Quy trình lập ngân sách tác động đến hiệu quả hoạt động: Trường hợp của các doanh nghiệp sản xuất tại tỉnh Lâm Đồng

226(18): 332 - 337  
TNU Journal of Science and Technology  
BUDGET PROCESSING IMPACT ON PERFORMANCE:  
THE CASE OF PRODUCING ENTERPRISES IN LAM DONG PROVINCE  
Nguyen Thi Thao Nguyen*  
Dalat University, Lam Dong, Vietnam  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
This paper aims to investigate the impact of the budgeting process on  
the performance of small and medium-sized manufacturing enterprises.  
The three main areas of research are budgeting in SMEs, measuring  
performance in SMEs and SMEs. The budgeting process is explained  
and analyzed from the point of view of budgeting, budget control, and  
participation in the budgeting process. Research data is collected from a  
survey of 207 managers, department heads, accountants and employees  
of 52 small and medium production enterprises in Lam Dong province.  
The study used quantitative research methods Cronbach's Alpha,  
exploratory factor analysis, multiple regression analysis. The research  
results show that the factors of the budgeting process have an impact on  
the performance of small and medium-sized manufacturing enterprises,  
in which the factor participating in budgeting has the greatest impact on  
the efficiency of the manufacturing enterprises.  
Received:  
Revised:  
21/12/2021  
31/12/2021  
31/12/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Budgeting process  
Budgeting control  
Budgeting evaluation  
Budgeting participation  
Performance  
QUY TRÌNH LẬP NGÂN SÁCH TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG:  
TRƯỜNG HỢP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG  
Nguyễn Thị Thảo Nguyên  
Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 21/12/2021  
Ngày hoàn thiện: 31/12/2021  
Ngày đăng: 31/12/2021  
TÓM TẮT  
Bài báo nhằm điều tra tác động của quy trình lập ngân sách đối với  
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ. Ba lĩnh  
vực chính trong nghiên cứu là lập ngân sách trong các doanh nghiệp  
vừa và nhỏ, đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp vừa  
và nhỏ và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy trình lập ngân sách được giải  
thích và phân tích trên quan điểm lập dự toán ngân sách, kiểm soát  
ngân sách và sự tham gia vào quá trình lập ngân sách. Dữ liệu nghiên  
cứu được thu thập từ cuộc khảo sát với 207 nhà quản lý, trưởng phòng,  
kế toán và nhân viên của 52 doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ tại tỉnh  
Lâm Đồng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng  
Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy đa  
biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố thuộc quy trình lập ngân  
sách có tác động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sản  
xuất vừa và nhỏ, trong đó nhân tố tham gia lập ngân sách có tác động  
lớn nhất đến hiệu quả hoạt động.  
TỪ KHÓA  
Quy trình lập ngân sách  
Kiểm soát ngân sách  
Đánh giá ngân sách  
Sự tham gia lập ngân sách  
Hiệu quả hoạt động  
332  
226(18): 332 - 337  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
Đo lường hiệu quả hoạt động trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ( DNVVN)  
Hiệu quả là một khái niệm phức tạp và có thể được đo lường bằng nhiều phương pháp khác  
nhau. Nói chung, hiệu quả được hiểu là mức độ mà một cá nhân hoặc một tổ chức đạt được các  
mục tiêu. Đối với một doanh nghiệp, hiệu quả thường được đo lường bằng kết quả cuối cùng về  
khía cạnh tài chính hoặc phi tài chính. Biện pháp tài chính là thước đo đánh giá hoạt động của tổ  
chức được thực hiện phổ biến nhất [1]. Một số chỉ tiêu tài chính được sử dụng để đánh giá hoạt  
động tài chính như lợi nhuận, tỷ suất hoàn vốn đầu tư, mức độ linh hoạt về tài chính. Ngoài ra,  
các biện pháp phi tài chính cũng được quan tâm như hiệu suất của người quản lý và sự hài lòng  
trong công việc của nhân viên.  
