Nghiên cứu mô hình lựa chọn E-learning của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65 51  
Nghiên cứu mô hình lựa chọn E-learning của sinh viên đại học tại  
Thành phố Hồ Chí Minh  
E-learning adoption model: The case of higher education students in  
Ho Chi Minh City  
Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên1*, Chung Tuyết Minh1, Nguyễn Văn Đại1  
1Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: quy[email protected].vn  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
Bài báo nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn  
học tập trực tuyến (TT/E-learning) của sinh viên đại học tại Thành  
phố Hồ Chí Minh. Lý thuyết UTAUT được sử dụng để hình thành  
khung phân tích cho nghiên cứu. Bộ dữ liệu khảo sát 400 sinh viên  
đại học, đã trải nghiệm khoá học trực tuyến hoặc là đối tượng tiềm  
năng cho hình thức học tập này được sử dụng cho phân tích định  
lượng, bao gồm phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy  
tuyến tính. Kết quả nghiên cứu xác định được 06 yếu tố có ảnh  
hưởng tích cực đến quyết định tham gia học tập trực tuyến của  
người học, bao gồm: (1) Lãnh đạo, quản lý toàn diện trong đào tạo  
trực tuyến, (2) Năng lực của giảng viên trong hoạt động dạy và học  
trực tuyến, (3) Cơ sở hạ tầng và công nghệ trong đào tạo trực tuyến,  
(4) Hỗ trợ đại học trong đào tạo trực tuyến, (5) Ảnh hưởng chính  
trị, xã hội trong đào tạo trực tuyến và (6) Ý thức cộng đồng về học  
tập. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học cho các chính sách  
nhằm thúc đẩy việc lựa chọn học tập trực tuyến .  
Ngày nhận: 12/04/2021  
Ngày nhận lại: 25/05/2021  
Duyệt đăng: 28/05/2021  
Từ khóa:  
e-learning; hồi quy tuyến tính;  
phân tích nhân tố; UTAUT  
ABSTRACT  
The study aims to explore the determinants of E-learning  
adoption of higher education students in Ho Chi Minh City. Based on  
the UTAUT theory, the analytical framework for the study was  
formed. The surveys of 400 students who have experienced E-  
learning or are potential for E-learning have been performed for  
Exploratory Factor Analysis (EFA) and linear regression techniques.  
The results of the study show that 06 factors positively impact on the  
E-learning adoption of students, including: (1) Leadership,  
comprehensive management, (2) The capacity of lecturers, (3)  
Infrastructure and technology, (4) Universitysupport, (5) Political and  
social influence and (6) Public awareness. The results of the study are  
the scientific basis for policies to promote E-learning adoption.  
Keywords:  
e-learning adoption; linear  
regression; EFA; UTAUT  
1. Giới thiệu  
Các lý thuyết kinh tế đã chỉ ra rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình  
tăng trưởng và phát triển của các quốc gia. Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hiệp quốc (SDGs)  
52 Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65  
và chương trình hành động đến năm 2030 đã nhấn mạnh yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục là tạo  
điều kiện cho mọi người với mọi trình độ khác nhau được học mọi nơi, mọi lúc và học tập suốt  
đời (Chankseliani & McCowan, 2021). Mục tiêu và chương trình hành động mà Liên hiệp quốc  
(SDGS) đặt ra cho ngành giáo dục được diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và đặc biệt là  
cuộc Cách mạng Công nghiệp lần Thứ 4 đã và đang chuyển hóa giáo dục. Cụ thể là việc học tập  
dựa trên kỹ thuật số, kết nối băng thông rộng với Internet và phương tiện truyền thông đã mang  
đến những thay đổi mang tính chất quan trọng đối với cách mà các cơ sở giáo dục đại học cung  
cấp cơ hội học tập cho sinh viên. Thế mạnh lớn nhất của học tập trực tuyến là học tập suốt đời và  
thúc đẩy các cơ hội giáo dục bình đẳng bất kể tuổi tác, giới tính, chủng tộc và vị trí địa lý, góp  
phần nâng cao chất lượng giáo dục trong một xã hội dựa trên tri thức (Rodrigues, Almeida,  
Figueiredo, & Lopes, 2019).  
Dịch bệnh Corona (Covid-19) bùng phát làm cho 1.5 tỷ sinh viên và 63 triệu trường học  
trên thế giới đã ngay lập tức thay đổi phương thức đào tạo truyền thống bằng các khoá học trực  
tuyến (Valverde-Berrocoso, Arroyo, Videla, & Morales-Cevallos, 2020). Việt Nam cũng không  
nằm ngoài ngoại lệ đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều văn bản chỉ đạo liên quan đến vấn đề  
phòng chống dịch Covid-19, chủ trương chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo là “cho học sinh, sinh  
viên tạm dừng đến trường nhưng không dừng học” và theo phát biểu của thứ trưởng Nguyễn Văn  
Phúc tại Hội nghị “Đào tạo trực tuyến giáo dục đại học trong bối cảnh dịch Covid-19” vào ngày  
17 tháng 04 năm 2020, học tập trực tuyến là cơ hội để cải thiện chất lượng dạy và học của cơ sở  
giáo dục, đa dạng phương thức đào tạo, người học có nhiều lựa chọn hơn và góp phần nâng cao  
chất lượng giáo dục” (UTC Online Education, 2020).  
Thành phố Hồ Chí Minh được xem là một trong những trung tâm Kinh Tế (KT), Tài Chính  
(TC), Thương Mại (TM) và Dịch Vụ (DV) của cả nước. Đây cũng là hạt nhân của vùng Kinh Tế  
Trọng Điểm (KTTĐ) phía Nam, một trong ba vùng KTTĐ lớn nhất nước. KT thành phố tăng  
trưởng khá nhanh, bình quân giai đoạn 2016 - 2019, tốc độ tăng trưởng đạt 7.72%/năm, luôn giữ  
vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước, đóng góp hơn 22% GDP và 27% tổng thu ngân sách cả nước.  
