Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG  
THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP  
MAY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA  
Phạm Thị Bích Thu1  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng  
thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.  
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các tiêu chí đo lường chất lượng thông tin của IASB và FASB  
như tính thích hợp, tin cậy, có thể so sánh, kịp thời, dễ hiểu để đo lường chất lượng thông  
tin Báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp may. Thông qua khảo sát 145 nhà quản trị các  
cấp, kiểm soát và kế toán, kết quả nghiên cứu khẳng định môi trường pháp lý, đặc điểm  
công nghệ và phần mềm kế toán, năng lực nhân viên kế toán, tổ chức công tác kế toán và  
kiểm soát đều ảnh hưởng thuận chiều đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính. Trong  
đó, nhân tố tổ chức công tác kế toán, nhân tố môi trường pháp lý có tác động mạnh nhất  
đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính; tiếp đến là nhân tố năng lực nhân viên kế  
toán, đặc điểm công nghệ và phần mềm kế toán và cuối cùng là nhân tố kiểm soát nội bộ.  
Từ khóa: Nhân tố, chất lượng thông tin, báo cáo tài chính, doanh nghiệp may.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Báo cáo tài chính (BCTC) là sản phẩm của hoạt động kế toán tài chính, là đầu ra của  
hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả  
tài chính của doanh nghiệp. BCTC cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài  
chính và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của ngƣời sử dụng trong việc  
đƣa ra các quyết định kinh tếꢀ Đứng trên quan điểm của ngƣời cung cấp thông tin, thông tin  
trên BCTC là kết quả của quá trình tạo lập, trình bày và công bố thông tin của các đơn vị kế  
toán, bao gồm các thông tin tài chính (tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí và dòng tiền)  
và thông tin phi tài chính (cơ hội, rủi ro, cơ cấu nhân sự, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh  
doanh, chính sách kế toán…)ꢀ Thông tin trên BCTC luôn nhận đƣợc sự quan tâm từ nhiều  
đối tƣợng nhƣ nhà đầu tƣ, cơ quan quản lý nhà nƣớc, các đối tác và bản thân các doanh  
nghiệp khi đƣa ra các quyết định liên quan. Do vậy, làm thế nào để nâng cao tính minh bạch  
thông tin trên BCTC là việc hết sức quan trọng và cần thiết. Qua khảo sát sơ bộ, chất lƣợng  
thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa nói chung và doanh nghiệp  
may nói riêng còn tồn tại nhiều hạn chế nhƣ thông tin chƣa đầy đủ, chƣa phù hợp và kịp  
thời làm ảnh hƣởng đến công tác quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của các  
doanh nghiệp này. Do vậy, bài viết nhằm xác định ảnh hƣởng của các nhân tố đến chất  
lƣợng thông tin BCTC của các doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.  
1 Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hồng Đức; Email: [email protected]  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Chất lượng thông tin báo cáo tài chính  
Dƣới góc độ ngƣời sử dụng thông tin, thông tin trên BCTC hỗ trợ thị trƣờng vốn  
phát triển hiệu quả, vì vậy doanh nghiệp ngoài việc cung cấp thông tin theo quy định,  
doanh nghiệp cần phải bổ sung những thông tin mang tính chất tự nguyện về những phân  
tích đánh giá, các dự báo của nhà quản lý (Healy và Palepu, 2001).  