Ngân sách và quy trình lập ngân sách  
Ngân sách là một bản kế hoạch toàn diện mô tả thông tin về nhu cầu và sử dụng nguồn lực  
trong một khoảng thời gian nhất định [2]. Dự toán ngân sách là công cụ quan trọng trong việc  
hoạch định và kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động  
của doanh nghiệp [3]. Các DNVVN được yêu cầu tập trung vào việc tối đa hóa chi phí và hiệu  
quả trong quá trình kiểm soát ngân sách nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động [4].  
Ở khía cạnh xã hội học, lý thuyết dự phòng cho rằng không có quy trình lập ngân sách chung  
cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp có cơ cấu khác nhau nên áp dụng quy  
trình lập ngân sách phù hợp với đặc đểm hoạt động kinh doanh của mình và sử dụng ngân sách  
để kiểm soát quản lý, lập ngân sách có sự tham gia của các cấp, đánh giá hiệu quả hoạt động dựa  
trên ngân sách [5].  
Quy trình chính thức về lập ngân sách trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm quy trình  
chính thức về lập kế hoạch ngân sách và kiểm soát ngân sách [6]. Trong quá trình hoạt động của  
doanh nghiệp, vai trò của các nhà quản lý là không thể bỏ qua, do đó quy trình lập ngân sách  
được xem xét trong nghiên cứu này là lập kế hoạch ngân sách, kiểm soát ngân sách và sự tham  
gia vào quá trình lập ngân sách.  
Tại Lâm Đồng, khu vực DNVVN chiếm tỷ trọng lớn với khoảng 94%, đây là bộ phận chủ yếu  
tạo ra tổng sản phẩm trên địa bàn, tạo ra động lực chính trong sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh  
Lâm Đồng, thúc đẩy tăng trưởng kinh kế, thu hút nguồn vốn đầu tư xã hội và đóng góp vào ngân  
sách tại địa phương, tạo công ăn việc làm và môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, các DNVVN có  
trình độ phát triển thấp và quy mô nhỏ. Trong khi đó, việc nghiên cứu các công cụ của kế toán  
quản trị hiện nay có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt ngân sách là công cụ hữu  
hiệu trong việc hoạch định và kiểm soát các hoạt động, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động  
của doanh nghiệp [7]. Nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào vai trò và mục tiêu lập ngân  
sách trong khối doanh nghiệp vừa và nhỏ [3], [4]. Quy trình lập ngân sách được áp dụng khác  
nhau trong các công ty tuỳ vào quy mô và cách thức tổ chức của họ [8]. Do đó, mục đích của  
nghiên cứu hiện tại là kiểm tra mối quan hệ giữa quy trình lập ngân sách và hiệu quả hoạt động  
của các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ.  
Hầu hết các nghiên cứu đều đồng ý rằng lập kế hoạch ngân sách có tác động tích cực đến hiệu  
quả hoạt động của doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu của tác giả Trà Thị Hồng Kim [9] cho thấy  
lập dự toán ngân sách là một trong các nhân tố thuộc nội dung kế toán quản trị ảnh hưởng đến  
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNVVN tại Thành phố Hồ Chí Minh; Tracy Foster [10]  
và Asiat Bisola Salaudeen [11] chứng minh rằng lập kế hoạch ngân sách có tác động đáng kể đến  
hiệu suất tài chính, giảm khả năng thất bại trong kinh doanh và mất việc làm của người lao động.  
Vì vậy giả thuyết được đặt ra như sau:  
H1: Lập dự toán ngân sách có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp  
Jamil Mulani và cộng sự [6] cho rằng kiểm soát ngân sách là quá trình đảm bảo các mục tiêu  
của công ty được đáp ứng một cách thích hợp và công ty tuân theo kế hoạch của mình, xác định  
sự khác biệt so với kế hoạch và thực hiện các hành động khắc phục nếu có sai lệch với định mức.  
333  
226(18): 332 - 337  
TNU Journal of Science and Technology  
Các nghiên cứu cho thấy kiểm soát có vai trò quan trọng trong việc cải thiện năng lực quản lý  
và sự tăng trưởng về hiệu suất của doanh nghiệp, kiểm soát ngân sách chính thức dẫn đến tăng  
trưởng lợi nhuận cao hơn trong doanh nghiệp vừa và nhỏ [12], [13]. Ngân sách không chỉ là công  
cụ lập kế hoạch mà còn là công cụ kiểm soát, đánh giá và tạo động lực cho người lao động [3].  
