND
35,3
30,6
19,6
14,5
5–10 triệu VND
11–15 triệuVND
> 15 triệu VND
78
50
37
Nguồn: Tổng hợp dữ liệu thu thập của nghiên cứu
Nhóm này chủ yếu gồm nữ, tuổi từ 18 đến 30
và trình độ đại học, hầu hết là nhân viên, thu nhập
trung bình chủ yếu khoảng 5-10 triệu đồng và nhu
cầu về Grabcar ở mức trung bình.
2.4.2. Phân tích dữ liệu
Độ tin cậy của thang đo: Sau khi phân tích
độ tin cậy thang, cả 9 thang đo có hệ số
Cronbach’s Alpha >0,7, các hệ số tương quan
biến tổng lớn hơn 0,3, các hệ số tương quan nếu
2.4. Kết quả nghiên cứu
2.4.1. Mô tả mẫu
Mẫu được chọn bằng phương pháp phi xác
suất thuận tiện. Để tiến hành phân tích nhân tố,
38
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
bỏ biến nhỏ hơn Cronbach’s Alpha. Do đó, thang
đo được chấp nhận. Kết quả chạy phân tích EFA
cho thấy, hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) đạt
0,850 thỏa mãn 0,5≤ KMO ≤1, sig của kiểm định
Bartletf là 0,000 (có ý nghĩa thống kê).
Bảng 2. Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo và phân tích EFA
Ký
Hệ số
Hệ số
Thang đo
hiệu
biến
KV1
KV2
KV3
KV4
Mô tả biến
Cronbach’
hội tụ
sAlpha
Grabcar giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian.
Grabcar giúp tiết kiệm rất nhiều tiền.
Grabcargiúplàmđượcnhữngviệcquantrọnghơntrongngày.
Grabcar giúp việc đi lại của dễ dàng hơn.
0,868
0,829
0,880
0,890
0,755
0,768
0,794
0,754
0,707
0,830
Kỳ vọng về kết
quả (KV)
0,750
0,76
MUC1 Ứng dụng đặt xe Grabcar rất dễ sử dụng.
MUC2 Có thể sử dụng Grabcar ở bất cứ đâu.
MUC3 Có thể sử dụng Grabcar bất cứ lúc nào.
MUC4 Sử dụng thành thạo dịch vụ Grabcar thật dễ dàng.
ANH1 Bạn bè tôi khuyên nên sử dụng Grabcar.
ANH2 Các thành viên trong gia đình khuyên nên sử dụng Grabcar.
Mức độ dễ dàng
(MUC)
Sự ảnh hưởng của
xã hội (ANH)
Grabcar là một chủ đề thường xuyên được đề cập bởi
những người xung quanh.
Grabcar là một chủ đề thường xuyên được các
phương tiện truyền thông nhắc đến.
0,75
ANH3
0,789
0,850
ANH4
DIE1
DIE2
Có đủ tiền để sử dụng Grabcar.
Có đủ kiến thức công nghệ để sử dụng Grabcar.
0,785
0,702
0,876
0,821
Các điều kiện
thuận lợi (DIE)
0,87
0,85
TRA1 Sử dụng Grabcar luôn khiến hài lòng.
TRA2 Sử dụng Grabcar mang lại sự thoải mái.
Trải nghiệm thú
vị cho người dùng
(TRA)
Sử dụng Grabcar cho cảm giác tận hưởng những
thành tựu của công nghệ.
TRA3
0,767
TRA4 Ứng dụng Grabcar mobile được thiết kế thân thiện.
0,710
0,891
0,774
0,826
0,811
0,874
0,865
GIA1
GIA2
GIA3
PHU1
Dịch vụ Grabcar có giá hợp lý.
Dịch vụ Grabcar đáng giá.
Dịch vụ Grabcar rẻ hơn taxi truyền thống.
Di chuyển bằng Grabcar thuận tiện hơn.