Chất lƣợng thông tin trên BCTC chính là chất lƣợng của sản phẩm do công tác kế  
toán tài chính tạo ra thông qua quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp thông tin kế toánꢀ Đo  
lƣờng chất lƣợng thông tin BCTC theo phƣơng pháp trực tiếp, dựa trên các thuộc tính  
đƣợc quy định bởi FASB & IASB là hƣớng nghiên cứu nhận đƣợc sự quan tâm trong thời  
gian gần đây (Geert Braam & Ferdy van Beest, 2013)  
Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB), chất lƣợng của  
thông tin trên BCTC gồm: có thể hiểu đƣợc, thích hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh đƣợc  
và kịp thờiꢀ  
Có thể hiểu được: Ngƣời đọc đƣợc giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh  
tế, kinh doanh, kế toán và thiện chí, nỗ lực để đọc BCTCꢀ  
Thích hợp: Thông tin có chất lƣợng khi nó thích hợp với nhu cầu đƣa ra quyết định  
của ngƣời sử dụngꢀ Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp ngƣời đọc đánh giá quá khứ,  
hiện tại hoặc tƣơng lai, hoặc xác nhận, điều chỉnh các đánh giá trƣớc đó  
Đáng tin cậy: Đáng tin cậy nghĩa là không có sai sót trọng yếu và không bị thiên  
lệch, đồng thời phản ánh trung thực vấn đề cần trình bàyꢀ Thông tin có thể thích hợp  
nhƣng không đáng tin cậyꢀ  
Có thể so sánh được: Thông tin trên BCTC có chất lƣợng khi có thể so sánh đƣợc  
với năm trƣớc, với doanh nghiệp khácꢀ  
Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán tài chính Mỹ (FASB), chất lƣợng  
của thông tin trên BCTC đƣợc đánh giá qua các đặc điểm: tính phù hợp, tính đáng tin cậy  
và khả năng so sánh đƣợcꢀ  
Tính phù hợp (tính thích hợp): Thông tin kế toán là thích hợp khi nó có khả năng  
thay đổi quyết định của ngƣời sử dụngꢀ Để đảm bảo tính thích hợp, thông tin phải: Có giá  
trị dự đoán hay đánh giá và kịp thờiꢀ  
Tính đáng tin cậy: Thông tin kế toán đáng tin cậy trong phạm vi nó có thể kiểm  
chứng, khi đƣợc trình bày trung thực và không có sai sót hoặc thiên lệchꢀ  
Khả năng so sánh được: Thông tin kế toán phải đƣợc đo lƣờng và báo cáo theo  
cùng một phƣơng thức để có thể so sánh đƣợc giữa các doanh nghiệpꢀ  
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính  
Rapina (2014) kết luận chất lƣợng của thông tin báo cáo tài chính chịu sự tác động  
tích cực của hiệu quả hệ thống thông tin kế toán, sự cam kết của nhà quản trị, văn hóa  
doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp  
91  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
Nghiên cứu của Đặng Thị Kiều Hoa (2016) về “Các nhân tố ảnh hƣởng đến chất  
lƣợng báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp vừa và nhỏ - Bằng chứng thực nghiệm  
tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TPꢀ HCM”; tác giả đƣa vào phân tích các nhân  
tố: Quy định về Thuế; Quy mô công ty; Ngƣời lập BCTC; Tổ chức kiểm toán; Quyết định  
của nhà quản trị; Các quy định pháp lí về kế toánꢀ Để xác định mức độ ảnh hƣởng của các  
nhân tố đến BCTC trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPꢀ HCM, tác giả sử dụng  
phƣơng pháp nghiên cứu: Định lƣợng (sử dụng mô hình SPSS 22ꢀ0) và định tính (xây dựng  
bảng khảo sát)ꢀ Kết quả cho thấy, có 4 nhân tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng BCTC, là: Quy  
định về thuế, quy mô công ty, ngƣời lập BCTC, các quy định pháp lý về kế toánꢀ  
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình và cộng sự (2020) trong nghiên cứu  
