Kiến thức và thực hành dự phòng biến chứng tăng huyết áp của bệnh nhân tại khoa nội tim mạch bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang năm 2020

Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH DỰ PHÒNG BIẾN CHỨNG TĂNG  
HUYẾT ÁP CỦA BỆNH NHÂN TẠI KHOA NỘI TIM MẠCH BỆNH  
VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC TỈNH AN GIANG NĂM 2020  
Nguyễn Dương Thiện Ân, Nguyễn Thị Hồng Nguyên*,  
Phan Ngọc Thủy, Trần Trúc Linh và Lê Phú Nguyên Thảo  
Khoa Dược – Điều dưỡng, Trường Đại học Tây Đô  
(*Email: [email protected])  
Ngày nhận: 15/9/2020  
Ngày phản biện: 20/10/2020  
Ngày duyệt đăng: 29/11/2020  
TÓM TẮT  
Hiện nay, tăng huyết áp (THA) là bệnh phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới, là nguyên  
nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi. Tuy nhiên, bệnh nhân có kiến thức  
và thực hành dự phòng tốt đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát THA và phòng ngừa  
biến chứng. Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang trên 326  
bệnh nhân đang điều trị nội trú tại Khoa Nội Tim mạch, bệnh viện Đa khoa, An Giang,  
nhằm đánh giá kiến thức và thực hành dự phòng biến chứng của bệnh nhân THA. Kết  
quả khảo sát cho thấy, kiến thức đạt về dự phòng biến chứng là 63,5%, thực hành đạt về  
dự phòng biến chứng là 53,1%. Như vậy, kiến thức và thực hành về phòng biến chứng còn  
hạn chế, do đó Bệnh viện cần tăng cường giáo dục sức khỏe trong bệnh viện và cộng đồng.  
Từ khóa: Tăng huyết áp, kiến thức, thực hành  
Trích dẫn: Nguyễn Dương Thiện Ân, Nguyễn Thị Hồng Nguyên, Phan Ngọc Thủy, Trần  
Trúc Linh và Lê Phú Nguyên Thảo, 2020. Kiến thức và thực hành dự phòng biến  
chứng tăng huyết áp của bệnh nhân tại Khoa Nội tim mạch Bệnh viện Đa khoa  
khu vực tỉnh An Giang năm 2020. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển  
kinh tế Trường Đại học Tây Đô. 10: 239-250.  
*Ths. Nguyễn Thị Hồng Nguyên – Giảng viên Khoa Dược và Điều dưỡng, Trường Đại học Tây Đô  
239  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
được tầm quan trọng đó nên nghiên cứu  
được thực hiện nhằm biết được thực trạng  
kiến thức và thực hành của bệnh nhân về  
dự phòng biến chứng bệnh THA để làm  
cơ sở tăng cường giáo dục sức khỏe cộng  
đồng.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh lý  
phổ biến thường gặp trong xã hội hiện đại  
ở các nước phát triển và đang phát triển.  
Tỷ lệ người mắc THA ngày càng tăng và  
tuổi bị mắc mới ngày càng trẻ. Vào năm  
2000, theo thống kê của WHO toàn thế  
giới có tới 972 triệu người bị THA và con  
số này ước tính là vào khoảng 1,56 tỷ  
người vào năm 2025. THA thường diễn  
biến âm thầm và gây ra những biến chứng  
nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng người  
bệnh hoặc để lại gánh nặng tàn phế (Phạm  
Mạnh Hùng, 2011). Theo điều tra mới  
nhất của Hội tim mạch học Việt Nam,  
năm 2016, khoảng 48% người trưởng  
thành Việt Nam mắc bệnh THA (Hội Tim  
mạch học, 2016). THA rất thường gặp ở  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Bệnh nhân THA đang điều trị tại Khoa  
nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa Khu  
vực tỉnh An Giang, thỏa các điều kiện  
sau:  
- Tinh thần bình thường, có khả năng  
giao tiếp tốt.  
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.  
- Trả lời đầy đủ các câu hỏi đã soạn  
người trưởng thành và là yếu tố hàng đầu sẵn.  
trong 10 yếu tố nguy cơ của các bệnh  
không lây nhiễm gây tử vong ở các nước  
- Bệnh nhân không đang trong các đợt  
cấp của bệnh tim, phổi….  
