Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
International science conference “International trade - Policies and practices in vietnam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Improving competitive capacity of the VietNam’s
enterprises in the Industrial time 4.0
TS. Bùi Thị Thu1 , ThS. Nguyễn Thị Thu Hƣờng2, ThS. Nguyễn Thị Hạnh3
1,2 Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội,
3 Trường Đại học Hải Phòng
3 nguyenhanh261076@gmail.com
TÓM TẮT
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là xu hƣớng phát triển dựa trên nền
tảng số hóa và sự kết nối, nó có tác động mạnh mẽ tới mọi mặt về đời
sống, kinh tế và xã hội của một quốc gia, làm thay đổi phƣơng thức và
lực lƣợng sản xuất trong tƣơng lai, vì thế cách mạng công nghiệp 4.0
đang trở thành công cụ hữu hiệu giúp Việt Nam đẩy nhanh tốc độ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn vừa qua và trong tƣơng lai. Để
thích ứng với thời đại này, việc áp dụng công nghệ vào sản xuất kinh
doanh là cần thiết đối với doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh. Bài viết tập trung phân tích năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong thời đại 4.0, từ đó đề xuất một số gợi ý về phía
cơ quan quản lý nhà nƣớc và doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng kịp thời với sự thay
đổi của thị trƣờng.
960
Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế - Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Năng
lực cạnh tranh.
ABSTRACT
The Industrial time 4.0 is a development trend based on digitalization
and connectivity, which has a strong impact on all aspects of a nation's
life, economy and society, changing the way of production forces in the
future. so the Industrial time 4.0 is becoming an tool to help Vietnam
accelerate the pace of industrialization and modernization in the past
and in the future. In order to adapt to this era, the application of tech-
nology to production and business is necessary for businesses to im-
prove their competitiveness. The paper focuses on analyzing the com-
petitiveness of small and medium enterprises in the 4.0 era, there by
proposing some suggestions on the state management agencies and en-
terprises to improve the competitiveness of small and medium enter-
prises respond promptly to market changes.
Keywords: the Industrial time 4.0, SME, Competitive capacity
1. GIỚI THIỆU
Theo thống kê của Công ty TNHH ReedTradex Việt Nam, sau 11
năm hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng Việt Nam, những doanh
nghiệp vận dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ
giảm 3,6% chi phí hoạt động và tăng hiệu suất 4,1% cả năm. Mặt
khác, theo Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI),
hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) của Việt Nam chiếm
khoảng 97% tổng số doanh nghiệp, với nhiều hạn chế cơ bản nhƣ: quy
mô nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, số lao động dƣới 10 ngƣời, vốn điều lệ
dƣới 8 tỷ VNĐ; trình độ khoa học- công nghệ và đổi mới sáng tạo còn
961
International science conference “International trade - Policies and practices in vietnam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
thấp, chƣa tham gia vào chuỗi phân công chuyên môn hóa toàn cầu.
Những đòi hỏi về nền tảng của công nghệ số, kết nối thông minh và
những đổi thay về mặt công nghệ trong cuộc CMCN 4.0, buộc các
doanh nghiệp phải có sự chuyển đổi mạnh mẽ trong đầu tƣ, sản xuất
và thƣơng mại.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46 tại Thụy Sỹ, Klaus
Schwab- ngƣời sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế
Giới đã nhận định rằng: cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tƣ đang
nảy nở từ cuộc Cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với
nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Công
nghiệp 4.0 thúc đẩy chuyển đổi kỹ thuật số của sản xuất thông qua
việc tích hợp các hệ thống và quy trình khác nhau trƣớc đây thông qua
các hệ thống máy tính đƣợc kết nối với nhau qua chuỗi cung ứng và
giá trị. Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang báo hiệu một sự thay đổi
trong bối cảnh sản xuất truyền thống bao gồm ba xu hƣớng công nghệ
thúc đẩy sự chuyển đổi này: kết nối, thông minh và tự động hóa linh
hoạt.