“Các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin kế toán tại các doanh nghiệp xây  
dựng TPꢀ HCM” đã chỉ ra nhân tố huấn luyện và đào tạo là quan trọng nhất trong mô hình  
hồi quy; tiếp theo là chất lƣợng dữ liệu đứng vị trí quan trọng thứ hai; Kiến thức sử dụng  
công nghệ hệ thống thông tin kế toán đứng vị trí quan trọng thứ ba; Trình độ năng lực  
kiến thức kế toán nhà quản lý đứng vị trí quan trọng thứ tƣ; Hiệu quả của phần mềm và  
các trình ứng dụng kế toán đứng vị trí quan trọng thứ năm và cuối cùng là Sự cam kết hỗ  
trợ của nhà quản lý trong các nhóm nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin kế toánꢀ  
Lê Hoàng Vân Trang và cộng sự (2020) trong bài viết “Các nhân tố ảnh hƣởng đến  
chất lƣợng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại  
Thành phố Hồ Chí Minh” đã xác định mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố bên trong đến  
chất lƣợng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết tại thành  
phố Hồ Chí Minhꢀ Kết quả nghiên cứu cho thấy 4 nhân tố tác động đến chất lƣợng thông  
tin kế toán trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết, đƣợc sắp xếp theo mức độ  
ảnh hƣởng giảm dần: bộ máy kế toán, nhà quản lý, chứng từ kế toán và thuếꢀ Bên cạnh đó,  
nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng thông tin kế  
toán tại các doanh nghiệp niêm yết ở thành phố Hồ Chí Minhꢀ  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
Căn cứ vào tổng quan các công trình nghiên cứu về chất lƣợng và các nhân tố tác  
động đến chất lƣợng thông tin BCTC, tác giả đƣa ra mô hình 5 nhân tố tác động đến chất  
lƣợng thông tin BCTC, gồm các nhân tố: Môi trƣờng pháp lý; Nhân tố về đặc điểm công  
nghệ và phần mềm kế toán; Nhân tố năng lực nhân viên kế toán; Nhân tố về tổ chức công  
tác kế toán và Nhân tố về hoạt động kiểm soát nội bộꢀ  
Nhân tố môi trƣờng pháp lý: Đây là nhân tố đƣợc xem là cơ sở pháp lý để thực hiện  
công việc kế toán, đảm bảo cho hoạt động của kế toán phù hợp với những quy định của  
pháp luậtꢀ Doupnik and Salter (1992) đã nghiên cứu và chỉ ra tác động của hệ thống pháp  
luật đến sự phát triển của hệ thống kế toán tại các quốc gia khác nhau và đƣa ra giả thuyết  
rằng, sự khác biệt về hệ thống pháp luật của các nƣớc khác nhau có thể giải thích sự khác  
biệt trong sự phát triển của hệ thống kế toánꢀ Hay nói cách khác, sự khác biệt về hệ thống  
kế toán chịu sự tác động từ yếu tố pháp lý nhƣ quy định pháp luật về thuế, kế toán, khung  
pháp lý, các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán; và từ sự khác nhau trong hệ thống kế toán  
dẫn đến ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin báo cáo tài chínhꢀ  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
Nhân tố về đặc điểm công nghệ và phần mềm kế toán: Công nghệ thông tin và phần  
mềm kế toán là những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác kế toánꢀ  
Phần mềm kế toán là ứng dụng trong đó tích hợp các nghiệp vụ của nhân viên kế toánꢀ Việc  
sử dụng phần mềm kế toán sẽ giải quyết đƣợc các vấn đề về chứng từ, sổ sách kế toán, đồng  
thời, phần mềm kế toán cũng giúp các doanh nghiệp trong việc lập và trình bày các báo cáo  
tài chính. Công nghệ hiện đại đảm bảo yêu cầu về mặt kỹ thuật; phần mềm kế toán đƣợc  
xây dựng phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị; phần mềm ít bị lỗi, giao diện thân  
thiện với ngƣời sử dụng là các tiêu chí quyết định đến chất lƣợng thông tin BCTC.  