Do đó, giả thuyết H2 được đề xuất:  
H2: Kiểm soát ngân sách có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp  
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét mức độ tác động của việc đánh giá ngân sách  
đến hiệu quả hoạt động. Vì vậy tác giả lập luận rằng sau khi kiểm soát ngân sách được thực hiện  
thì công tác đánh giá ngân sách sẽ đo lường mức độ thành công của các bộ phận trong việc đáp  
ứng dự toán ngân sách, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó giả  
thuyết H3 được phát biểu như sau:  
H3: Đánh giá ngân sách có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp  
Sự tham gia vào việc lập ngân sách là biến được sử dụng thường xuyên khi nghiên cứu việc  
lập ngân sách dựa trên lý thuyết tâm lý [5], trạng thái tinh thần của cá nhân bị ảnh hưởng bởi các  
kích thích từ đó ảnh hưởng đến hành vi và hiệu suất của họ. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc tổ  
chức quy trình lập ngân sách có sự tham gia của nhân viên các cấp có tác dụng gia tăng mức độ  
hài lòng của nhân viên và khả năng tăng lợi nhuận của công ty. Sự tham gia của các cấp độ khác  
nhau của các thành viên trong quá trình lập ngân sách sẽ cải thiện năng lực của người quản lý  
[12]. Hiệu quả hoạt động bị ảnh hưởng bởi việc tham gia lập ngân sách và sự tham gia của nhân  
viên vào quá trình lập ngân sách đã dẫn đến thành công lớn hơn trong việc thực hiện kế hoạch đặt  
ra trong một giai đoạn cụ thể [12], [13].  
H4: Sự tham gia lập ngân sách có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.  
Từ các giả thuyết lập luận ở trên tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu như sau:  
H1  
Lập dự toán ngân sách  
H2  
Kiểm soát ngân sách  
Hiệu quả hoạt động  
H3  
Đánh giá ngân sách  
Tham gia lập ngân sách  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu được chọn mẫu theo phương pháp phi xác suất (mẫu thuận tiện). Một bảng câu  
hỏi được gửi trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua cục thuế tỉnh) và gửi email cho các đối tượng  
khảo sát thuộc ban lãnh đạo doanh nghiệp, trưởng phòng, kế toán và nhân viên của các doanh  
nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.  
Số lượng mẫu tối thiểu được xác định trong nghiên cứu là 105 mẫu dựa trên 21 biến quan sát  
đã được xây dựng (1 biến đo lường cần tối thiểu là 5 biến quan sát [14]). Kết quả thu về 207  
phiếu trong tổng số 250 phiếu được phát ra. Dữ liệu thu thập từ 52 công ty sản xuất vừa và nhỏ  
thuộc thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc và Đức Trọng thuộc các ngành sản xuất và chế biến thực phẩm,  
dệt, đồ gỗ. Các tiêu chí chính để lựa chọn mẫu là số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân  
năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng. Bảng câu hỏi được  
trả lời bởi ban lãnh đạo doanh nghiệp, trưởng phòng, kế toán trưởng, kế toán viên và nhân viên  
334  
226(18): 332 - 337  
TNU Journal of Science and Technology  
của công ty, những người có trách nhiệm trong quá trình lập ngân sách. Bảng câu hỏi nhằm tìm  
hiểu ý kiến cá nhân của người tham gia quy trình lập ngân sách và hoạt động của công ty được  
lấy mẫu.  
