Mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, vốn tâm lý và sự hài lòng trong công việc đến cam kết gắn bó đối với tổ chức của nhân viên khu vực công - Nghiên cứu trường hợp tỉnh Kiên Giang

Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
5
Mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, vốn tâm lý và sự hài lòng trong  
công việc đến cam kết gắn bó đối với tổ chức của nhân viên  
khu vực công - Nghiên cứu trường hợp tỉnh Kiên Giang  
The relationship between personality traits, psychological capital  
and job satisfaction to organisational commitment of employees in  
the public sector - A case study of Kien Giang Province  
Nguyễn Danh Nam1*, Uông Thị Ngọc Lan1  
1Trường Đại học Tài nguyên và Môi Trường Hà Nội, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: nd[email protected]om  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi…1964  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích mối quan hệ giữa  
tính cách cá nhân, vốn tâm lý và sự hài lòng trong công việc đến  
cam kết gắn bó đối với tổ chức của đội ngũ nhân viên khu vực  
công tại tỉnh Kiên Giang. Từ dữ liệu khảo sát 359 nhân viên làm  
việc trong khu vực công, nghiên cứu vận dụng phương pháp phân  
tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm đánh giá tác động  
của tính cách cá nhân, vốn tâm lý tới sự hài lòng trong công việc  
và mối quan hệ giữa sự hài lòng đối với cam kết gắn bó của đội  
ngũ nhân lực. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích  
cực giữa tính cách cá nhân, vốn tâm lý tới sự hài lòng trong công  
việc và sự hài lòng trong công việc đó có ảnh hưởng tích cực đến  
cam kết gắn bó đối với tổ chức. Kết quả nghiên cứu đạt được đã  
gợi ý một số hàm ý quản trị cho các cơ quan tổ chức khu vực  
công nhằm gia tăng sự hài lòng trong công việc và cam kết gắn  
bó với tổ chức của đội ngũ nhân viên.  
Ngày nhận: 25/06/2021  
Ngày nhận lại: 17/08/2021  
Duyệt đăng: 25/08/2021  
Từ khóa:  
cam kết gắn bó đối với tổ chức;  
sự hài lòng trong công việc;  
tính cách cá nhân; vốn tâm lý  
ABSTRACT  
The study is done to analyse the relationship between  
personality traits, psychological capital and job satisfaction to  
organisational commitment of employees in the public sector of  
Kien Giang Province. From the data provided by 359 employees  
working in the public sector, the Structural Equation Model  
(SEM) was applied to evaluate the impact of personality traits,  
psychological capital on job satisfaction, and the relationship  
between job satisfaction with organisational commitment. The  
results show that there is a positive relationship between  
personality traits, psychological capital to job satisfaction, and job  
satisfaction has a positive impact on organisational commitment.  
The result of the study suggested some important implications for  
organisation in public sector to increase job satisfaction and  
organisational commitment of employees.  
Keywords:  
organisational commitment; job  
satisfaction; personality traits;  
psychological capital  
6
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
1. Giới thiệu  
Trong những năm gần đây, kỳ vọng của tổ chức đối với nhân viên ngày càng tăng cùng  
với sự cạnh tranh toàn cầu trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Sự phát triển về kinh tế, xã  
hội, khoa học công nghệ đã dẫn đến sự phân hóa về những mong muốn và kỳ vọng của các nhân  
viên trong tổ chức. Tất cả những phát triển này đòi hỏi các tổ chức phải nhấn mạnh nhiều hơn  
vào nhân viên như những nguồn lực đặc biệt nhất của họ. Trong hoàn cảnh đó, tác động của tính  
cách cá nhân, vốn tâm lý, sự hài lòng trong công việc đối với cam kết gắn bó đối với tổ chức của  
đội ngũ nhân viên là một vấn đề quan trọng đối với các tổ chức. Điều đặc biệt quan trọng là phải  
nhận thức được sự tồn tại của những ưu điểm, tích cực của nhân viên, để gia tăng những đặc  
điểm này và đảm bảo rằng họ sử dụng những đặc điểm này phù hợp với mục đích của tổ chức.  
Việc duy trì và tạo ra các khả năng này cũng gây tác động tới cam kết gắn bó đối với tổ chức của  
nhân viên.  
Khu vực công hiện nay đang đối mặt với xu hướng chuyển dịch công việc của những  
nhân viên có trình độ cao, điều đó đang tác động đến mức độ phục vụ và việc đạt được lợi ích  
quốc gia. Tầm quan trọng của gắn kết tổ chức tập trung vào mối quan hệ tích cực của hành vi,  
thái độ nhân viên ảnh hưởng đến tổ chức (Naquin & Holton, 2002). Trong các nghiên cứu về  
hành vi tổ chức gần đây đều cho rằng tính cách cá nhân và vốn tâm lý có tác dụng nâng cao nội  
lực cho tổ chức và gia tăng hiệu quả công việc. Các thành phần cấu thành tính cách cá nhân có  
ảnh hưởng mạnh mẽ tới thái độ và hành vi của nhân viên trong công việc được biểu thị qua mô  
hình năm tính cách cá nhân gồm: tính hướng ngoại, tính ổn định cảm xúc, tính tận tâm, tính dễ  
chịu và tính sẵn sàng trải nghiệm (Judge, Heller, & Mount, 2002). Hơn nữa, theo nghiên cứu của  
Luthans, Youssef, và Avolio (2007) đã nhận thấy mối tương quan giữa vốn tâm lý và cam kết  
gắn bó đối với tổ chức là vô cùng quan trọng. Vốn tâm lý thể hiện thái độ tích cực của mỗi cá  
nhân (Luthans et al., 2007). Cá nhân nào sở hữu vốn tâm lý tốt, cá nhân đó sẽ có những ưu điểm  
nhất định trong cuộc sống nói chung và trong công việc nói riêng, nhân viên nào nắm giữ được  
các đặc tính tốt của vốn tâm lý có thể tạo ra động lực làm việc đồng thời làm tăng hiệu quả công  
việc.  
Một số nghiên cứu trong nước đã tập trung vào cam kết gắn bó đối với tổ chức của đội  
ngũ nhân viên. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó không bắt đầu từ góc độ của tính cách cá nhân và  
vốn tâm lý cũng như khảo sát thực nghiệm tại khu vực công. Do đó, việc đi sâu tìm hiểu mối  
quan hệ giữa tính cách cá nhân, vốn tâm lý và sự hài lòng trong công việc đến cam kết gắn bó  
đối với tổ chức của nhân viên trong khu vực công tại tỉnh Kiên Giang trở nên cần thiết.  
Do đó, nghiên cứu này nhằm xác định mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, vốn tâm lý, sự  
hài lòng trong công việc và cam kết gắn bó đối với tổ chức của nhân viên trong khu vực công tại  
tỉnh Kiên Giang. Dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được, một số hàm ý quản trị quan trọng đã  
được khuyến nghị nhằm gia tăng sự hài lòng trong công việc và cam kết gắn bó đối với tổ chức  
của nhân viên trong khu vực công tại tỉnh Kiên Giang trong tương lai.  
2. Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Lý thuyết về tính cách cá nhân  
Tính cách cá nhân là nhân cách tồn tại trong mỗi con người. Mỗi tính cách cá nhân là một  
biểu hiện không giống nhau về mặt tâm lý và sự khác biệt đó giúp phân biệt đối với mỗi cá nhân  
với nhau, khiến cá nhân đó chuyển biến thành một cá thể duy nhất có những đặc tính tâm lý  
riêng biệt. Tính cách cá nhân có tác động mạnh mẽ đến hành vi và suy nghĩ của mỗi cá nhân, do  
đó ảnh hưởng tới công việc và các mối quan hệ trong xã hội (Bradberry, 2007). Đặc điểm tính  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
7
cách cá nhân là một chuỗi những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và các xu hướng quy luật lặp đi lặp  
lại trong mỗi cá nhân (Colquitt, LePine, Piccolo, & Cindy, 2011).  