Nhân tố năng lực nhân viên kế toán: Là một nhân tố quan trọng tác động đến chất  
lƣợng thông tin BCTC bởi lẽ nhân viên kế toán là những ngƣời trực tiếp vận hành kế toán  
tại đơn vịꢀ Nếu năng lực nhân viên kế toán không đáp ứng yêu cầu sẽ ảnh hƣởng không tốt  
đến chất lƣợng thông tin BCTCꢀ Theo Hari Setiyawati (2013) năng lực nhân viên kế toán là  
nhân tố có liên quan đáng kể đến chất lƣợng BCTCꢀ Võ Văn Nhị (2013) qua phƣơng pháp  
nghiên cứu tổng hợp lý thuyết và đúc kết từ thực tiễn, xác định các nhân tố có ảnh hƣởng  
đến chất lƣợng thông tin BCTC thuộc về năng lực của ngƣời làm công tác kế toán.  
Nhân tố về tổ chức điều hành công tác kế toán: Tổ chức điều hành công tác kế toán từ  
việc tổ chức bộ máy, tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán, sổ kế toán, hệ thống báo  
cáo trong đơn vị nếu triển khai hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng thông tin BCTC.  
Nhân tố về hoạt động kiểm soát nội bộ: Là một nhân tố quan trọng tác động đến  
chất lƣợng BCTCꢀ Kiểm soát nội bộ vận hành nhằm đảm bảo độ tin cậy của thông tin kế  
toán, đảm bảo phù hợp quy mô và sự phát triển của doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu thông  
tin của nhà quản trịꢀ Kiểm soát hệ thống thông tin là kiểm soát quá trình thu thập, xử lý và  
cung cấp thông tin; đồng thời kiểm soát quá trình lƣu trữ và chiết xuất thông tin cho các  
đối tƣợng sử dụng đảm bảo tính tin cậy, chính xác, và tính bảo mậtꢀ  
Về thang đo chất lƣợng thông tin báo cáo tài chính, dựa vào lý thuyết nền tảng nhƣ lý  
thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết thông tin hữu ích, tác giả sử dụng các tiêu chí nhƣ tính  
thích hợp, tin cậy, có thể so sánh, kịp thời, dễ hiểu để đo lƣờng chất lƣợng thông tin BCTC.  
Môi trƣờng pháp lý  
Đặc điểm công nghệ và  
phần mềm kế toán  
Chất lƣợng thông tin  
báo cáo tài chính  
Năng lực nhân viên kế toán  
Tổ chức công tác kế toán  
Kiểm soát nội bộ  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
93  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
Các giả thuyết nghiên cứu gồm  
H1: Môi trƣờng pháp lý có mối quan hệ thuận chiều với chất lƣợng thông tin BCTC  
H2: Đặc điểm công nghệ và phần mềm kế toán có mối quan hệ thuận chiều với chất  
lƣợng thông tin BCTC  
H3: Năng lực nhân viên kế toán có mối quan hệ thuận chiều với chất lƣợng thông  
tin BCTC  
H4: Tổ chức công tác kế toán có mối quan hệ thuận chiều với chất lƣợng thông tin BCTC  
H5: Kiểm soát nội bộ có mối quan hệ thuận chiều với chất lƣợng thông tin BCTC  
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu đƣợc thực hiện thông qua phỏng vấn bằng bảng hỏi nhà quản trị các  
cấp, kiểm soát, kế toán và nhân viên tại các công ty may trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa theo  
phƣơng pháp chọn mẫu phi xác suất trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 9/2020. Thang  
đo đơn hƣớng đƣợc sử dụng là thang đo likert 5 điểm với điểm 1 là rất không tốt và điểm  
5 là rất tốtꢀ Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng đƣợc sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu  
nhƣ: Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s alpha, Phân tích nhân tố khám khá, Kiểm định  
tƣơng quan Pearson, Phân tích hồi quy đa biến.  