đã và đang phát triển. Bệnh THA không  
được điều trị và kiểm soát tốt sẽ dẫn đến  
tổn thương nặng các cơ quan đích và gây  
các biến chứng nguy hiểm như tai biến  
mạch máu não (TBMMN), nhồi máu cơ  
tim, phình tách thành động mạch chủ, suy  
tim, suy thận.... để lại di chứng nặng nề,  
ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của  
bệnh nhân và là gánh nặng cho chính  
người bệnh, gia đình và cho cả xã hội  
thậm chí dẫn đến tử vong (Ngô Quý  
Châu, 2018). THA nếu được phát hiện  
sớm và kiểm soát tốt sẽ hạn chế được các  
biến chứng nguy hiểm, ngoài ra còn làm  
tăng hiệu quả điều trị. Chính vì vậy kiến  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu được tiến hành theo  
phương pháp mô tả cắt ngang từ tháng  
01/2020 đến tháng 04/2020. Chọn mẫu  
toàn bộ các bệnh nhân Khoa nội Tim  
mạch Bệnh viện Đa khoa Khu vực tỉnh  
An Giang từ tháng 01/2020 đến tháng  
04/2020, thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, thực  
tế chọn được 326 bệnh nhân đưa vào khảo  
sát.  
2.3. Công cụ thu thập số liệu  
Mỗi đối tượng nghiên cứu đều được  
khảo sát bằng bộ câu hỏi gồm 3 phần: đặc  
thức, thực hành đóng vai trò rất quan điểm chung, kiến thức và thực hành;  
trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát  
trong đó kiến thức gồm 8 câu, thực hành  
biến chứng do bệnh gây nên. Nhận thấy gồm 8 câu; mỗi bệnh nhân có kiến thức  
240  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
và thực hành đạt khi trả lời đạt từ 5 câu  
trở lên ( ≥60%). Các thông tin liên quan  
đến đối tượng nghiên cứu được thu thập  
khi bệnh nhân nằm viện điều trị. Các  
thông tin đưa ra cho bệnh nhân cần phải  
đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu, dễ trả lời.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên  
cứu  
Khảo sát được thực hiện trên 326 bệnh  
nhân THA tại Khoa nội Tim mạch Bệnh  
viện Đa khoa Khu vực tỉnh An Giang. Kết  
quả ở bảng 1 cho thấy đối tượng có độ  
tuổi cao nhất là 94 tuổi và thấp nhất là 26  
2.4. Phương pháp thu thập số liệu và  
kiểm soát sai số  
Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn để thực tuổi; tuổi trung bình là 66,12±13,69 tuổi,  
hiện thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn đa số bệnh nhân trong nghiên cứu này có  
trực tiếp kết hợp với điền câu trả lời của độ tuổi ≥ 40 tuổi chiếm 97,2%; điều này  
người được phỏng vấn. Ngay sau khi thu phù hợp vì tuổi cao là một trong các yếu  
thập, mỗi phiếu khảo sát được kiểm tra để tố nguy cơ của bệnh THA; và tuổi cao  
đảm bảo có đầy đủ những thông tin trước cũng là nhóm các yếu tố nguy cơ không  
khi nhập số liệu. Những phiếu không thay đổi được.  
hoàn tất, không hợp lệ sẽ được khảo sát  
lại.  
Về giới tính, có khoảng 2/3 số bệnh  
nhân là nữ (67,5%). Kết quả nghiên cứu  
của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của  
Nguyễn Tấn Đạt tại Vĩnh Long cho thấy  
tỷ lệ nữ giới chiếm 61,0%; nam giới  
(39,0%) (Nguyễn Tấn Đạt, 2017) và  
nghiên cứu Đinh Thị Thu tại Quảng Ninh,  
nữ giới chiếm 60,2% và nam giới là  
39,8% (Đinh Thị Thu, 2019).  
2.5. Phương pháp xử lý và phân tích  
số liệu  
Các số liệu được kiểm tra và nhập,  
thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0.  
Tính tần suất, tỷ lệ % theo các nội dung  
nghiên cứu.  
2.6. Đạo đức trong nghiên cứu  
Khi khảo sát về trình độ học vấn cao  
nhất là cấp 2 chiếm trên 50% (59,2%); kế  
đến là cấp 1, cấp 3 lần lượt là 19,9% và  
19,6%; thấp nhất là đại học (1,2%).  