Giá trị về giá cả
0,83
0,82
(GIA)
Sự hấp dẫn của
phương tiện cá
nhân (PHU)
PHU2 Di chuyển bằng Grabcar nhanh hơn.
PHU3 Du lịch với Grabcar rẻ hơn phương tiện cá nhân.
Sử dụng dịch vụ Grabcar giúp kiểm soát thời gian di
chuyển tốt hơn.
PHU4
0,765
GTR1 Sử dụng dịch vụ Grabcar giúp tự tin hơn.
GTR2 SửdụngdịchvụGrabcarkhiếncảmthấyđượctôntrọnghơn.
GTR3 SửdụngdịchvụGrabcarchophépthểhiệnđẳngcấpcủamình.
0,905
0,840
0,821
0,754
0,610
0,719
0,763
Giá trị xã hội
0,91
0,83
(GTR)
SửdụngdịchvụGrabcarchophéptôithểhiệnphongcáchcánhân.
GTR4
HVI1
HVI2
HVI3
Sẽ có thể tiếp tục sửdụng dịch vụ Grabcar trong tương lai.
Sẽ nghĩ ngayđến dịch vụ Grabcarbất cứkhi nào tôi cần.
Sẽ sử dụng Grabcar thường xuyên hơn.
Hành vi sử dụng
dịch vụ Grabcar
(HVI)
MuốngiớithiệuGrabcarchongườithân,bạnbèvàđốitáccủatôi.
HVI4
HVI5
0,604
0,611
Sử dụng dịch vụ Grabcar đã trở thành thói quen.
Sử dụng Grabcar đã trở thành một phần không thể
thiếu trong cuộc sống.
HVI6
0,573
KMO = 0,85; sig =0,000; % giải thích = 75,02%
Nguồn: Tính toán bằng phần mềm SPSS của chúng tôi
39
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Phạm Văn Kiên và các tgk
Phân tích nhân tố là thích hợp và các biến có
liên quan với nhau trong tổng thể. Tất cả các biến
độc lập đều có hệ số tải nhân tố ≥ 0,5, đạt yêu
cầu. Các nhóm nhân tố sau khi chạy phân tích
nhân tố giải thích được 75,02% biến thiên của dữ
liệu. Biến quan sát phân thành 8 nhóm nhân tố
ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar
của người tiêu dùng tại Việt Nam như bảng kết
quả phân tích nhân tố (Bảng 2).
phần liên quan đến kỳ vọng về kết quả nhận được
khi sử dụng dịch vụ Grabcar có thể được suy
luận, làm rõ trong các nhóm nhân tố khác, đó là
biến KV1 (Sử dụng dịch vụ Grabcar giúp tiết
kiệm được nhiều thời gian) và biến KV3 (Sử
dụng dịch vụ Grabcar giúp làm được nhiều việc
quan trọng hơn trong ngày) có thể được làm rõ
bởi các biến PHU2 (Di chuyển bằng dịch vụ
Grabcar thì nhanh hơn phương tiện cá nhân) và
Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính: Tiến PHU4 (Sử dụng dịch vụ Grabcar giúp kiểm soát
hành phân tích mô hình hồi quy tuyến tính bằng phần thời gian di chuyển tốt hơn phương tiện cá nhân)
mềmSPSS chúng ta có kết quả cuối cùng như sau:
trong nhóm nhân tố sự hấp dẫn của phương tiện
cá nhân. Qua đó, phương trình hồi quy tuyến tính
được xây dựng như sau:
Bảng 3. Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính
Hệsố
Hệsốchưachuẩnhóa
chuẩnhóa
Nhân
HVI (Grabcar) = 0,155 * GTR + 0,214 * PHU +
0,099*DIE+0,184*TRA+0,223*GIA+0,201*ANH
Từ kết quả phân tích mô hồi quy và đối chiếu
với các giả thuyết nghiên cứu ban đầu, có thể kết
luận như sau: Với độ tin cậy 95%, có 6 nhân tố ảnh
hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar của
người tiêu dùng tại Việt Nam, xếp theo thứ tự quan
trọng từ cao đến thấp, lần lượt: GIA (Giá trị về giá
cả), PHU (Sự hấp dẫn của phương tiện cá nhân),
ANH (Sự ảnh hưởng của xã hội), TRA (Trải
nghiệm thú vị cho người dùng), GTR (Giá trị xã
hội) và DIE (Các điều kiện thuận lợi). Sáu nhân tố
này có mối quan hệ cùng chiều với hành vi sử
dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng.