Kết quả thu về 207 phiếu trong tổng số 250 phiếu được phát ra, đạt tỷ lệ 82,8%. Trong 207  
người được hỏi có 60,9% là nữ và 39,1% là nam. 50,2% trong độ tuổi từ 31 – 40 tuổi cho thấy  
những người được hỏi đã trưởng thành để đưa ra câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. Hơn 63% số  
người được hỏi đã tốt nghiệp đại học có sự hiểu biết cần thiết để hiểu các câu hỏi đo lường trong  
khảo sát. Đa số người được hỏi có kinh nghiệm ít nhất từ 1- 5 năm với mức 39,1%, do đó đối  
tượng khảo sát có kinh nghiệm để trả lời các câu hỏi trong nghiên cứu. Về chức vụ đang nắm giữ,  
có 42,8% là kế toán của công ty, do đó dữ liệu được thu thập từ các đại diện thích hợp, trực tiếp  
phụ trách lập ngân sách. Và có 85,1% người được hỏi đồng ý rằng tổ chức của họ có quy trình  
lập dự toán ngân sách.  
Thang đo được kiểm tra độ tin cậy của bằng công cụ Cronbach’s Alpha, sau đó tiến hành phân  
tích nhân tố khám phá EFA và kiểm định sự phù hợp của các nhân tố thông qua giá trị KMO.  
Phân tích hồi quy đa biến được thực hiện nhằm xác định mức độ tác động của các biến độc lập  
lên biến phụ thuộc.  
Các khái niệm trong nghiên cứu bao gồm: Lập kế hoạch ngân sách, Kiểm soát ngân sách,  
Đánh giá ngân sách, Tham gia lập ngân sách, Hiệu suất hoạt động được sử dụng thang đo Likert  
5 điểm từ (1) “Hoàn toàn không đồng ý” cho đến (5) “Rất đồng ý”.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Phân tích độ tin cậy của mô hình  
Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, các thang đo đều  
đảm bảo độ tin cậy. Tổng phương sai trích là 79,057% với các biến độc lập và 75,161% đối với  
biến phụ thuộc. Kết quả xoay nhân tố (promax) trích ra được 4 nhân tố, có 4 biến độc lập, 1 biến  
phụ thuộc (Bảng 1).  
Bảng 1. Kết quả kiểm định thang đo  
Hệ số tương  
Cronbach's Alpha Cronbach Kiểm định Hệ số tải  
Thang đo  
quan biến – tổng  
(hiệu chỉnh)  
0,859  
nếu loại biến  
's Alpha  
độ tin cậy  
EFA  
Lập dự toán ngân sách 01  
Lập dự toán ngân sách 04  
Lập dự toán ngân sách 02  
Lập dự toán ngân sách 05  
Lập dự toán ngân sách 03  
Kiểm soát ngân sách 07  
Kiểm soát ngân sách 06  
Kiểm soát ngân sách 08  
Đánh giá ngân sách 09  
Đánh giá ngân sách 11  
Đánh giá ngân sách 10  
Tham gia ngân sách 16  
Tham gia ngân sách 12  
Tham gia ngân sách 18  
Tham gia ngân sách 20  
Tham gia ngân sách 14  
Tham gia ngân sách 15  
Tham gia ngân sách 19  
Tham gia ngân sách 13  
Tham gia ngân sách 21  
Tham gia ngân sách 17  
0,865  
0,896  
0,892  
0,889  
0,887  
0,833  
0,851  
0,845  
0,821  
0,856  
0,879  
0,964  
0,966  
0,966  
0,967  
0,964  
0,97  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
0,973  
0,841  
0,757  
0,748  
0,704  
0,875  
0,855  
0,818  
0,983  
0,771  
0,765  
0,975  
0,949  
0,927  
0,900  
0,891  
0,869  
0,866  
0,846  
0,769  
0,712  
0,722  
0,741  
0,754  
0,761  
0,795  
0,775  
0,782  
0,832  
0,791  
0,764  
0,915  
0,859  
0,875  
0,836  
0,918  
0,759  
0,906  
0,890  
0,896  
0,969  
0,873  
0,873  
0,904  
0,786  
0,966  
0,966  
0,965  
0,969  
335  
226(18): 332 - 337  
TNU Journal of Science and Technology  
Hệ số tương  
Cronbach's Alpha Cronbach Kiểm định Hệ số tải  
Thang đo  
quan biến – tổng  
(hiệu chỉnh)  
0,799  
nếu loại biến  
's Alpha  
độ tin cậy  
EFA  
Hiệu quả hoạt động 01  
Hiệu quả hoạt động 02  
Hiệu quả hoạt động 03  
Hiệu quả hoạt động 04  
Hiệu quả hoạt động 05  
0,896  
0,909  
0,892  
0,897  
0,897  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
0,867  
0,841  
0,837  
0,833  
0,773  
0,735  
0,818  
0,792  
0,791  
0,917  
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)  
Bảng 2. Hệ số KMO và kiểm định Bartlett  
Biến độc lập  
0,895  
Biến phụ thuộc  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.  