Tương tự kết quả nghiên cứu của Tạ Văn  
Trầm và cộng sự cho thấy trình độ học  
vấn ở mức đại học cũng chiếm rất thấp  
(2%) (Tạ Văn Trầm và cộng sự, 2010);  
Tuy nhiên trong nghiên cứu của Đinh Thị  
Thu (2018) thì nhóm cao nhất thuộc về  
trung cấp, chuyên nghiệp với 36,6%. Về  
nghề nghiệp của các đối tượng nghiên  
cứu thì người già không có khả năng lao  
động chiếm đa số 61,0%.  
Nghiên cứu đã được thông qua Hội  
đồng xét duyệt đề cương và được sự chấp  
nhận của Lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa  
Khu vực tỉnh An Giang. Tất cả bệnh nhân  
sẽ được giải thích cụ thể về mục đích, nội  
dung của nghiên cứu để họ tự nguyện  
tham gia và hợp tác tốt trong quá trình  
nghiên cứu. Các đối tượng có quyền từ  
chối tham gia khảo sát. Mọi thông tin của  
bệnh nhân đều được giữ bí mật và sử  
dụng cho mục đích nghiên cứu.  
241  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
Đặc điểm chung  
Nhóm tuổi  
Tần số (n)  
66,12±13,69  
Tỷ lệ (%)  
Tuổi trung bình  
≥ 40  
< 40  
317  
9
97,2  
2,8  
Giới tính  
Nam  
Nữ  
Cấp 1  
Cấp 2  
106  
220  
65  
193  
64  
4
31  
5
38  
199  
53  
32,5  
67,5  
19,9  
59,2  
19,6  
1,2  
9,5  
1,5  
11,7  
61,0  
16,3  
Trình độ học vấn  
Nghề nghiệp  
Cấp 3  
Cao đẳng, Đại học  
Nông dân  
Cán bộ công nhân viên chức  
Buôn bán  
Hết tuổi lao động  
Nội trợ  
Qua Hình 1, ghi nhận nguồn tiếp nhận thân trong gia đình (14,7%); thấp nhất là  
thông tin về bệnh THA cho thấy đa số qua internet (14,1%). Từ quả trên cho  
bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi thấy kênh thông tin phổ biến của đối  
tham khảo thông tin về bệnh THA chủ tượng chọn là qua loa phát thanh, tivi và  
yếu thông qua loa phát thanh, tivi nhân viên y tế; do đó đây cũng là điều cần  
(72,4%); kế đến qua nhân viên y tế quan tâm khi lựa chọn kênh giáo dục sức  
(69,6%); đọc sách, báo (46,3%); người khỏe sao cho phù hợp.  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
72.4%  
69.6%  
46.3%  
14.7%  
14.1%  
Loa, phát  
thanh, tivi  
Internet  
Đọc sách, Người thân Nhân viên y  
báo  
trong gia  
tế  
đình  
Hình 1. Đặc điểm chung về nguồn thông tin của đối tượng nghiên cứu  
242  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
(Đinh Ngọc Thu, 2019); và của Lê Thị  
Thanh Huyền tại Quảng Trị lần lượt là  
67,3% và 32,7% (Lê Thị Thanh Huyền,  
2019); tuy nhiên lại cao hơn của Đỗ Thị  
Hạnh Trang tại Tân Yên là 39,5% và  
60,5% (Đỗ Thị Hạnh Trang, 2017). Qua  
kết quả cho thấy kiến thức đạt còn hạn  
chế, người bệnh cần được thường xuyên  
giáo dục sức khỏe.  
3.2. Kiến thức dự phòng biến chứng  
tăng huyết áp  
Kiến thức chung về dự phòng biến  
chứng THA (Hình 2) cho thấy bệnh nhân  
có kiến thức đạt chiếm 63,5%; kiến thức  
chưa đạt chiếm 36,5%, kết quả gần tương  
đồng với Đinh Ngọc Thu tại Bệnh viện  
Đa khoa Quảng Ninh năm 2018 là 61,2%  
có kiến thức đạt và chưa đạt là 38,8%  
36.5%  
CHƯA ĐẠT  
63.5%  
ĐẠT  
Hình 2. Kiến thức chung về dự phòng biến chứng THA  
Khảo sát kiến thức về biểu hiện của buồn nôn (15,7%) (Tạ Văn Trầm và cộng  
THA (Bảng 2), cho thấy bệnh nhân biết sự, 2010). Theo kết quả nghiên cứu khác  
nhiều nhất với biểu hiện chóng mặt, hoa thì chóng mặt và đau đầu có tỉ lệ cao hơn  
mắt (59,5%); kế đến là nhức đầu sau gáy (Vũ Phong Túc, Lê Chính Chuyên,  
(46,9%); nóng bừng mặt (38,7%); mệt 2012). Như vậy, chóng mặt và đau đầu là  
mỏi (23,9%); thấp nhất là buồn nôn 2 biểu hiện thường gặp nhất và cũng là lí  
(15,6%). Kết quả nghiên cứu phù hợp với do để bệnh nhân đến bệnh viện kiểm tra  
nghiên cứu, cho thấy chóng mặt, hoa mắt sức khỏe định kỳ, tuy nhiên cũng cần cho  
(58,6%); nhức đầu sau gáy (47%); nóng bệnh nhân nhận biết được các biểu hiện  
bừng mặt (38,7%); mệt mỏi (19,5%); khác của THA.  