Chọn mẫu: Mẫu đƣợc chọn theo phƣơng pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiênꢀ Đối với  
phân tích nhân tố khám phá EFA thì cỡ tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát trong các  
thang đoꢀ Bài viết sử dụng bảng hỏi với 35 biến quan sát dùng trong phân tích nhân tố; do  
vậy, cỡ mẫu tối thiếu cần đạt là: 26 * 5 = 130 mẫu quan sát. Từ lý do đó, nhóm tác giả tiến  
hành phát ra là 180 phiếu, kết quả thu về 145 phiếu hợp lệ đƣa vào phân tích.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Đặc điểm doanh nghiệp may mặc trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
Theo Báo cáo của Sở Công thƣơng Thanh Hóa năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thanh  
Hóa có 24 doanh nghiệp may (trong đó 7 doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài) đang  
hoạt độngꢀ Đặc điểm các doanh nghiệp may trên địa bàn theo loại hình doanh nghiệp và  
theo quy mô đƣợc minh họa ở biểu đồ 1.  
13  
15  
29%  
38%  
10  
5
6
5
4%  
0
29%  
Từ trên 10 - Từ trên 200 Từ trên 300  
200 ngƣời - 300 ngƣời ngƣời  
Công ty TNHH  
Công ty CP  
DN liên doanh  
DN tƣ nhân  
Biểu đồ 1. Đặc điểm các doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
Nguồn: Tổng hợp dữ liệu của tác giả  
94  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
Trong số 24 doanh nghiệp, xét về loại hình, có 9 doanh nghiệp là công ty TNHH  
chiếm tỷ lệ 37,5%; 07 doanh nghiệp là công ty cổ phần chiếm tỷ lệ 29,2%; 07 doanh  
nghiệp là doanh nghiệp liên doanh chiếm tỷ lệ là 29,2%, 01 doanh nghiệp là doanh  
nghiệp tƣ nhân chiếm tỷ lệ 4,1%. Về quy mô doanh nghiệp, trong tổng số 24 doanh  
nghiệp, có 13 doanh nghiệp quy mô nhỏ (theo tiêu chí về lao động) chiếm tỷ trọng  
54,2%, 05 doanh nghiệp quy mô vừa chiếm tỷ trọng 20,8% và 06 doanh nghiệp quy mô  
lớn chiếm tỷ trọng 25%.  
3.2. Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha  
Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha các nhân tố trong mô hình đƣợc trình  
bày ở bảng 1 sau đây:  
Bảng 1. Kiểm định Cronbach's Alpha của các biến  
Biến  
Các nhân tố chính  
Cronbach's  
Alpha  
Môi trƣờng pháp lý  
Đặc điểm công nghệ và  
phần mềm kế toán  
MTPL1, MTPL2, MPTL3, MPTL4  
PMKT1, PMKT2, PMKT3, PMKT4  
0,846  
0,855  
Năng lực nhân viên kế toán NVKT1, NVKT2, NVKT3, NVKT4  
Tổ chức công tác kế toán TCKT1, TCKT2, TCKT3, TCKT4, TCKT5  
0,879  
0,802  
0,812  
0,823  
Kiếm soát nội bộ  
KSNB1, KSNB2, KSNB3, KSNB4  
Chất lƣợng thông tin BCTC CL1, CL2, CL3, CL4, CL5  
Nguồn: Tổng hợp dữ liệu của tác giả  
3.3. Phân tích nhân tố khám phá  
Sau khi kiểm định độ tin cậy của thang đo, phép trích nhân tố đƣợc sử dụng là  
Principal Component với phép quay không vuông góc Varimax. Kết quả phân tích EFA  
có hệ số KMO = 0,866 với giá trị kiểm định Bartlett có ý nghĩa (sig <0,05), do vậy dữ liệu  
phân tích hoàn toàn phù hợp (Kết quả thể hiện ở bảng 2). Từ bảng trên ta thấy kết quả  
phân tích về 5 nhân tố ảnh hƣởng đến tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ đều phù hợp.  
Thang đo các nhân tố đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5, tổng hợp (Eigenvalues =1,009)  
thỏa mãn điều kiện >1; tổng phƣơng sai trích = 68,522% > 50% thể hiện các nhân tố giải  
thích đƣợc 68,522% sự biến thiên của dữ liệu.  
