Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại các doanh nghiệp may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG  
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
ThS. Đinh Thị Hương1  
Tóm tắt: Trách nhiệm xã hội đối với người lao động của doanh nghiệp là vấn đề được quan tâm nghiên cứu ở  
nước ta trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, thực hiện vấn đề này của các doanh nghiệp vẫn còn khá hạn chế.  
Đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại các doanh nghiệp may Việt Nam  
để đáp ứng yêu cầu khách hàng đặt ra trong thương mại quốc tế. Kết quả này cũng gợi ý một số giải pháp cho  
các nhà quản lý doanh nghiệp may nâng cao hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động.  
Từ khóa: thực hiện trách nhiệm xã hội, các doanh nghiệp may, hội nhập quốc tế  
Abstract: Corporate social responsibility of business towards employees is a topic that has been much  
discussed recently in Vietnam. However, there have been many shortages and disadangtages in implement of  
this issue from both enterprises and employees. Through evaluating the current picture of impletment CSR at  
of Vietnam garment enterprises to satisfy customers’ requirements in international trade. The result raise some  
managerial implications for garment managers to enhance their activities of implementation CSR for workers.  
Keywords: Implement corporate social responsibility; Vietnam garment enterprises; International trade.  
I. LỜI MỞ ĐẦU  
Việt Nam đã, đang trên đà hội nhập ngày càng sâu rộng trong thương mại quốc tế (TMQT).  
Nếu muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp (DN) Việt Nam buộc phải tuân theo xu hướng  
toàn cầu đó là thực hiện trách nhiệm xã hội (TNXH) của DN. Thúc đẩy các DN thực hiện tốt  
TNXH là một hướng đi quan trọng, phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển bền vững trong  
quá trình hội nhập (Thắng, 2013). Khi nói đến may mặc - ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam,  
cụ thể sau hơn 20 năm phát triển kim ngạch xuất khẩu của ngành đã đóng góp 10% - 15% GDP/  
năm. Đây là ngành có mức độ hội nhập lớn nhất vào kinh tế thế giới. Xét trên phương diện xuất  
nhập khẩu. Bản chất của các DN may là thâm dụng lao động nên người lao động (NLĐ) luôn  
được đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, theo MOLISA (2015), NLĐ tại các DN may  
đang phải làm việc trong điều kiện không được đảm bảo và môi trường làm việc độc hại như bụi,  
tiếng ồn, thiếu ánh sáng, thường xuyên phải làm thêm giờ, mức lương thấp, đời sống tinh thần  
thiếu phong phú… Chính vì vậy việc thực hiện THXNH đối với NLĐ là chính một công cụ quan  
trọng để tăng năng suất, chất lượng công việc, tạo điều kiện làm việc tốt cho NLĐ, góp phần  
1
Email: [email protected], Khoa Quản trị nhân lực, Đại học Thương mại.  
268  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
nâng cao giá trị gia tăng của DN thông qua danh tiếng xã hội, tạo động lực, duy trì lao động,  
thu hút lao động giỏi cho các DN may mặc. Thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may Việt  
Nam đã trở thành một trào lưu, một xu hướng tác động mạnh mẽ đến hoạt động của các DN.  
Các DN may không phải tự nguyện thực hiện TNXH đối với NLĐ mà là yêu cầu của phía khách  
hàng đặt ra trong bối cảnh hội nhập để giành được hợp đồng gia công lớn. Song vấn đề đặt ra  
tại các DN may là cần phải thực hiện TNXH đối với NLĐ một cách bài bản, khoa học, hệ thống  
có nghĩa là phải xây dựng mục tiêu thực hiện TNXH đối với NLĐ, chuẩn bị nguồn lực, tổ chức  
một cách khoa học, khuyến khích kịp thời, đánh giá thường xuyên… Hay thực chất là các DN  
may cần phải tập trung vào quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ. Hoạt động này sẽ giúp các  
DN xây dựng kế hoạch, có cách thức triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ và đánh giá, điều  
chỉnh, uốn nắn những sai lệch trong thực hiện TNXH đối với NLĐ. Từ một số lý do trên cho thấy  
nghiên cứu thực hiện TNXH đối với NLĐ để đáp ứng yêu cầu đặt ra trong hội nhập kinh tế tại  
các DN may Việt Nam là rất cấp thiết và có ý nghĩa rất lớn. Bài viết được lựa chọn thực hiện để  
thấy được toàn cảnh bức tranh thực hiện TNXH đối với NLĐ của các DN may Việt Nam để đáp  
ứng yêu cầu khách hàng đặt ra trong quá trình hội nhập cũng như gợi ý một số giải pháp thiết  
thực để các DN may tăng cường thực hiện hoạt động này.  
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
Trong nghiên cứu tổng hợp của tạp chí Academy of Management Journal với gần 100 bài  
viết bàn về TNXH, TNXH đối với NLĐ từ những năm 60 cho đến 2015 được phân thành: lịch sử  
hình thành (antecedent) từ năm 1960 - 1970, kết quả (outcome) từ 1980 - 1990, quá trình thực hiện  
(implementation process) từ 2000 đến nay. Các nghiên cứu về “The CSR implementation process”  
đều có đặc điểm, đối tượng riêng, nhưng tất cả đều thống nhất rằng, quá trình thực hiện TNXH là  
tổ chức các hoạt động để thực hiện mục tiêu, các loại TNXH của DN đề ra, cụ thể:  
Các hoạt động trong quá trình thực hiện TNXH được Panapanaan và các cộng sự (2003) phân  
tích tại 12 DN có lĩnh vực kinh doanh khác nhau ở Thụy Điển. Nhóm nghiên cứu đưa ra quy trình  
thực hiện gồm có 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là nội dung TNXH với cách thức nhận dạng vấn  
đề chính, quan trọng của TNXH và các yếu tố về thông số của TNXH có liên quan khi thực hiện  
TNXH. Thứ hai là quá trình thực hiện TNXH gồm: Tổ chức và cơ cấu thực hiện; Xây dựng kế  
hoạch; Triển khai kế hoạch; Kiểm tra và đánh giá; Truyền thông và báo cáo. Cùng năm đó, Werre,  
M. (2003) đề xuất các giai đoạn của quá trình thực hiện TNXH của Công ty Chiquita cụ thể: Nâng  
cao nhận thức quản lý cao cấp; Xây dựng một tầm nhìn TNXH và các giá trị của cốt lõi công ty;  
Thay đổi hành vi tổ chức; Kiểm soát sự thay đổi. Vì vậy, Nguyễn Ngọc Thắng, (2015) nhận định  
ngoài kiểm soát nhằm đảm bảo những gì đang được thực hiện đúng với kế hoạch thì hoạch định  
TNXH nhằm đạt được mục tiêu DN muốn hướng đến; Tổ chức sẽ tạo ra sự sắp xếp, sử dụng nguồn  
lực nhằm giúp DN đạt được các mục tiêu.  
Để quá trình thực hiện TNXH đạt hiệu quả cao theo Maignan I., Ferrell O. C., & Ferrell L,  
(2005) phát triển thành 8 bước: Bước 1 - Khám phá những giá trị và chuẩn mực của tổ chức; Bước  
2 - Xác định và các bên liên quan thực sự quan trọng của DN; Bước 3 - Xác định các vấn đề chính mà  
các bên liên quan quan tâm đến; Bước 4 - Đánh giá ý nghĩa khi thực hiện TNXH phù hợp lợi ích của  
tổ chức; Bước 5-Kiểm soát vấn đề thực hành trong hiện tại; Bước 6 - Đưa ra quyết định ưu tiên và  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
269  
thực hiện những vấn đề thay đổi trong TNXH; Bước 7 - Thúc đẩy thực hiện TNXH bằng cách tạo ra  
nhận thức và nhận được sự tham gia của các bên liên quan; Bước 8 - Có được thông tin phản hồi thực  
hiện từ các bên liên quan. Đây là quá trình cụ thể đem lại hiệu quả trong thực hiện TNXH của DN.  
Nghiên cứu quá trình thực hiện TNXH của Jan Jonker & Marco de Witte, (2006) với các  
nội dung: (i) Xây dựng kế hoạch hoạt động; (ii) Triển khai thực hiện hoạt động; (iii) Đánh  
giá thực hiện. Đồng quan điểm này, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2015) đã đề xuất quá trình thực  
hiện TNXH của DN gồm 3 nội dung với hoạch định thực hiện; Triển khai thực hiện; Kiểm  
soát thực hiện TNXH. Đây là một quy trình thực hiện TNXH bài bản và khoa học giúp các DN  
thực hiện TNXH có chất lượng. Hay Bùi Thị Thu Hương (2018) từ tiếp cận trung mô. tại tỉnh  
Thái Nguyên với quá trình thực hiện cần tập trung vào nội dung triển khai với NLĐ. Với quy  
mô mẫu là 231 nhà quản lý và 394 NLĐ trong các DNNVV tỉnh Thái Nguyên đã cho thấy:  
xây dựng kế hoạch chưa dựa vào nhu cầu cụ thể của DN. Nhiều DN cũng không có bộ phận  
chuyên trách thực hiện TNXH đối với NLĐ. Hoạt động kiểm tra vẫn còn chiếu lệ. Kết quả  
nghiên cứu định lượng cho thấy thực hiện trách nhiệm kinh tế có ảnh hưởng mạnh nhất tới sự  
hài lòng công việc của NLĐ.  