243  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
Bảng 2. Đặc điểm kiến thức của bệnh nhân  
Nội dung  
Tần số (n)  
153  
194  
51  
Tỷ lệ (%)  
46,9  
59,5  
Biểu hiện THA  
Nhức đầu sau gáy  
Chóng mặt, hoa mắt  
Buồn nôn  
15,6  
Nóng bừng mặt  
Mệt mỏi  
126  
78  
38,7  
23,9  
Biến chứng của THA  
TBMMN  
Nhồi máu cơ tim  
Suy thận  
298  
233  
148  
77  
91,4  
71,5  
45,4  
23,6  
Biến chứng về mắt  
Chế độ theo dõi đo HA Hằng ngày hoặc khi có  
biểu hiện bất thường  
Hằng tuần  
197  
60,4  
57  
43  
23  
6
17,5  
13,2  
7,1  
Hằng tháng  
> 6 tháng  
Không đo  
1,8  
Cách dự phòng biến Dùng thuốc  
chứng  
280  
85,9  
Tập thể dục  
Giảm ăn mặn  
Ăn nhiều rau, quả  
Bỏ thuốc lá, thuốc lào  
Hạn chế rượu, bia  
229  
271  
100  
106  
149  
70,2  
83,1  
30,7  
32,5  
45,7  
Yếu tố làm bệnh nặng Béo phì  
hơn  
217  
66,6  
Uống rượu, bia  
Hút thuốc lá, thuốc lào  
Ăn mặn  
Ăn nhiều mỡ động vật  
Căng thẳng thần kinh  
(stress)/ mất ngủ  
48  
38  
304  
277  
14,7  
11,7  
93,3  
85,0  
26  
8,0  
Ổn định huyết áp bằng cách sử dụng thuốc  
Ổn định huyết áp bằng cách dinh dưỡng hợp lý  
Ổn định huyết áp bằng cách thay đổi lối sống  
255  
231  
39  
78,2  
70,9  
12,0  
Biến chứng THA thường gây hậu quả chứng do THA gây ra; cho thấy hầu hết  
nặng nề và ảnh hưởng rất nhiều đến chất bệnh nhân trả lời là TBMMN (91,4%); kế  
lượng cuộc sống của bệnh nhân, do vậy đến nhồi máu cơ tim (71,5%); suy thận  
hiểu biết biến chứng cũng là một cách (45,4%); biến chứng về mắt (23,6%). Kết  
phòng ngừa hiệu quả; khảo sát biến quả nghiên cứu phù hợp với kết quả  
244  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy và Lê (84,1%); tập thể dục (70,1%) (Lê Thị  
Khắc Đức (2018) và 2018 Hoàng Cao Sạ Thanh Huyền, Vũ Văn Thành, 2019).  
và Nguyễn Thị Lan Anh (2016). Nghiên Tuy nhiên, Nghiên cứu của chúng tôi thấp  
cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên hơn so với kết quả nghiên cứu khác cho  
cứu khác cho thấy bệnh nhân THA thấy có tỷ lệ bệnh nhân dùng thuốc chiếm  
thường có các biến chứng nguy hiểm: Đột tới 92,5%; ăn giảm muối (91,9%); tăng  
quỵ (65,8%); nhồi máu cơ tim (68,7%); cường tập thể dục (42,5%); hạn chế rượu,  
suy tim (48,4%) và sau cùng là suy thận bia (60,6%); bỏ hút thuốc lá, thuốc lào  
(16,7%) (Vũ Phong Túc, Lê Chính (44,4%) (Nguyễn Thị Thủy, Lê Khắc  
Chuyên, 2012). Các kết quả này cho thấy Đức, 2018; Đinh Thị Thu và ctv., 2019).  