Quá trình hội nhập kinh tế vừa mang lại cho DNNVV những lợi ích
nhƣng cũng tạo những thách thức to lớn đó là sự thay đổi nhanh chóng
và khó lƣờng của môi trƣờng kinh doanh, cũng nhƣ áp lực cạnh tranh
ngày càng gay gắt ở cả thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Đứng trƣớc
thách thức đó, để tồn tại và phát triển bền vững, cạnh tranh ngang
bằng với doanh nghiệp trên thế giới, DNNVV tại Việt Nam phải
không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra các lợi thế cạnh
tranh của riêng mình. Vì thế, bài viết tập trung nghiên cứu năng lực
cạnh tranh của DNNVV từ đó đề xuất một số gợi ý cải thiện nguồn
lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV đáp ứng yêu cầu
hội nhập thời kỳ 4.0.
962
Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế - Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP
2.1. Khái niệm
Khái niệm Năng lực cạnh tranh (NLCT) đƣợc đề cập đầu tiên ở Mỹ
vào đầu những năm 1980. Theo Aldington Report (1985): “DN có khả
năng cạnh tranh là DN có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất
lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và
quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu
dài của DN và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ
DN”.
Theo quan điểm của Nguyễn Bách Khoa (2004), Phƣơng pháp xác
định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh
nghiệp, Tạp chí khoa học thƣơng mại có chỉ ra rằng: “NLCT của
doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng, nguồn nội lực để
duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh
tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh
trực tiếp, đối thủ tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định.”
Nhƣ vậy, từ các quan điểm trên có thể hiểu NLCT của doanh
nghiệp đƣợc tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và các yếu tố nội
hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ đƣợc tính
bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị
doanh nghiệp,… mà NLCT của mỗi doanh nghiệp gắn liền với ƣu thế
của sản phẩm mà doanh nghiệp đƣa ra thị trƣờng. Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp gắn liền với thị phần mà nó đã nắm giữ, cũng có
quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Hay nói một cách khác NLCT của doanh nghiệp là khả năng
cung cấp hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp tốt hơn so với đối thủ
cạnh tranh trong dài hạn.
963
International science conference “International trade - Policies and practices in vietnam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
2.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn là đề tài thu hút sự chú
ý của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới (Jayasekhar Somasekharan,
Harilal, K. N& Parameswaran M; 2012: Eungen B Rees, 2010,… ) và
trong nƣớc (Bùi Đức Tuân, 2010; Bùi Trọng Tín, 2010, Nguyễn Chu
Hồi, 2007;…). Năng lực cạnh tranh của DN đƣợc tiếp cận nhiều góc
độ khác nhau và trong nhiều lĩnh vực, tuy nhiên tựu chung lại NLCT
của doanh nghiệp tập trung vào các khía cạnh nhƣ: tài chính; tổ chức
quản lý, nguồn nhân lực; công tác nghiên cứu và phát triển;
marketing; năng lực cơ sở vật chất và kỹ thuật (Trần Hữu Ái, 2014),
cụ thể:
Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Năng lực về tài chính đƣợc thông qua năng lực trong việc tăng vốn
từ thị trƣờng cổ phiếu và các nguồn vay mƣợn, từ việc thiết lập ngân
sách tinh vi và từ việc hiểu biết, thực hiện có hiệu quả hệ thống kế
toán chi phí phù hợp. Trong việc quản lý danh mục vốn đầu tƣ của
doanh nghiệp mà nó cạnh tranh trên nhiều thị trƣờng sản phẩm khác
nhau, các thủ tục về kế toán chi phí và các hoạt động lập ngân sách
vốn đƣợc sử dụng để ra quyết định về phân bổ nguồn lực ở cấp doanh
nghiệp. Những hệ thống này cho phép các nhà quản trị thực hiện
những so sánh có ý nghĩa về hoạt động của các bộ phận khác nhau.
Năng lực tổ chức và quản lý của doanh nghiệp:
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp cũng hết sức quan trọng, cơ cấu
tổ chức có hợp lý thì việc phối hợp nguồn lực mới hiệu quả. Doanh
nghiệp hoạt động tốt là doanh nghiệp có tổ chức hợp lý, phân công
nhiệm vụ và quyền lợi rõ ràng, trong đó ban lãnh đạo có phẩm chất và
tài năng sẽ giữ vai trò chủ đạo để điều hành hoạt động doanh nghiệp.