t
Sig
tố
Độ lệch
chuẩn
B
Beta
Hằng
số
-0,218
0,208
-
-1,051
0,294
GTR
PHU
DIE
0,126
0,168
0,109
0,199
0,214
0,185
0,019
0,051
0,039
0,040
0,055
0,061
0,050
0,044
0,033
0,042
0,155
0,214
0,099
0,184
0,223
0,201
0,027
0,058
3,239
4,221
1,998
3,231
4,272
4,237
0,583
1,211
0,001
0,000
0,047
0,001
0,000
0,000
0,561
0,227
TRA
GIA
ANH
MUC
KV
R2 hiệu chỉnh = 0.720
Nguồn: Dữ liệu phân tích hồi quy từ phần mềm SPSS
Giá trị của kiểm định t đối với giả thuyết về
các hệ số hồi quy nếu có mức ý nghĩa sig < 0,05
chứng tỏ rằng, giả thuyết H0: hệ số hồi quy bằng
0 (βi=0) bị bác bỏ với độ tin cậy 95%. Từ kết quả
hồi quy tại bảng 3 cho thấy, giá trị kiểm định t đối
với hệ số hồi quy của các nhân tố GTR, PHU,
DIE, TRA, GIA, ANH có mức ý nghĩa sig < 0,05
thỏa mãn tiêu chuẩn thống kê nên được chấp
nhận và giữ lại trong mô hình hồi quy. Các nhân
tố MUC và KV có sig > 0,05 không có ý nghĩa
thống kê nên bị bác bỏ và loại khỏi mô hình hồi
quy. Điều này có thể giải thích được như sau: 1)
Với mô hình và cách thức vận hành kinh doanh
hiện tại đa phần người tiêu dùng đều cảm thấy là
không quá phức tạp để sử dụng do đó vấn đề sử
dụng dịch vụ Grabcar có dễ dàng hay không là
không quan trọng đối với họ; 2) Các biến thành
Kết quả phân tích độ phù hợp của mô hình
hồi quy mới mẫu nghiên cứu cho thấy, R2 hiệu
chỉnh = 0,620 nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính
đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu của mẫu
nghiên cứu ở mức 62%, nói cách khác trong phạm
vi dữ liệu thu thập được từ mẫu nghiên cứu cho
thấy, trong 100% sự biến động của biến phụ thuộc
“Hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu
dùng tại Việt Nam”, có 62% sự biến động là do tác
động từ các biến độc lập, còn lại 38% là do sai số
ngẫu nhiên hoặc các yếu tố khác ngoài mô hình.
