Mối quan hệ giữa quản lý tri thức, đổi mới, và hiệu quả tổ chức: Nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 45  
Mối quan hệ giữa quản lý tri thức, đổi mới, và hiệu quả tổ chức:  
Nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam  
Relationship between knowledge management, innovation and  
organization performance: An empirical study in Vietnamese small and  
medium-sized enterprises  
Phạm Anh Tuấn1*, Phạm Quốc Trung2  
1Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp.HCM, Việt Nam  
2Trường Đại học Bách khoa Tp. HCM, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: t[email protected].vn  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi.16.2.614.2021  
Nghiên Cứu (NC) này dựa trên mô hình NC của Valdez-  
Juárez, García-Pérez de Lema, và Maldonado-Guzmán (2016) và  
các lý thuyết có liên quan nhằm mục đính xem xét mối quan hệ  
giữa Quản Lý Tri Thức (QLTT), đổi mới và Hiệu Quả Tổ Chức  
(HQTC) trong các Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ (DNVVN) tại  
Việt Nam (VN). Bảng câu hỏi khảo sát được gởi tới các nhà quản  
lý đã và đang làm việc tại các DNVVN thuộc các lĩnh vực xây  
dựng, thương mại, dịch vụ, và sản xuất. Dữ liệu thu về được phân  
tích bằng phần mềm SPSS v20 và AMOS v22. Kết quả cho thấy  
các yếu tố Đào tạo nhân viên, Chiến lược và chính sách của  
Doanh Nghiệp (DN), Thu nhận tri thức của nhân viên, và Văn  
Hóa Tổ Chức (VHTC) là có ảnh hưởng tích cực đến sự đổi mới  
và sự đổi mới có ảnh hưởng tích cực đến HQTC. Từ kết quả của  
NC này, NC cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp các  
DNVVN áp dụng QLTT một cách hiệu quả, từ đó, nâng cao năng  
lực đổi mới và cải thiện HQTC.  
Ngày nhận: 11/08/2020  
Ngày nhận lại: 20/09/2020  
Duyệt đăng: 20/11/2020  
Từ khóa:  
doanh nghiệp vừa và nhỏ, đổi  
mới, hiệu quả tổ chức, quản lý tri  
thức  
ABSTRACT  
This study is based on the research model of Valdez-Juárez,  
García-Pérez de Lema, and Maldonado-Guzmán (2016) and  
related theories aim to examine the relationship between knowledge  
management, innovation and organizational performance in  
Vietnamese SMEs. The results show that factors of employee  
training, corporate strategy and policy, acquiring employee's  
knowledge, and organizational culture have a positive impact on  
innovation and innovation has a positive impact on organizational  
performance. From the results of this study, the study also proposes  
a number of recommendations to help SMEs effectively apply  
knowledge management, thereby improving their capacity to  
innovate and improve organizational performance.  
Keywords:  
small and medium-sized  
enterprise, innovation,  
organization performance,  
knowledge management  
46  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
1. Giới thiệu  
Tri thức được coi là một cách tiếp cận chiến lược trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh  
(Asgarian, 2012). Mặt khác, tri thức có thể là một yếu tố thuận lợi trong việc tạo ra giá trị (Chen,  
Lin, & Chang, 2009). Tuy nhiên, tri thức đơn thuần không thể cung cấp những lợi thế nêu trên và  
cần phải được quản lý. QLTT được đề cập đến như là một nhu cầu cơ bản trong thời đại ngày nay.  
Trong đó, QLTT là công cụ giúp cho các DN hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là hỗ trợ cho sự đổi  
mới (Paez-Logreira, Zamora-Musa, & Velez-Zapata, 2016). Sự đổi mới đóng vai trò quan trọng  
trong việc cung cấp các cơ hội để phát triển và vượt qua các đối thủ của nó. QLTT chính là vũ khí  
quan trọng để duy trì lợi thế cạnh tranh và nâng cao HQTC (Pannu, 2017). QLTT hiệu quả ảnh  
hưởng tích cực đến khả năng cạnh tranh của tổ chức và sự đổi mới dẫn đến việc cải thiện HQTC  
(Torabi & El-Den, 2017).  