Năng lực nguồn nhân lực của doanh nghiệp:
Chất lƣợng nguồn nhân lực ảnh hƣởng trực tiếp đến năng suất, chất
lƣợng sản phẩm của doanh nghiệp, không chỉ vậy nhân lực là bộ mặt,
964
Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế - Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
là diện mạo của doanh nghiệp. Vì vậy việc đánh giá và nâng cấp chất
lƣợng nguồn nhân lực là một trong nhƣng yếu tố cần thiết trong giai
đoạn hiên nay.
Năng lực về nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp:
Hiệu suất nghiên cứu và phát triển bao gồm những thành tựu trong
việc triển khai những sản phẩm mới, công tác tổ chức, nghiên cứu sản
phẩm mới, ngân quỹ dành cho nghiên cứu và phát triển. Hiệu suất
nghiên cứu và phát triển cao cho phép sản phẩm có đƣợc sức mạnh
trong đổi mới công nghệ, có ƣu thế vƣợt trội hơn so với các sản phẩm
cũ, cải tiến và cập nhật liên tục các tính năng hữu hiệu. Bên cạnh đó,
hiệu suất nghiên cứu và phát triển của sản phẩm thông qua thành tựu
trong công tác tổ chức và triển khai sản phẩm mới của doanh nghiệp.
Năng lực về marketing của doanh nghiệp:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu
của thị trƣờng, hiệu quả của hoạt động marketing của doanh nghiệp.
Khả năng marketing tiếp cận trực tiếp đến sản xuất, tiêu thụ, đáp ứng
nhu cầu của khách hàng… nhằm mục tiêu tối đa hóa doanh thu và lợi
nhậu. Vì vậy quá trình điều tra phân tích thị trƣờng luôn cần đƣợc
quan tâm để phù hợp giữa tiềm năng của doanh nghiệp và nhu cầu của
thị trƣờng.
Năng lực về cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ của doanh
nghiệp:
Là trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hƣởng mạnh mẽ
tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có hệ thống
thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì sản phẩm nhất định sẽ đƣợc
đảm bảo về chất lƣợng, thúc đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa,
tăng nhanh vòng quay về vốn giảm bớt đƣợc khâu kiểm tra về chất
lƣợng hàng hóa.
Mặt khác, năng lực về cơ sở kĩ thuật công nghệ còn là yếu tố vận
hành của máy móc thiết bị. Vận hành bao gồm tất cả hoạt động nhằm
965
International science conference “International trade - Policies and practices in vietnam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
chuyển yếu tồ đầu vào thành sản phẩm hoàn chỉnh. Ở đây bao gồm
các hoạt động nhƣ: vận hành máy móc thiết bị, bao bì đóng gói, lắp
ráp bảo dƣỡng thiết bị và kiểm tra. Việc hoàn thiện những hoạt động
này luôn luôn cho sản phẩm đảm bảo chất lƣợng, đạt hiệu suất cao
hơn và phản ứng nhanh hơn với những điều kiện của thị trƣờng.
3. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TẠI VIỆT NAM
Theo báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Hiệp hội
DNNVV Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021 cho thấy DNNVV ở Việt
Nam có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế của quốc gia, cụ
thể đạt trên 40% GDP, 31% giá trị xuất khẩu, hơn 29% các khoản nộp
ngân sách và tạo việc làm cho khoảng 62% tổng số lao động cả nƣớc.
Dƣới đây là thực trạng về năng lực cạnh trạnh của DNVVN ở Việt
Nam trong những năm qua:
Năng lực tài chính:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam có quy mô tƣơng đối khiêm
tốn đúng nhƣ cách phân loại chúng. Đa số DNNVV có số vốn hoạt
động ở mức dƣới 10 tỷ đồng, trong 10 doanh nghiệp mới có 1 đến 2
doanh nghiệp với quy mô trên 10 tỷ đồng. Quy mô vốn nhỏ trở thành
rào cản cho doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, đầu tƣ vào những
chiến lƣợc kinh doanh dài hạn cũng nhƣ áp dụng công nghệ.