Đây cũng là địa phương đi đầu triển khai đề án xây dựng thành phố thông minh, trong đó giáo dục  
thông minh được đặc biệt quan tâm. Chủ trương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền  
thông trong giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học là những chính sách lớn của Đảng và  
chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh (Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, 2020).  
Tuy nhiên, việc đảm bảo thành công của hệ thống học tập trực tuyến là một nhiệm vụ khó  
khăn. Trên thực tế, một số vấn đề trong quá trình triển khai hệ thống học tập trực tuyến được nhận  
thấy như: tỷ lệ thất bại của các dự án học tập trực tuyến cao, sự chấp nhận và hài lòng của người  
sử dụng phương thức học tập trực tuyến thấp, sự kém hiệu quả của việc học tập trực tuyến đối với  
thành tích học tập (Pham & Tran, 2018). Điều này là rào cản cho việc triển khai, áp dụng hệ thống  
học tập trực tuyến tại các cơ sở giáo dục, thể hiện cụ thể trong báo cáo ngày 17 tháng 04 năm 2020  
của Vụ giáo dục đại học, Bộ Giáo dục Đào tạo tại Hội nghị trực tuyến “Đào tạo trực tuyến giáo  
dục đại học trong bối cảnh dịch Covid-19”. Hiện tại, Việt Nam có 82 cơ sở giáo dục đại học (chiếm  
tỷ lệ 42%), chưa thực hiện đào tạo trực tuyến (UTC Online Education, 2020).  
Vì vậy, bài báo này nhằm nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn học tập trực  
tuyến của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng là cơ  
sở khoa học cho các bên liên quan phát triển hệ thống học tập trực tuyến tại Thành phố Hồ Chí  
Minh và cả nước, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nước nhà.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Các khái niệm  
2.1.1. Học tập trực tuyến (E-learning)  
Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65 53  
Để tìm ra được một định nghĩa chung về học tập trực tuyến là một trong những thách đố  
lớn đối với cộng đồng nghiên cứu. Selim (2007) coi học tập trực tuyến là việc liên quan đến vấn  
đề dạy và học bằng điện tử cùng với những thước đo hành chính nhằm củng cố hoạt động đào tạo  
trong môi trường Internet, và đưa ra định nghĩa xa hơn về giáo dục trực tuyến đó là việc thực hiện  
đào tạo bằng những phương tiện điện tử. Bates (2007) đã chia sẻ quan điểm này khi cho rằng học  
tập trực tuyến là tất cả những hoạt động dựa trên nền tảng máy tính và Internet để hỗ trợ đào tạo  
trực tiếp và từ xa. Cheng (2011) cũng thống nhất quan điểm học tập trực tuyến là học tập điện tử,  
một công cụ sử dụng Internet, mạng nội bộ và mạng extranet để hướng dẫn người học. Tuy nhiên,  
Tavangarian, Leypold, Nölting, Röser, và Voigt (2004) tranh luận rằng sử dụng điều kiện về công  
nghệ để định nghĩa học tập trực tuyến là chưa đủ. Các tác giả bổ sung bản chất kiến tạo của công  
nghệ bằng cách khẳng định rằng nó không những là thủ tục mà còn biến đổi người học. Hơn nữa,  
sự ủng hộ đối với việc học tập trực tuyến được ghi nhận bởi nghiên cứu của Oblinger và Hawkins  
(2005), trong đó cho rằng việc học tập trực tuyến bao hàm tất cả việc học hoặc hầu hết sự tiếp xúc  
của người học với các khóa học diễn ra trên mạng, với việc thảo luận bằng tương tác trên mạng  
giữa các bên liên quan. Đồng thời, học tập trực tuyến được hiểu là một phương thức kiến tạo, ở  
đó, người học tạo ra giá trị khi kết nối với mạng lưới và thông qua tương tác thảo luận. Như vậy,  
định nghĩa đầy đủ về học tập trực tuyến là một cách tiếp cận sáng tạo nhằm tạo ra môi trường học  
tập được thiết kế tốt, lấy người học làm trung tâm, tương tác và tạo điều kiện cho bất cứ ai, bất cứ  
lúc nào, sử dụng các thuộc tính và tài nguyên của các công nghệ kỹ thuật số khác nhau cùng với  
tài liệu phù hợp, với môi trường học tập mở, linh hoạt và phân tán (Khan, 2005).  
2.1.2. Người học  
Tại Điều 80 của Luật Giáo dục năm 2019 (Quốc hội, 2019) có quy định người học là đối  
tượng đang tham gia vào việc học tập trong hệ thống giáo dục quốc gia bao gồm: mầm non, giáo  
dục phổ thông, cao đẳng, đại học, sau đại học. Trong nghiên cứu này, người học được giới hạn là  
sinh viên đại học, đã trải nghiệm khoá học trực tuyến hoặc là đối tượng tiềm năng cho hình thức  
học tập này. Lý do nghiên cứu tập trung vào đối tượng này vì đây là nguồn nhân lực chất lượng  
cao, là những nhân tố vàng và kế thừa trọng trách đưa đất nước đi lên và là những lực lượng đi  
đầu và tiên phong trong việc áp dụng những công nghệ mới.  
2.2. Lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng E-learning  
Theo Venkatesh, Morris, Davis, và Davis (2003) hầu hết các nghiên cứu về hệ thống thông  
tin đã được tiến hành trong bối cảnh tự nguyện lẫn bắt buộc. Các tác giả đã chỉ ra được những  
nhược điểm từ các nghiên cứu trước đây khi áp dụng mô hình hành động hợp lý (TRA) của  
Fishbein và Ajzen (1975); mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1986), Venkatesh và  
Davis (1996); mô hình động lực (MM) của Davis, Bagozzi, và Warshaw (1992); mô hình hành vi  
có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991); mô hình kết hợp TAM và TPB (C-TAM-TPB) của Taylor  
và Todd (1995); mô hình sử dụng máy tính cá nhân (MPCU) của Thompson, Higgins, và Howell  
(1991); mô hình khuếch tán sự đổi mới (IDT) của Rogers (1995); mô hình nhận thức xã hội (SCT)  
của Compeau và Higgins (1995). Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (Lý  
thuyết UTAUT) được Venkatesh và cộng sự (2003) xây dựng với mục đích kiểm tra sự chấp nhận  
công nghệ và sử dụng cách tiếp cận thống nhất, dựa trên các nhóm yếu tố về hiệu quả kỳ vọng  
(PE); nỗ lực kỳ vọng (EE), ảnh hưởng xã hội (SI), điều kiện thuận lợi (FC) và các thuộc tính cá  
nhân của người sử dụng (xem Hình 1).  