Như chúng ta đã biết, DNVVN chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số các DN và đóng vai trò  
quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới, là  
động lực tăng trưởng, là xương sống của nền kinh tế, và chính là động lực của sự đổi mới. Tại Việt  
Nam (VN), theo kết quả điều tra của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia về hoạt  
động đổi mới sáng tạo trong các DN. Kết quả cho thấy, hoạt động đổi mới sáng tạo trong các DN  
nói chung vẫn còn hạn chế, trong khi đó, số lượng DNVVN chiếm hơn 98% tổng số DN, đóng  
góp hơn 50% vào tổng GDP và thuê khoảng 77% tổng lực lượng lao động. Trong bối cảnh QLTT,  
các DNVVN đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như sự lãng phí tri thức do tỷ lệ thay đổi nhân  
viên cao, khả năng chia sẻ tri thức trong nhân viên thấp, khó thu hút được những người có tay nghề  
cao vì không chú trọng đến chế độ đãi ngộ nhân tài, không có cơ chế đào tạo nhân viên, không chú  
trọng đến việc NC và phát triển do hạn chế về mặt tài chính, thiếu nhân lực, công nghệ lạc hậu,  
quản lý yếu kém, năng lực cạnh tranh yếu, ít đổi mới, và chưa sẵn sàng cho việc hội nhập (Pham,  
2016). Bên cạnh đó, khả năng đổi mới của các DNVVN ở VN khá thấp và tác động thực sự của  
các quá trình QLTT đến hiệu quả đổi mới của các DNVVN VN không được đo lường và xác nhận  
rõ ràng (Pham & Le, 2018). Điều này đặt ra một thách thức đặc biệt khó khăn đối với các DNVVN  
vì họ thường thiếu các nguồn lực cần thiết để sử dụng toàn bộ kho tri thức của mình.  
Mặc dù QLTT đã được NC nhiều nhưng chủ yếu tập trung vào các DN lớn (Roxas, Battisti,  
& Deakins, 2014). Bên cạnh đó, ở hầu hết các DNVVN không có QLTT có hệ thống (Wong &  
Aspinwall, 2005) và nếu có thì việc thực hiện có thể được coi là kém hiệu quả (Durst &  
Edvardsson, 2012). Điều này chứng tỏ, lợi ích của QLTT chưa được các DNVVN khai thác triệt  
để, chủ đề về QLTT trong các DNVVN là một trong các chủ đề quan trọng nhưng chưa nhận được  
sự quan tâm đúng mức và việc triển khai thành công QLTT trong các DNVVN rất ít được đề cập  
đến trong các NC trước (Cantú, Criado, & Criado, 2009; Evangelista, Esposito, Lauro, & Raffa,  
2010; Serenko, 2013). Hơn thế nữa, các chủ đề về nhận dạng tri thức, lưu trữ tri thức và sử dụng  
tri thức là rất hiếm, các NC thực nghiệm hiện tại chỉ cung cấp những hiểu biết rời rạc về QLTT  
trong các DNVVN (Durst & Edvardsson, 2012). Mặt khác, QLTT là yếu tố dự báo quan trọng về  
sự đổi mới và HQTC nhưng chưa được NC đầy đủ, đặc biệt hơn là thiếu các NC về QLTT ở các  
nước đang phát triển và cần phải hiểu tác động của thực tiễn và khả năng QLTT trong bối cảnh  
của các nước đang phát triển (Rashdi, Akmal, & Al-shami, 2019) như VN.  