Số lƣợng DNNVV tăng nhanh ở những khu vực có quy mô vốn
dƣới 5 tỷ đồng, cụ thể vốn dƣới 0,5 tỷ tăng 4.596 doanh nghiệp; từ
0,5- 1 tỷ tăng 5.197 doanh nghiệp; từ 1- 5 tỷ tăng 12.598 doanh
nghiệp. Nhƣ vậy, tăng nhanh nhất ở khu vực doanh nghiệp có mức
vốn đăng ký từ 1 đến 5 tỷ đồng và tập trung ở khu vực ngoài Nhà
nƣớc. Theo số liệu thống kê năm 2004, tỷ trọng doanh nghiệp ngoài
Nhà nƣớc chiếm 99,6% trong tổng số doanh nghiệp có quy mô vốn
dƣới 0,5 tỷ; từ 0,5- 1 tỷ chiếm 99,4%; từ 1- 5 tỷ chiếm 97,15%, tỷ
trọng này có xu hƣớng giảm dần ở quy mô vốn tăng lên (chỉ chiếm
13% ở mức vốn trên 500 tỷ).
966
Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế - Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
Theo số liệu điều tra của các tổ chức quốc tế, vốn vay ngân hàng
mới chỉ đáp ứng đƣợc khoảng 30% nhu cầu vay vốn của DNNVV,
phần còn lại chủ yếu doanh nghiệp phải tìm đến các nguồn vay phi
chính thức với lãi suất cao. Cục Phát triển DNNVV của Bộ Kế hoạch
và Đầu tƣ vừa công bố một điều tra về thực trạng của DNNVV ở Việt
Nam, theo đó chỉ có 32,38% số doanh nghiệp cho biết đã tiếp cận
đƣợc nguồn vốn của Nhà nƣớc, 35,24% doanh nghiệp khó tiếp cận và
32,38% số doanh nghiệp không tiếp cận đƣợc. Nguyên nhân xuất phát
từ nhiều phía, về quy định của Nhà nƣớc, về phía ngân hàng và ngay
từ phía bản thân doanh nghiệp.
4%
vay ngân hàng
57%
vay nước ngoài
28%
vay từ các nguồn
khác
Biểu đồ 1: Cơ cấu nguồn vốn vay năm 2018
(Nguồn: Kết quả điều tra về đầu tƣ trong doanh nghiệp do VCCI thực hiện, 2018)
Năng lực tổ chức và quản lý:
Về mô hình tổ chức doanh nghiệp: Hiện nay theo luật DN năm
2005 tại Việt Nam quy định có 6 loại hình doanh nghiệp chủ yếu gồm:
DNNN, DN tƣ nhân, Công ty TNHH (2-50 thành viên), Công ty
TNHH một thành viên, Công ty Hợp danh, Công ty Cổ phần. Các loại
hình doanh nghiệp này rất phổ biến và phù hợp với điều kiện kinh tế
thị trƣờng hiện nay tuy nhiên gặp khó khăn trong khâu quản lý.
Về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý: Các loại hình doanh nghiệp
khác nhau có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý khác nhau. Hiện tại khi
thực hiện chức năng của bộ máy quản lý doanh nghiệp, nhiều công ty
Cổ phần ở Việt Nam không phân biệt rõ ranh giới giữa quản lý và điều
967
International science conference “International trade - Policies and practices in vietnam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
hành theo thông lệ quốc tế. Chẳng hạn, khi quy mô công ty cổ phần
nhỏ, số lƣợng cổ đông ít, có công ty cổ phần chỉ có 3 cổ đông thì
thƣờng không có sự tách bạch giữa chủ sở hữu và ngƣời điều hành
trực tiếp, mà các cổ đông thƣờng đồng thời là ngƣời điều hành công
ty, tức là Đại hội cổ đông sẽ đồng thời là thành viên của Hội đồng
quản trị.
Về năng lực quản lý: Năng lực quản lý của DNVVN tập trung ở
năng lực của ngƣời đứng đầu doanh nghiệp, vì thế còn nhiều hạn chế
do sự thiếu kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nên chất lƣợng quản
lý chƣa cao.