biến chứng TBMMN được biết nhiều Như vậy, bệnh nhân có kiến thức đúng về  
nhất cũng phù hợp với thực tiễn vì có cách phòng biến chứng THA chiếm tỷ lệ  
nhiều người mắc THA bị các biến chứng khá cao trong nghiên cứu của chúng tôi  
này gây nên những thiệt hại rất lớn về tinh và các tác giả khác.  
thần lẫn vật chất, để lại các di chứng nặng  
Kiến thức về yếu tố làm bệnh nặng hơn  
nề đôi khi làm cho người bệnh phải sống  
cho thấy ăn mặn chiếm đa số (93,3%); kế  
đời sống thực vật trong nhiều năm trước  
đến ăn nhiều mỡ động vật (85,0%); béo  
phì (66,6%); uống rượu, bia (14,7%); hút  
khi tử vong.  
Để đề phòng ngừa biến chứng do THA thuốc lá, thuốc lào (11,7%); căng thẳng  
gây ra tốt nhất là phải theo dõi chỉ số thần kinh (stress) chiếm 8,0%. Tương tự  
huyết áp; trong kết quả bệnh nhân biết kết quả nghiên cứu khác cho thấy 66,5%  
cần phải đo hằng ngày hoặc khi có biểu bệnh nhân cho rằng béo phì làm nặng lên  
hiện bất thường chiếm 60,4%; kết quả thêm tình trạng THA (Vũ Phong Túc, Lê  
khảo sát thấp hơn so với kết quả là 98,2% Chính Chuyên, 2012). Tuy nhiên, theo  
(Nguyễn Thị Thủy, Lê Khắc Đức, 2018); nghiên cứu của Lê Thị Thanh Huyền  
do đó cần hướng dẫn bệnh nhân phải (2019) cho thấy, bệnh nhân biết các yếu  
thường xuyên theo dõi chỉ số huyết áp tố làm THA: hút thuốc lá/ thuốc lào  
hằng ngày và ngay cả khi có những biểu (53,3%); Uống rượu/ bia (80,4%); căng  
hiện bất thường để xử trí.  
thẳng thần kinh/ Stress và mất ngủ  
(89,7%) thì kiến thức về vấn đề này của  
bệnh nhân trong khảo sát này còn thấp  
đặc biệt là hiểu biết về Stress/ mất ngủ chỉ  
có 8%.  
Ngoài việc theo dõi chỉ số huyết áp thì  
người bệnh cũng cần biết được các  
phương pháp để kiểm soát huyết áp hiệu  
quả; đa số bệnh nhân đều biết dùng thuốc  
(85,9%); kế đến giảm ăn mặn (83,1%);  
Khi khảo sát kiến thức về việc ổn định  
tập thể dục (70,2%); còn hạn chế rượu, huyết áp bệnh nhân chọn là dùng thuốc  
bia và bỏ hút thuốc lá, thuốc lào lần lượt (78,2%); dinh dưỡng hợp lí (70,9%) và  
là 45,7% và 32,5%; thấp nhất là ăn nhiều chỉ có một số ít bệnh nhân biết thay đổi  
rau, quả (30,7%). Kết quả nghiên cứu này lối sống (12%) cũng là cách để kiểm soát;  
phù hợp với kết quả là giảm ăn mặn so với nghiên cứu của Đỗ Thị Hạnh Trang  
245  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
thì dùng thuốc là 86,3%; lối sống phòng tăng cường vận động, đi thang bộ, đi  
biến chứng là 29,3% (Đỗ Thị Hạnh dạo…  
Trang, 2017). Kết quả, bệnh nhân còn  
chưa biết được hiệu quả của việc thay đổi  
lối sống đến kiểm soát huyết áp, do đó  
cần tư vấn cho bệnh nhân về việc như  
3.3. Thực hành dự phòng biến  
chứng tăng huyết áp  
46.9%  
53.1%  
CHƯA ĐẠT  
ĐẠT  
Hình 3. Thực hành chung về dự phòng biến chứng THA  
Qua hình 3, thực hành chung về dự phòng biến chứng THA, cho thấy thực hành đạt  
chiếm 53,1%; thực hành chưa đạt chiếm 46,9%; cao hơn kết quả tác giả Đinh Văn  
Thành tại 2 Huyện Tân Yên và Yên Dũng lần lượt là 42,6% đạt và 57,4% chưa đạt.  