Mô hình Big Five đã được nghiên cứu một cách rộng rãi và khám phá ra 05 yếu tố nổi bật  
tồn tại trong tính cách của mỗi cá nhân (Goldberg, 1993; Judge et al., 2002). Smith và Canger  
(2004) đã đưa ra ba kết luận về mô hình Big Five: (i) Mô hình cho phꢀp phân loại thành năm yếu  
tố tính cách cá nhân vào những mục có ý nghĩa; (ii) Mô hình cung cấp cấu trúc chung và ngôn  
ngữ dành cho việc nghiên cứu; (iii) Mô hình được tin rằng có thể giải thích hầu hết tất cả về năm  
yếu tố tính cách cá nhân. Mô hình Big Five của Costa và MacCrae (1992) bao gồm năm yếu tố:  
tính hướng ngoại, tính ổn định cảm xúc, tính dễ chịu, tính tận tâm và tính sẵn sàng trải nghiệm  
được sử dụng trong các nghiên cứu John và Don (2009), Nguyen (2015), Le (2018). Trong đó:  
Tính hướng ngoại: người hướng ngoại luôn mong muốn được khen ngợi, được công nhận  
của xã hội và có được quyền lực (Costa & MacCrae, 1992).  
Tính ổn định cảm xúc: người có tinh thần ổn định thường có sự bình tĩnh, điềm đạm,  
không dễ nổi nóng, có tính cách vô tư và đặc biệt có thể đối diện với các tình huống áp lực mà  
không cảm thấy khó chịu (Costa & MacCrae, 1985).  
Tính dễ chịu: người có tính dễ chịu thường có lòng vị tha, khoan dung, cảm thông, mềm  
lòng và sẵn sàng giúp đỡ người khác (Costa & MacCrae, 1992).  
Tính tận tâm: người có tính tận tâm thường dễ đạt được sự tin cậy, chăm chỉ hướng tới  
mục tiêu, có tính kiên trì, có tinh thần trách nhiệm và cẩn thận (Murray & Michael, 1991).  
Tính sẵn sàng trải nghiệm: người có tính sẵn sàng trải nghiệm sẽ giàu trí tưởng tượng, tò  
mò, mong muốn được khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm mọi thứ xung quanh trong cuộc sống  
(Costa & McCrae, 1992).  
2.1.2. Lý thuyết vốn tâm lý  
Vốn tâm lý có sự tương quan tích cực tới bản chất mỗi cá nhân, khiến cá nhân đó có được  
kết quả tốt trong công việc (Luthans & Youssef, 2004) và vốn tâm lý chính là đáp án cho câu hỏi  
bạn là ai và những gì mà bạn sẽ đạt được từ góc độ phát triển tích cực (Avolio & Luthans, 2006).  
Có thể thấy vốn tâm lý được mô tả là bản tính của mỗi cá nhân hay mức độ tâm lý tích cực đối  
với sự phát triển của cá nhân đó, nó còn được dựa vào lý thuyết hành vi tổ chức để phát triển  
(Avey, Luthans, & Jensen, 2009).  
Luthans và cộng sự (2007) nhấn mạnh vốn tâm lý là mức độ phát triển tâm lý tích cực  
của mỗi cá nhân được thể hiện qua (i) sự tin tưởng vào bản thân từ đó chấp nhận và hoàn thiện  
công việc có tính thách thức cao được giao, thông qua sự nỗ lực hết mình để đạt được kết quả;  
(ii) trạng thái lạc quan về kết quả ở hiện thực và tương lai; (iii) kiên trì theo đuổi các mục đích và  
khi cần thiết luôn biến chuyển các mục tiêu để đạt được kết quả cao; (iv) khi đối mặt với mọi  
thách thức, trở ngại họ luôn thích nghi và kiên cường vượt qua để đạt được kết quả. Vốn tâm lý  
được coi như là khái niệm bậc hai, cấu thành từ bốn thành phần: sự tự tin, sự hy vọng, tính kiên  
trì và sự lạc quan (Luthans et al., 2007).  
Sự tự tin: liên quan đến việc theo đuổi các mục tiêu cao hơn của mỗi cá nhân; luôn sẵn  
sàng vượt qua thử thách để nâng cao khả năng bản thân; luôn tràn đầy năng lượng và tạo ra sự  
thúc đẩy cho bản thân; luôn cố gắng hết sức để vượt khó khăn để đạt được kết quả tốt; luôn cố  
gắng kiên trì vượt qua thách thức (Luthans et al., 2007).  
Sự hy vọng: tạo ra sự thúc đẩy và kiên quyết tìm mọi cách với những cách thức để vượt  
qua mọi thách thức để hoàn thành những mục tiêu xác định (Luthans & Youssef, 2004), và thúc  
8
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
đẩy mỗi cá nhân đạt được những mục tiêu, khác biệt hoàn toàn với những suy nghĩ viển vông  
(Luthans et al., 2007).  
Sự lạc quan: là thành phần ảnh hưởng mạnh nhất của vốn tâm lý (Luthans et al., 2007)  
những người lạc quan luôn tin vào khả năng của bản thân, có thái độ tích cực với cuộc sống và tự  
thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực (Luthans & Youssef, 2004).  
Tính kiên trì: được thể hiện qua sự bền bỉ của mỗi cá nhân vượt qua nghịch cảnh và  
nhanh chóng phục hồi trở về trạng thái tinh thần lúc đầu hoặc có thể đạt mức độ cao hơn để đạt  
được kết quả mong đợi (Luthans et al., 2007).  
2.1.3. Lý thuyết về sự hài lòng trong công việc  
Theo Spector (1997) nhận định sự hài lòng trong công việc là việc nhân viên nhận thấy  
yêu thích công việc của mình và các thành phần khác nhau có liên quan, yếu tố đó phụ thuộc  
chung vào cảm nhận của nhân viên nên có thể coi như là một biến thái độ bởi lúc này công việc  
là một phần trong cuộc sống mỗi nhân viên. Cũng theo khái niệm đó sự hài lòng trong công việc  
được tiếp cận, đo lường theo các thành phần công việc và tổng thể công việc.  
Cách tiếp cận theo các thành phần khác nhau trong công việc được sử dụng để tìm ra  
thành phần nào của công việc tạo ra sự hài lòng hoặc không hài lòng. Điều này có thể rất hữu ích  
cho việc tổ chức muốn xác định các thành phần nhân viên không hài lòng cái mà họ có thể cải  
thiện. Đôi khi cả hai cách tiếp cận đều được sử dụng để tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh mô tả sự  
hài lòng trong công việc của nhân viên.  
Cách tiếp cận tổng thể công việc đã được dùng để xác định thái độ tổng thể hoặc điểm  
mấu chốt được quan tâm về nhận thức chung của nhân viên có sự hài lòng về công việc của họ  
hay không.  
Nghiên cứu của Tran (2005), Slatten (2008) đều có cùng quan điểm như trên và cho rằng  
cần xem xꢀt một cách cẩn thận trước khi nghiên cứu. Chiva và Alegre (2009) nhấn mạnh việc  
đánh giá sự hài lòng tổng thể trong công việc chỉ cần đo lường bằng một biến duy nhất. Mặc dù  
chỉ sử dụng thang đo một biến để làm câu hỏi nhưng độ giá trị và độ tin cậy của thang đo một  
biến không bị mất đi so với thang đo đánh giá sự hài lòng trong công việc theo các thành phần  
khác nhau. Yu và Dean (2001) cho thấy sự hài lòng tổng thể trong công việc có tác động mạnh  
mẽ hơn sự hài lòng theo các thành phần đối với lòng trung thành, chuyển đổi và sẵn sàng cống  
hiến. Điều này là hoàn toàn phù hợp với nhận định về tầm quan trọng của sự hài lòng chung của  
Slatten (2008).  