54 Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65  
Sự tự nguyện  
Kinh ngiệm  
Giới tính (G)  
Tuổi (A)  
VU)  
(E)  
Kỳ vọng hiệu  
quả (PE)  
Kỳ vọng nỗ lực  
Ý định hành  
Hành vi sử  
dụng (UB)  
(EE)  
vi (BI)  
Ảnh hưởng xã  
hội (SI)  
Điều kiện thuận  
lợi  
(FC)  
Hình 1. Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)  
(Venkatesh et al., 2003)  
Nghiên cứu của Nguyen, Nguyen, và Cao (2014) về “Sự chấp nhận và sử dụng đào tạo trực  
tuyến trên điện toán đám mây” cho thấy đào tạo trực tuyến đang là một xu hướng mới của nền  
giáo dục hiện đại. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình mở rộng của lý thuyết thống nhất chấp nhận và  
sử dụng công nghệ (UTAUT2) để tìm hiểu sự chấp nhận và sử dụng đào tạo trực tuyến trên điện  
toán đám mây ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố trong mô hình như PE, EE, SI,  
FC, động lực thụ hưởng và thói quen có ảnh hưởng đến ý định và hành vi sử dụng đào tạo trực  
tuyến. Các biến độc lập này giải thích được khoảng 75% cho mô hình về sự chấp nhận và sử dụng  
đào tạo trực tuyến trên điện toán đám mây. Balboni, Perrucci, Cacciamani, và Zumbo (2018) cho  
thấy việc tạo cảm giác cộng đồng trong các lớp học trực tuyến góp phần vào sự duy trì của học  
viên và sự hài lòng chung của họ với chính khóa học. Do đó, ý thức cộng đồng được xem là một  
yếu tố trong mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn khoá học trực tuyến. Nghiên cứu của  
Rajabalee và Santally (2020) phân tích phản hồi của sinh viên và báo cáo kết quả nghiên cứu về  
mối quan hệ giữa sự hài lòng của sinh viên và mức độ tham gia của họ trong một khóa học trực  
tuyến với hiệu suất tổng thể của họ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa sự hài lòng và  
mức độ tương tác có ý nghĩa và tương quan thuận. Hơn nữa, có mối tương quan yếu nhưng có ý  
nghĩa thống kê giữa sự hài lòng và mức độ tương tác với hiệu suất tổng thể của người học. Nhìn  
chung, có thể đạt được sự hài lòng với triết lý kiến tạo học tập, bất kể mức độ hiệu suất. Tuy nhiên,  
người học đã báo cáo các vấn đề liên quan đến sự hỗ trợ của trợ lý học tập và gặp khó khăn về kỹ  
thuật. Các phát hiện nêu lên ý nghĩa đối với việc hoạch định chính sách học tập trực tuyến của cơ  
sở giáo dục nhằm cải thiện trải nghiệm của sinh viên. Nghiên cứu của Harsasi và Sutawijaya (2018)  
cho thấy cấu trúc khóa học, tính linh hoạt của hướng dẫn trực tuyến và chất lượng công nghệ là  
những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên. Điều này cho thấy cơ sở giáo dục nên quan  
tâm nhiều hơn đến chất lượng của các bài giảng trực tuyến, đặc biệt là về chất lượng hình thức, tính  
dễ sử dụng và sự tương tác giữa giáo viên và học sinh.  
Dựa trên kết quả lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu thực chứng, mô hình nghiên cứu được  
đề xuất, bao gồm 02 nhóm yếu tố thuộc về ảnh hưởng xã hội (SI) và điều kiện thuận lợi (FC), được  
chi tiết thành 06 nhân tố phụ, và các biến kiểm soát thuộc về đặc điểm người học như trong Hình 2.  
Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65 55  
Lãnh đạo, quản lý toàn diện trong đào  
tạo trực tuyến  
Năng lực của giảng viên trong đào tạo  
trực tuyến  
Cơ sở hạ tầng và công nghệ trong đào  
Quyết định tham gia học  
tạo trực tuyến  
tập trực tuyến  
Hỗ trợ của trường đại học trong đào  
tạo trực tuyến  
Ảnh hưởng chính trị, xã hội trong  
GIỚI TÍNH  
ĐỘ TUỔI  
đào tạo trực tuyến  
TRÌNH ĐỘ  
Ý thức cộng đồng học tập  
Hình 2. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính  
Phần tổng quan lý thuyết là nền tảng cho việc đề xuất thang đo của mô hình lựa chọn học  
tập trực tuyến, bao gồm 35 biến quan sát. Sau đó, việc thảo luận với 20 chuyên gia được tiến hành  
để hiệu chỉnh thang đo, phục vụ cho việc xây dựng bảng hỏi cấu trúc để tiến hành khảo sát, thu  
thập dữ liệu phục vụ cho phân tích định lượng.  