Phạm Công Đoàn (2008) cho rằng thực hiện TNXH là việc mới, khó với điều kiện hạn chế về  
nguồn lực nên đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng, thực hiện bài bản. Cùng với đó, thực hiện TNXH  
cần dựa trên cơ sở hoạt động, ngành nghề kinh doanh, các cam kết, giá trị cốt lõi và văn hoá kinh  
doanh của từng DN. Hohnen, P. (2007) đã mô tả khuôn khổ thực hiện TNXH cần được thiết kế  
thành bốn phần: xây dựng kế hoạch, thực hiện, kiểm tra và cải thiện. Tác giả giải thích rằng NLĐ  
đóng một vai trò trung tâm trong việc thực hiện. Vì thế, trong quá trình thực hiện cần tạo động  
lực thưởng cho những sáng kiến để cải thiện quá trình thực hiện TNXH. Tương tự vậy, Niklas  
Hermansson và Ola Olofsson (2008) đã tìm hiểu và xác định các bước khác nhau trong quá trình  
thực hiện TNXH hoàn chỉnh và tiến bộ hơn trong nghiên cứu của mình tại: Body Shop, Sweden,  
Löfbergs Lila and Stora Enso.  
Phân tích một số công trình nghiên cứu điển hình có bàn về quá trình thực hiện TNXH, TNXH  
đối với NLĐ ta thấy thực hiện TNXH, TNXH đối với NLĐ chính là tiến trình tổ chức các hoạt  
động để đạt được mục tiêu đề ra.  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Trong khuôn khổ bài viết này tác giả sử dụng phương pháp hỗn hợp để nghiên cứu bao gồm  
phương pháp định tính và phương pháp định lượng.  
Phương pháp định tính  
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các sách, luận án tiến sĩ, đề tài cấp bộ, các  
bài báo để xây dựng khung lý thuyết về thực hiện TNXH đối với NLĐ; nghiên cứu tiến hành  
tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu về thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may  
Việt Nam cùng với một số báo cáo, dữ liệu thống kê có liên quan của: Hiệp hội dệt may Việt  
Nam (VITAS); Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)...  
Đây là những minh chứng quan trọng để đánh giá thực trạng thực hiện TNXH đối với tại các  
DN may Việt Nam.  
270  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Tác giả kĩ thuật phỏng vấn chuyên sâu và thảo luận  
nhóm tập trung nhằm xây dựng các khái niệm lý thuyết trong mô hình. Sau khi phỏng vấn 8 người  
là các chuyên gia, các nhà quản lý tại các doanh nghiệp may Việt Nam, tác giả tiến hành thảo luận  
và thiết kế bản hỏi tập trung vào xây dựng kế hoạch thực hiện, triển khai thực hiện và đánh giá  
thực hiện.  
Phương pháp xử lý thông tin dữ liệu: Bài báo sử dụng các phương pháp như trừu tượng  
khoa học, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê,  
so sánh; Kết hợp với việc minh họa bằng bảng biểu, hình vẽ cho vấn đề nghiên cứu trở nên  
trực quan hơn.  
Phương pháp định lượng  
Từ cơ sở lý thuyết đã tổng hợp, các biến quan sát được xây dựng trên thang đo Likert 5 điểm  
(từ 1 = hoàn toàn không đồng ý đến 5 = hoàn toàn đồng ý) phản ánh 3 khái niệm nghiên cứu hoàn  
chỉnh. Nghiên cứu định lượng thông qua phỏng vấn chuyên sâu 8 chuyên gia có am hiểu về thực  
hiện TNXH đối với NLĐ nhằm bổ sung và điều chỉnh các biến quan sát trên cho dễ hiểu và phù  
hợp với bối cảnh tại các DN may Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này giúp hình thành bảng câu hỏi  
định lượng gồm 14 biến quan sát phản ảnh về quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ. Sau đó tiến  
hành điều tra với kích thước mẫu là 600 phiếu từ các nhà quản trị đang làm việc tại 308 DN may  
Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phi xác suất. Kích thước mẫu nghiên  
cứu được chia đều định mức cho mỗi DN may. Tiếp cận đối tượng điều tra theo 2 cách: (i) Gửi  
phiếu khảo sát đã thiết kế trên Google doc đến địa chỉ email của NLĐ tại các DN may; (ii) Gửi  
phiếu khảo sát trực tiếp đến NLĐ tại các DN may Việt Nam. Sau khi sàng lọc các phiếu trả lời,  
loại bỏ phiếu không hợp lệ (do điền thiếu thông tin) còn lại 525 phiếu hợp lệ để nhập và xử lý dữ  
liệu. Dữ liệu thu được tiến hành nhập vào file Excel, sau đó thực hiện phân tích dữ liệu bằng phần  
mềm SPSS & AMOS 21. Cụ thể, phần mềm SPSS 21 dùng để phân tích thống kê mô tả, phân tích  
độ tin cậy của thang đo Crobanch’s Alpha, phân tích EFA, phần mềm AMOS 21 dùng để phân tích  
nhân tố khẳng định CFA để kiểm định mức độ phù hợp của các biến quan sát về quá trình thực hiện  
TNXH đối với NLĐ của các DN may Việt Nam.  
4. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP  
Thực hiện TNXH, TNXH đối với NLĐ của DN được các nghiên cứu mang tính học thuật  
của các nhà nghiên cứu: Panapanaan, và các cộng sự (2003); Jan Jonker và Marco de Witte  
(2006); Hohnen, P. (2007), Nguyễn Thị Minh Nhàn, (2015) theo tiếp cận quá trình thực hiện  
TNXH gồm các hoạt động: Lập kế hoạch - Plan (P); Thực hiện - Do (D); Kiểm tra - Check (C);  
Hành động - Act (A). Dựa trên tiếp cận này, quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ với các  
hoạt động chính: xây dựng kế hoạch thực hiện, triển khai thực hiện và đánh giá thực hiện. Do  
vậy, quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ của DN dưới đây (xem Hình 1) là sự kế thừa và  
phát triển các nghiên cứu của các học giả về tổ quá trình thực hiện TNXH của DN. Trong quá  
trình thực hiện TNXH đối với NLĐ có 14 biến quan sát được mã hóa từ CSR1 → CSR14 liên  
quan đến quá trình thực hiện:  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
271  
Đánh giá thực hiện  
TNXH đối với NLĐ  
Xây dựng kế hoạch thực  
hiện TNXH đối với NLĐ  
Triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR1- Xác định các mục  
tiêu thực hiện TNXH đối  
với NLĐ  
CSR2- Nghiên cứu và lựa  
chọn quy tắc ứng xử về  
TNXH đối với NLĐ  
CSR3- Xây dựng các  
chương trình thực hiện  
TNXH đối với NLĐ  
CSR4- Xây dựng ngân  
sách thực hiện TNXH đối  
với NLĐ  
CSR11  
- Xác định tiêu  
CSR5- Tổ chức bộ máy thực hiện TNXH  
đối với NLĐ  
CSR6- Lập hồ sơ đăng ký đạt quy tắc ứng  
xử về TNXH đối với NLĐ  
CSR7- Ban hành các quy định, hướng  
dẫn bộ về quy tắc ứng xử về thực hiện  
TNXH đối với NLĐ  
CSR8- Tổ chức truyền thông nội bộ thực  
hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR9- Tổ chức đào tạo nhân lực thực  
hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR10- Tổ chức triển khai các chương  
chuẩn đánh giá thực hiện  
TNXH đối với NLĐ  
CSR12- Đo lường các kết  
quả chủ yếu của thực  
hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR13- Thực hiện các  
hành động khắc phục và  
ngăn ngừa trong thực  
hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR14-Báo cáo truyến  
thông thực hiện TNXH  
đối với NLĐ  
trình thực hiện TNXH đối với NLĐ  
Nguồn: Tổng hợp và phát triển từ [4], [8], [10] và các nghiên cứu liên quan  
Hình 1: Quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ của DN  
Xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với NLĐ của DN (XD)  
Xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với NLĐ là quá trình xác định mục tiêu và các  
phương cách mà DN cần phải làm để đạt được mục tiêu TNXH đối với NLĐ mà DN hướng đến.  