2.1.4. Lý thuyết về sự cam kết gắn bó đối với tổ chức  
Allen và Meyer (1990) định nghĩa cam kết gắn bó đối với tổ chức là biểu hiện về mặt tâm  
lý thể hiện mối quan hệ giữa nhân viên và tổ chức, có ảnh hưởng đến quyết định tiếp dục duy trì  
là thành viên trong tổ chức. Khái niệm, ba thành phần về cam kết gắn bó đối với tổ chức của  
Meyer, Allen, và Smith (1993) được chấp nhận rộng rãi và trở thành mô hình chủ đạo khi nghiên  
cứu về cam kết gắn bó đối với tổ chức (Benkhoff, 1997; Tran, 2006). Cam kết gắn bó đối với tổ  
chức bao gồm ba thành phần: (i) Cam kết tình cảm: được thể hiện như là những cảm xúc gắn bó  
của nhân viên đối với tổ chức. Nhân viên có cam kết tình cảm ở mức độ cao sẽ tự nguyện ở lại  
với tổ chức vì đơn giản họ mong muốn điều này. (ii) Cam kết duy trì: là sự ràng buộc do các chi  
phí liên quan mà nhân viên phải hoàn trả nếu rời tổ chức. Nhân viên luôn cam kết duy trì với tổ  
chức vì điều này là bắt buộc. (iii) Cam kết đạo đức: phản ánh nghĩa vụ đạo đức của nhân viên đối  
với tổ chức, trung thành đối với tổ chức, có trách nhiệm đối với tổ chức và mọi nhân viên khác  
trong tổ chức. Nhân viên cảm thấy họ cần phải ở lại với tổ chức.  
2.2. Giả thuyết nghiên cứu  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
9
Kết cấu vốn tâm lý có tác dụng xác định mức độ tâm lý của một cá nhân và được đo  
lường, phát triển và được khám phá với mục tiêu cải thiện hiệu quả trong công việc do Luthans  
và cộng sự (2007) khơi dậy dựa trên các ý tưởng về tâm lý học tích cực, sự hiểu biết của tổ chức,  
hành vi tích cực (Luthans & Youssef, 2004). Seligman và Csikszentmihalyi (2000) nhận thấy  
tâm lý học tích cực ảnh hưởng mạnh đến cách thức tạo dựng nguồn sức mạnh của con người. Ví  
dụ đặc điểm, tính cách tốt, thế mạnh nhằm mục tiêu giúp cuộc sống của họ có giá trị hơn, hiệu  
quả hơn. Luthans và cộng sự (2007) mô tả hành vi tổ chức tích cực là khuôn mẫu của vốn tâm lý  
và được sử dụng để định hình một phương pháp tích cực mới xuất hiện về phát triển, quản lý  
nguồn nhân lực và tách biệt với các phương pháp tích cực thường được sử dụng. Hành vi tổ chức  
tích cực bắt buộc phải có các nội dung sau: (i) dựa hoàn toàn vào lý thuyết và nghiên cứu, (ii)  
đánh giá một cách hợp lý, (iii) gần như là duy nhất trong lĩnh vực hành vi tổ chức, (iv) có thể coi  
là thái độ dễ phát triển, dễ đổi thay và trái ngược hoàn toàn với những đặc tính cố định, (v) có tác  
động lớn đến hiệu quả và sự hài lòng ở mức độ cá nhân liên kết tới công việc. Thuyết về vốn tâm  
lý do Luthans và cộng sự (2007) được coi như là lý thuyết nền tảng cho các nghiên cứu về vốn  
tâm lý.  
Lý thuyết này đã cho thấy rằng mỗi cá nhân đều có những đặc trưng, đặc điểm hay yếu tố  
tiêu biểu (tính cách). Các yếu tố tiêu biểu này được tạo thành thông qua quá trình mỗi cá nhân  
cảm nhận về môi trường xung quanh (môi trường) và chính mỗi cá nhân (di truyền), Slocum và  
Hellriegel (2007) cho thấy nguồn gốc các đặc điểm nhân cách. Các yếu tố tiêu biểu này tương  
đối ổn định và có sự khác nhau giữa mỗi cá nhân, tác động đến hành vi của cá nhân đó. Theo  
Gregory (2011), tác giả nổi bật của thuyết này là Cattell, một trong những nhà tâm lý học về  
nhân cách và ông đã đưa ra 16 đặc điểm nguồn gốc đặc trưng cho các khuôn mẫu nhân cách cơ  
bản. Ngoài ra, ông đã phát triển bộ câu hỏi chứa đựng 16 nhân tố nhân cách. Từng đặc điểm  
nhân cách của 16 yếu tố là một thể thống nhất các quan điểm, tình cảm, sở thích, thói quen và  
các phản ứng xã hội được khởi đầu từ những nghiên cứu tìm hiểu tính khí của con người - đây là  
biểu hiện của tư duy, hành động và nhận thức khác nhau của mỗi con người trong khoảng thời  
gian tương đối dài và trong những hoàn cảnh khác nhau trên diện rộng. Mỗi đặc tính của nhân  
cách gồm 16 yếu tố là sự tổng hợp của các quan điểm, thói quen, sở thích, các phản ứng xã hội  
và tình cảm.  
Thuyết nhu cầu - sự hài lòng trong công việc (Salancik & Pfeffer, 1978) đã đề xuất các  
giả thuyết về con người và công việc. Giả thuyết đặt ra con người được có những thuộc tính cơ  
bản tương đối ổn định, khó thay đổi và dễ dàng nhận biết. Giả thuyết công việc là một tập hợp  
bao gồm các đặc tính ổn định, dễ nhận dạng và có mối liên kết với nhu cầu của con người. Dựa  
vào lý thuyết trên, thái độ trong công việc được coi là kết quả đem lại được từ mối quan hệ nhân  
quả giữa các nhu cầu cá nhân và đặc tính trong công việc hoặc tình huống trong công việc. Do  
đó, nếu các đặc điểm trong công việc phù hợp với nhu cầu của mỗi cá nhân thì họ sẽ đạt được sự  
hài lòng với công việc và được thúc đẩy nhiều hơn để làm việc. Ngược lại, nếu một cá nhân  
không có sự hài lòng trong công việc thì công việc đó sẽ không mang lại sự thoả mãn, đáp ứng  
nhu cầu họ. Lý thuyết trên đã được nghiên cứu và ứng dụng như là một trong những lý thuyết  
nền tảng về thái độ trong công việc của nhân viên, giúp tạo dựng các thang đo lường về thái độ  
đối với công việc và lý giải mọi mối quan hệ giữa thái độ đối với công việc dưới góc nhìn khách  
quan của nhân viên.  
2.2.1. Mối quan hệ giữa tính cách cá nhân và sự hài lòng trong công việc  
Mô hình năm tính cách có tác động tới sự hài lòng trong công việc trên các ngành nghề  
lĩnh vực khác nhau (Tariq et al., 2014). Judge và cộng sự (2002), Ilies và Judge (2003) kết luận  
rằng tính hướng ngoại, tính tận tâm có sự tương quan tích cực tới sự hài lòng trong công việc.  
Cheng và Furnham (2002) cũng đồng thuận với nhận định trên. Judge và cộng sự (2002), Ilies và  
10  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
Judge (2003) đều cho thấy tính dễ chịu, tính sẵn sàng trải nghiệm đã ảnh hưởng không lớn tới sự  
hài lòng trong công việc. Mặt khác, Cooper, Carpender, Reine, và McCord (2014); Geogory,  
Alan, David, và Conor (2010) đã nhận định tính dễ chịu, tính sẵn sàng trải nghiệm có ảnh hưởng  
tích cực tới sự hài lòng trong công việc của đội ngũ nhân viên trong khu vực công. Ngoài ra,  
Judge và cộng sự (2002) đã nhận thấy tính bất ổn về cảm xúc có mối quan hệ nghịch chiều tới sự  
hài lòng trong công việc nhưng Ilies và Judge (2003) đã đưa ra tính ổn định cảm xúc có tác động  
thuận chiều mạnh tới sự hài lòng trong công việc. Khẳng định của Peltokorpi (2008) về mối quan  
hệ thuận chiều giữa tính ổn định cảm xúc và sự hài lòng trong công việc.  
H1.1: Tính hướng ngoại có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
H1.2: Tính tận tâm có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
H1.3: Tính dễ chịu có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
H1.4: Tính ổn định cảm xúc có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
H1.5: Tính sẵn sàng trải nghiệm có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
2.2.2. Mối quan hệ giữa vốn tâm lý và sự hài lòng trong công việc  
Luthans và cộng sự (2007); Abbas, Raja, Darr, và Bouckenooghe (2014); Badran và  
Morgan (2015) đều kết luận rằng vốn tâm lý có ảnh hưởng lớn tới sự hài lòng trong công việc.  