Bảng 2. Hệ số KMO và kiểm định Bartlett  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy  
,866  
2943,128  
190  
Approx. Chi-Square  
Bartlett's Test of Sphericity df  
Sig.  
,000  
Nguồn: Tổng hợp dữ liệu của tác giả  
95  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
Bảng 3. Kết quả phân tích nhân tố khám phá  
Component  
1
2
3
4
5
6
MTPL2  
MTPL1  
MTPL3  
MTPL4  
KSNB4  
KSNB2  
KSNB1  
KSNB3  
CL2  
CL3  
CL1  
CL5  
CL4  
,841  
,802  
,778  
,760  
,832  
,810  
,807  
,789  
,827  
,799  
,783  
,776  
,754  
TCKT2  
TCKT3  
TCKT5  
TCKT1  
TCKT4  
NVKT4  
NVKT3  
NVKT2  
NVKT1  
PMKT2  
PMKT1  
PMKT4  
PMKT3  
,817  
,809  
,793  
,772  
,756  
,769  
,762  
,747  
,733  
,755  
,741  
,728  
,719  
Tổng phƣơng sai trích (%): 68,522%  
Nguồn: Tổng hợp dữ liệu của tác giả  
3.4. Kiểm định tƣơng quan Pearson  
Kiểm định tƣơng quan Pearson nhằm xác định mức độ tƣơng quan giữa biến độc lập  
với biến phụ thuộc và giữa các biến độc lập với nhau. Qua kết quả ở bảng 4 có thể thấy với  
mức ý nghĩa 1% các biến độc lập (MTPL, PMKT, NVKT, TCKT, KSNB) đều có quan hệ  
tƣơng quan với biến phụ thuộc (CL) khi hệ số tƣơng quan Pearson đều lớn 0,3. Bên cạnh đó,  
giữa các biến độc lập có mối quan hệ tƣơng quan tƣơng đối lớn nhƣ biến ĐTC và CPDV,  
CPDV và SDC, ĐU và SDC do vậy, nghi ngờ có thể xảy ra trƣờng hợp đa cộng tuyến.  
96  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
Bảng 4. Kết quả kiểm định tƣơng quan Pearson  
MTPL PMKT NVKT TCKT KSNB CL  
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
N
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
N
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
N
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
N
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
N
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
N
1
,124** ,036** ,212** ,078** ,423**  
MTPL  
PMKT  
NVKT  
TCKT  
KSNB  
CL  
,000  
145  
1
,000  
145  
,000  
145  
,000  
145  
,000  
145  
145  
,124*  
,000  
145  
,114** ,207** ,004** ,336**  
,000  
145  
1
,000  
145  
,002  
145  
,000  
145  
145  
,036** ,114**  
,218** ,178** ,354**  
,000  
145  
,000  
145  
,000  
145  
1
,000  
145  
,000  
145  
145  
,212** ,207** ,218**  
,286** ,426**  
,000  
145  
,000  
145  
,000  
145  
,000  
145  
1
,000  
145  
,377**  
,000  
145  
1
145  
,078** ,004** ,178** ,286**  
,000  
145  
,002  
145  
,000  
145  
,000  
145  
145  
,423** ,336** ,354** ,426** ,377**  
,000  
145  
,000  
145  
,000  
145  
,000  
145  
,000  
145  
145  
Nguồn: Tổng hợp dữ liệu của tác giả  
3.5. Phƣơng trình hồi quy đa biến  
Để đánh giá mức độ ảnh hƣởng của từng nhân tố đến chất lƣợng thông tin BCTC,  
tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biếnꢀ Trong mô hình đa biến, biến độc lập gồm 5 nhân  
tố: môi trƣờng pháp lý, đặc điểm công nghệ và phần mềm kế toán; năng lực nhân viên kế  
toán, tổ chức công tác kế toán và kiểm soát nội bộ; và biến phụ thuộc là chất lƣợng thông  
tin BCTC. Sau khi chạy phần mềm SPSS 22.0 cho kết quả tại bảng 5.  