Việc xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với NLĐ cần gắn với chiến lược và kế hoạch chung  
của DN. Theo Moore, (1992) việc thực hiện TNXH đối với NLĐ là một quá trình dài hạn đòi hỏi  
sự sáng tạo và xây dựng kế hoạch thực hiện một cách cụ thể.  
- Xác định mục tiêu thực hiện: Mục tiêu chung của thực hiện TNXH đối với NLĐ là thực  
hiện tốt các quy định của PLLĐ hiện hành, vượt qua các rào cản thương mại trong xuất khẩu hàng  
hóa, đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững.  
- Nghiên cứu và lựa chọn quy tắc ứng xử: các yêu cầu mà khách hàng quốc tế đặt ra gắn  
liền với những tiêu chuẩn về LĐ, được thể hiện dưới dạng Bộ quy tắc ứng xử của các DN và  
của các tổ chức thứ ba.Việc tìm kiếm Bộ CoC về lao động qua các phương tiện truyền thông,  
qua các tổ chức tư vấn về tiêu chuẩn TNXH đối với NLĐ, hay trực tiếp liên hệ với các tổ chức  
quốc tế công nhận.  
- Xây dựng chương trình: là toàn bộ những kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện mục tiêu  
đã xác định. Nội dung TNXH đối với NLĐ khá rộng lớn bao trùm tất cả các mảng, các hoạt động  
của DN liên quan đến TNXH đảm bảo quyền và lợi ích của NLĐ cụ thể liên quan đến: các điều  
khoản hợp đồng lao động, các quy định về giờ làm, ATVSLĐ và sức khỏe nghề nghiệp, tiền lương  
và phúc lợi, tự do hiệp hội và thương lượng tập thể.  
- Xây dựng ngân sách: để xây dựng ngân sách thực hiện bộ phận đảm trách thực hiện TNXH  
đối với NLĐ sẽ phối hợp với bộ phận kế toán. Bên cạnh đó, xây dựng ngân sách thực hiện TNXH  
đối với NLĐ đi từ dự trù nguồn thu, dự trù chi phí và cuối cùng là tổng hợp ngân sách.  
272  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Triển khai thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của doanh nghiệp (TK)  
- Kết quả thực hiện TNXH đối với NLĐ phụ thuộc vào quá trình triển khai thực hiện (Jan  
Jonker & Marco de Witte, 2006). Triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ của DN là quá trình  
sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tổ chức sao cho  
đạt được các mục tiêu đã đề ra và tạo ra sự kết nối với xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với  
NLĐ của DN đã đề ra.  
- Tổ chức bộ máy thực hiện là thiết lập bộ phận thực thi các công việc đã xác định trong mục  
tiêu thực hiện TNXH đối với NLĐ. Đối với các DNNVV chủ DN sẽ phụ trách hoạt động tổ chức  
TNXH đối với NLĐ hay là bộ phận phụ trách về hành chính - nhân sự sẽ phụ trách hoạt động này.  
Đối với các DN lớn bộ phận chuyên trách thực hiện TNXH đối với NLĐ là: ban TNXH, ban tư vấn  
& cải tiến, ban đời sống, ban phát triển bền vững...  
- Lập hồ sơ đăng ký đạt quy tắc ứng xử: Để có được chứng chỉ TNXH đối với NLĐ thì DN  
phải làm việc với các tổ chức có quyền cấp các chứng chỉ như: UKAS (Anh), RvA (Hà Lan),  
ANAB (Mỹ), JAS-ANZ (Úc và New Zealand), VICAS (Việt Nam). Sau đó DN cần liên hệ với tổ  
chức đó đề bắt đầu làm việc.  
- Ban hành các quy định, hướng dẫn về bộ quy tắc ứng xử: Để thực hiện tốt TNXH đối với  
NLĐ thì DN cần ban hành các quy định, hướng dẫn thực hiện bộ quy tắc ứng xử SA 8000, WRAP,  
OHSAS 18001… để có một bộ tài liệu tiêu chuẩn thống nhất giúp các bộ phận, phòng ban và NLĐ.  
- Tổ chức hệ thống thông tin và truyền thông nội bộ: với chức năng thu thập, xử lý, lưu trữ và  
phân phối tổ chức hệ thống thông tin và truyền thông thực hiện TNXH đối với NLĐ cho các đối  
tượng sử dụng trong bộ máy quản lý để hỗ trợ ra quyết định, phối hợp hoạt động và điều khiển các  
tiến trình trong tổ chức thực hiện TNXH đối với NLĐ.  
- Tổ chức đào tạo nhân lực triển khai thực hiện: triển khai đào tạo nhân lực thực hiện TNXH  
đối với NLĐ có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện mục tiêu của công tác này. Do vậy, tổ chức  
đào tạo nhân lực triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ cần quan tâm đến: chủ thể đào tạo, đối  
tượng được đào tạo, nội dung đào tạo và phương pháp đào tạo.  
- Tổ chức triển khai các chương trình là quá trình thực hiện các hoạt động tác nghiệp để theo  
dõi, hướng dẫn toàn bộ những chương trình thực hiện TNXH đảm bảo quyền và lợi ích của NLĐ  
nhằm thực hiện các mục tiêu đã đặt ra.  
Đánh giá thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của doanh nghiệp (DG)  
Khâu đánh giá để biết được hoạt động thực hiện TNXH đối với NLĐ đã được tiến hành như thế  
nào để cải thiện thực hiện TNXH đối với NLĐ sao cho đạt được mục tiêu đề ra (Niklas Hermansson  
& Ola Olofsson, 2008). Đánh giá thực hiện TNXH đối với NLĐ là tiến trình xác định tiêu chuẩn đánh  
giá, đo lường kết quả thực hiện so với kế hoạch đặt ra, đồng thời thực hiện các hành động khắc phục,  
ngăn ngừa, xây dựng bản báo cáo và truyền thông thực hiện TNXH đối với NLĐ.  
- Xác định tiêu chuẩn đánh giá: gắn với mục tiêu và xuất phát từ mục tiêu thực hiện TNXH đối  
với NLĐ của DN. Các mục tiêu thực hiện TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ được thiết  
lập trong khâu xây dựng kế hoạch là la bàn định hướng, chỉ đường cho mọi hoạt động tổ chức thực  
hiện TNXH đối với NLĐ. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn kiểm soát thực hiện TNXH đối với NLĐ  
phải gắn với trách nhiệm của các đối tượng đảm trách.  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
273  
- Đo lường thực hiện TNXH đối với NLĐ là bước quan trọng nhất trong khâu xây dựng kế  
hoạch để sớm thấy được kết quả thực hiện TNXH đối với NLĐ. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá  
thực hiện TNXH đối với NLĐ đã xác định, định kì DN cần phải đo lường các kết quả tổ chức thực  
hiện TNXH đối với NLĐ.  
- Thực hiện hành động khắc phục và ngăn ngừa: Trên cơ sở những phát hiện hạn chế trong vận  
hành hệ thống và nguyên nhân của các hạn chế đó, cần tiến hành đưa ra các hành động khắc phục  
và hành động phòng ngừa cần thiết. Trong bước này DN cần quyết định cần phải khắc phục nội  
dung TNXH đối với NLĐ nào? Khắc phục là phải nhanh và với “liều lượng điều chỉnh” thích hợp.  
- Xây dựng bản báo cáo truyền thông thực hiện TNXH đối với NLĐ là một nội dung quan trọng  
để báo cáo quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ. Đây sẽ là tài liệu quan trọng để truyền thông  
trong nội bộ DN và ra bên ngoài trong từng giai đoạn thực hiện TNXH đối với NLĐ nhất định.  
5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP  
MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
Thực trạng quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ được tiến hành từ 525 phiếu điều tra nhà  
quản trị từ 308 DN may Việt Nam với kết quả: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy của thang đó,  
phân tích EFA, phân tích CFA để kiểm tra sự phù hợp của quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ  
(xây dựng kế hoạch thực hiện, triển khai thực hiện, đánh giá thực hiện) với dữ liệu thu được.  
Kết quả phân tích thống kê mô tả  
Giới tính: nữ chiếm phần lớn với 68,9%, nam chiếm 31,1%. Do tỷ lệ nữ trong toàn DN cao  
nên nữ giữa chức vụ quản lý nhiều hơn nam là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, tỷ lệ nữ giữ chức vụ  
quản lý thấp hơn.  
Trình độ học vấn: nhà quản trị tại các DN may chủ yếu có trình độ cao đẳng chiếm tỷ lệ cao  
nhất 46,1%, trung học, đào tạo nghề chiếm 37.2 đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ 15,4%. Đối  
với các DN may chịu áp lực cao về sự thay đổi, các sản phẩm may đòi hỏi độ phức tạp, trình độ  
hiểu biết do đó nhà quản trị cần có năng lực chuyên môn tốt và khả năng quản lý với trình độ cao.  