Năng lực nguồn nhân lực:
Hiện nay, lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có lực lƣợng lao động
dồi dào và cơ cấu lao động trẻ. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2018,
Việt Nam có khoảng 94 triệu lao động, trong đó, lực lƣợng lao động
từ 15 tuổi trở lên chiếm khoảng 55,16 triệu ngƣời. Tỷ lệ lao động 15
tuổi trở lên có việc làm năm 2018 ƣớc tính là 54 triệu ngƣời, bao gồm
20,9 triệu ngƣời đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy
sản (chiếm 38,6%); khu vực công nghiệp và xây dựng 14,4 triệu ngƣời
(chiếm 26,7%); khu vực dịch vụ 18,7 triệu ngƣời (chiếm 34,7%).
Đồng thời, năng suất lao động trung bình của DNVVN tại Việt
Nam trong thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hƣớng tăng
đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao
trong khu vực ASEAN. Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động
toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ƣớc tính đạt 102 triệu
đồng/lao động (tƣơng đƣơng 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm
2017.
Song song với đó, chất lƣợng lao động Việt Nam trong những năm
qua cũng đã từng bƣớc đƣợc nâng lên. Lao động qua đào tạo đã phần
nào đáp ứng đƣợc yêu cầu của doanh nghiệp và thị trƣờng lao động.
Lực lƣợng lao động kỹ thuật của Việt Nam đã làm chủ đƣợc khoa học-
968
Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế - Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
công nghệ, đảm nhận đƣợc hầu hết các vị trí công việc phức tạp trong
sản xuất kinh doanh mà trƣớc đây phải thuê chuyên gia nƣớc ngoài…
Năng lực về nghiên cứu và phát triển:
Theo Báo cáo đổi mới công nghệ của DNVVN tại Việt Nam (Viện
Quản lý Kinh tế Trung ƣơng) cho thấy các doanh nghiệp thuộc diện
điều tra thƣờng tiến hành một hoặc một số hoạt động nghiên cứu và
phát triển tùy vào khả năng tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh
của đơn vị mình, trong đó tập trung vào một số hoạt động nghiên cứu
và phát triển chính nhƣ sau: nghiên cứu và triển khai, thiết kế sản
phẩm mới, cải tiến sản phẩm đang có, thiết kế/áp dụng quy trình công
nghệ mới, cải tiến quy trình công nghệ đang có (bảng 1).
Bảng 1: Kết quả hoạt động nghiên cứu và phát triển
Hoạt động
Tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện (%)
Cải tiến sản phẩm đang có
Cải tiến quy trình công nghệ đang có
Thiết kế sản phẩm mới
98
85
45
30
8,5
Thiết kế quy trình công nghệ mới
R&D
(Nguồn: Viện Quản lý Trung ƣơng, 2018)
Hiện nay, nhiều đánh giá khác nhau đều cho thấy hoạt động nghiên
cứu và phát triển của ở Việt Nam rất yếu. Qua kết quả điều tra trong
năm 2018 của VCCI gần một nửa số DN chƣa có bộ phận nghiên cứu
và phát triển chuyên trách. Ngoài ra, các DN nói chung và DNNVV
nói riêng còn thụ động, không chịu liên kết hay tìm đến các tổ chức
nghiên cứu và phát triển. Mối liên kết mang tính khu vực giữa các tổ
chức này với nhà sản xuất hay doanh nghiệp ở Việt Nam rất lỏng lẻo.
Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự yếu kém hay
chƣa phát triển của các dịch vụ tƣ vấn hỗ trợ và thị trƣờng công nghệ.