Badran và Morgan (2015); Kwok, Cheng, và Wong (2015) đều đã cho thấy sự tự tin có tác động  
tích cực tới sự hài lòng trong công việc. Nghiên cứu của Luthans và Avolio (2003); Luthans,  
Avey, Avolio, Norman, và Combs (2006); Luthans và cộng sự (2007) đã chứng minh mối tương  
quan thuận chiều giữa sự hy vọng và sự hài lòng trong công việc. Nghiên cứu của Luthans và  
cộng sự (2007) khẳng định sự kiên trì và sự lạc quan có mối tương quan thuận chiều tới sự hài  
lòng trong công việc. Sự lạc quan có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hài lòng trong công việc (Al-  
Mashaan, 2003; Badran & Morgan, 2015). Ngoài ra, nghiên cứu của Matos, Griffin, Fitzpatrick,  
và Neushotz (2010); Siu, Spector, Cooper, và Lu (2005) cũng đưa ra kết luận sự kiên trì có ảnh  
hưởng tích cực tới sự hài lòng trong công việc.  
H2.1: Sự tự tin có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
H2.2: Sự hy vọng có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
H2.3: Sự lạc quan có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
H2.4: Tính kiên trì có tác động tích cực tới sự hài lòng trong công việc  
2.2.3. Mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và cam kết gắn bó với tổ chức  
Có một bằng chứng mạnh mẽ rằng sự hài lòng công việc có mối tương quan thuận chiều  
dương đến cam kết gắn bó đối với tổ chức (Aydogdu & Asikgil, 2011; Kim & Back, 2012;  
Youn, Lee, & Lee, 2018). Sự hài lòng công trong việc đạt mức độ lớn sẽ ảnh hưởng tích cực và  
có mối quan hệ qua lại với cam kết gắn bó tình cảm. Theo Allen và Meyer (1996), Iverson và  
Roy (1994) đã nhận ra sự hài lòng công việc là tiền đề có ảnh hưởng đặc biệt đến sự cam kết gắn  
bó đối với tổ chức, đặc biệt là cam kết gắn bó tình cảm. Hơn nữa, Rutherford (2009) đã tìm thấy  
mối quan hệ giữa sự hài lòng tổng thể trong công việc tới cam kết gắn bó đối với tổ chức.  
H3.1: Sự hài lòng trong công việc có tác động tích cực tới cam kết gắn bó tình cảm  
H3.2: Sự hài lòng trong công việc có tác động tích cực tới cam kết gắn bó duy trì  
H3.3: Sự hài lòng trong công việc có tác động tích cực tới cam kết gắn bó đạo đức  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
11  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Xây dựng thang đo  
Nghiên cứu trải qua hai quá trình nghiên cứu định tính và định lượng. Kế thừa các nghiên  
cứu từ nước ngoài, trong đó thang đo gốc được dịch lại từ tiếng Anh. Các yếu tố cấu thành tính  
cách cá nhân được dựa vào nghiên cứu của Costa và McCrae (1992), 05 nhân tố mô tả tính cách  
cá nhân bao gồm: tính hướng ngoại, tính tận tâm, tính ổn định cảm xúc, tính sẵn sàng trải  
nghiệm, tính dễ chịu được đo lường theo 16 biến quan sát. Các yếu tố cấu thành vốn tâm lý được  
dựa vào Psychological Capital Questionaire của Luthans và cộng sự (2007), trong đó, vốn tâm lý  
sẽ được đo lường theo 24 biến quan sát bao gồm 04 yếu tố: sự tự tin, sự lạc quan, tính kiên trì, sự  
hy vọng. Nghiên cứu của Chiva và Alegre (2009) đã đo lường sự hài lòng trong công việc bằng  
01 biến quan sát. Các thành phần của cam kết gắn bó với tổ chức được tổng hợp dựa vào nghiên  
cứu của Meyer và Allen (1991) cho thấy sự cam kết gắn bó với tổ chức gồm 03 thành phần: cam  
kết gắn bó tình cảm, cam kết gắn bó duy trì, cam kết gắn bó đạo đức được đo lường theo 17 biến  
quan sát. Để giữ hoàn toàn giá trị nội dung thang đo, nghiên cứu định tính đã được sử dụng  
thông qua thảo luận với 10 nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực và kết hợp với  
khảo sát 10 nhân viên hiện đang làm việc trong khu vực công để khám phá, từ đó bổ sung và  
hiệu chỉnh thang đo. Nhóm tác giả đã phỏng vấn chuyên sâu 10 chuyên gia thuộc lĩnh vực quản  
trị nguồn nhân lực để phát triển thêm các giả thuyết nghiên cứu để tìm hiểu sâu hơn các các yếu  
tố tác động. Hơn nữa, nhóm tác giả đã sử dụng phương thức thảo luận nhóm với 10 nhân viên có  
kinh nghiệm, bề dày làm việc lâu năm trong các cơ quan hành chính Nhà nước tại tỉnh Kiên  
Giang bằng phương pháp thuận tiện. Kết quả đã cho thấy nghiên cứu định tính của thang đo phù  
với lĩnh vực nghiên cứu. Thang đo được đo lường bằng thang Likert - 5 mức độ (1-Rất không  
đồng ý; 2-Không đồng ý; 3-Bình thường; 4-Đồng ý đến 5-Rất đồng ý).  
3.2. Mẫu nghiên cứu  
Để đáp ứng độ tin cậy trong phân tích nhân tố khám phá (EFA), nhóm tác giả thực hiện  
12  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
khảo sát 377 phiếu và thu về được 359 phiếu khảo sát hợp lệ, điều này đảm bảo cỡ mẫu phân tích  
lớn hơn cỡ mẫu tối thiểu (cỡ mẫu tối thiểu: 58 * 5 = 290) theo quy định là gấp 04 hoặc 05 lần số  
biến quan sát (Hoang & Chu, 2008).  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện để tiến hành tập hợp  
thông tin của đội ngũ nhân viên đang làm việc tại khu vực công trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.  
Thời gian khảo sát bắt đầu từ 01/03/2021 đến 31/03/2021. Phiếu khảo sát được phát bằng hình  
thức trực tiếp đến đội ngũ nhân viên làm việc trong khu vực công tại tỉnh Kiên Giang. Nghiên  
cứu đã tiến hành khảo sát tại 19 cơ quan nhà nước của tỉnh Kiên Giang.  
Bảng 1  
Phân bổ mẫu nghiên cứu  
Số mẫu  
Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang  
Sở Công Thương  
19  
18  
18  
18  
15  
18  
18  
18  
18  
19  
18  
18  
18  
18  
17  
18  
18  
18  
18  
359  
Sở Giao thông Vận tải  
Sở Giáo dục và Đào tạo  
Sở Kế hoạch và Đầu tư  
Sở Khoa học và Công nghệ  
Sở Lao động Thương binh và Xã hội  
Sở Nội vụ  
Sở Ngoại Vụ  
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Sở Quy hoạch Kiến trúc  
Sở Tài chính  
Sở Tài nguyên và Môi trường  
Sở Tư Pháp  
Sở Thông tin và Truyền thông  
Sở Văn hóa Thể thao  
Sở Du lịch  
Sở Xây dựng  
Sở Y tế  
Tổng  
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp  
Bảng 2  
Đặc điểm mẫu nghiên cứu  
Đặc điểm  
Nội dung  
Tần số  
136  
Tỷ lệ (%)  
37.9  
Giới tính  
Nam  
Nữ  
223  
62.1  
Độ tuổi  
Dưới 30 tuổi  
20  
5.7  
Từ 30 tuổi đến 50 tuổi  
300  
83.7  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
13  
Đặc điểm  
Nội dung  
Trên 50 tuổi  
Tần số  
39  
Tỷ lệ (%)  
10.6  
4.7  
Trình độ tốt nghiệp  
Cao đẳng, trung cấp  
Đại học  
17  
317  
25  
88.2  
7.1  
Sau đại học  
Thời gian công tác  
Mức độ thu nhập  
Dưới 05 năm  
9
2.6  
Từ 05 năm đến 15 năm  
Trên 15 năm  
336  
14  
93.7  
3.7  
Dưới 05 triệu  
56  
15.6  
71.3  
Từ 05 triệu đến dưới 10  
256  
triệu  
Từ 10 triệu đến dưới 15  
triệu  
32  
15  
0
8.9  
4.2  
0
Từ 15 triệu đến dưới 25  
triệu  
Từ 25 triệu đến dưới 35  
triệu  
Nguồn: Phân tích SPSS  
Đặc điểm về giới tính có 62.1% là nữ, độ tuổi từ 30 đến 50 chiếm 83.7%; phần lớn người  
trả lời tốt nghiệp đại học (88.2%) và thời gian công tác chủ yếu từ 05 đến 15 năm chiếm tỷ lệ  
93.7%. Ngoài ra, chủ yếu là đối tượng có mức thu nhập từ 05 đến dưới 10 triệu đồng mỗi tháng  
(71.3%). Đặc tính của mẫu nghiên cứu thích hợp với thực tế khu vực công của Việt Nam, số  
lượng nhân viên làm việc trong khu vực công phần nhiều là nữ giới, ở độ tuổi 30 đến 50 tuổi, với  
trình độ học vấn tương đối cao, có nhiều năm kinh nghiệm làm việc.  