2.4.3. Một số giải pháp nâng cao hành vi sử
dụng dịch vụ taxi công nghệ
Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng và
thảo luận đã trình bày ở phần trên, chúng tôi
40
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
khuyến nghị muốn tăng lợi nhuận, mở rộng thị
phần Grabcar nói riêng và các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ taxi công nghệ nên chú trọng
đến các yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi sử
dụng dịch vụ của người tiêu dùng và phân bổ
nguồn lực nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh
theo các mức độ ưu tiên như sau:
đến một số giải pháp như: Nâng cao hoạt động
quản lý, điều phối xe để đảm bảo luôn có đủ số
lượng xe duy trì phục vụ người tiêu dùng tại
từng thời điểm,... quan tâm nâng cao hoạt động
quản lý và thiết lập tiêu chuẩn chất lượng dịch
vụ để các tài xế tuân thủ cam kết về thời gian di
chuyển đối với người tiêu dùng;
Giá trị về giá cả có tác động mạnh nhất đến
hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu
dùng. Lưu ý vấn đề giá cả cần đặt bên cạnh yếu tố
về chất lượng dịch vụ để xem xét trong mối quan
hệ tổng thể. Nói cách khác, các doanh nghiệp có
thể cung cấp mức giá rẻ hơn đối thủ ở cùng mức
chất lượng dịch vụ hoặc thực hiện bằng cách cung
cấp chất lượng dịch vụ tốt hơn đối thủ với cùng
mức giá. Với mô hình kinh doanh hiện tại,
Grabcar cũng như các doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ taxi kiểu mới đang có nhiều lợi thế (quản
lý tự động bằng phần mềm, cần ít nhân sự, không
tốn chi phí lãi vay để đầu tư ban đầu, không cần
trả lương cố định cho tài xế, không cần nhân sự
duy trì hệ thống tổng đài...) để tiết giảm chi phí
dẫn đến giảm giá với cùng mức dịch vụ cung cấp
so với đối thủ là taxi truyền thống. Grabcar cần
tiếp tục khai thác lợi thế này của mình và ngày
càng nâng cao hơn bằng những biện pháp như tiếp
tục hoàn thiện hệ thống phần mềm dịch vụ, thiết
kế linh hoạt nhiều phương thức thanh toán...
Tương lai, kinh doanh dịch vụ taxi kiểu mới sẽ
ngày càng suy giảm và các doanh nghiệp taxi
truyền thống sẽ dần cân bằng các lợi thế này, khi
đó cuộc chiến sẽ chuyển hướng sang cạnh tranh ở
yếu tố cung cấp dịch vụ tốt hơn ở cùng mức giá;
Sự hấp dẫn của phương tiện cá nhân đứng
thứ 2/6 yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng
dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng. Yếu tố này
tập trung vào những giá trị do dịch vụ Grabcar
đem lại gồm sự thuận tiện, nhanh chóng, chi phí
thấp, kiểm soát thời gian di chuyển tốt hơn so
với phương tiện cá nhân (xe máy) sẽ góp phần
thúc đẩy hành vi sử dụng dịch vụ của người tiêu
dùng. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ taxi
kiểu mới để tăng tính cạnh tranh cần quan tâm
Sự ảnh hưởng của xã hội (lời khuyên từ gia
đình, bạn bè, thông tin trao đổi truyền miệng từ
mọi người xung quanh) có ảnh hưởng đến hành
vi sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng.
Các doanh nghiệp nên tập trung vào cách tiếp cận
người tiêu dùng tiềm năng của mình gián tiếp
thông qua những bài chia sẻ trải nghiệm, đánh giá
dịch vụ của bên thứ ba có uy tín trên các blog,
diễn đàn hay kênh fanpage Facebook, Youtube sẽ
đem lại nhiều hiệu quả hơn là dồn nỗ lực vào các
kênh giới thiệu trực tiếp dịch vụ với người tiêu
dùng. Khi tiến hành hoạt động gây ảnh hưởng lên
người tiêu dùng tiềm năng bằng cách sử dụng ý
kiến chia sẻ của bên thứ ba do đặc điểm khách
hàng sử dụng dịch vụ, doanh nghiệp nên tập trung
trong độ tuổi học sinh, sinh viên và nhiều nhất là
người đang đi làm có thu nhập ổn định;
Trải nghiệm thú vị cho người dùng cũng là
một yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng đến hành vi
sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu dùng.