3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng  
Nghiên cứu áp dụng việc lựa chọn mẫu phi xác suất do ưu thế tiết kiệm về chi phí và thời  
gian so với chọn mẫu xác suất mặc dù phương pháp chọn mẫu này mang tính chủ quan của người  
nghiên cứu do phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự hiểu biết cá nhân (Etikan, Musa, & Alkassim,  
2016). Kích thước mẫu phụ thuộc vào kỹ thuật phân tích định lượng được sử dụng và đặc điểm  
của bộ dữ liệu. Với kỹ thuật EFA, Hair, Black, Babin, và Anderson (2020) cho rằng quy mô mẫu  
tối thiểu là 50 quan sát, quy mô mẫu tốt hơn là 100 quan sát và tỉ lệ biến quan sát/biến đo lường là  
5:1, nghĩa là 01 biến đo lường cần tối thiểu 05 quan sát trở lên. Số biến quan sát trong nghiên cứu  
này là 35 biến, nên quy mô mẫu tối thiểu cho nghiên cứu này là 175 quan sát. Tuy nhiên, để tăng  
thêm độ tin cậy của tập dữ liệu, nghiên cứu tiến hành khảo sát 400 sinh viên. Kỹ thuật phân tích  
định lượng, bao gồm thống kê mô tả, EFA, kiểm định Cronbach’s Alpha, kiểm định ANOVA,  
phân tích hồi quy bội được thực hiện bằng phần mềm SPSS 22.0.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Phỏng vấn chuyên gia  
Nghiên cứu định tính được tiến hành với 20 chuyên gia có kinh nghiệm trong vấn đề nghiên  
cứu. Các chuyên gia được lựa chọn có kiến thức, hiểu biết lý thuyết về học tập trực tuyến, xây  
dựng kiến thức bằng quá trình tương tác và có nhiều kinh nghiệm thực tế với thông tin chi tiết  
trong Bảng 1.  
56 Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65  
Bảng 1  
Tóm tắt thông tin mẫu khảo sát chuyên gia  
Diễn giải  
Giới tính  
Mô tả  
Số lượng  
Tỷ lệ  
60%  
40%  
30%  
40%  
30%  
70%  
30%  
50%  
25%  
25%  
Nam  
12  
8
Nữ  
30 - 39  
40 - 49  
> 50  
6
Tuổi  
8
6
Đại học  
14  
6
Trình độ  
Lĩnh  
Trên đại học  
Giáo viên  
10  
5
vực  
nghiên  
Nhà quản lý  
Nhà nghiên cứu  
cứu/dạy trực tuyến  
5
Nguồn: Tác giả khảo sát (2020)  
Sau khi phân tích kết quả phỏng vấn chuyên gia, kết quả cho thấy các chuyên gia đều đồng  
ý về số biến quan sát của từng thang đo, tuy nhiên các chuyên gia cũng có những đóng góp ý kiến  
để bổ sung, chỉnh sửa cũng như giải thích thêm ý nghĩa của từng thang đo để hình thành nên thang  
đo hoàn thiện như ở Bảng 2.  
Bảng 2  
Bảng thang đo khảo sát chính thức  
STT  
Mã hóa  
PCLD  
Thang đo điều chỉnh  
Mức độ  
I
1
2
Lãnh đạo, quản lý toàn diện trong đào tạo trực tuyến  
Tôi quan tâm đến cách phân phối nội dung khi học tập trực tuyến 1 2 3 4 5  
PCLD1  
PCLD2  
Tôi quan tâm đến cách bảo trì nội dung khi học tập trực tuyến  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
Tôi quan tâm đến nội dung học tập rõ ràng, phong phú, số học  
khi học tập trực tuyến  
3
4
5
PCLD3  
PCLD4  
PCLD5  
Tôi quan tâm đến việc nội dung học tập phải phù hợp với mục tiêu  
khóa học khi học tập trực tuyến  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
Tôi quan tâm đến tính phù hợp của chương trình so với phương  
diện kỹ thuật của kiến thức nội dung khi học tập trực tuyến  
II NLGV  
Năng lực của người dạy trong đào tạo trực tuyến  
Tôi quan tâm đến năng lực công nghệ thông tin của giảng viên  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
6
7
NLGV1  
NLGV2  
Giảng viên cần giúp cho những người tham dự khóa học gắn kết  
với nhau và có thể tạo nên hội thoại với nhau  
Giảng viên nên giúp cho việc thảo luận tập trung các vấn đề liên  
quan theo cách giúp cho người học học tập tốt hơn  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
8
9
NLGV3  
NLGV4  
Giảng viên nên phản hồi liên tục, một cách kịp thời  
Giảng viên phải biết lắng nghe, thấu hiểu người học trong thiết  
kế khóa học và những vấn đề liên quan  
10 NLGV5  
Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65 57  
STT  
Mã hóa  
Thang đo điều chỉnh  
Mức độ  
Cơ sở hạ tầng (CSHT) và công nghệ (CN) trong đào tạo trực  
tuyến  
III CSHTCN  
11 CSHTCN1  
12 CSHTCN2  
13 CSHTCN3  
Tôi cho rằng vấn đề an ninh mạng và thông tin cá nhân của người  
học phải được bảo mật khi tham gia học tập trực tuyến  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
Tôi cho rằng việc học tập trực tuyến đòi hỏi tốc độ Internet phải  
nhanh và băng thông phải hiệu quả  
Tôi cho rằng quyết định học trực tuyến phụ thuộc vào thiết kế  
giao diện thân thiện với người sử dụng  
Tôi cho rằng quyết định học trực tuyến phụ thuộc vào việc hệ  
thống dễ truy cập  
14 CSHTCN4  
IV HTDH  
Hỗ trợ của cơ sở đào tạo đối với phương thức trực tuyến  
Tôi cho rằng phản hồi thông tin kịp thời là yếu tố giúp tôi quyết  