Thu nhập: lương từ 6 - 7,5 triệu chiếm tỷ lệ 29,7%, thu nhập trên 7,5 triệu tỷ lệ cao nhất với  
45,6%. Đây là đối tượng mà các DN may thu hút và giữ chân ở mọi lúc, mọi nơi vì vậy đòn bẩy  
đãi ngộ tài chính là công cụ hữu hiệu.  
Quy mô DN: mẫu điều tra chủ yếu là các DNNVV với tỷ lệ 75,8% còn lại là các DN lớn. Tỷ  
lệ mẫu gần tương đồng so với điều tra về NLĐ và hoàn toàn phản ánh thực tế là các DN may chủ  
yếu là quy mô vừa và nhỏ.  
Loại hình DN: tập trung chủ yếu loại hình DN trong nước với 87,8%. Tỷ lệ này phù hợp với  
thực tế là các DN trong nước chiếm tỷ trọng cao trong ngành.  
Số năm thành lập: DN thành lập trên 10 năm chiếm phần lớn 73,9%, tiếp đến là DN từ 5 đến  
10 tuổi với tỉ lệ gần 20,2% phiếu, số phiếu điều tra từ DN dưới 5 năm là ít nhất với tỉ lệ 5,9%.  
Kiểm định độ tin cậy của thang đo và phân tích nhân tố khám phá EFA  
* Kiểm định độ tin cậy của thang đo  
274  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Các mức giá trị của Cronbach’s Alpha: lớn hơn 0.8 là thang đo tốt; từ 0,7 đến 0.8 là thang đo  
có thể sử dụng được (Peterson, 1994); Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ  
(nhỏ hơn 0.3); Hệ số Cronbach’s Alpha càng lớn thì độ tin cậy nhất quán càng cao( Nunally &  
Burnstein, 1994; Thọ & Trang, 2009).  
Thang đo XD: hệ số Cronbach’s Alpha = 0.765 > 0.6 điều này đảm bảo độ tin cậy. Hệ số tương  
quan biến tổng thấp nhất đạt 0.529 đều cao hơn 0.3 cho thấy tất cả các biến quan sát đều được sử  
dụng để phân EFA.  
Thang đo TK: hệ số Cronbach’s Alpha = 0.809 > 0.6 điều này đảm bảo độ tin cậy cao khi loại  
CSR10. Hệ số tương quan biến tổng thấp nhất đạt 0.527 đều cao hơn 0.3 cho thấy tất cả các biến  
quan sát đều được sử dụng để phân EFA.  
Thang đo DG: hệ số Cronbach’s Alpha = 0.755 > 0.6 điều này đảm bảo độ tin cậy. Hệ số  
tương quan biến tổng thấp nhất đạt 0.521 đều cao hơn 0.3 cho thấy tất cả các biến quan sát đều  
được sử dụng để phân EFA.  
* Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA  
Khi phân tích EFAcho thấy KMO = 0.832 > 0.5, Sig của kiểm định Bartlett’s = 0.000 đều thỏa  
mãn yêu cầu. Dữ liệu phù hợp phân tích EFA, mức ý nghĩa sig < 0.05 nên có thể nhận định rằng  
các biến quan sát có tương quan với nhau. Bảng phương sai được giải thích với các nhân tố đề xuất  
giải thích được 61,807% > 50% và Eigenvalues đạt 2,681 > 1 thỏa mãn yêu cầu.  
Bảng 1: Ma trận xoay  
Factor  
1
2
3
.750  
.735  
.732  
.580  
.576  
CSR8  
CSR5  
CSR7  
CSR6  
CSR9  
CSR3  
CSR2  
CSR1  
CSR4  
CSR11  
CSR14  
CSR13  
CSR12  
.789  
.696  
.603  
.555  
.750  
.645  
.625  
.609  
Nguồn: Kết quả từ phân tích SPSS21  
Qua kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố cho thấy còn lại 3 nhân trong đó: TK  
(CSR8, CSR5, CSR7, CSR6, CSR9); XD (CSR3, CSR2, CSR1, CSR4); DG (CSR11, CSR14,  
CSR13, CSR12).  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
275  
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA  
Kết quả CFA cho thấy Chi - bình phương = 212.334 với giá trị p = .000. Các chỉ tiêu khác:  
Chi - bình phương/df = 3.425, GFI = 0.939, TLI = 0,907, CFI = 0.926 đều cao hơn 0.9 và RMSEA  
= 0.68 < 0,08. (Steiger, 1990), điều này có thể suy ra mô hình được xem là phù hợp với dữ liệu thị  
trường. Kết quả này cho thấy các biến quan sát đều đảm bảo tính đơn hướng.  
Giá trị hội tụ: Bảng các trọng số (đã chuẩn hóa) đều > 0.5 chứng tỏ thang đo các khái niệm  
đều đạt được giá trị hội tụ.  
Giá trị phân biệt: Hệ số tương quan giữa các khái niệm nghiên cứu trong mô hình đều dương  
và < 1 và khác biệt so với 1, giá trị P-value đều rất bé và < 0,05 cho nên hệ số tương quan của từng  
cặp khái niệm khác biệt so với 1 ở độ tin cậy 95%. Do đó các khái niệm nghiên cứu trong mô hình  
này đều đã đạt được giá trị phân biệt.  
Hình 2: Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA (chuẩn hóa)  
Như vậy, kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phân tích EFA của 3 nhân tố (XD, TK, DG) cùng  
với phân tích CFA khẳng định các nội dung về quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN  
may Việt Nam được xem là phù hợp với dữ liệu thị trường, đảm bảo tính đơn hướng, giá trị hội tụ,  
giá trị phân biệt. Kết hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được cho phép đưa ra những phân tích.  
5.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động  
Xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với NLĐ như là cái “neo” để con thuyền thực hiện  
một cách thuận lợi tại các DN may. Kết quả xây dựng kế hoạch thực hiện phần nào phản ánh được  
khẳng định này với mức điểm bình quân đạt 3,02/5,0 (xem Bảng 2).  
276  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Bảng 2: Kết quả xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may  
Mức độ thực hiện  
Mã hóa  
Nội dung cụ thể  
DN lớn DNNVV  
BQ  
3,12  
3,09  
3,01  
2,87  
3,02  
CSR1 Xác định các mục tiêu thực hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR2 Nghiên cứu và lựa chọn CoC về TNXH đối với NLĐ  
CSR3 Xây dựng các chương trình TNXH đối với NLĐ  
CSR4 Xây dựng ngân sách thực hiện TNXH đối với NLĐ  
Trung bình  
3,39  
3,32  
3,28  
3,17  
3,29  
2,86  
2,85  
2,73  
2,56  
2,75  
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu  
Việc xác định các mục tiêu thực hiện - CSR1 bước đầu đã có sự coi trọng ở các DN lớn. Xác  
định mục tiêu thực hiện này được xây dựng một cách bài bản, chuyên nghiệp tại DN may quy mô  
lớn xuất khẩu hàng hóa trong thương mại quốc tế. Xác định thực hiện trước tiên là gắn với việc  
đảm bảo các mục tiêu về các quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ hay chính là thực hiện tốt luật  
pháp hiện hành đồng thời nó giúp các DN lớn đã “định vị” tương lai của DN trong hội nhập quốc  
tế bằng cách đáp ứng yêu cầu của khách hàng về các CoC: SA8000, WRAP, OHSAS 18001. Ví dụ  
như TCT may 10, Công ty Cổ phần may Sông Hồng, TCT may Đức Giang, TCT may Nhà Bè, TCT  
may Việt Tiến…đã xác định mục tiêu thực hiện một cách cụ thể để triển khai thực hiện đạt mức  
khả thi. Tuy nhiên các DNNVV đặc biệt là các DN nhỏ chưa xác định mục tiêu thực hiện TNXH  
đối với NLĐ. Qua điều tra có 65,58% (202/308) DN chưa thực hiện công tác này. Theo ông Lê  
Tiến Trường (2016): “trong tổng số các DN may có đến 90% DN đều còn ở quy mô nhỏ”. Với đặc  
trưng của các DN nhỏ với nguồn vốn ít, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, nhân lực còn mỏng nên các  
DN này còn “lúng túng” trong việc xác định mục tiêu thực hiện.  