Điều này gợi ý một số giải pháp gồm: Kiểm soát
chất lượng xe tham gia dịch vụ ở ngưỡng tối thiểu
cho phép để đem đến cảm giác hài lòng, thoải mái
cho khách hàng; Tạo ra sự vui vẻ, thoải mái hơn
cho khách hàng khi đi xe (mở nhạc giao hưởng,
phục vụ khách hàng....); Trang bị thiết bị sạc điện
thoại trên xe phục vụ khách hàng; Tiếp tục nâng
cao tính thân thiện với người dùng trên ứng dụng
di động để đem lại nhiều trải nghiệm tích cực hơn;
Giá trị xã hội cũng ảnh hưởng tích cực đến
hành vi sử dụng Grabcar, được đánh giá thông qua
các tiêu chí như việc sử dụng dịch vụ giúp bản
thân người tiêu dùng cảm thấy tự tin hơn, được tôn
trọng, thể hiện đẳng cấp, phong cách cá nhân tốt
hơn. Các doanh nghiệp cần xem xét đa dạng hóa
danh mục sản phẩm bằng cách thiết kế thêm các
41
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Phạm Văn Kiên và các tgk
loại hình taxi đặc biệt để phục vụ phân khúc khách
hàng này như taxi bằng các loại xe cao cấp, taxi
cho phép chọn loại xe đặt lịch trước,...;
là 255. Phân tích hồi quy giữa nhân tố phụ thuộc
(hành vi sử dụng dịch vụ) và 8 nhân tố độc lập đạt
được khi phân tích nhân tố khám phá cho thấy có 6
nhân tố có ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ
Grabcar của người tiêu dùng tại Việt Nam với mức
độ quan trọng được sắp xếp theo thứ tự từ cao đến
thấp như sau: 1) Giá trị về giá cả; 2) Sự hấp dẫn
của phương tiện cá nhân; 3) Sự ảnh hưởng của xã
hội; 4) Trải nghiệm thú vị cho người dùng; 5) Giá
trị xã hội; và 6) Các điều kiện thuận lợi. Chúng tôi
cũng khuyến nghị một số giải pháp các doanh
nghiệp nên chú trọng để ảnh hưởng tích cực đến
hành vi sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng và
phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hoạt động kinh
doanh, tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần.
Các điều kiện thuận lợi được đánh giá đứng ở
vị trí thấp nhất trong 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi sử dụng dịch vụ Grabcar của người tiêu
dùng. Hàm ý quản trị rút ra từ nhóm yếu tố các
điều kiện thuận lợi là Grabcar cũng như các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ taxi kiểu mới cần quan
tâm nhiều hơn đến vấn đề thiết kế ứng dụng đặt xe
trên di động dễ dàng cho người tiêu dùng sử dụng.
3. KẾT LUẬN
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thông qua
hai giai đoạn là nghiên cứu định tính và nghiên cứu
định lượng. Việc khảo sát dữ liệu bằng cách khảo
sát trực tiếp người tiêu dùng số lượng mẫu khảo sát
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Im, I., Hong, S., & Kang, M. S. (2011), An international comparison of technology adoption:
Testing the UTAUT model, Information & management, 48(1).
[2] Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J. & Anderson, R. E. (2016), Multivariate data analysis (7th
ed., pp. 207-219), Pearson Education.
[4] Martins, C., Oliveira, T., & Popovič, A. (2014), Understanding the Internet banking adoption:
A unified theory of acceptance and use of technology and perceived risk application,
International Journal of Information Management, 34(1).
[5] Sheth, J. N., Newman, B. I., & Gross, B. L. (1991), Consumption values and market choices:
Theory and applications, Cinicinnati, OH: South-Western Pub.
[6] Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003), User acceptance of
information technology: Toward a unified view, MIS quarterly.
[7] Venkatesh,V.,Thong,J.,&Xu,X.(2012), Consumer Acceptance and Use of Information Technology:
Extending the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology, MIS Quarterly, 36(1).
Ngày nhận bài: 03-4-2020. Ngày biên tập xong: 04-9-2020. Duyệt đăng: 24-9-2020
42
Bạn đang xem tài liệu "Hành vi của người tiêu dùng đối với dịch vụ Grabcar và giải pháp nâng cao thị phần taxi công nghệ tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hanh_vi_cua_nguoi_tieu_dung_doi_voi_dich_vu_grabcar_va_giai.pdf