Mục tiêu của NC này là phân tích thực nghiệm các mối quan hệ giữa QLTT, sự đổi mới và  
HQTC trong các DNVVN tại VN. Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu như hiện nay, điều quan  
trọng là các DNVVN áp dụng QLTT một cách hiệu quả, từ đó, nâng cao năng lực đổi mới và cải  
thiện HQTC. Do đó, NC này nhằm mục đích trả lời hai câu hỏi sau: Có hay không tác động trực  
tiếp của QLTT đến sự đổi mới trong các DNVVN? và (2) Liệu sự đổi mới có ảnh hưởng đến  
HQTC trong các DNVVN không?  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 47  
Cấu trúc của bài viết được tổ chức như sau: (1) Giới thiệu, (2) Cơ sở lý thuyết và mô hình  
NC; (3) Phương pháp NC; (4) Kết quả NC; (5) Thảo luận kết quả NC; và cuối cùng, (6) Kết luận.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Tri thức (Knowledge)  
Là “niềm tin được minh chứng là đúng” (Nonaka & Takeuchi, 1995). Sự tiến hóa của nhận  
thức luận khoa học đã hình thành cấu trúc thứ bậc từ dữ liệu => thông tin => tri thức, theo 2 chiều  
hướng: sự hiểu biết, và sự độc lập với ngữ cảnh (Serban & Luan, 2002). Polanyi (1966) đã phân  
loại tri thức thành hai loại: (1) tri thức ẩn (tacit) trong đầu con người, khó nắm bắt, và (2) tri thức  
hiện (explicit) có thể biểu diễn, nắm bắt dễ dàng. Trong bối cảnh DNVVN dường như kém tiến bộ  
về xây dựng tri thức, có cách tiếp cận máy móc hơn đối với khái niệm này, ít dựa vào tương tác  
xã hội, việc lập kế hoạch và ra quyết định chỉ tập trung vào một người quản lý chủ sở hữu (Durst  
& Edvardsson, 2012).  
2.1.2. Quản lý tri thức (Knowledge management)  
QLTT được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau do tính đa chiều của nó (Darroch, 2003).  
Xác định QLTT là việc xác định và phân tích các tri thức có sẵn và cần thiết để đạt được các mục  
tiêu của tổ chức (Chawla & Joshi, 2010). Theo Cohen và Levinthal (2000), QLTT làm tăng năng  
lực hấp thụ của nhân viên để trở nên sáng tạo hơn. QLTT là cách tiếp cận hệ thống để thu thập,  
chia sẻ, và sử dụng tri thức trong quy trình để cải thiện HQTC (Augier & Teece, 2009). Thực tiễn  
QLTT được đo bởi bốn chiều hướng, gồm: (1) đào tạo; (2) chiến lược và chính sách; (3) thu nhận  
tri thức; và (4) VHTC (Bozbura, 2007). Từ các lý thuyết trên, NC này sẽ xem xét đào tạo, thu nhận  
tri thức, chiến lược và chính sách, và VHTC là các yếu tố cấu thành của QLTT.  
2.1.3. Đổi mới (Innovation)  
Đổi mới được định nghĩa là “tạo ra tri thức và ý tưởng mới để tạo thuận lợi cho các kết quả  
kinh doanh mới, nhằm cải thiện các quy trình và cấu trúc kinh doanh nội bộ và tạo ra các sản phẩm  
và dịch vụ theo định hướng thị trường” (Plessis, 2007). Thuật ngữ đổi mới thường bao gồm ba loại  
đổi mới: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình và đổi mới tổ chức (Halila & Rundquist, 2011). Các  
nhà quản lý các DN nhỏ có trình độ học vấn cao tập trung chủ yếu vào đổi mới sản phẩm, trong  
khi các nhà quản lý của các DNVVN tập trung vào sản phẩm, dịch vụ và các quy trình (Chen &  
Huang, 2012). Trong NC này, sẽ xem xét hai loại đổi mới là đổi mới sản phẩm, dịch vụ và đổi mới  
quy trình.  
Đổi mới sản phẩm được định nghĩa là những thay đổi hoặc tính mới được giới thiệu trong  
sản phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng, trong khi đổi mới quy trình đề cập đến tính mới được giới thiệu  
trong phương pháp hoặc quy trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ (Kim, Kumar, & Kumar, 2012).  
2.1.4. Hiệu quả tổ chức (Organizational performance)  
HQTC thường được đo lường bằng đầu ra thực tế hoặc kết quả của tổ chức so với đầu ra  
dự định của nó. Thước đo hiệu quả của DN có thể bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế.  
Có một sự khác biệt giữa lợi nhuận và hiệu quả, phụ thuộc vào điều kiện thị trường và mục tiêu  
mà các nhà quản lý theo đuổi. Điều đó có nghĩa là hiệu quả cao hơn có thể không nhất thiết chuyển  
thành lợi nhuận cao hơn. Trong bối cảnh tổ chức, hiệu quả có thể liên kết với tăng trưởng thông  
qua cải thiện hiệu quả, năng suất, chất lượng, thị phần, ... (Pannu, 2017).  