969
International science conference “International trade - Policies and practices in vietnam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
Trong khi các hình thức tƣ vấn và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp phát
triển mạnh ở các quốc gia phát triển nhƣng ở thị trƣờng Việt Nam các
dịch vụ này vẫn chƣa đƣợc doanh nghiệp nhận thức đầy đủ về tầm
quan trọng của nó. Các văn bản pháp quy, hệ thống thống kê quốc gia
không nhấn mạnh vào hình thức này. Thực tế cho thấy nƣớc ta còn
thiếu các dịch vụ tƣ vấn hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thúc
đẩy sự hình thành, phát triển của thị trƣờng khoa học- công nghệ và
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực hoạt động marketing:
Tại talkshow ―Quản trị Marketing trong doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việt Nam‖ do Công ty TNHH Thƣơng mại, Dịch vụ và Tƣ vấn
Chuyên nghiệp (PROCST) tổ chức ngày 25/11/2017 cho thấy hầu hết
DNNVV đều cho rằng hoạt động marketing của DN luôn đáp ứng nhu
cầu, thị hiếu khách hàng, điều này là minh chứng rõ nhất về việc nhận
thức của DNNVV về vai trò của hoạt động Marketing trong chiến
lƣợng kinh doanh, để từ đó xây dựng các chiến lƣợc Marketing phù
hợp với sự biến động của môi trƣờng kinh doanh ngày nay. Tuy nhiên
khi nghiên cứu về khả năng thích ứng với những biến động của môi
trƣờng, nhiều DNNVV cho biết điều kiện môi trƣờng kinh doanh tại
Việt Nam chƣa ổn định, luôn có những thay đổi bất thƣờng do đó bản
thân DNNVV luôn hết sức cố gắng nhƣng chƣa thể thay đổi kịp để
thích ứng với các biến động nhanh chóng này.
Năng lực về cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ của doanh
nghiệp:
Trình độ công nghệ của doanh nghiệp quyết định sự tăng trƣởng và
phát triển của doanh nghiệp cũng nhƣ góp phần tăng trƣởng nền kinh
tế của mỗi quốc gia. Theo ông Đỗ Danh Thanh (Giám đốc tƣ vấn công
nghệ Công ty PwC Việt Nam): “Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
khác với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó, nó sẽ kết nối và
tổng hoà của ba yếu tố và tạo ra những sự đột phá lớn. Yếu tố đầu tiên
là về công nghệ sinh học: Vật liệu mới; vật liệu cao cấp; đột biến gen.
970
Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế - Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
Yếu tố thứ hai là Vật lý: 3D Printing; Robotic. Yếu tố thứ ba là Kỹ
thuật số: Trí tuệ nhân tạo AI; Internet vạn vậtIoT; dữ liệu lớn Big
Data; Điện toán đám mây; Blockchai,…”30. Hiện trạng ở Việt Nam
các doanh nghiệp lớn đã có đầu từ công nghệ trong sản xuất và quản
lý tuy nhiên đối với những DNNVV, việc ứng dụng công nghệ vào
sản xuất, quản lý còn hạn chế, bởi vốn đầu tƣ cho công nghệ không hề
nhỏ. Theo kết quả điều tra 8.000 doanh nghiệp Việt Nam trong 4 năm
vừa qua về ―Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh
nghiệp tại Việt Nam” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ƣơng (CIEM), Tổng cục Thống kê (GSO) và Trƣờng Đại học
Copenhagen (UoC - Đan Mạch) cho thấy có tới 90% số doanh nghiệp
đƣợc điều tra chƣa có chiến lƣợc cải tiến công nghệ.31
4. Kết luận và gợi ý nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
nhỏ và vừa của Việt Nam thời kỳ 4.0
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi môi trƣờng kinh
doanh đối với DNNVV, điều này buộc doanh nghiệp phải thay đổi,
phải tiếp cận với công nghệ nhằm nâng cao khả năng tiếp cận khách
hàng. Để nâng cao NLCT cho DNNVV, cần có sự quan tâm của cơ
quan quản lý nhà nƣớc cũng nhƣ sự vận động thay đổi từ bên trong
của doanh nghiệp, cụ thể:
Về phía cơ quan quản lý Nhà nước:
- Nhà nƣớc cần đặt DNNVV vào vị trí trung tâm của hệ thống đổi
mới quốc gia; tiếp tục nỗ lực xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển,
phục vụ ngƣời dân và doanh nghiệp; bảo đảm quyền tự do kinh doanh
và nỗ lực tạo môi trƣờng kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho
30 https://mekongsean.vn/doanh-nghiep-nho-va-vua-voi-cach-mang-4-0.html/
31
tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-kinh-nghiem-quoc-te-va-mot-so-khuyen-nghi-cho-viet-nam-
64207.htm
971
International science conference “International trade - Policies and practices in vietnam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
DNNNV. Đồng thời, có các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực công
nghệ cho doanh nghiệp để phát triển sản phẩm mới, công nghệ tiên
tiến, công nghệ cao, sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm; hỗ trợ
phát triển, bảo vệ tài sản trí tuệ phát triển.