Approx. Chi-Square  
Bartlett's Test of Sphericity  
0,854  
735,890  
10  
4353,503  
210  
df  
Sig.  
0,000  
0,000  
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)  
Kết quả nghiên cứu thu được hệ số KMO của thang đo là phù hợp. Kiểm định Bartlett’s với  
giá trị Sig. là 0,000 < 0,05 (5%) cho thấy các biến có tương quan với nhau có ý nghĩa ở độ tin cậy  
95% trong tổng thể (bảng 2).  
3.2. Kết quả kiểm định mô hình  
Nghiên cứu định lượng sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.  
Biến Lập dự toán ngân sách (DT) bao gồm 05 biến quan sát, biến kiểm soát ngân sách (KS) đo  
lường bằng 3 biến quan sát, biến đánh giá ngân sách (DG) đo bằng 3 biến quan sát và tham gia  
lập ngân sách (TG) đo lường bằng 10 biến quan sát. Biến phụ thuộc hiệu quả hoạt động (HQ) đo  
lường bằng lợi nhuận, tỷ suất hoàn vốn đầu tư, mức độ linh hoạt về tài chính, sự hài lòng trong  
công việc và hiệu quả quản lý.  
Bảng 3. Bảng kết quả kiểm định các giả thuyết  
Trọng số hồi quy Trọng số hồi quy  
Giả  
thuyết  
H4  
H1  
H3  
t
Sig.  
chưa chuẩn hoá  
0,308  
chuẩn hoá  
0,299  
Tham gia lập ngân sách  
Lập dự toán ngân sách  
Đánh giá ngân sách  
5,553  
3,599  
2,694  
5,160  
0,000  
0,000  
0,008  
0,000  
0,224  
0,223  
0,156  
0,156  
Kiểm soát ngân sách  
0,293  
0,297  
H2  
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)  
Kết quả thu được từ việc kiểm tra mối quan hệ giữa quy trình lập ngân sách và hiệu quả hoạt  
động được thể hiện trong bảng 3, phân tích hồi quy giữa các biến cho thấy 04 giả thuyết ban đầu  
được chấp nhận. Các ước lượng đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và độ tin cậy 95%. Bên cạnh  
đó, nhân tố tham gia lập ngân sách có tác động mạnh nhất đến hiệu quả hoạt động (0,299), kiểm  
soát ngân sách (0,297) và lập dự toán ngân sách (0,223) có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt  
động. Ngoài ra, đánh giá ngân sách cũng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động (0,156).  
Kết quả này tương tự như phát hiện của Asiat Bisola Salaudeen [11] và Tracy Foster [10]  
trong nghiên cứu về tác động của quy trình lập ngân sách đến hiệu suất hoạt động tại các doanh  
nghiệp vừa và nhỏ.  
4. Kết luận và kiến nghị  
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ có thực hiện các quy  
trình lập ngân sách bao gồm các hoạt động lập dự toán ngân sách, tham gia lập ngân sách, đánh  
giá ngân sách và kiểm soát ngân sách và do đó đã chỉ ra rằng có một mối quan hệ đáng kể giữa  
quy trình lập ngân sách và hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp sản xuất trong địa bàn tỉnh  
336  
226(18): 332 - 337  
TNU Journal of Science and Technology  
Lâm Đồng. Trong đó việc tham gia lập ngân sách có tác động mạnh nhất lên hiệu quả hoạt động  
của doanh nghiệp, do đó các nhà quản lý nên tạo điều kiện cho nhân viên các cấp được đào tạo về  
mặt kỹ thuật lập ngân sách và được tham gia vào quá trình lập ngân sách. Ngoài ra, kết quả cũng  
chỉ ra rằng việc kiểm soát lập ngân sách là quan trọng và có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt  
động, vì vậy các nhà quản lý nên quan tâm nhiều hơn đến hệ thống kiểm soát ngân sách.  