3.3. Phân tích và xử lý dữ liệu  
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, kiểm  
định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA),  
phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM).  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo của mô hình nghiên cứu cho thấy hệ số Cronbach’s  
Alpha nhỏ nhất là 0.799 và lớn nhất là 0.892. So với chuẩn 0.6 thì tất cả thang đo các biến quan  
sát đều đạt yêu cầu. Các hệ số tương quan biến - tổng đều có kết quả lớn hơn 0.3. Hệ số  
Cronbach’s Alpha nếu loại biến của tất cả 58 biến quan sát đều nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha  
tổng nên không có biến nào bị loại (Nunnally & Bernstein, 1994). Tất cả các thang đo đều đạt  
được 02 giá trị phân biệt và giá trị tin cậy. Do đó, thang đo được công nhận là tốt và đủ điều kiện  
đưa vào phân tích nhân tố khám phá.  
Nghiên cứu phân tích nhân tố khám phá của thang đo tổng thể bao gồm các biến quan sát  
của tính cách cá nhân, vốn tâm lý, sự hài lòng công việc và cam kết gắn bó đối với tổ chức bằng  
phꢀp quay Promax. Sau lần thứ nhất xoay nhân tố, các biến TN1, TN2, TN3, TN4 bị loại khỏi  
thang đo tính cách cá nhân vì không đảm bảo giá trị hội tụ < 0.5 (Hair, Anderson, Tatham, &  
Black, 1998). Ở lần thứ 02, kết quả phân tích cho thấy có 12 nhân tố được rút trích với hệ số  
Eigenvalue = 1.452; hệ số KMO = 0.806 > 0.5; kiểm định Bartlett Test có ý nghĩa thống kê với  
Sig. = 0.000 (< 0.05) và tổng phương sai trích = 80.325% (lớn hơn 50%). Mười hai nhân tố này  
14  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
đã lý giải được 80.325% sự biến thiên của dữ liệu nghiên cứu (Hair et al., 1998) thể hiện dữ liệu  
đó đã đạt mức ý nghĩa cao.  
Phân tích CFA thang đo mô hình tổng thể đã chỉ ra trọng số tại các biến quan sát đều phù  
hợp với tiêu chuẩn (0.5). Do đó, các thang đo đạt giá trị hội tụ (Anderson & Gerbing, 1988).  
Kết quả cũng cho thấy mô hình có 1,524 bậc tự do; giá trị kiểm định CMIN (Chi-square) =  
418.351 với pvalue = 0.000; chỉ số CMIN/df (Chi-square/df) = 2.543 < 03 (Carmines & McIver,  
1981) và các chỉ số GFI = 0.914; TLI = 0.928; CFI = 0.933 đều lớn hơn 0.9 (Tabachnick &  
Fidell, 2007); RMSEA = 0.038 nhỏ hơn 0.08 (Hu & Bentler, 1999). Do đó, mô hình nghiên cứu  
là phù hợp với dữ liệu thu thập được. Ngoài ra, không có tương quan giữa các sai số đo lường  
nên các biến quan sát đạt được tính đơn hướng. Hệ số tương quan của mỗi khái niệm nghiên cứu  
đều có sự khác biệt so với 01 có ý nghĩa thống kê, nên các thành phần đạt giá trị phân biệt. Kết  
quả phân tích cũng cho thấy các thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy (Steenkamp & Trijp, 1991).  
Ứng dụng phần mềm AMOS để kiểm định mô hình SEM. Kế thừa kết quả phân tích  
CFA, kết quả ước lượng đầu tiên của mô hình SEM đã chỉ ra mô hình có 1,634 bậc tự do; chỉ  
tiêu CMIN/df (Chi-square/df) = 2.678 < 03 (Carmines & McIver, 1981) và các chỉ số GFI =  
0.918; TLI = 0.930; CFI = 0.935 đều cao hơn 0.9 (Tabachnick & Fidell, 2007); RMSEA = 0.041  
nhỏ hơn 0.08 (Hu & Bentler, 1999). Như vậy, có thể kết luận mô hình đáp ứng tốt với dữ liệu  
khảo sát.  
Hình 2. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)  
Nguồn: Kết quả phân tích AMOS  
Đồng thời, căn cứ trên kết quả phân tích, giá trị Pvalue của các mối quan hệ tác động giữa  
các nhân tố, ta thấy, giá trị Pvalue đều bꢀ hơn 0.05. Vì vậy, mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc tính  
cách cá nhân, vốn tâm lý, sự hài lòng trong công việc và cam kết gắn bó đối với tổ chức đều có ý  
nghĩa thống kê trong mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM).  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
15  
Bảng 3  
Kết quả phân tích mô hình SEM  
Mối quan hệ  
Hệ số  
Sai lệch Giá trị Giá trị  
hồi quy  
chuẩn  
0.047  
0.060  
0.074  
0.125  
0.096  
0.141  
0.74  
tới hạn  
3.527  
3.156  
3.559  
1.028  
0.407  
1.143  
3.458  
4.158  
1.5  
P
Sự hài lòng trong công việc  
Sự hài lòng trong công việc  
Sự hài lòng trong công việc  
Sự hài lòng trong công việc  
Sự hài lòng trong công việc  
Sự hài lòng trong công việc  
Sự hài lòng trong công việc  
Sự hài lòng trong công việc  
Tính dễ chịu  
Tính cảm xúc  
Sự tự tin  
0.166  
0.310  
0.648  
0.458  
0.247  
0.578  
0.350  
0.211  
0.413  
0527  
0.000  
0.001  
0.000  
0.001  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
Sự hy vọng  
Tính hướng ngoại  
Sự lạc quan  
Sự kiên trì  
Tính tận tâm  
0.053  
0.106  
0.103  
0.143  
Cam kết gắn bó duy trì  
Cam kết gắn bó tình cảm  
Sự hài lòng  
Sự hài lòng  
Sự hài lòng  
1.249  
2.365  
Cam kết gắn bó đạo đức  
0.374  
Nguồn: Kết quả phân tích AMOS  
Kết quả phân tích SEM cho thấy các yếu tố thuộc tính cách cá nhân, vốn tâm lý có ảnh  
hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên đang làm việc ở khu vực công tại tỉnh Kiên  
Giang. Theo đó, đối với yếu tố vốn tâm lý thì sự tự tin, sự hy vọng và sự lạc quan có ảnh hưởng  
mạnh nhất tới sự hài lòng trong công việc của đội ngũ nhân viên với ý nghĩa thống kê ở mức 1%  
và hệ số hồi quy lần lượt là 0.648; 0.578 và 0.458. Sự kiên trì có mức tác động yếu hơn so với 03  
yếu tố còn lại nhưng không đáng kể với hệ số hồi quy là 0.350. Đối với yếu tố tính cách cá nhân,  
tính cảm xúc có tác động tích cực nhất đến sự hài lòng trong công việc của đội ngũ nhân viên với  
ý nghĩa thống kê ở mức 1% và hệ số hồi quy là 0.310. Bên cạnh đó, kết quả đã chỉ ra được sự hài  
lòng trong công việc có tác động tích cực đến sự cam kết gắn bó với tổ chức, trong đó sự hài  
lòng công việc có tác động mạnh nhất đến sự gắn kết tình cảm có hệ số hồi quy = 0.527.  