Điều này có thể lí giải là do nghiên cứu của tác giả Đinh Văn Thành tại cộng đồng  
nên thực hành chung đạt có xu hướng thấp hơn (Đinh Văn Thành, 2013). Tuy nhiên,  
kết quả nghiên cứu tương đồng với nghiên cứu Đinh Thị Thu tại Bệnh viện Đa khoa  
Quảng Ninh năm 2018 là 55% đạt và 45% chưa đạt (Đinh Thị Thu, 2019). Như vậy,  
so với kiến thức thì thực hành có phần đạt thấp hơn, bệnh nhân chưa chú ý nhiều đến  
thực hành, trong khi đó thực hành mới là yếu tố quyết định đến việc kiểm soát THA.  
246  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
Bảng 3. Thực hành về chế độ đo HA  
Nội dung  
Tần số (n)  
Tỷ lệ (%)  
Chế độ đo HA  
Thường xuyên hằng  
ngày/Khi có biểu hiện 264  
81,0  
THA  
Khám định kỳ/ Khám  
định kỳ  
62  
19  
Kiểm soát cân nặng  
Tập thể dục thể thao  
Mỗi tháng  
≥ 1 tháng  
154  
172  
69  
211  
46  
47,2  
52,8  
21  
65  
14  
Thường xuyên  
Thỉnh thoảng  
Không tập thể dục  
Ăn nhạt hơn trước  
Ăn bình thường như  
trước  
Chế độ sử dụng muối  
206  
63,2  
83  
25,5  
11,3  
71  
Vẫn ăn mặn  
37  
Mức độ sử dụng mỡ động Ăn hạn chế  
vật/chất béo  
232  
Ăn thường xuyên  
Mức độ sử dụng rượu, bia Không uống/ Bỏ uống  
Thỉnh thoảng uống  
94  
299  
22  
5
29  
91,7%  
6,7  
Uống thường xuyên  
1,6  
Mức độ hút thuốc  
Uống thuốc điều trị  
Không hút thuốc/ Bỏ hút 317  
97,2%  
2,8  
Đang hút thuốc  
9
Dùng thuốc thường  
xuyên theo đơn của bác 222  
sĩ  
68,1  
16,6  
Dùng thuốc từng đợt khi  
có THA  
54  
Chỉ uống thuốc khi HA  
cao  
Tự điều trị  
43  
13,2  
2,1  
7
Đo HA hằng ngày hoặc khi có biểu cộng sự là đo HA hằng ngày 14,9% (Đinh  
hiện bất thường là yếu tố rất quan trọng Thị Thu, 2019); do đó cần nhắc nhở bệnh  
đối với người bệnh THA, kết quả cho nhân thường xuyên theo dõi huyết áp  
thấy rằng trên 2/3 trong tổng số các đối thường xuyên để quản lý huyết áp tốt hơn.  
tượng nghiên cứu đo HA thường xuyên  
Nghiên cứu về kiểm soát cân nặng với  
hằng ngày hoặc đo khi có biểu hiện THA  
tỷ lệ bệnh nhân sẽ kiểm soát cân nặng mỗi  
(81,0%); Kết quả nghiên cứu của chúng  
tháng (47,2%); bệnh nhân có ý thức khá  
tôi cao hơn nghiên cứu Đinh Thị Thu và  
247  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
tốt trong việc kiểm soát cân nặng vì biết do tuổi của đối tượng nghiên cứu thấp  
rằng chỉ số cân nặng có ảnh hưởng đến hơn đối tượng nghiên cứu của chúng tôi,  
việc dự phòng biến chứng THA.  
tác giả này khảo sát trên những đối tượng  
từ 25 đến 60 tuổi, còn tuổi trung bình của  
các đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là  
66,12±13,69 tuổi.  
Chế độ luyện tập thể dục đóng vai trò  
quan trọng trong điều trị không dùng  
thuốc đối với các bệnh lý tim mạch nói  
chung và bệnh THA nói riêng, kết quả  
Mức độ không hút thuốc lá, thuốc lào  
nghiên cứu cho thấy thực hành tập thể trong nghiên cứu của chúng tôi với 97,2%  
dục thường xuyên 21%, thỉnh thoảng cao hơn so với nghiên cứu khác là 76.7%.  