định học tập trực tuyến  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
15 HTDH1  
Tôi cho rằng hỗ trợ kỹ thuật kịp thời là yếu tố giúp tôi học tập  
trực tuyến tốt  
16  
17  
18  
HTDH2  
HTDH3  
HTDH4  
Sự dễ dàng truy cập trang web thư viện trung tâm và tìm kiếm tài  
liệu là yếu tố giúp tôi lựa chọn học tập trực tuyến  
Sự dễ dàng trong việc in bài tập & tài liệu là yếu tố giúp tôi lựa  
chọn học tập trực tuyến  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
Chương trình có nhiều chuyên ngành để lựa chọn  
19  
V
HTDH5  
CTXH  
Ảnh hưởng chính trị, xã hội trong đào tạo trực tuyến  
Học tập trực tuyến giúp người học có thể học mọi lúc, mọi nơi và  
học tập suốt đời  
1 2 3 4 5  
20  
CTXH1  
Học tập trực tuyến coi trọng năng lực của người học  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
21  
22  
CTXH2  
CTXH3  
Học để có bằng cấp so với học để có nghề nghiệp  
Có đủ, kịp thời và minh bạch các thông tin liên quan đến học tập  
trực tuyến  
1 2 3 4 5  
23  
VI  
24  
CTXH4  
YTCD  
Ý thức cộng đồng về học tập  
Tôi cảm thấy thoải mái khi tương tác trực tuyến với những người  
tham dự khóa học  
1 2 3 4 5  
YTCD1  
Tôi cảm thấy thoải mái khi bày tỏ ý kiến trái chiều với người  
tham dự khóa học trực tuyến khác trong khi vẫn duy trì được sự 1 2 3 4 5  
tin tưởng lẫn nhau  
25  
26  
YTCD2  
YTCD3  
Tôi cảm thấy quan điểm của tôi được những người tham dự khóa  
học được nhận thức  
1 2 3 4 5  
Việc thảo luận trực tuyến giúp tôi phát triển mối quan hệ hợp tác 1 2 3 4 5  
27  
28  
29  
YTCD4  
YTCD5  
YTCD6  
Tôi cảm thấy luôn mong muốn được biết nhiều hơn  
Sinh viên dễ dàng ltiếp cận với giảng viên khi cần  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
Sinh viên dễ dàng nêu lên ý kiến, quan điểm của mình về chương  
trình trực tuyến  
1 2 3 4 5  
30  
YTCD7  
58 Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65  
STT  
VII  
31  
Mã hóa  
Thang đo điều chỉnh  
Mức độ  
QDTG Quyết định tham gia học tập trực tuyến  
Tham gia các khóa học trực tuyến là một quyết định đúng đắn  
Chúng tôi sẽ tiếp tục tham gia các khóa học trực tuyến lâu dài  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
QDTG1  
QDTG2  
32  
Chúng tôi sẵn sàng giới thiệu các khóa học trực tuyến cho nhiều  
người khác  
1 2 3 4 5  
1 2 3 4 5  
33  
34  
QDTG3  
QDTG4  
Chúng tôi sẽ phổ biến lợi ích của khóa học cho nhiều cùng biết,  
cùng học  
Nguồn: Tác giả khảo sát (2020)  
4.2. Kết quả phân tích định lượng  
Cuộc khảo sát được tiến hành thông qua việc hỏi trực tiếp, dùng bảng câu hỏi cấu trúc đối  
với các sinh viên đại học đã học trực tuyến hoặc có tiềm năng học trực tuyến. Có 450 bảng câu hỏi  
đã được phát ra và cuối cùng thu về được 416 phiếu trả lời, 16 phiếu bị loại bỏ do thiếu thông tin.  
Sau khi sàng lọc, 400 phiếu đạt yêu cầu cho phân tích. Bảng 3 thể hiện thống kê mô tả mẫu khảo sát.  
Bảng 3  
Bảng thống kê mô tả mẫu khảo sát  
Mô tả các biến  
Tần số  
Tỷ lệ (%)  
(%) Tích lũy  
Giới tính  
Nam  
232  
168  
58.0  
42.0  
58.0  
Nữ  
100.0  
Độ tuổi  
> 20 tuổi - <= 30 tuổi  
> 30 tuổi =< 40 tuổi  
> 40 tuổi =< 50 tuổi  
> 50 tuổi  
244  
80  
61.0  
20.0  
11.5  
7.5  
61.0  
81.0  
46  
92.5  
30  
100.0  
Trình độ  
THPT và Trung Cấp  
ĐH VÀ CĐ  
69  
293  
19  
17.3  
73.3  
4.8  
17.3  
90.5  
Sau ĐH  
95.3  
Khác  
19  
4.8  
100.0  
Nguồn: Tác giả khảo sát (2020)  
Kết quả đánh giá thang đo trong mô hình lựa chọn E-learning trong Bảng 4 cho thấy độ tin  
cậy của thang đo qua hệ số CB (Cronbach’s Alpha). Tất cả các biến quan sát đều đạt yêu cầu để  
thực hiện phân tích EFA.  
Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65 59  
Bảng 4  
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha trước khi phân tích EFA  
Số biến Cronbach's Hệ số tương quan -  
STT  
Thang đo  
quan sát  
Alpha  
biến tổng nhỏ nhất  
Lãnh đạo, quản lý toàn diện trong đào tạo  
trực tuyến  
5
0.921  
0.730  
1
2
3
4
5
Năng lực của giảng viên trong đào tạo trực  
tuyến  
5
4
5
4
0.904  
0.908  
0.823  
0.890  
0.631  
0.722  
0.570  
0.685  
Cơ sở hạ tầng và công nghệ trong đào tạo  
trực tuyến  
Hỗ trợ của trường đại học trong đào tạo trực  
tuyến  
Ảnh hưởng chính trị, xã hội trong đào tạo  
trực tuyến  
Ý thức cộng đồng về học tập  
Quyết định tham gia học tập trực tuyến  
Tổng cộng  
7
4
0.790  
0.803  
0.057  
0.553  
6
7
34  
Nguồn: Tác giả khảo sát (2020)  
Kết quả việc thực hiện EFA sau khi kiểm tra hệ số KMO, thống kê Chi-quare của kiểm  
định Bartlett, hệ số eigenvalue và phương sai trích các cho thấy có 06 nhân tố trong mô hình lựa  
chọn E-learning với 28 biến quan sát như trong Bảng 5.  