Kết quả thu về đã chỉ ra các yếu tố thuộc tính cách cá nhân bao gồm tính dễ chịu, tính  
cảm xúc, tính tận tâm và tính hướng ngoại có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng trong công việc  
của nhân viên khu vực công. Kết quả này đạt được sự tương đồng với các nghiên cứu của Cheng  
và Furnham (2002), Judge và cộng sự (2002). Trong đó, nhân viên làm việc trong khu vực công  
có sự ổn định về cảm xúc tốt, họ sẽ có sự an tâm khi làm việc, do đó mang lại hiệu quả công việc  
tốt hơn so với những nhân viên chưa có sự ổn định cảm xúc, họ luôn trong trạng thái lo lắng, bất  
an dẫn đến hiệu quả công việc kꢀm. Và tính cảm xúc cũng chính là nhân tố tác động mạnh nhất  
đối với sự hài lòng trong công việc của đội ngũ nhân viên làm việc tại khu vực công. Ngoài ra,  
tính hướng ngoại cũng có ảnh hưởng nhất định tới sự hài lòng trong công việc. Môi trường làm  
việc dù bất kể khu vực công hay khu vực tư đều đánh giá cao những nhân viên có tính hướng  
ngoại. Những nhân viên đó sẽ luôn có sự giao tiếp cởi mở với người khác, đặc biệt trong giao  
tiếp với người dân. Kết quả nghiên cứu này đồng quan điểm với nghiên cứu của Judge và cộng  
sự (2002), Ilies và Judge (2003). Các yếu tố sự tận tâm và sự dễ chịu cũng là hai yếu tố tác động  
đáng kể của sự hài lòng trong công việc.  
Ngoài các yếu tố thuộc tính cách cá nhân, vốn tâm lý cũng gây ra các tác động vô cùng  
16  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
mạnh mẽ tới sự hài lòng trong công việc. Cụ thể, sự tự tin, sự lạc quan, tính kiên trì và sự hy  
vọng đều có ảnh hưởng lớn tới sự hài lòng trong công việc. Kết quả thu được này có sự tương  
đồng với các nghiên cứu của Luthans và cộng sự (2007), Abbas và cộng sự (2014). Sự tự tin có  
tác động tích cực nhất tới sự hài lòng trong công việc. Khi một nhân viên luôn có sự tự tin vào  
năng lực của chính bản thân mình sẽ giúp họ gia tăng khả năng tư duy và biết điều chỉnh hành vi  
của bản thân nhằm thực hiện các nhiệm vụ được giao có tính thử thách cao, kiểm soát quá trình  
thực hiện để đạt được mục tiêu. Kết quả này hoàn toàn ủng hộ quan điểm của Badran và Morgan  
(2015). Sự lạc quan cũng đóng một vai trò quan trọng góp phần xác định sự hài lòng trong công  
việc của đội ngũ nhân viên. Những người này sở hữu sự lạc quan cao thì năng lực xử lý các tình  
huống khó khăn tốt hơn, theo chiều hướng tích cực hơn so với những nhân viên luôn có những  
suy nghĩ tiêu cực khi gặp một tình huống khó khăn.  
5. Kết luận và hàm ý quản trị  
Trong nghiên cứu này đã chứng minh mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, vốn tâm lý và  
sự hài lòng trong công việc đến cam kết gắn bó đối với tổ chức bằng việc phân tích bộ dữ liệu  
thu thập được bằng phương pháp điều tra trực tiếp nhân viên làm việc trong khu vực công trên  
địa bàn tỉnh Kiên Giang. Phân tích nhân tố khẳng định, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính  
được thực hiện nhằm xác định mối quan hệ giữa các thang đo trong mô hình nghiên cứu. Kết quả  
phân tích cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa các yếu tố tính cách cá nhân và các yếu tố vốn  
tâm lý đối với sự hài lòng trong công việc và sự hài lòng trong công việc cũng có ảnh hưởng lớn  
tới cam kết gắn bó đối với tổ chức của đội ngũ nhân lực.  
Dựa vào kết quả thu được, nghiên cứu đã đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm giúp các  
cơ quan tổ chức trong khu vực công của tỉnh Kiên Giang có được sự hài lòng trong công việc và  
cam kết gắn bó với tổ chức của nhân viên:  
Theo kết quả nghiên cứu thu được, các cơ quan tổ chức có thể sắp xếp nhân viên đảm  
nhiệm các công việc dựa trên đặc điểm tính cách của họ từ đó sẽ tạo ra sự hài lòng trong công  
việc và cam kết gắn bó lâu dài với tổ chức. Bên cạnh đó, thường xuyên triển khai các bài kiểm  
tra đánh giá theo hình thức trắc nghiệm về tính cách của nhân viên để nắm được những tính cách  
cơ bản của họ để có những phương hướng giúp họ phát huy và sắp xếp vị trí công việc phù hợp.  
Từ kết quả nghiên cứu trên, các cơ quan tổ chức khu vực công được khuyến nghị để gia  
tăng sự hài lòng trong công việc và cam kết gắn bó đối với tổ chức của nhân viên bằng cách coi  
vốn tâm lý như một yếu tố giúp nâng cao sự hài lòng trong công việc, cam kết gắn bó với tổ chức  
cũng như hiệu quả công việc của nhân viên. Do đó, các cơ quan tổ chức trong khu vực công cần  
xây dựng bộ câu hỏi để xác định vốn tâm lý theo đặc điểm của mỗi nhân viên, lĩnh vực công tác,  
đánh giá định kỳ và tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn về tâm lý cho nhân viên. Các cơ quan  
trong khu vực công cũng nên tạo ra một môi trường làm việc thân thiện với nhiều hoạt động gắn  
kết và các kế hoạch phát triển cho cam kết gắn bó đối với tổ chức của nhân viên.  
Tài liệu tham khảo  
Abbas, M., Raja, U., Darr, W., & Bouckenooghe, D. (2014). Combined effects of perceived  
politics and psychological capital on job satisfaction, turnover intentions, and performance.  
Journal of Management, 40(7), 1813-1830.  
Allen, N. J., & Meyer, J. P. (1990). The measurement and antecedents of affective, continuance  
and normative commitment to the organization. Journal of Occupational Psychology,  
63(1), 1-18.  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
17  
Allen, N. J., & Meyer, J. P. (1996). Affective, continuance, and normative commitment to the  
organization: An examination of construct validity. Journal of Vocational Behavior, 49(3),  
252-276.  
Al-Mashaan, O. S. (2003). Associations among job satisfaction, optimism, pessimism, and  
psychosomatic symptoms for employees in the government sector in Kuwait.  
Psychological Reports, 93(1), 17-25.  
Anderson, J. C., & Gerbing, D. W. (1988). Structural equation modeling in practice: A review  
and recommended two-step approach. Psychological Bulletin, 103(3), 411-423.  
Avey, J. B., Luthans, F., & Jensen, S. M. (2009). Psychological capital: A positive resource for  
combating employee stress and turnover. Human Resource Management, 48(5), 677-693.  
Avolio, B., & Luthans, F. (2006). High impact leader: Moments matter in authentic leadership  
development. New York, NY: McGraw-Hill.  
Aydogdu, S., & Asikgil, B. (2011). An empirical study of the relationship among job  
satisfaction, organizational commitment and turnover intention. International Review of  
Management and Marketing, 1(3), 43-53.  
Badran, M. A., & Morgan, C. M. Y. (2015). Psychological capital and job satisfaction in Egypt.  
Journal of Managerial Psychology, 30(3), 354-370.  
Benkhoff, B. (1997). Ignoring commitment is costly: New approaches established the missing  
link between commitment and performance. Human Relations, 50, 701-727.  
Bradberry, T. (2007). The personality code. New York, NY: Putnam.  
Carmines, E. G., & McIver, J. P. (1981). Analyzing Models with unobserved variables: Analysis  
of covariance structures. In G. W. Bohrnstedt & E. F. Borgatta (Eds.), Social  
measurement: Current issues (pp. 65-115). Beverly Hills, CA: Sage Publications, Inc.  
Colquitt, J. A., LePine, J. A., Piccolo, R. F., & Cindy, P. Z. (2011). Explaining the justice-  
performance relationship: Trust as exchange deepener or trust as uncertainty reducer?  
Journal of Applied Psychology, 97(1), 1-15.  