Bảng 3: Một số DN may điển hình nghiên cứu và lựa chon SA8000  
TT  
1
Các DN may  
TCT may 10  
TCT may Đức Giang  
Công ty Cổ phần may Thắng Lợi 2002  
TCT may Hưng Yên 2002  
Năm  
2001  
2001  
TT  
8
Các DN may  
TCT may Việt Tiến  
Công ty Cổ phần may Thăng Long  
Năm  
2005  
2006  
2006  
2009  
2010  
2010  
2015  
2
9
3
10 Công ty Cổ phần may Phương Đông  
11 Công ty Cổ phần may Bình Định  
12 Công ty Cổ phần may Nam Hà  
4
5
Công ty Cổ phần may Bắc Giang 2003  
Công ty Cổ phần may Sông Hồng 2004  
6
13 Công ty Cổ phần TCT may Đồng Nai  
14 Công ty may xuất khẩu Trường Thắng  
7
TCT Cổ phần may Nhà Bè  
2005  
Nguồn: VITAS, 2017  
Nghiên cứu và lựa chọn CoC về TNXH đối với NLĐ - CSR2 là việc DN may tìm hiểu  
xem đối tác yêu cầu thực hiện Bộ CoC nào thì DN sẽ lựa chọn CoC đó. Các DN quy mô lớn  
(xem bảng 3.5) đã quan tâm công tác này để tìm cho mình con đường phát triển bền vững. Các  
CoC phổ biến nhất mà các DN may quy mô lớn lựa chọn là SA8000 sau đó đến WRAP.... Theo  
bà Alice Tepper Marlin - Chủ tịch của SAI: “các DN may lựa chọn SA 8000 tại Việt Nam có  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
277  
rất nhiều thuận lợi vì CoC này có nhiều điểm tương đồng với các văn bản pháp luật về bảo vệ  
quyền và lợi ích của NLĐ”. Nhiều DN may đã và đang tìm con đường để khẳng định vị thế,  
tầm vóc của họ trong TMQT bằng việc nghiên cứu và lựa chọn SA 8000. Tuy nhiên, có 68,18%  
(210/308) DNNVV chưa thực hiện công tác này. Lý do là các DN này chuyên sản xuất cho khách  
hàng trong nước mà khách hàng lại không yêu cầu thực hiện hay là các DN này gia công cho DN  
lớn mà không cần phải thực hiện CoC.  
Tại các DN may này, Tổng giám đốc hoặc giám đốc - người chỉ đạo TNXH đối với NLĐ các nhà  
quản lý tiến hành phác thảo chương trình thực hiện thu thập, góp ý của các bộ phận, đơn vị về chương  
trình dự thảo trên cơ sở đó thực hiện xây dựng chương trình chính thức. Đây là những nỗ lực không  
ngừng cải thiện môi trường làm việc, xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích của DN với các DN  
cụ thể như: Việt Tiến, Nhà Bè, May 10, May Phương Đông… Tuy nhiên, thực trạng mức điểm đánh  
giá thực trạng tiêu chí này còn ở mức khá lo lắng là do rất nhiều các DN may 71,11% (219/308) DN  
chủ yếu là các DN có quy mô vừa và nhỏ chưa xây dựng chương trình TNXH đối với NLĐ như là:  
số giờ làm thêm theo tháng, năm, tiền lương làm thêm, hỗ trợ nhà ở cho NLĐ....  
Nguồn: VCCI, 2016  
Hình 3: Đánh giá về ngân sách thực hiện TNXH đối với NLĐ của các DN may  
Tại các DN may quy mô lớn xây dựng ngân sách thực hiện TNXH đối với NLĐ thông thường  
là phòng kế toán, phối hợp với bộ phận đảm trách thực hiện TNXH đối với NLĐ, bộ phận phụ  
trách nhân sự để cùng tham gia vào quá trình xây dựng ngân sách này. Bắt đầu là thu thập thông tin  
về các khoản chi ngân sách về quyền và lợi ích cho NLĐ chủ yếu như chi trả tiền lương và phúc lợi,  
chi trả hoạt động chăm sóc sức khỏe, chi hoạt động văn hóa, thể thao… Các khoản cho này tại các  
DN may chưa có quỹ độc lập mà đồng nhất với quỹ lương, quỹ phúc lợi, và một số loại quỹ khác  
trong các DN may; bước tiếp theo là lập ngân sách thu được và cân đối các khoản thu chi sao cho  
phù hợp. Tuy nhiên một trong những khó khăn của nhiều DNNVV là vấn đề xây dựng ngân sách  
cho thức hiện TNXH đối với NLĐ (xem Hình 3). Theo VCCI, 2016: “có đến 79,27% DNNVV  
thiếu ngân sách thực hiện TNXH đối với NLĐ”. Đây là nguyên do các DNNVV khó khăn trong  
xây dựng ngân sách thực hiện TNXH đối với NLĐ. Bên cạnh đó các DN may chưa thực hiện kế  
toán TNXH.  
Qua lăng kính thực trạng xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với NLĐ: (i) Đối với các  
DN may quy mô lớn đã coi trọng thực hiện các nội dung từ xác định các mục tiêu đến xây dựng  
ngân sách thực hiện TNXH đối với NLĐ. Tuy nhiên trong xây dựng ngân sách các DN này chưa  
thực hiện kế toán TNXH của DN; (ii) Đối với các DNNVV gặp nhiều khó khăn trong tất cả các nội  
dung của xây dựng kế hoạch thực hiện TNXH đối với NLĐ.  
278  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
5.2. Thực trạng triển khai thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động  
Kết quả triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may là một bức tranh với hai  
khoảng sáng tối rõ rệt tại DN lớn và DNNVV (xem bảng 4). Triển khai thực hiện tại các DN may  
từ CSR5 đến CSR9 với mức điểm bình quân đạt 3,03/5,0.  
Bảng 4: Kết quả triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may Việt Nam  
Mức độ thực hiện  
Mã  
hóa  
Nội dung cụ thể  
DN lớn DNNVV  
BQ  
3,13  
3,15  
3,06  
2,84  
2,97  
3,03  
CSR5 Tổ chức bộ máy thực hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR6 Lập hồ sơ đăng ký đạt CoC về thực hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR7 Ban hành các quy định, hướng dẫn CoC về TNXH đối với NLĐ  
CSR8 Tổ chức truyền thông nội bộ thực hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR9 Tổ chức đào tạo đội ngũ nhân lực thực hiện TNXH đối với NLĐ  
Trung bình  
3,42  
3,44  
3,32  
2,97  
3,28  
3,29  
2,84  
2,85  
2,79  
2,71  
2,66  
2,77  
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu  
Các DN may quy mô lớn đã có sự quan tâm đến tổ chức bộ máy thực hiện TNXH đối với  
NLĐ - CSR5 nhưng tại DNNVV thì chưa có sự coi trọng. Có 26,29% (81/308) DN quy mô lớn có  
tổ chức bộ máy thực hiện TNXH đối với NLĐ một cách bài bản. Đây là các DN may “đi đầu” về tổ  
chức bộ máy thực hiện TNXH đối với NLĐ như TCT may 10, Công ty CP may Sông Hồng, TCT  
may Đức Giang, TCT may Nhà Bè, TCT may Việt Tiến, Công ty CP đầu tư và thương mại TNG,  
TCT may Việt Thắng là Ban cải tiến, Ban TNXH… Do tính chất, đặc trưng của công việc nên các  
DN may này đã thành lập bộ máy tổ chức thực hiện TNXH đối với NLĐ (xem Hình 4).  
Nguồn: TCT may Việt Tiến, 2017  
Hình 4: Mô hình cấu trúc tổ chức bộ máy thực hiện TNXH đối với NLĐ của TCT may Việt Tiến  
Thành viên ban này gồm 50% là đại diện các cấp quản lý trong DN, 50% là đại diện công đoàn  
và NLĐ. Ban này họp ít nhất 1 lần/tháng với các nội dung liên quan đến TNXH đảm bảo quyền và  
lợi ích cho NLĐ. Điều hành ban (Trưởng ban) là tổng giám đốc, phó tổng giám đốc (phó trưởng  
ban); Đại diện công đoàn tham gia với tư cách bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ... Đây là một tổ  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
279  
chức bộ máy nhằm tăng cường hiệu quả triển khai thực hiện trong toàn bộ DN với cấu trúc tổ chức  
bài bản, chuyên nghiệp giúp tăng cường tiếng nói của NLĐ cũng như đóng vai trò tích cực trong  
thực hiện đối thoại tại nơi làm việc có tính “dài hơi hơn” theo tinh thần Nghị định 60/2013/NĐ-CP  
cũng như tuân thủ tiêu chuẩn lao động của ILO.  