Bảng 5. Kiểm định sự phù hợp của mô hình  
Adjusted R  
Square  
Std. Error of the  
Estimate  
Model  
1
R
R Square  
,692  
Durbin-Watson  
1,688  
,832a  
,687  
,154  
a. Predictors: (Constant), MTPL, PMKT, NVKT, TCKT, KSNB  
b. Dependent Variable: CL  
Kết quả nhận đƣợc cho thấy mức ý nghĩa Sig = 0,000 nhỏ hơn 5% và hệ số xác định  
R2 = 0,692 (R2 điều chỉnh = 0,687) chứng minh cho sự phù hợp của mô hình, tức có trên  
50% sự hài lòng của hộ nông dân đƣợc giải thích bởi 5 biến trên. Hệ số Durbin-Watson =  
1,688(>1) cho biết không có hiện tƣợng tự tƣơng quan giữa các biến.  
97  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
Bảng 6. Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến  
Unstandardized  
Coefficients  
Standardized  
Coefficients  
Collinearity Collinearity  
Statistics  
Statistics  
Model  
Sig  
B
Std. Error  
,223  
Beta  
Tolerance  
VIF  
(Constant)  
MTPL  
PMKT  
NVKT  
TCKT  
,122  
,258  
,219  
,224  
,262  
,196  
,058  
,056  
,055  
,034  
,305  
,244  
,265  
,332  
,187  
,000  
,000  
,000  
,000  
,005  
,658  
,671  
,735  
,744  
,702  
1,456  
1,332  
1,406  
1,421  
1,508  
KSNB  
,055  
Ta có phƣơng trình hồi quy nhƣ sau:  
Y = 0,305 MTPL + 0,244 PMKT + 0,265 NVKT + 0,332 TCKT + 0,187 KSNB + u  
Nhƣ vậy, theo phƣơng trình trên tất cả 5 nhân tố đƣợc lựa chọn đều chất lƣợng  
thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Mức  
độ quan trọng của từng yếu tố tùy thuộc vào hệ số Beta đã chuẩn hóa (xét về giá trị tuyệt  
đối của hệ số), hay nhân tố nào có hệ số Beta đã chuẩn hóa lớn thì tác động mạnh đến chất  
lƣợng thông tin báo cáo tài chính. Kết quả cũng cho thấy giá trị sig của các nhân tố đều rất  
nhỏ (< 0,05) ; hệ số phóng đại VIF nằm trong điều kiện cho phép (VIF < 2), điều này  
chứng tỏ khả năng xảy ra đa cộng tuyến giữa các biến độc lập là rất thấp.  
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5 đƣợc chấp nhận tức là  
các yếu tố môi trƣờng pháp lý, đặc điểm công nghệ và phần mềm kế toán, năng lực nhân  
viên kế toán, tổ chức công tác kế toán và kiểm soát đều có tác động cùng chiều đến chất  
lƣợng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.  
Trong đó, nhân tố tổ chức công tác kế toán có tác động mạnh nhất đến chất lƣợng thông tin  
báo cáo tài chính, điều nay cho thấy tổ chức công tác kế toán hiệu quả từ tổ chức bộ máy,  
chứng từ, tài khoản kế toán sẽ giúp nâng cao chất lƣợng thông tin BCTC. Tiếp đến, nhân tố  
môi trƣờng pháp lý có ảnh hƣởng tƣơng đối mạnh đến chất lƣợng thông tin BCTC. Thực tế  
hiện nay các quy định về kế toán, thuế, quy định về công bố thông tin tài chính ảnh hƣởng  
mạnh đến việc tổ chức công tác kế toán và chất lƣợng thông tin BCTC. Nhân tố năng lực  
nhân viên kế toán, đặc điểm công nghệ và phần mềm có tác động khá tƣơng đồng đến chất  
lƣợng thông tin BCTC. Nhân tố kiểm soát nội bộ có tác động ít nhất đến chất lƣợng thông  
tin BCTC của các doanh nghiệp may mặc trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.  