Cooper, C. A., Carpenter, D., Reiner, A., & McCord, D. M. (2014). Personality and job  
satisfaction: Evidence from a sample of street-level bureaucrats. International Journal of  
Public Adminstration, 37(3), 155-161.  
Costa, P. T., & McCrae, R. R. (1985). Concurrent validation after 20 years: Implications of  
personality stability for its assessment. In J. N. Butcher & C. D. Spielberger (Eds.),  
Advances in personality assessment. Hillsdale, NJ: Erlbaum.  
Costa, P. T., & McCrae, R. R. (1992). Revised NEO personality inventory (NEO-PI-R) and NEO  
five-factor inventory (NEO-FFI) professional manual. Odessa, FL: Psychological  
Assessment Resources.  
Cheng, H., & Furnham, A. (2002). Personality, peer relations, and self-confidence as predictors  
of happiness and loneliness. Journal of Adolescence, 25(3), 327-339.  
Chiva, R., & Alegre, J. (2009). Organizational learning capability and job satisfaction: An  
empirical assessment in the ceramic tile industry. British Journal Management, 20(3), 323-  
340.  
Geogory, A. H., Alan, S. G., David, D., & Conor, M. D. (2010). Personality traits and  
participation in political processes. The Journal of Politics, 73(3), 692-706.  
18  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
Goldberg, L. R. (1993). The structure of phenotypic personality traits. American Psychologist,  
48(1), 26-34.  
Gregory, R. J. (2011). Psychological testing: History, principles, and applications (6th ed.).  
Boston, MA: Allyn & Bacon.  
Hair, J. F. J., Anderson, R. E., Tatham, R. L., & Black, W. C. (1998). Multivariate data analysis  
(5th ed.). Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall.  
Hoang, T., & Chu, N. N. M. (2008). Analyze research data with SPSS. Ho Chi Minh, Vietnam:  
Statistical Publishing House.  
Hu, L. T., & Bentler, P. M. (1999). Cutoff criteria for fit indexes in covariance structure analysis:  
Conventional criteria versus new alternatives. Structural Equation Modeling, 6(1), 1-55.  
Ilies, R., & Judge, T. A. (2003). On the heritability of job satisfaction: The mediating role of  
personality. Journal of Applied Psychology, 88(4), 750-759.  
Iverson, R. D., & Roy, P. (1994). A causal model of behavioral commitment: Evidence from a  
study of Australian blue-collar employees. Journal of Management, 20(1), 15-41.  
John, W. S., & Don, H. (2009). Organizational behavior. Mason, OH: South - Western Cengage  
Learning Publisher.  
Judge, T. A., Heller D., & Mount, M. K. (2002). Five - Factor model of personality and job  
satisfaction: A meta- analysis. Journal of Applied Psychology, 87(3), 530-541.  
Kim, Y. K., & Back, K. J. (2012). Antecedents and consequences of flight attendants’ job  
satisfaction. Service Industries Journal, 32(16), 1-20  
Kwok, S., Cheng, L., & Wong, D. F. K. (2015). Family emotional support, positive  
psychological capital and job satisfaction among Chinese white-collar workers. Journal of  
Happiness Studies, 16(3), 1-20.  
Le, V. C. (2018). Impact of psychological capital, personality traits on work commitment of  
Vietnamese bank employees. Science & Technology Development Journal: Economics -  
Law and Management, 2(2), 50-60.  
Luthans, F., & Avolio, B. J. (2003). Authentic leadership: A positive developmental approach.  
In K. S. Cameron, J. E. Dutton & R. E. Quinn (Eds.), Positive organizational scholarship.  
San Francisco, CA: Barrett-Koehler.  
Luthans, F., & Youssef, C. M. (2004). Human, social, and now positive psychological capital  
management: Investing in people for competitive advantage. Organizational Dynamics,  
33(2), 143-160.  
Luthans, F., Avey, J. B., Avolio, B. J., Norman, S., & Combs, G. (2006). Psychological capital  
development: Toward a micro-intervention. Journal of Organizational Behavior, 27(3),  
387-393.  
Luthans, F., Youssef, C. M., & Avolio, B. J. (2007). Psychological capital: Developing the  
human competitive edge. Oxford, UK: Oxford University Press.  
Matos, P. S., Griffin, M. T. Q., Fitzpatrick, J., & Neushotz, L. A. (2010). An exploratory study of  
resilience and job satisfaction among psychiatric nurses working in inpatient units.  
International Journal of Mental Health Nursing, 19(5), 307-312.  
Meyer, J. P., & Allen, N. J. (1991). A three-component conceptualization of organizational  
commitment. Human Resource Management Review, 1(1), 61-89.  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
19  
Meyer, J. P., Allen, N., & Smith, C. A. (1993). Commitment to organizations and occupations:  
Extension and test of a three-component conceptualization. Journal of Applied Psychology,  
78(4), 538-551.  
Murray, R. B., & Michael, K. M. (1991). The big five personality dimensions and job  
performance: A meta-analysis. Personal Psychology, 44(1), 1-26.  
Naquin, S. S., & Holton, E. F. (2002). The effects of personality, affectivity, and work  
commitment on motivation to improve work through learning. Human Resource  
Development Quarterly, 13(4), 357-376.  
Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). The assessment of reliability. Psychometric Theory, 3,  
248-292.  
Nguyen, T. T. (2015). The impact of personality traits the work positivity of software companies'  
employees in Ho Chi Minh City (Master’s thesis). Ho Chi Minh City Open University, Ho  
Chi Minh City, Vietnam.  
Peltokorpi, V. (2008). Cross-cultural adjustment of expatriates in Japan. The International  
Journal of Human Resource Management, 19(9), 1588-1606.  
Rutherford, B. (2009). The role of the seven dimensions of job satisfaction in salesperson's  
attitudes and behaviors. Journal of Business Research, 62(11), 1146-1151.  
Salancik, G. R., & Pfeffer, J. (1978). A social information processing approach to job attitudes  
and task design. Administrative Science Quarterly, 23(2), 224-253.  
Seligman, M. E. P., & Csikszentmihalyi, M. (2000). Positive psychology: An introduction.  
American Psychologist, 55(1), 5-14.  
Siu, O. L., Spector, P. E., Cooper, C. L., & Lu, C. Q. (2005). Work stress, self-efficacy, chinese  
work values, and work well-being in Hong Kong and Beijing. International Journal of  
Stress Management, 12(3), 274 -288.  
Slatten, T. (2008). Antecedents and effects of emotional satisfaction on employee-perceived  
service quality. Journal of Service Theory and Practice, 18(4), 370-386.  
Slocum, J. W., & Hellriegel, D. (2007). Fundamentals of organizational behavior. Boston, MA:  
South-Western/Cengage Learning.  
Smith, M. A., & Canger, J. M. (2004). Effects of supervisor big five personality on subordinate  
attitudes. Journal of Business and Psychology, 18(4), 465-481.  
Spector, P. E. (1997). Job satisfaction: Application, assessment, causes, and consequences.  
Thousand Oaks, CA: Sage Publication Inc.  
Steenkamp, J. B. E., & Trijp, H. V. (1991). The use of LISREL in validating marketing  
constructs. International Journal of Research in Marketing, 8, 283-299.  
Tabachnick, B. G., & Fidell, L. S. (2007). Using multivariate statistics (5th ed.). Boston, MA:  
Pearson Allyn and Bacon.  
Tariq, R., Faisal, S. B., Arslan, B. K., Naveed, A., Atif, H., & Muhammad, B. (2014). Factors  
affecting Job Satisfaction of employees working in private organizations. Research journal  
of Applied Sciences, Engineering and Technology, 7(7), 1149-1157.  
Tran, D. K. (2005). Measuring job satisfaction in Vietnam. Science & Technology Development  
Journal, 11, 1-20.  
20  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
Tran, D. K. (2006). Scale of organisational commitment. Journal of Economics & Development,  
184, 50-52.  
Youn, H., Lee, K., & Lee, S. (2018). Effects of corporate social responsibility on employees in  
the casino industry. Tourism Management, 68, 328-335.  
Yu, T., & Dean, A. M. (2001). The contribution of emotional satisfaction to consumer loyalty.  
International Journal of Service Industry Management, 12(3), 234-250.  