Các DN may quy mô lớn lập hồ sơ đạt CoC về TNXH đối với NLĐ - CSR6 đạt mức khá tốt còn  
các DNNVV ở mức dưới trung bình. Thực trạng cho thấy các DN lớn đã mạnh dạn đầu tư áp dụng các  
CoC - chiếc vé vào cửa của TMQT. Điều tra có 29,22% (90/308) DN may thực hiện việc lập hồ sơ đạt  
CoC về lao động. Tập trung chủ yếu là các DN lớn. Bên cạnh đó, số lượng các DN áp dụng các CoC  
về lao động SA8000, WRAP gia tăng theo các năm đến năm 2017 là 73 DN áp dụng WRAP, 87 DN áp  
dụng SA8000. Như vậy, đã có trên 160 DN may áp dụng CoC về lao động. Đây là con số còn khá khiêm  
tốn so với gần 6000 DN may. Theo chủ tịch Vinatex (20176): “cho đến hiện tại nếu đối chiếu theo  
các tiêu chuẩn của các chứng chỉ này thì phải có đến hơn 1.000 DN may đạt yêu cầu”. Việc thực hiện  
TNXH đối với NLĐ không đòi hỏi DN thực hiện một CoC nhưng việc áp dụng các CoC minh chứng  
cho việc “chuyển mình” để hội nhập của DN và đạt được yêu cầu của khách hàng đặt ra trong TMQT;  
Ban hành các quy định, hướng dẫn quy tắc ứng xử về thực hiện TNXH đối với NLĐ - CRS7  
được thực hiện hầu hết ở các DN lớn còn các DNNVV thì chưa thực hiện nội dung này. Điều này  
cho thấy các DN may quy mô lớn đã có sự quyết tâm thực hiện các CoC như: SA8000, WRAP,  
OHSAS 18001,… Ví dụ tại TCT Đức Giang, TCT may Việt Tiến, Công ty TNG đã ban hành quy  
định, hướng dẫn về bộ quy tắc ứng xử về TNXH đối với NLĐ để định hướng, thuận tiện cho quá  
trình triển khai thực hiện. Tuy nhiên tại các DNNVV việc ban hành các quy định, hướng dẫn bộ  
quy tắc ứng xử về TNXH đối với NLĐ một cách đầy đủ mà mới hô khẩu hiệu trong Slogan, triết  
lý kinh doanh, giá trị cốt lõi… của DN mà thôi.  
Tổ chức truyền thông nội bộ tại các DN may còn gặp phải một số rào cản khi thực trạng kết  
quả tiêu chí này ở mức khá thấp. Điều tra cũng cho thấy gần 80% DN còn vướng mắc ở khâu này.  
Giải đáp về những lo ngại này là: DNNVV chưa lựa chọn được những hình thức, phương tiện truyền  
thông phù hợp; các phương tiện như gửi email hoặc các hình thức như facebook, zalo, viber… chưa  
được triển khai thực hiện hoặc thực hiện nhưng chưa đạt hiệu quả. Như vậy, tổ chức truyền thông nội  
bộ thực hiện TNXH đối với NLĐ là khâu mà các DN cần có biện pháp cấp bách trong thời gian tới.  
Tại các DN may Việt Nam tổ chức đào tạo được phân thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 - đào tạo  
đội ngũ nhân lực tham gia vào bộ phận đảm trách thực hiện TNXH. Các DN may tiến hành mời  
các chuyên gia hàng đầu về TNXH đối với NLĐ của Việt Nam, khu vực và thế giới các DN mày  
đã tổ chức các lớp đào tạo về nội dung TNXH đảm bảo quyền và lợi ích của NLĐ trong các bộ quy  
tắc ứng xử như: SA8000, WRAP, hướng dẫn của ASEAN về thực hiện TNXH đối với NLĐ; Giai  
đoạn 2 - tổ chức đào tạo cho toàn bộ NLĐ còn lại trong DN. Các chuyên gia bên ngoài hoặc các  
nhà quản lý đảm trách thực hiện TNXH đối với NLĐ sẽ hướng dẫn, tuyên truyền về các CoC, các  
nội đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ kết hợp với thực hành tại các DN may.  
Ngoài ra, tổ chức triển khai các chương trình thực hiện TNXH đối với NLĐ là con đường  
ngắn nhất để biến các mục tiêu thành hiện thực. Tuy nhiên chỉ có một số DN lớn như may 10. thực  
hiện chỉ thị số 52-CT/TW ngày 09 tháng 01 năm 2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đối với  
công tác nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân, NLĐ khu công nghiệp, khu chế xuất  
May 10 triển khai chương trình điểm sinh hoạt văn hóa công nhân đặc biệt là nữ công nhân để nâng  
280  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
cao hiểu biết, trình độ văn hóa. Triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn như: phải chi trả từ  
2 - 3 tỷ đồng cho quỹ trợ cấp thất nghiệp trong khi DN lớn đang rất cần NLĐ thì họ lại “nhảy việc”  
từ DN này sang DN khác hoặc đa số các DNNVV chưa xây dựng mục tiêu thực hiện, tài chính eo  
hẹp, truyền thông nội bộ của còn hạn chế, số lượng lao động lớn, lao động chủ yếu là nữ làm việc  
theo tổ, dây truyền, theo ca nên gây ra nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện.  
Nhìn lại toàn bộ thực trạng triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may: (i) Đối  
với các DN may quy mô lớn đã coi trọng triển khai thực hiện từ tổ chức bộ may đến triển khai các  
chương trình thực hiện TNXH đối với NLĐ. Song tổ chức truyền thông nội bộ là vấn đề còn gặp  
khó khăn; (ii) Đối với các DNNVV vẫn chưa thực hiện cũng như gặp nhiều khó khăn trong tất cả  
các nội dung của triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ.  
5.3. Thực trạng đánh giá thực hiện thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động  
Đánh giá thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may để đo lường và chấn chỉnh nhằm đạt  
được các mục tiêu đề ra. Kết quả điều tra thực trạng từ CSR 11 - CSR14 còn hạn chế khi mới dừng  
lại ở mức điểm bình quân là 2,94/5,0 (xem Bảng 5).  
Bảng 5: Kết quả đánh giá thực hiện TNXH đối với NLĐ của các DN may  
Mức độ thực hiện  
DN lớn DNNVV  
Mã hóa  
Nội dung cụ thể  
BQ  
2,98  
2,95  
2,92  
2,93  
2,94  
CSR11 Xác định các tiêu chuẩn đánh giá thực hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR12 Đo lường các kết quả chủ yếu của thực hiện TNXH đối với NLĐ  
CSR13 Thực hiện các hành động khắc phục và ngăn ngừa  
CSR14 Truyền thông báo cáo thực hiện TNXH đối với NLĐ  
Trung bình  
3,20  
3,18  
3,15  
3,11  
3,16  
2,77  
2,73  
2,68  
2,71  
2,72  
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu  
Các DN may quy mô lớn dần chăm chút cho xác định tiêu chuẩn đánh giá thực hiện TNXH  
đối với NLĐ - CSR11 nhưng các DNNVV thì yếu kém. Qua điều tra có 26,29% (81/308) DN quy  
mô lớn thực hiện khá tốt xác định các tiêu chuẩn đánh giá về TNXH đảm bảo quyền và lợi ích liên  
quan đến hợp đồng lao động, giờ làm việc, ATVSLĐ và sức khỏe nghề nghiệp, lương và phúc lợi,  
tự do hiệp hội và thương lượng tập thể. Mặt khác các DNNVV chưa xây dựng các tiêu chuẩn đánh  
giá. Nguyên nhân theo Ông Lê Tiến Trường (2016) là: “hiện nay có quá nhiều CoC về TNXH đảm  
bảo quyền và lợi ích cho NLĐ và việc thực hiện cùng một lúc dường như là gánh nặng của các  
DNNVV” và do không xác định mục tiêu thực hiện TNXH đối với NLĐ.  
Các DN lớn đã đo lường các kết quả chủ yếu còn các DNNVV có vướng mắc trong việc đo  
lường các kết quả chủ yếu của thực hiện TNXH đối với NLĐ - CSR12. Tại các DN lớn đảm trách  
công việc đo lường các kết quả chủ yếu của thực hiện TNXH đối với NLĐ là Tổng giám đốc, phó  
tổng giám đốc, giám đốc, các phó giám đốc cùng với ban cải tiến và các bộ phận phòng ban khác.  