Nhƣ vậy, để nâng cao chất lƣợng thông tin BCTC, các doanh nghiệp may trên địa  
bàn tỉnh Thanh Hóa cần chú trọng đến việc tổ chức công tác kế toán; năng lực nhân viên  
kế toán, đặc điểm công nghệ và phầm mềm kế toán và kiểm soát nội bộ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Anh Kiệt, Lê Thị Bích (2020), Các nhân tố ảnh  
hƣởng đến chất lƣợng thông tin kế toán tại các doanh nghiệp xây dựng thành phố  
Hồ Chí Minh, Tạp chí công thương, số tháng 1/2020.  
98  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
[2] Doupnik, T.S, Salter, S.B (1992), An Empirical test of a Judgemental International  
Classification of Financial Reporting Practices, Journal of International Business  
Studies,Vol 24, pp.41-60.  
[3] Geert Braam, Ferdy van Beest (2013), Conceptually Based Financial Reporting  
Quality Assessment, An Empirical Analysis on Quality Differences Between UK  
Annual Reports and US 10-K Reports.  
[4] Hari Setiyawati (2013), The effect of Internal accountants’ competence, manager  
commitment to organization and the implementation of the internal control system  
on the quality of Financial Reporting, International Journal of Business and  
Management Invention, Vol 2(11), pp.19-29  
[5] Healy, P.M & Palepu, K.G (2001), Information asymmetry, corporate disclosure,  
and the capital markets: A review of the empirical disclosure literature, Journal of  
Accounting and Economics, Vol.31(1-3), pp.405-440.  
[6] Đặng Thị Kiều Hoa (2016), Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài  
chính của Doanh nghiệp vừa và nhỏ - Bằng chứng thực nghiệm tại các Doanh  
nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng  
Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.  
[7] Võ Văn Nhị (2013), Một số ý kiến về chất lƣợng báo cáo tài chính của DNNVV ở  
Việt Nam, Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình  
Dương, 6(2), 3-12.  
[8] Rapina (2014), Factors Influencing the Quality of Accounting Information System  
and Its Implications on The Quality of Accounting Information, Research Journal  
of Finance and Accounting, Vol.5, No.2.  
[9] Lê Hoàng Vân Trang, Võ Thị Hiền, Nguyễn Hoàng Thơ (2020), Các nhân tố ảnh  
hƣởng đến chất lƣợng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp  
niêm yết tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí khoa học Trường Đại học Mở thành  
phố Hồ Chí Minh, Số 15(3), 143-158.  
RESEARCH ON FACTORS AFFECTING THE INFORMATION  
QUALITY OF FINANCIAL STATEMENTS OF GARMENT  
ENTERPRISES IN THANH HOA PROVINCE  
Pham Thi Bich Thu  
ABSTRACT  
The study is conducted to evaluate the impact of factors on the quality of financial  
reporting information of garment enterprises in Thanh Hoa province. The study used a  
combination of criteria for measuring information quality of IASB and FASB such as  
appropriateness, reliability, comparability, timeliness, and comprehension to measure the  
99  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 53.2021  
quality of financial statements information in garment enterprises. Through a survey of  
145 administrators at all levels, controllers and accountants, the research results confirm  
the legal environment, technology characteristics and accounting software, the capacity  
of accountants and accounting organization and internal control all positively affect the  
information quality of financial statements. In which, the factors of the organization of the  
accounting work, the factors of the legal environment have the strongest impact on the  
quality of financial information; followed by the accountant's capacity, technology  
characteristics and accounting software, and finally the internal control factor.  
Keywords: Factors, the quality information, financial statements, garment  
enterprises.  
* Ngày nộp bài:5/1/2021; Ngày gửi phản biện: 8/1/2021; Ngày duyệt đăng: 29/1/2021  
100  
pdf 11 trang Thùy Anh 12320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_nhan_to_anh_huong_den_chat_luong_thong_tin_ba.pdf