65% và 14% không rèn luyện sức khỏe, Như vậy bệnh nhân trong nghiên cứu có  
so với tác giả Đinh Thị Thu (2018) thì lần ý thức tốt hơn.  
lượt là 34,8%; 30,4% và 34,8%. Như vậy,  
Để phòng ngừa biến chứng THA thì  
cũng cần chú ý hướng dẫn bệnh nhân về  
yếu tố quan trọng nhất vẫn là dùng thuốc  
vấn đề này; không nhất thiết phải tập thể  
thường xuyên theo đơn của bác sĩ, khảo  
dục với cường độ mạnh mà có thể vận  
sát bệnh nhân có 68,1% tuân thủ dùng  
động nhẹ nhàng, tập dưỡng sinh, đi bộ và  
thuốc so với nghiên cứu khác là 89,4 –  
đi dạo hàng ngày cũng là cách rèn luyện  
99,6%. . Như vậy, cần phải hướng dẫn  
bệnh nhân thực hành uống thuốc điều trị  
sức khỏe.  
Chế độ ăn hạn chế muối cũng là yếu tố đúng và đủ vì đây là yếu tố tiên quyết để  
kiểm soát HA hiệu quả, kết quả bệnh kiểm soát HA đạt mục tiêu điều trị.  
nhân có thực hành ăn nhạt hơn trước  
63,2%; Tương tự tỷ lệ bệnh nhân kiêng  
4. KẾT LUẬN  
Kết quả khảo sát kiến thức và thực  
hành phòng biến chứng THA cho thấy  
bệnh nhân chưa chú ý nhiều đến thực  
hành dự phòng, đặc biệt là tuân thủ dùng  
thuốc theo toa bác sĩ chưa cao. Do đó, cần  
tăng cường giáo dục sức khỏe trên các  
kênh thông tin, giúp bệnh nhân THA tăng  
cường hiểu biết biểu hiện của bệnh cũng  
như thực hành tuân thủ điều trị hợp lí .  
ăn mặn chiếm đa số là 65,6% (Nguyễn  
Văn Thỉnh, Lê Thành Tài, 2015) và tác  
giả Đỗ Thị Hạnh Trang (2017) tại Huyện  
Tân Yên là 61,2%. Như vậy vẫn còn  
nhiều bệnh nhân vẫn giữ thói quen ăn  
mặn với 11,3%.  
Về mức độ sử dụng rượu, bia: Không  
uống /bỏ uống (91,7%); thỉnh thoảng  
uống (6,7%); thấp nhất là không thường  
xuyên (1,5%). Kết quả nghiên cứu của  
chúng tôi cao hơn là tỷ lệ bệnh nhân  
không uống rượu chiếm 79,0% (Tạ Văn  
Trầm và Phạm Thế Hiền, 2017); về thực  
hành tuân thủ cho thấy không uống rượu,  
bia 66,4% (Vũ Xuân Phú, Nguyễn Minh  
Phương, 2012). Sự khác biệt này có thể là  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đinh Thị Thu, Nguyễn Hồng  
Hạnh, Trần Thị Ly, Đỗ Văn Doanh, Bùi  
Văn Cường, 2019. Kiến thức và thực  
hành về phòng biến chứng THA của  
người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh  
Quảng Ninh năm 2018. Nghiên cứu  
248  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
khoa học. Khoa học Điều dưỡng – Tập  
02 – Số 01. Tr 19 - 26  
Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2016. Luận  
văn tốt nghiệp Bác sĩ Y học dự phòng.  
Trường Đại học Y dược Cần Thơ.  
2. Đinh Văn Thành, Nguyễn Văn  
Sơn, Nguyễn Tiến Dũng, 2013. Kiến  
thức, thái độ, thực hành về điều trị và  
quản lý THA tỉnh Bắc Giang. Y học  
Việt Nam tháng 11 – Số đặc biệt/2013.  
Tr 47 - 55  
8. Nguyễn Thị Thủy và Lê Khắc  
Đức, 2018. Khảo sát kiến thức về bệnh  
THA của bệnh nhân THA điều trị nội trú  
tại Bệnh viện Quân Y 103 năm 2017.  
Tạp chí Y dược quân sự số 1 – 2018. Tr  
29 -35  
3. Đỗ Thị Hạnh Trang, Hà Anh  
Đức, Trịnh Thị Thúy Hồng, 2017. Kiến  
thức, thực hành phòng biến chứng THA  
ở bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại  
huyện Tân Yên, Bắc Giang. Y học thực  
hành (1039) – Số 4/2017. Tr 17 – 19  
9. Nguyễn Văn Thỉnh, 2013. Nghiên  
cứu tình hình THA và kiến thức, thực  
hành phòng chống biến chứng THA ở  
người từ 40 tuổi trở lên tại huyện Vị  
Thủy, Hậu Giang năm 2012. Luận văn  
chuyên khoa cấp II. Trường Đại học Y  
dược Cần Thơ.  