Tại một số DN lớn công tác đo lường, kiểm tra diễn ra trước, trong và sau triển khai thực hiện  
TNXH đối với NLĐ. Một số phương pháp đo lường chủ yếu (xem Bảng 6). Bên cạnh đó qua điều  
tra cho thấy có 73,70% (227/308) DN may tập trung chủ yếu các DNNVV. Đây là một con số đáng  
báo động để các DN may có thể thực hiện tốt TNXH đối với NLĐ cũng như để chuyển quá trình  
thực hiện TNXH đối với NLĐ từ bị động sang chủ động.  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
281  
Bảng 6: Một số phương pháp đo lường thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may  
TT Một số phương pháp đo lường  
Căn cứ để đo lường  
1
Bảng tổng hợp về sản xuất, lao động (số lượng, độ tuổi, trình độ  
học vấn); Bảng tổng hợp công tác lương, thưởng; Một số chính sách  
mới đối với NLĐ của năm; Chính sách về ATVSLĐ, sức khỏe nghề  
nghiệp; Chính sách lương, thưởng; Các chế độ phúc lợi…  
Phân tích dữ liệu thống kê  
2
3
Quan sát trực tiếp và tiếp xúc cá nhân Hệ thống thẻ từ, hệ thống camera theo dõi, máy soi…  
Kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch về lộ trình tăng lương,  
Đo lường kết quả bằng dữ liệu thưởng; Chiến lược về lao động và TNXH đối với NLĐ; Tình hình  
báo trước  
thực hiện giai đoạn trước (tuần, tháng, năm) về: HĐLĐ, giờ làm  
việc, lương và phúc lợi, ATVSLĐ…  
Nguồn: Tổng hợp từ VITAS, 2017  
Thực hiện hành động khắc phục và ngăn ngừa khá bị động và chưa thấu đáo nên hiệu quả thu  
được chưa cao tại các DN may. Thực trạng ý kiến điều tra mức điểm bình quân là 2,86/5,0. Chỉ có  
một số ít các DN may có quy mô lớn như may Nhà Bè, May Việt Tiến, May 10 thực hiện tốt các  
hành động khắc phục và ngăn ngừa. DN đã tiến hành điều chỉnh chương trình hành động như tại  
May 10 sau khi đo lường thấy hệ hạ tầng thông tin còn chưa hiện đại gây trở ngại cho việc thu thập,  
xử lý thông tin hay mức lương của NLĐ chưa đạt được kế hoạch ban đầu là tăng 8,6% trong năm  
2016 do năng suất LĐ chưa đạt kế hoạch ban đầu, bộ phận đảm trách liên quan đã tổ chức “Ngày  
hội ý tưởng” là một cách làm hữu ích để mọi ý tưởng sáng tạo của NLĐ được nhân rộng. Các sáng  
kiến cải tiến hữu ích của NLĐ được áp dụng thử nghiệm ngay lập tức và sau đó nhân rộng ra toàn  
DN cụ thể như khi chuyển đổi sản phẩm sơ mi và quần phải mất từ 1 - 2 ngày nhưng nay chỉ cần  
1- 2 giờ; Veston, Jacket phải mất 3 - 4 ngày, nay chỉ mất 8 giờ. Do đó năng suất đảm bảo đạt như  
mục tiêu đề ra. Mặc dù vậy, điều tra cho thấy có 81,49% (251/308) DN may chưa thực hiện hành  
động này chủ yếu là các DN có quy mô vừa và nhỏ do thiếu nguồn lực tài chính, bộ máy triển khai  
thực hiện TNXH đối với NLĐ kiêm nhiệm nhiều công việc.  
Bức tranh thực trạng đánh giá thực hiện TNXH đối với NLĐ cho thấy: (i) Đối với các DN  
may quy mô lớn đã coi trọng từ xác định các tiêu chuẩn đánh giá đến thực hiện các hành động khắc  
phục và ngăn ngừa. Tuy vậy, xây dựng báo cáo truyền thông thực hiện còn khá lơ là; (ii) Đối với  
các DNNVV thì bất cập ở trong toàn bộ các nội dung của đánh giá thực hiện TNXH đối với NLĐ.  
6. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH  
HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
Nguồn: Tổng hợp và phát triển từ [8], [9], [11]  
Hình 5: Đề xuất quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ của các DN may  
282  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Muốn thực hiện TNXH đối với NLĐ của các DN may Việt Nam đạt kết quả tốt cần phải có  
quá trình thực hiện một cách bài bản, thống nhất và khoa học với các khâu: hoạch định thực hiện  
TNXH đối với NLĐ, triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ, kiểm soát thực hiện TNXH đối với  
NLĐ. Bên cạnh đó, Hohnen, P (2007), Niklas Hermansson và Ola Olofsson (2008) đã phát triển  
quá trình thực hiện TNXH với truyền thông thực hiện TNXH là một phần quan trọng trong tất  
cả các bước thực hiện TNXH của doanh nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất quá trình thực hiện  
TNXH đối với NLĐ của các DN may Việt Nam (xem Hình 5); Các giải pháp đề xuất trong tăng  
cường thực hiện TNXH đối với NLĐ nhằm phát huy tối ưu các khâu đã thực hiện tốt ở các DN lớn.  
Trong đó đáng chú ý là khắc phục hạn chế trong: kế toán thực hiện TNXH của DN, tổ chức truyền  
thông và xây dựng báo cáo truyền thông thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN lớn. Cùng với  
đó các DNNVV muốn vượt qua được những khó khăn hiện tại “vươn mình” đón lấy những cơ hội  
phát triển trong hội nhập quốc tế thì cần thực hiện quyết liệt hệ thống các giải pháp từ hoạch định  
thực hiện đến kiểm soát thực hiện. Các giải pháp đó là:  
(i) Chủ động thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động  
Để công tác triển khai và kiểm soát thực hiện TNXH đối với NLĐ của các DN may không  
phải loay hoay hay trong tình trạng thụ động, ứng phó thì lãnh đạo các DN may cần coi hoạch định  
thực hiện có vị trí trung tâm trong quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ.  
Thiết lập mục tiêu thực hiện TNXH đối với NLĐ: Tại các DN may trong ngắn hạn do nhu cầu  
sản xuất với số lượng lớn khi có đơn hàng gấp một số DN huy động thêm lao động thời vụ hoặc  
ký các hợp đồng ngắn hạn với NLĐ nên việc thực hiện TNXH đảm bảo quyền của NLĐ như tiền  
lương tối thiểu, thời gian làm việc đúng quy định của PLLĐ... Mục tiêu trung và dài hạn về TNXH  
đảm bảo quyền và lợi ích của NLĐ như: tiền lương tối thiểu, tiền lương cạnh tranh, hỗ trợ nhà ở…  
Việc nghiên cứu và lựa chọn quy tắc ứng xử về TNXH đối với NLĐ tại các DN may vẫn căn  
cứ chủ yếu vào yêu cầu của KH. Lựa chọn các CoC về lao động tại các tổ chức chứng nhận cần  
xem xét: danh tiếng của tổ chức, chi phí đánh giá chứng nhận, chất lượng của tổ chức chứng nhận.  
Các DN may cần chủ động xây dựng các chương trình thực hiện TNXH đối với NLĐ để đạt  
được mục tiêu đã đề ra. Đối với các DNNVV nên lựa chọn phương thức xây dựng chương trình  
từ trên xuống. Đối với những DN có quy mô lớn việc xây dựng chương trình thực hiện TNXH đối  
với NLĐ nên sử dụng kết hợp cả 2 phương cách cả tức là lãnh đạo tại các DN may Việt Nam vừa  
dựa vào mục tiêu thực hiện TNXH đối với NLĐ của DN để xây dựng chương trình.  
Các DN may cần quan tâm đến vấn đề tài chính DN trong thực hiện TNXH đối với NLĐ. Đây  
là “trung tâm lợi nhuận” chứ không phải là “trung tâm chi phí” để từ đó tiến tới hoàn thiện quy  
trình hoạch định ngân sách thực hiện TNXH đối với NLĐ một cách “chủ động” theo ba bước đó  
là: chuẩn bị hoạch định ngân sách, soạn thảo ngân sách và giám sát việc thực hiện ngân sách, quy  
trình này chắc chắn sẽ phù hợp với thực tế thực hiện TNXH đối với NLĐ của các DN may. Bên  
cạnh đó cần tăng cường thực hiện kế toán TNXH tại các DN may Việt Nam.  
(ii) Huy động các nguồn lực triển khai thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động  
Triển khai TNXH đối với NLĐ của các DN may có vai trò quan trọng trong việc thực hiện hóa  
mục tiêu thực hiện TNXH đối với NLĐ đã được xây dựng. Do vậy, lãnh đạo DN và các bộ phận  
liên quan cần tập trung mọi nguồn lực con người, tài chính, thông tin… để triển khai cần:  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
283  
Tổ chức bộ máy nhân lực thực hiện: Đối với DNNVV nên tích hợp trong các bộ phận, phòng  
ban có liên quan đến các đối tượng thực hiện TNXH đối với NLĐ trong bộ phận Hành chính -  
Nhân sự. Đối với các DN may có quy mô lớn cần có sự tập trung cao thành lập Ban TNXH, Ban  
tư vấn & cải tiến hay Ban phát triển bền vững.  
Lập hồ sơ đăng ký đạt và ban hành các quy định, hướng dẫn bộ quy tắc ứng xử về TNXH đối  
với NLĐ. Theo đó, DN cân nhắc lựa chọn áp dụng các CoC xử phù hợp với yêu cầu của KH đặt  
ra trong TMQT đồng thời có những hướng dẫn, quy định về vận hành các CoC: SA8000, WRAP,  
OHSAS 18001,... khả thi, linh hoạt và hợp lý. Bên cạnh đó, DN phải thường xuyên tiến hành đánh  
giá nội bộ định kỳ để tìm ra những điểm không phù hợp để cải tiến liên tục hệ thống.  