Bảng 5  
Kết quả EFA các yếu tố quyết định đến sự lựa chọn phương thức học tập trực tuyến  
Biến quan sát  
PCLD4  
PCLD  
0.880  
0.875  
0.858  
0.839  
0.737  
NLGV  
YTCD  
CTXH  
HTDH  
CSHT  
PCLD5  
PCLD2  
PCLD1  
PCLD3  
NLGV5  
NLGV3  
NLGV2  
NLGV1  
NLGV4  
YTCD4  
YTCD5  
YTCD1  
0.916  
0.895  
0.818  
0.812  
0.713  
0.890  
0.865  
0.862  
60 Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65  
Biến quan sát  
YTCD3  
PCLD  
NLGV  
YTCD  
0.786  
0.729  
CTXH  
HTDH  
CSHT  
YTCD2  
CTXH3  
0.904  
0.885  
0.801  
0.768  
CTXH4  
CTXH1  
CTXH2  
HTDH4  
0.793  
0.792  
0.791  
0.753  
0.710  
HTDH3  
HTDH1  
HTDH5  
HTDH2  
CSHTCN4  
CSHTCN3  
CSHTCN1  
CSHTCN2  
Giá trị riêng  
Phương sai trích %  
Độ tin cậy  
Nguồn: Tác giả khảo sát (2020)  
0.870  
0.857  
0.787  
0.770  
1.502  
73.131  
0.908  
6.742  
13.985  
0.921  
3.915  
27.561  
0.904  
3.41  
40.335  
0.887  
2.756  
51.41  
0.890  
2.152  
62.346  
0.823  
Kết quả hồi quy tuyến tính ở Bảng 6 cho thấy hệ số xác định R² là 0.694 và R² điều chỉnh  
là 0.689. Trị số thống kê F đạt giá trị 148.352 được tính từ giá trị R2 của mô hình đầy đủ, tại mức  
ý nghĩa Sig = 0.000; kiểm tra hiện tượng tương quan bằng hệ số Durbin-Watson (1 < 1.199 < 3).  
Như vậy, mô hình hồi quy tuyến tính đưa ra là phù hợp với mô hình và dữ liệu nghiên cứu.  
Bảng 6  
Mô hình đầy đủ  
Thống kê thay đổi  
R2  
Sai số  
Hệ số  
Durbin-  
Watson  
R2  
thay  
đổi  
Mô hình  
R
R2  
điều chuẩn của  
chỉnh ước lượng  
F thay  
df1 df2 Sig. F  
393 0.000  
đổi  
1
0.833a 0.694 0.689 0.25671 0.694 148.352  
6
1.199  
a. Biến độc lập: HTDH, YTCD, NLGV, PCLD, CTXH, CSHT.  
Nguồn: Tác giả khảo sát (2020)  
b. Biến phụ thuộc: QDTG  
Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65 61  
Bảng 7  
Phân tích ANOVA  
Tổng các bình Bậc tự do Bình quân độ  
Giá trị  
Mô hình  
Hồi quy  
Giá trị Sig.  
phương  
58.660  
25.899  
84.559  
(df)  
lệch  
9.777  
.066  
F
6
148.352  
.000  
1
Số dư  
Tổng  
393  
399  
Nguồn: Tác giả khảo sát (2020)  
Kết quả kiểm định vai trò của các nhân tố trong mô hình lựa chọn E-learning (Bảng 8) cho  
thấy có 06 yếu tố ảnh hưởng đến đều có tác động thuận chiều (hệ số β dương) ảnh hưởng quyết  
định tham gia học tập trực tuyến với mức ý nghĩa Sig = 0.000 - 0.007 ở 06 biến đều < 0.05. Bảng  
6 cũng cho thấy dung sai các biến (độ chấp nhận) khá cao từ 0.656 trở lên và hệ số VIF của cả 06  
yếu tố nhỏ hơn 2, nghĩa là không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các yếu tố độc lập trong  
mô hình.  
Bảng 8  
Kết quả mô hình lựa chọn E-learning  
Hệ số chưa chuẩn Hệ số chuẩn  
Đa cộng tuyến  
hoá  
hoá  
Giá trị  
Mô  
hình  
Giá trị  
Yếu tố  
Sig.  
t
Sai số  
chuẩn  
Độ chấp  
nhận  
B
Beta  
VIF  
(hằng số)  
PCLD  
-0.081  
0.255  
0.057  
0.443  
0.060  
0.129  
0.110  
0.150  
0.029  
0.021  
0.031  
0.022  
0.023  
0.023  
-0.541 0.589  
0.294  
0.082  
0.498  
0.078  
0.169  
0.139  
8.831  
2.706  
0.000  
0.007  
0.702  
0.849  
0.656  
0.943  
0.826  
0.964  
1.423  
1.178  
1.524  
1.060  
1.211  
1.037  
NLGV  
1
CSHTCN  
HTDH  
14.446 0.000  
2.710  
5.504  
4.896  
0.007  
0.000  
0.000  
CTXH  
YTCD  
Nguồn: Tác giả khảo sát (2020)  
5. Kết luận kết quả nghiên cứu và kết luận  
Yếu tố Cơ sở hạ tầng công nghệ tác động lớn nhất đến quyết định tham gia học tập trực  
tuyến vì có hệ số Beta chuẩn hóa = 0.498 với Sig. = 0.000 < 0.05. Kết quả nghiên cứu này tương  
đồng với phát hiện của (Pham & Tran, 2018) khi các tác giả tìm hiểu về các yếu tố tác động đến  
việc sử dụng E-learning và kết quả học tập của sinh viên đại học ở Việt Nam. Tương tự, Nawaz  
và Khan (2012) cho rằng thiết kế giao diện trong môi trường học tập trực tuyến nên được thiết kế  
phù hợp với người học. Điều này cho thấy cơ sở hạ tầng công nghệ là nền tảng mà trên đó năng  
lực của các quốc gia, thành phố và tổ chức được xây dựng. Học tập trực tuyến cung cấp nhiều cơ  
hội và lĩnh vực cho sự đổi mới, nhưng nó cũng đưa ra những thách thức riêng cho việc thực hiện  
và cuối cùng thành công. Để giảm thiểu những thách thức này, cần có bốn thành phần quan trọng:  
hệ thống, mục tiêu, đánh giá và nhân sự kết hợp thành một để tạo ra một cơ sở hạ tầng công nghệ  
62 Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65  
có thể hỗ trợ học tập trực tuyến. Việc thiếu vắng một trong những thành phần quan trọng này có  
thể dẫn đến việc tích hợp công nghệ không thành công (Moore & Fodrey, 2018).  