PHỤ LỤC  
Thang đo các yếu tố trong mô hình nghiên cứu  
Mã hoá  
Thang đo các biến quan sát  
Tính tận tâm  
Nguồn  
TT1  
TT2  
TT3  
Anh/chị làm việc tỉ mỉ và cẩn thận, không dễ bị phân tâm khi đang  
làm việc  
Costa và  
McCrae  
(1992)  
Anh/chị là người có tổ chức, thường lập kế hoạch và cố gắng theo  
kế hoạch đến cùng  
Anh/chị là người siêng năng  
Tính hướng ngoại  
HN1  
HN2  
Anh/chị luôn cảm thấy tràn đầy năng lượng và luôn sẵn sàng làm  
một việc gì đó  
Anh/chị là người thích nói chuyện và giao tiếp với người khác,  
thích tham gia các hoạt động ngoại khóa, các cuộc giao lưu, các  
hoạt động đoàn hội...  
Costa và  
McCrae  
(1992)  
HN3  
Anh/chị hành xử và quyết định một cách dứt khoát, không do dự  
và tự tin vào quyết định, lời nói của mình  
Tính dễ chịu  
DC1  
DC2  
DC3  
Anh/chị thích cộng tác với những người khác trong công việc,  
thích làm việc tập thể  
Costa và  
McCrae  
(1992)  
Anh/chị là người hữu ích đối với đồng nghiệp và sẵn sàng chia sꢁ,  
không ích kỷ  
Anh/chị là người có niềm tin vào người khác, sẵn sàng tha thứ cho  
người khác và không để bụng  
Tính ổn định cảm xúc  
CX1  
Anh/chị rất khó bị stress và có thể dễ dàng vượt qua tình trạng  
stress  
Costa và  
McCrae  
(1992)  
CX2  
CX3  
Anh/chị có thể giữ bình tĩnh trong các tình huống căng thẳng  
Anh/chị là người có tâm lý ổn định, không dễ dàng bị ảnh hưởng  
bởi ngoại cảnh dẫn đến cảm xúc tiêu cực  
Tính sẵn sàng trải nghiệm  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
21  
Mã hoá  
TN1  
Thang đo các biến quan sát  
Anh/chị thường có những ý tưởng mới khi gặp phải những vấn đề  
Anh/chị thích thú với những sáng kiến, ý tưởng mới  
Anh/chị dễ dàng thích nghi với những ý tưởng mới  
Anh/chị thường xuyên suy nghĩ vấn đề một cách sâu sắc  
Sự tự tin  
Nguồn  
Costa và  
McCrae  
(1992)  
TN2  
TN3  
TN4  
STT1  
STT2  
Anh/chị luôn tự tin để phân tích một vấn đề trong dài hạn nhằm tìm  
ra giải pháp  
Anh/chị cảm thấy tự tin khi thuyết trình về thành tích của mình  
trước lãnh đạo  
Luthans và  
cộng sự  
(2007)  
STT3  
STT4  
STT5  
Anh/chị cảm thấy tự tin khi tham gia thảo luận trong nhóm  
Anh/chị cảm thấy tự tin khi đặt ra mục tiêu cho bản thân  
Anh/chị cảm thấy tự tin khi liên hệ với đối tác để thảo luận các vấn  
đề  
STT6  
Anh/chị cảm thấy tự tin khi thuyết trình trước đồng nghiệp  
Sự hy vọng  
HV1  
HV2  
Nếu anh/chị gặp khó khăn, anh/chị có thể tìm được nhiều giải pháp  
để thoát khỏi nó  
Vào thời điểm hiện tại, anh/chị luôn hăng say theo đuổi các mục  
tiêu của bản thân  
Luthans và  
cộng sự  
(2007)  
HV3  
HV4  
Có rất nhiều phương án để giải quyết bất kỳ vấn đề nào  
Ngay bây giờ anh/chị nhận thấy bản thân đã đạt được những thành  
công nhất định trong công việc  
HV5  
HV6  
Anh/chị có thể nghĩ được nhiều cách để đạt được các mục tiêu hiện  
tại trong công việc  
Hiện tại, anh/chị đã đạt được những mục tiêu mà bản thân đặt ra  
Sự lạc quan  
LQ1  
LQ2  
Khi mọi thứ trở nên không chắc chắn, anh/chị thường mong đợi  
điều tốt nhất  
Nếu có điều gì không tốt xảy ra, thì sớm muộn gì nó cũng phải xảy  
ra  
Luthans và  
cộng sự  
(2007)  
LQ3  
LQ4  
Anh/chị luôn luôn nhìn vào mặt tốt của công việc  
Anh/chị lạc quan về những điều tốt trong công việc sẽ trong tương  
lai  
LQ5  
LQ6  
Anh/chị nghĩ mọi thứ không bao giờ xảy ra theo ý mình  
Đối với anh/chị, không có khó khăn nào mà không thể vượt qua  
22  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
Mã hoá  
Thang đo các biến quan sát  
Tính kiên trì  
Nguồn  
KT1  
KT2  
Khi gặp rắc rối trong công việc, anh/chị không gặp vấn đề trong  
việc trở lại trạng thái cũ  
Anh/chị thường tìm ra nhiều giải pháp để vượt qua những rào cản  
trong công việc  
Luthans và  
cộng sự  
(2007)  
KT3  
KT4  
KT5  
Anh/chị có thể làm việc độc lập  
Đôi khi anh/chị cảm thấy căng thẳng khi làm việc  
Anh/chị có thể trải qua những thời điểm khó khăn trong quá trình  
làm việc vì trước đây mình đã gặp nhiều khó khăn  
KT6  
SHL  
Anh/chị cảm thấy mình có thể xử lý đa nhiệm khi làm việc  
Sự hài lòng  
Nhìn chung, anh/chị hài lòng khi làm việc tại cơ quan, tổ chức  
Chiva và  
Alegre  
(2009)  
Cam kết gắn bó tình cảm  
GBTC1 Anh/chị xem cơ quan là ngôi nhà thứ hai  
GBTC2 Anh/chị hãnh diện vì được làm việc tại cơ quan  
GBTC3 Anh/chị hạnh phúc vì đã chọn cơ quan để làm việc  
GBTC4 Cơ quan chiếm một vị trí đặc biệt đối với anh/chị  
GBTC5 Anh/chị nhận thấy mình là một phần của cơ quan  
GBTC6 Anh/chị cảm nhận thuộc về cơ quan  
Meyer và  
Allen  
(1991)  
Cam kết gắn bó duy trì  
GBDT1 Việc ở lại cơ quan bây giờ là cần thiết đối với anh/chị  
GBDT2 Anh/chị cho rằng việc rời khỏi cơ quan lúc này là khó khăn  
Meyer và  
Allen  
(1991)  
GBDT3 Cuộc sống của anh/chị sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều khi rời bỏ cơ  
quan  
GBDT4 Anh/chị sẽ rất khó kiếm việc làm khác khi rời bỏ cơ quan  
GBDT5 Anh/chị đã đầu tư rất nhiều công sức vào cơ quan nên khó từ bỏ  
Cam kết gắn bó đạo đức  
GBĐĐ1 Anh/chị cảm nhận trách nhiệm đối với mọi người trong cơ quan  
GBĐĐ2 Anh/chị nhận thấy không nên rời bỏ cơ quan  
GBĐĐ3 Anh/chị nhận thấy có lỗi nếu rời bỏ cơ quan  
GBĐĐ4 Cơ quan xứng đáng với lòng trung thành của anh/chị  
Meyer và  
Allen  
(1991)  
GBĐĐ5 Cơ quan đã mang lại quá nhiều thứ, anh/chị cảm thấy mắc nợ cơ  
quan  
Nguyễn D. Nam, Uông T. N. Lan. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh,  
23  
Mã hoá  
Thang đo các biến quan sát  
Nguồn  
GBĐĐ6 Anh/chị cảm nhận nghĩa vụ và trách nhiệm đối với cơ quan  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả  
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.  
pdf 19 trang Thùy Anh 15900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, vốn tâm lý và sự hài lòng trong công việc đến cam kết gắn bó đối với tổ chức của nhân viên khu vực công - Nghiên cứu trường hợp tỉnh Kiên Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_tinh_cach_ca_nhan_von_tam_ly_va_su_hai_long.pdf