Chiến lược truyền thông nội bộ minh bạch, đa chiều trong hoạch định chiến lược tại các DN  
may là yếu tố quyết định đến thành công của công tác này để đạt các CoC về LĐ do KH đặt ra  
trong TMQT. Nâng cao hiệu quả sử dụng mạng xã hội trong truyền thông nội bộ thực hiện TNXH  
đối với NLĐ, có thể kể đến: facebook, zalo, viber… hay các bản tin điện tử, hội nghị NLĐ trực  
truyến, giao tiếp lưu trực tuyến.  
Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân lực thực hiện TNXH đối với NLĐ: Đối với nhóm 1 là những  
nhân lực cốt cán tham gia vào đảm trách tổ chức thực hiện TNXH đối với NLĐ cần phải mời các  
chuyên gia hàng đầu để thường xuyên đào tạo để cập nhật nội dung về các CoC mà KH đặt ra trong  
TMQT. Bên cạnh đó cần hoàn thiện các hình thức đào tạo cho nhóm 2 là nhóm toàn bộ NLĐ với  
các hình thức đào tạo, hướng dẫn trực tiếp, kèm cặp, bắt tay chỉ việc…  
Tổ chức triển khai thực hiện TNXH đối với NLĐ cần phải đồng bộ, huy động mọi nguồn lực  
triển khai cho các chương trình TNXH đối với NLĐ cụ thể để đạt được mục tiêu đề ra và khâu  
hoạch định thực hiện TNXH đối với NLĐ ban đầu.  
(iii) Chủ động kiểm soát thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động  
Tùy vào loại hình hoạt động mục tiêu và quy mô của tổ chức mà khâu kiểm soát thực hiện  
TNXH đối với NLĐ được sử dụng khác nhau, nhưng để thực hiện TNXH đối với NLĐ đạt hiệu  
quả thì khâu này cần chú trọng đến một số nội dung:  
Thiết lập tiêu chuẩn kiểm soát thực hiện TNXH đối với NLĐ: tại các DN may tiêu chuẩn này  
có khuynh hướng: các tiêu chuẩn định lượng như số lượng hợp đồng lao động được ký kết đúng  
loại, tỷ lệ NLĐ được trang bị bảo hộ LĐ, số lượng NLĐ tham gia vào chương trình văn hóa, văn  
nghệ…; các tiêu chuẩn định tính gồm mức độ tuân thủ về thời gian làm việc nghỉ lễ, nghỉ phép,  
mức độ hài lòng của NLĐ về bữa ăn dinh dưỡng, hợp vệ sinh, tinh thần tham gia vào đối thoại xã  
hội, thương lượng tập thể của NLĐ.  
Trong kiểm soát thực hiện TNXH đối với NLĐ các DN may cần xem xét sự phù hợp của các  
kết quả với các tiêu chuẩn định lượng và định tính ở bước đầu. Trên cơ sở đó các DN may có thể  
đánh giá: nếu thực hiện diễn ra theo đúng kế hoạch thì DN không cần phải điều chỉnh còn nếu kết  
quả thực hiện này không phù hợp với tiêu chuẩn thì DN cần có hành động điều chỉnh, khắc phục  
để đạt được mục tiêu đề ra. Lúc này nhà quản trị phải tiến hành phân tích các nguyên nhân của sự  
sai lệch về thực hiện TNXH đối với NLĐ và hậu quả của nó với DN để đi tới kết luận xây dựng  
chương trình điều chỉnh thực hiện TNXH đối với NLĐ có chất lượng.  
284  
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Thực hiện các hành động khắc phục và ngăn ngừa cần trả lời các câu hỏi: Mục tiêu của khắc  
phục và ngăn ngừa? Nội dung khắc phục và ngăn ngừa? Ai tiến hành khắc phục và ngăn ngừa?  
Sử dụng những biện pháp, công cụ nào để khắc phục và ngăn ngừa? Thời gian khắc phục và ngăn  
ngừa? Quyết định khắc phục và ngăn ngừa cần chính xác và kịp thời để uốn nắn những sai lệch  
giữa kết quả đạt được và mục tiêu đề ra.  
Xây dựng bản báo cáo và truyền thông kết quả thực hiện TNXH đối với NLĐ để đo lường, ghi  
nhận và công bố các mục tiêu, trách nhiệm của DN đáp ứng yêu cầu của KH đặt ra trong TMQT.  
DN có thể xây dựng hệ thống báo cáo TNXH, báo cáo phát triển bền vững với quy trình: Xác định  
tầm nhìn và cam kết của DN đối với hiệu quả hoạt động và báo cáo; Thành lập nhóm công tác để  
lập kế hoạch và chuẩn bị cho báo cáo; Phân tích vị thế hiện tại của DN để đáp ứng yêu cầu của  
KH đặt ra trong TMQT; Tham vấn các bên liên quan; Xác định các vấn đề quan trọng nhất cần báo  
cáo; Tổng hợp bản báo cáo.  
7. KẾT LUẬN  
Ngày càng có nhiều các DN may Việt Nam thực hiện TNXH đối với NLĐ trong hội nhập kinh  
tế quốc tế để đáp ứng yêu cầu của khách hàng đặt ra. Trong đó, quá trình thực hiện TNXH đối với  
NLĐ đã đem lại nhiều thuận lợi, tạo thế chủ động cho các DN may trong thương mại quốc tế, tạo  
dựng môi trường làm việc tốt, thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu của  
khách hàng quốc tế, tao dựng hình ảnh, uy tín, thương hiệu trong quan hệ với khách hàng, các đối  
tác cũng như tạo ưu thế trong cạnh tranh trong kinh doanh thương mại. Nghiên cứu đã phân tích  
EFA, CFA để thấy được sự phù hợp của quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ tại các DN may  
Việt Nam với dữ liệu thị trường. Từ đó phân tích bức tranh thực trạng thực hiện TNXH đối với  
NLĐ của các DN may Việt Nam cũng như gợi ý một số giải pháp để các DN may tăng thực hiện  
TNXH đối với NLĐ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng đặt ra trong thương mại quốc tế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO:  
1.  
2.  
3.  
4.  
5.  
6.  
7.  
8.  
Phạm Công Đoàn (2008), Đẩy mạnh việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp dệt may và da giày  
Việt Nam trong điều kiện hội nhập, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đại học Thương mại.  
Bùi Thị Thu Hương, (2018), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Thái Nguyên  
đối với người lao động, Luận án tiến sĩ kinh tế.  
ILO & IFC, chương trình làm việc tốt hơn, Báo cáo tuân thủ trong ngành may mặc, lần 6, 7, 8,9 từ năm 2011-  
2017.  
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Nhàn (2015), “Thực hiện TNXH tại các DN chế biến, xuất khẩu thuỷ sản đồng bằng  
sông Cửu Long”, Đề tài cấp Bộ.  
Nguyễn Ngọc Thắng, (2015), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sách chuyên khảo, NXB Đại học Quốc gia  
Hà Nội.  
Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang (2011), Nghiên cứu khoa học Marketing-ứng dụng mô hình SEM,  
NXB Lao động.  
Academy of Management Journal - AMJ, (2016), Corporate social responsibility an overview and new research  
directions. AMJ vol 59, No, 534 - 544.  
Hohnen, P. (2007), “Corporate Social Responsibility - An implementation Guide for Business”, International  
Institute for Sustainable Development.  
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
285  
9.  
Jan Jonker & Marco de Witte, (2006), “Management models for corporate social responsibility”; ISBN- 13  
987-3-540-33246-6 Springer Berlin Heidelberg New York.  
10. Maignan I., Ferrell O. C., & Ferrell L, (2005), A Stakeholder Model for Implementing Social Responsibility in  
Marketing, European Journal of Marketing, 39 (9/10).  
11. Niklas Hermansson và Ola Olofsson, 2008, “The CSR Implementation process”, International Business and  
Economics Program Bachelor dissertation FE6131.  
12. Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994) Psychometric theory (3rd ed.). New York, NY: McGraw-Hill, Inc.  
13. Panapanaan, et al (2003), “Roadmapping Corporate Social Responsibility in Finnish Companies” . Journal of  
Business Ethics, 44 (2).  
14. Peterson, R. A. (1994). A meta-analysis of Cronbach’s coefficient alpha. Journal of Consumer Research, 21,  
381–391.  
15. Werre, M. (2003) Implementing Corporate Responsibility -The Chiquita Case, Journal of Business Ethics, 44(2).  
16. Các website:  
pdf 19 trang Thùy Anh 20880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động tại các doanh nghiệp may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_hien_trach_nhiem_xa_hoi_doi_voi_nguoi_lao_dong_tai_cac.pdf