- Xây dựng và hỗ trợ nâng cao năng lực hội nhập đón nhận cách
mạng công nghệ 4.0 cho doanh nghiệp nói chung, trong đó đặc biệt
quan tâm đến DNNVV. Khi đó, doanh nghiệp có thể tham gia hiệu
quả hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và đóng vai trò dẫn dắt trong chuỗi
giá trị nội địa và cụm công nghiệp.
- Khẩn trƣơng đổi mới lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề theo
hƣớng hội nhập quốc tế, tạo và bổ sung để phát triển nguồn nhân lực
có kỹ năng phù hợp, có thể tiếp thu và làm chủ công nghệ thời kỳ 4.0.
Về phía doanh nghiệp nhỏ và vừa:
- Sử dụng hiệu quả nguồn vốn, tài sản của doanh nghiệp: DNNVV
thƣờng có quy mô vốn nhỏ, khả năng huy động vốn thấp vì vậy việc
sử dụng hiệu quả nguồn vốn và tài sản là công cụ hữu hiệu giúp nâng
cao NLCT. Để sử dụng vốn hiệu quả, các DNNVV cần chú trọng đến
một số vấn đề sau: định kỳ đánh giá lại nguồn vốn của từ quy mô, cơ
cấu, mức độ đáp ứng của vốn đến hiệu quả sử dụng vốn để điều chỉnh
kịp thời nhằm sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn vốn, tài sản của
doanh nghiệp.
- Đổi mới tổ chức, nâng cao trình độ năng lực quản lý của
DNNVV: để nâng cao trình độ tổ chức quản lý, cần hiện đại hóa theo
hƣớng đổi mới căn bản mô hình tháp truyền thống, áp dụng linh hoạt
các mô hình tổ chức quản lý hiện đại nhƣ: mô hình tổ chức mạng lƣới,
ma trận. Lựa chọn mô hình tổ chức DNNVV phù hợp nhằm phát huy
đƣợc vai trò của các bộ phận trong doanh nghiệp, tạo sự gắn kết trong
doanh nghiệp, đồng thời mở ra cơ hội hợp tác và huy động nguồn lực
với các đối tác bên ngoài. Nâng cao trình độ năng lực của cán bộ
quản lý. Tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về cả kiến thức
972
Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế - Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
chuyên môn, kiến thức quản lý và cả về pháp luật, tin học, ngoại
ngữ… Thƣờng xuyên rèn luyện kỹ năng quản lý trong mọi công việc.
- Sử dụng hiệu quả và nâng cao chất lƣợng lao động trong
DNNVV: để sử dụng hiệu quả nguồn lao động, nhà quản lý cần tạo ra
bầu không khí dân chủ và nhiệt huyết, tăng quyền tự chủ, tự quyết cho
ngƣời lao động, phát huy tối đa năng lực sáng tạo của ngƣời lao động
từ cấp quản lý cho đến ngƣời lao động trực tiếp. DNNVV cũng cần
chú trọng các khâu trong công tác cán bộ từ tuyển chọn, bố trí, sử
dụng, đào tạo và có chính sách đãi ngộ hợp lý cho ngƣời lao động,
đảm bảo cả lợi ích vật chất lẫn tinh thần cho ngƣời lao động. Đặc biệt
là đội ngũ cán bộ, chuyên viên chủ chốt thông qua các hoạt động huấn
luyện, cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng (chú trọng 3 kỹ năng:
Thành thạo năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; biết ngoại ngữ, trƣớc hết
là tiếng Anh...; thành thạo công nghệ thông tin, máy tính) để nâng cao
năng suất lao động; coi trọng công tác tuyển dụng, có chiến lƣợc ―săn
đầu ngƣời‖ để bổ sung nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho doanh
nghiệp.
- Nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển trong DNNVV: nền
kinh tế thị trƣờng đang tiến đến nền kinh tế tri thức nhƣ hiện nay thì
việc nâng cao năng lực sáng tạo phải càng đƣợc coi trọng. Nâng cao
năng lực sáng tạo không chỉ là phát minh, sáng chế mà có thể là cải
tiến kỹ thuật, đổi mới sản phẩm… Ngoài việc mua sắm thiết bị, công
nghệ mới, mua bản quyền sản xuất, DNNVV cần chú ý tạo ra bầu
không khí lao động sáng tạo và phải có khen thƣởng xứng đáng cho
những sáng tạo của nhân viên. Bên cạnh đó, DNNVV có thể liên kết
với các trƣờng Đại học, viện nghiên cứu… để có nguồn nhân lực cao
cấp với chi phí thấp hơn.
- Nâng cao năng lực marketing của DNNVV: đòi hỏi phải thực hiện
đồng bộ các hoạt động từ khâu nghiên cứu thị trƣờng nắm bắt nhu cầu
khách hàng đến chiến lƣợc marketing- mix với 4 công cụ: sản phẩm,
973
International science conference “International trade - Policies and practices in vietnam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
giá, kênh phân phối và chính sách xúc tiến bán hàng. Đồng thời đẩy
mạnh phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ các mô hình giao dịch điện tử
kết nối toàn cầu nhƣ B2B, B2C, B2G nhằm dễ dàng tiếp cận với
khách hàng.
- Sử dụng hiệu quả và nâng cao năng lực cơ sở vật chất và kỹ thuật
của DNNVV: trƣớc hết DNNVV cần có tƣ duy chiến lƣợc đổi mới
công nghệ phù hợp với điều kiện doanh nghiệp bằng nhiều hình thức,
ví dụ nhƣ cải tiến công nghệ hiện có, chuyển giao công nghệ mới.
Đồng thời để sử dụng có hiệu quả thiết bị và công nghệ, nhà quản lý
cần phải có kế hoạch nâng cao năng lực sử dụng công nghệ của ngƣời
lao động nhằm tối ƣu hóa việc khai thác công nghệ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Aldington report (1985), House of commons Select Commititee on
Oversea Trade, London: HMSO
Accenture Consulting (2017), Manning the Mission for Advanced
Manufacturing: New Demands on Talent in Singapore’s Energy,
Chemicals and Utillities Industries.
Bộ Công Thƣơng (2017), Tài liệu Diễn đàn CMCN 4.0, tổ chức
ngày 11/4/2017.
Bùi Đức Tuân (2010), Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chế
biến thủy sản Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân
Bùi Trọng Tín (2010), Thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Luận văn QLKH&CN, Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn.
Đỗ Sơn Tùng, Trịnh Minh Tâm, Trần Hậu Ngọc, Nguyễn Tuấn Tú
(2019), “Hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị
cho Việt Nam”, Tạp chí công thƣơng, ngày truy cập 15/9/2019,
974
Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế - Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
cong-nghe-nham-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-kinh-nghiem-quoc-
te-va-mot-so-khuyen-nghi-cho-viet-nam-64207.htm
Nur Haziqah A Malek (2018), ―ASEAN backup needed to face
Industry 4.0”, the Malaysian Reserve, May 2nd 2018.
Trần Hữu Ái (2014), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp tại Bà Rịa- Vũng Tàu, Luận án tiến sĩ, Viện Hàn Lâm, Khoa
học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học Xã hội.
Ủy ban khoa học công nghệ môi trƣờng của Quốc hội (2018), tài
liệu Diễn đàn Khoa học và công nghệ với DN Việt Nam trong CMCN
4.0, tổ chức ngày 16/5/2018;
Ngày nhận bài: 27/9/2019
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 11/10/2019
Ngày chấp nhận đăng bài: 21/10/2019
975
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_nang_luc_canh_tranh_cua_doanh_nghiep_nho_va_vua_tro.pdf