4. Hoàng Cao Sạ, Nguyễn Thị Lan  
Anh, 2016. Khảo sát kiến thức về bệnh  
THA của người trưởng thành ở cộng  
đồng tại Thành phố Nam Định năm  
2015. Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tập  
11 – Số 3/2016. Tr 23 – 27  
10. Phạm Mạnh Hùng, 2011. Tìm  
hiểu và kiểm soát THA. Hội Tim mạch  
học Quốc gia Việt Nam. Tr 4 – 19.  
11. Tạ Văn Trầm và Trần Văn Kiệt,  
2010. Kiến thức thái độ thực hành của  
bệnh nhân THA tại Bệnh viện Đa khoa  
Tiền Giang. Y học thực hành (709) – Số  
3/2010. Tr 10 -13  
5. Lê Thị Thanh Huyền, Vũ Văn  
Thành, 2019. Thực trạng kiến thức và  
thực hành về lối sống ở người bệnh  
THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa  
khoa tỉnh Quảng Trị năm 2019. Nghiên  
cứu khoa học. Khoa học Điều dưỡng –  
Tập 02 – Số 03. Tr 119 – 127  
12. Tạ Văn Trầm và Phạm Thế Hiền,  
2017. Thực hành phòng ngừa và điều trị  
THA ở người cao tuổi tại Thành phố Mỹ  
Tho năm 2013. Tạp chí Y học Việt Nam  
tập 452 – Tháng 3 – Số 2 - 2017. Tr 52 –  
55  
6. Ngô Quý Châu, 2018. Bệnh học  
Nội khoa tập 1. Nhà xuất bản Y học Hà  
Nội – 2018. Tr 169 - 178  
7. Nguyễn Tấn Đạt, 2017. Nghiên  
13. Vũ Phong Túc, Lê Chính Chuyên,  
cứu kiến thức, thái độ, thực hành về  
2012. Nhận thức, thái độ, thực hành và  
kiểm soát HA và một số yếu tố liên quan sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA  
của bệnh nhân THA tại thị xã Bình tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa  
249  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 10 - 2020  
tỉnh Ninh Bình. Y học thực hành (816) – tuân thủ trong điều trị THA của bệnh  
Số 4/2012. Tr 126 – 128.  
nhân 25 – 60 tuổi ở 4 phường Thành phố  
Hà Nội, năm 2011. Y học thực hành  
(817) – Số 4/2012. Tr 104 -108.  
14. Vũ Xuân Phú, Nguyễn Minh  
Phương, 2012. Thực trạng thực hành  
KNOWLEDGE AND PRACTICE ON PREVENTING COMPLICATIONS  
FROM HYPERTENSION OF PATIENTS AT CARDIOLOGY  
DEPARTMENT IN GENERAL HOSPITAL OF AN GIANG PROVINCE  
Nguyen Duong Thien An, Nguyen Thi Hong Nguyen*,  
Phan Ngoc Thuy, Tran Truc Linh and Le Phu Nguyen Thao  
Faculty of Pharmacy and Nursery, Tay Do University  
(*Email: [email protected])  
ABSTRACT  
Nowadays, hypertension is one of the common diseases in Vietnam and in the world. It is the  
main cause of disability and mortality of elderly. The patients’ knowledge and practice on  
preventing play an important role in controlling hypertension and preventing its  
complications. The descriptive cross-sectional study on 326 patients with hypertension in  
the Department of Cardiology in An Giang general hospitalto evaluate patient’s knowledge  
and practice on preventing complications from hypertension. Results showed that 63,5%  
patients had good knowledge and 53,1% had good practice. These findings indicated that  
knowledge and practice of preventing complication were still limited. Therefore, health  
education in community and in hospital needs to be enhanced.  
Keywords: Hypertension, knowledge, practice  
250  
pdf 12 trang Thùy Anh 17540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức và thực hành dự phòng biến chứng tăng huyết áp của bệnh nhân tại khoa nội tim mạch bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_va_thuc_hanh_du_phong_bien_chung_tang_huyet_ap_cua.pdf