Yếu tố Lãnh đạo, quản lý toàn diện trong đào tạo trực tuyến, tác động mạnh thứ 02 với hệ  
số Beta chuẩn hóa = 0. 294 với Sig. = 0.000 < 0.05. Vì vậy các nhà lãnh đạo hiệu quả không chỉ  
huy bằng quyền lực; họ truyền cảm hứng, thuyết phục và khuyến khích người khác biến tầm nhìn  
của họ thành hiện thực. Kết quả này cũng nhất quán với Chang và Lee (2013), cả phong cách lãnh  
đạo và phương thức quản lý toàn diện đều có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả học tập và cải  
thiện hiệu suất học tập của tất cả những người tham gia.  
Ảnh hưởng chính trị, xã hội trong đào tạo trực tuyến tác động mạnh thứ 03 với hệ số Beta  
chuẩn hóa = 0.169 với Sig. = 0.000 < 0.05, cho thấy yếu tố kinh tế, chính trị và tổ chức ảnh hưởng  
đến các lựa chọn phương thức học tập. Phát hiện này cũng hỗ trợ cho luận điểm của Nawaz và  
Khan (2012). Ở một số quốc gia, những thay đổi trong chính phủ có thể ảnh hưởng đến các sáng  
kiến học tập trực tuyến. Trong các xã hội khác, nội dung hoặc chủ đề của các khóa học học tập  
trực tuyến có thể bị ảnh hưởng bởi ý thức hệ chính trị và niềm tin tôn giáo. Ngoài ra, các ưu tiên  
cho các phương pháp và chiến lược giảng dạy có thể bị ảnh hưởng bởi truyền thống chính trị. Các  
yếu tố hệ thống chính trị, xã hội thực hiện và thực hành hàng ngày tác động đến kết quả học tập  
của học sinh, sinh viên (Smith, 2012).  
Ý thức cộng đồng về học tập tác động mạnh thứ 04 với hệ số Beta chuẩn hóa = 0.139 với  
Sig. = 0.000 < 0.05. Điều này cũng được khẳng định bởi (Bloom, 1984) khi cho rằng sự tham gia  
của người học là một yếu tố cần thiết cho việc học tập tích cực và gắn bó. Người học có thể chấp  
nhận những tính cách mới và có thể không cảm thấy bị bắt buộc hoặc bị áp lực khi tham gia vào  
giao tiếp trực tuyến khi họ không gặp nhau (Palloff, Pratt, & Stockley, 2001).  
Yếu tố Năng lực của giảng viên trong đào tạo trực tuyến tác động mạnh thứ 05 với hệ số  
Beta chuẩn hóa = 0.082 với Sig. = 0.007 < 0.05. Kết quả này ủng hộ kết luận của (Moore, 2014)  
khi cho thấy các giảng viên được đào tạo rất quan trọng đối với giáo dục trực tuyến. Mặc dù các  
chính sách đã thay đổi mục tiêu hoặc một số khía cạnh của bộ máy quản lý trường học, các hoạt  
động trong lớp học vẫn tương đối ổn định nhờ vào vai trò của giáo viên (Webster & Hackley,  
1997). Điều này hàm ý việc ưu tiên thu hút giảng viên chất lượng cao đến với các cơ sở đào tạo  
đại học.  
Cuối cùng là Hỗ trợ đại học trong đào tạo trực tuyến tác động thấp nhất có hệ số Beta chuẩn  
hóa thấp nhất = 0.078 với Sig. = 0.007 < 0.05. (Pham & Tran, 2018) cũng đã đề xuất giải pháp này  
nhằm tạo động cơ cho người học sử dụng hệ thống học tập trực tuyến trong chương trình học để  
nâng cao kết quả giáo dục. Phát hiện này cho thấy cần tận dụng triệt để những cơ hội mà yếu tố  
này mang lại trong việc thu hút các học viên tham gia vào phương thức học tập trực tuyến. Các tổ  
chức học tập trực tuyến nên cho người học sinh thấy rằng họ thực sự không đơn độc trong trong  
quá trình học tập (Khan, 2005).  
LỜI CÁM ƠN  
Nghiên cứu này được Bộ Giáo dục và Đào tạo và Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí  
Minh tài trợ trong đề tài mã số B2020-MBS-01.  
Tài liệu tham khảo  
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision  
Processes, 50(2), 179-211.  
Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65 63  
Balboni, G., Perrucci, V., Cacciamani, S., & Zumbo, B. D. (2018). Development of a scale of  
sense of community in university online courses. Distance Education, 39(3), 317-333.  
doi:10.1080/01587919.2018.1476843  
Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh. (2020). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành  
Đảng bộ thành phố khoá X tại Đại hội đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ X1, nhiệm kỳ 2020  
- 2025 [Political report of the Party Committee of the city, term X at the X1 Congress of Ho  
Chi Minh City Party Committee, term 2020 - 2025]. Retrieved March 7, 2021, from  
pho-khoa-x-tai-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-thanh-pho-1491870325  
Bates, M. J. (2007). Defining the information disciplines in encyclopedia development.  
Proceedings of the Sixth International Conference on Conceptions of Library and  
Information Science - “Featuring the Future”, 12(4), 29. Retrieved March 12, 2021, from  
Bloom, B. S. (1984). The 2 sigma problem: The search for methods of group instruction as  
effective as one-to-one tutoring. Educational Researcher, 13(6), 4-16.  
doi:10.3102/0013189X013006004  
Chang, W. L., & Lee, C. Y. (2013). Virtual team e‐leadership: The effects of leadership style and  
conflict management mode on the online learning performance of students in a business‐  
planning course. British Journal of Educational Technology, 44(6), 986-999.  
doi:10.1111/bjet.12037  
Chankseliani, M., & McCowan, T. (2021). Higher education and the sustainable development  
goals. Higher Education, 81(1), 1-8.  
Cheng, Y. M. (2011). Antecedents and consequences of e-learning acceptance. Information  
Systems Journal, 21(3), 269-299. doi:10.1111/j.1365-2575.2010.00356.x  
Compeau, D. R., & Higgins, C. A. (1995). Application of social cognitive theory to training for  
computer skills. Information Systems Research, 6(2), 118-143.  
Davis, F. D. (1986). A technology acceptance model for empirically testing new end-user  
information systems: Theory and results. Cambridge, MA: Massachusetts Institute of  
Technology.  