Nghiên cứu đã đạt được mục đích là điều tra tác động của quá trình lập ngân sách đối với hiệu  
quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ ở tỉnh Lâm Đồng, tuy nhiên đề tài chỉ  
thực hiện tại các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ tại khu vực Lâm Đồng nên bị giới hạn về  
phạm vi nghiên cứu. Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng để nghiên cứu thêm ở các  
doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp sản xuất trên cả nước để đánh giá liệu có phát hiện tương tự về  
tác động của quy trình lập ngân sách đến hiệu quả hay không. Ngoài ra các nghiên cứu trong  
tương lai có thể mở rộng khung khái niệm nghiên cứu bằng cách nghiên cứu chuyên sâu về mức  
độ ảnh hưởng của từng đối tượng thuộc nội dung quy trình lập ngân sách đến hiệu quả hoạt động.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] S. K. Robert and A. A. Anthony, Advanced management accounting. New Jersey: Prentice Hall, 1998.  
[2] C. Drury, Management and Cost Accounting 10e. Cengage Learning, 2017.  
[3] T. N. Le and D. D. Nguyen, "An impact of budgetary goal characteristics on performance: The case of  
Vietnamese SMEs," The Journal of Asian Finance, Economics, and Business, vol. 7, no. 9, pp. 363-  
370, 2020.  
[4] K. T. Vuong and P. Rajagopal, "A Review of the Management Process with the Mediating Role of the  
Budget Process on the Performance of Vietnamese SMEs," Management Dynamics in the Knowledge  
Economy, vol. 8, no. 3, pp. 277-296, 2020.  
[5] M. Covaleski, et al., "Budgeting research: three theoretical perspectives and criteria for selective  
integration," Handbooks of management accounting research, vol. 2, pp. 587-624, 2006.  
[6] J. Mulani, G. Chi, and J. Yang, "Effects of the budgetary process on SME’s performance: An  
Exploratory study based on Selected SME’s in India," Research Journal of Finance and Accounting,  
vol. 6, no. 14, pp. 135-153, 2015.  
[7] E. Noreen, P. Peter, C. Brewer, and R. H. Garrison, Managerial Accounting. McGraw-Hill Education, 2014.  
[8] K. A. Merchant, "The Design of the Corporate Budgeting System: Influences on Managerial Behavior  
and Performance," The Accounting Review, vol. 56, no. 4, p. 813, 1981.  
[9] T. T. H. Kim, "The factors of management accounting that affect the business performance of small and  
medium enterprises in Ho Chi Minh City," MS. Thesis. University of Economics Ho Chi Minh City, 2019.  
[10] T. A. Foster, Budget planning, budget control, business age, and financial performance in small  
businesses. Walden University, 2017.  
[11] A. B. Salaudeen, Impact of Budgeting Process on Performance of Small and Medium-Sized  
Manufacturing Companies in Kwara State. Kwara State University (Nigeria): Ann Arbor, 2018, p. 98.  
[12] Y. Qi, "The Impact of the Budgetting Process on Performance in Small and Medium-sized Firms in  
China," Doctoral Dissertation. Enschede, Netherlands: The University of Twente., 2010.  
[13] J. K. Kamau, G. Rotich, and W. Anyango, "Effect of budgeting process on budget performance of  
state corporations in Kenya: A case of Kenyatta National Hospital," International Academic Journal of  
Human Resource and Business Administration, vol. 2, no. 3, pp. 255-281, 2017.  
[14] D. T. Nguyen, Textbook of scientific research methods in business. Financial Economics Publishing  
House, 2014.  
337  
                           
pdf 6 trang Thùy Anh 14020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quy trình lập ngân sách tác động đến hiệu quả hoạt động: Trường hợp của các doanh nghiệp sản xuất tại tỉnh Lâm Đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquy_trinh_lap_ngan_sach_tac_dong_den_hieu_qua_hoat_dong_truo.pdf