Davis, F. D., Bagozzi, R. P., & Warshaw, P. R. (1992). Extrinsic and intrinsic motivation to use  
computers in the workplace 1. Journal of Applied Social Psychology, 22(14), 1111-1132.  
Etikan, I., Musa, S. A., & Alkassim, R. S. (2016). Comparison of convenience sampling and  
purposive sampling. American Journal of Theoretical and Applied Statistics, 5(1), 1-4.  
Fishbein, M., & Ajzen, I. (1975). Belief, attitude, intention and behavior: An introduction to theory  
and research. Reading, MA: Addison-Wesley.  
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2020, November 9). Multivariate data  
analysis (8th ed.). New Delhi, India: Cengage India.  
Harsasi, M., & Sutawijaya, A. (2018). Determinants of student satisfaction in online tutorial: A  
study of a distance education institution. Turkish Online Journal of Distance Education,  
19(1), 89-99. doi:10.17718/tojde.382732  
Khan, B. H. (2005). Managing e-learning strategies: Design, delivery, implementation and  
evaluation. London, UK: Information Science Publishing.  
64 Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65  
Moore, R. L. (2014). Importance of developing community in distance education courses.  
TechTrends, 58(2), 20-24. doi:10.1007/s11528-014-0733-x  
Moore, R. L., & Fodrey, B. P. (2018). Distance education and technology infrastructure: Strategies  
and opportunities. In A. A. Piña, V. L. Lowell & B. R. Harris (Eds.), Leading and managing  
e-learning: What the e-learning leader needs to know (pp. 87-100). Cham, Switzerland:  
Springer International Publishing.  
Nawaz, A., & Khan, M. Z. (2012). Issues of technical support for e-learning systems in higher  
education institutions. International Journal of Modern Education and Computer Science,  
4(2), 38-44. doi:10.5815/ijmecs.2012.02.06  
Nguyen, T. D., Nguyen, D. T., & Cao, T. H. (2014). Sự chấp nhận và sử dụng đào tạo TT trên điện  
toán đám mây [Acceptance and use of E-learning in the cloud]. Tạp Chí Phát Triển Khoa  
Học & Công Nghệ, 17(Q3), 116-135.  
Oblinger, D. G., & Hawkins, B. L. (2005). The myth about students. EDUCAUSE Review, 40(5),  
12-13.  
Palloff, R., Pratt, K., & Stockley, D. (2001). Building learning communities in cyberspace:  
Effective strategies for the online classroom. The Canadian Journal of Higher Education,  
31(3), 175-178.  
Pham, T. Q., & Tran, P. T. (2018). Impact factors on using of e-learning system and learning  
achievement of students at several universities in Vietnam. In O. Gervasi, B. Murgante, S.  
Misra, E. Stankova, C. M. Torre, A. M. A. C. Rocha … Y. Ryu (Eds.), Computational  
science and its applications - ICCSA 2018 (pp. 394-409). doi:10.1007/978-3-319-95171-  
3_31  
Quốc hội. (2019). Luật số 43/2019/QH14 của Quốc hội: Luật Giáo dục [Law No. 43/2019/QH14  
of the National Assembly: Law on education]. Retrieved March 15, 2021, from  
=1&mode=detail&document_id=197310  
Rajabalee, Y. B., & Santally, M. I. (2020). Learner satisfaction, engagement and performances in  
an online module: Implications for institutional e-learning policy. Education and  
Information Technologies, 26, 2623-2656. doi:10.1007/s10639-020-10375-1  
Rodrigues, H., Almeida, F., Figueiredo, V., & Lopes, S. L. (2019). Tracking e-learning through  
published papers: A systematic review. Computers & Education, 136, 87-98.  
doi:10.1016/j.compedu.2019.03.007  
Rogers, E. M. (1995). Lessons for guidelines from the diffusion of innovations. The Joint  
Commission Journal on Quality Improvement, 21(7), 324-328.  
Selim, H. M. (2007). Critical success factors for e-learning acceptance: Confirmatory factor  
models. Computers & Education, 49(2), 396-413.  
Smith, R. E. (2012). Online education: The impact of economics and politics on teachers’  
situationally constrained choice (Doctoral dissertation, Marquette University, Milwaukee,  
Wisconsin,  
United  
States).  
Retrieved  
March  
05,  
2021,  
from  
ns_mu  
Tavangarian, D., Leypold, M. E., Nölting, K., Röser, M., & Voigt, D. (2004). Is e-Learning the  
solution for individual learning? Electronic Journal of E-Learning, 2(2), 273-280.  
Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên và cộng sự. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 51-65 65  
Taylor, S., & Todd, P. (1995). Decomposition and crossover effects in the theory of planned  
behavior: A study of consumer adoption intentions. International Journal of Research in  
Marketing, 12(2), 137-155.  
Thompson, R. L., Higgins, C. A., & Howell, J. M. (1991). Personal computing: Toward a  
conceptual model of utilization. MIS Quarterly, 15(1), 125-143. doi:10.2307/249443  
UTC Online Education. (2020). Đại học tiên phong đẩy mạnh chuyển đổi số giáo dục [Pioneering  
university to promote digital transformation of education]. Retrieved March 10, 2021, from  
duc.html  
Valverde-Berrocoso, J., Arroyo, M., Videla, C., & Morales-Cevallos, M. (2020). Trends in  
educational research about e-learning: A systematic literature review (2009 - 2018).  
Sustainability, 12(12), Artcile 5153. doi:10.3390/su12125153  
Venkatesh, V., & Davis, F. D. (1996). A model of the antecedents of perceived ease of use:  
Development and test. Decision Sciences, 27(3), 451-481.  
Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of information  
technology: Toward a unified view. MIS Quarterly, 27(3), 425-478. doi:10.2307/30036540  
Webster, J., & Hackley, P. (1997). Teaching effectiveness in technology-mediated distance  
learning. Academy of Management Journal, 40(6), 1282-1309. doi:10.5465/257034  
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.  
pdf 15 trang Thùy Anh 17440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mô hình lựa chọn E-learning của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mo_hinh_lua_chon_e_learning_cua_sinh_vien_dai_hoc.pdf