48  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
2.1.5. Doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and medium-sized enterprises)  
Theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP, DNVVN là tên gọi tắt của DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa được  
đánh giá theo các tiêu chí sau: số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, và tổng doanh  
thu của năm hoặc tổng nguồn vốn. Trong đó, DN siêu nhỏ có số lao động không quá 10 người và  
tổng nguồn vốn không quá 03 tỷ đồng; DN nhỏ có số lao động không quá 50 người và tổng nguồn  
vốn không quá 50 tỷ đồng (thương mại, dịch vụ) hoặc không quá 100 người và không quá 20 tỷ  
đồng (các lĩnh vực khác); và DN vừa có số lao động không quá 100 người và tổng nguồn vốn  
không quá 100 tỷ đồng (thương mại, dịch vụ) hoặc không quá 200 người và không quá 100 tỷ  
đồng (các lĩnh vực khác).  
2.2. Giả thuyết NC  
Qua tham khảo các NC trước của Cohen và Levinthal (2000), Augier và Teece (2009),  
Bozbura (2007), và Valdez-Juárez và cộng sự (2016) về mối quan hệ giữa QLTT, đổi mới, và  
HQTC, mô hình Valdez-Juárez và cộng sự (2016) được kế thừa và áp dụng vì các lý do sau:  
- Mô hình của Valdez-Juárez và cộng sự (2016) bao hàm các yếu tố của các NC còn lại.  
- Chủ đề NC về QLTT, đổi mới, và hiệu quả là phù hợp với vấn đề của NC này.  
- Phù hợp với loại hình DN là các DNVVN, tuy NC trước thực hiện ở Tây Ban Nha, nhưng  
mô hình và thang đo có thể áp dụng cho DNVVN ở VN. Kết quả NC có thể tìm thấy sự khác biệt  
trong các DNVVN ở hai quốc gia có mức độ phát triển khác nhau.  
- Ngoài ra, NC trước tập trung vào đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình để cải thiện hiệu  
quả kinh doanh (Byukusenge, Munene, & Orobia, 2016) cũng tương đồng với phạm vi đổi mới  
của NC này.  
2.2.1. Mối quan hệ giữa đào tạo và sự đổi mới  
Việc cập nhật các kỹ năng, tri thức mới cho nhân viên sẽ giúp cho họ có thể áp dụng thành  
công các thay đổi trong công việc và đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người  
lao động. Tri thức có thể được tạo ra bằng cách đầu tư vào NC, đào tạo, phát triển, sáng tạo, chuyển  
giao, biến đổi, và ứng dụng tri thức (Nikabadi, Bagheri, & Mohammadi-Hoseini, 2016). Đào tạo  
nhân viên nhằm cải thiện kỹ năng của họ, cho phép họ thực hiện các nhiệm vụ phức tạp hơn và  
hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn hoặc nhanh hơn. Sáng tạo tri thức thông qua học tập và đào tạo và tri  
thức được tạo ra có thể được áp dụng cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình kinh doanh mới  
(Abubakar, Elrehail, Alatailat, & Elçi, 2017). Từ đó, giả thuyết H1 được phát biểu như sau:  
H1: Đào tạo nhân viên có tác động dương lên sự đổi mới  
2.2.2. Mối quan hệ giữa chiến lược, chính sách và sự đổi mới  
Theo Zheng, Yang, và McLean (2010), chiến lược là một trong các yếu tố thành công quan  
trọng của QLTT. Khi một DN đưa ra được chiến lược và các chính sách bảo vệ việc áp dụng tri  
thức (Velu, 2015), DN đó có thể đạt được tiêu chuẩn cao về tri thức và sự đổi mới (Anderson,  
Potočnik, & Zhou, 2014). Các chiến lược và chính sách của QLTT tạo ra nhiều nhân viên sáng tạo  
hơn, qua đó làm tăng vốn tri thức (Valdez-Juárez et al., 2016). Với chiến lược QLTT rõ ràng, DN  
có thể đổi mới tốt hơn, đạt được kết quả tài chính tốt hơn, cải thiện quy trình và phát triển khả  
năng của nguồn nhân lực (Abdi et al., 2018). Từ đó, giả thuyết H2 được phát biểu như sau:  
H2: Chiến lược và chính sách có tác động dương lên sự đổi mới  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 49  
2.2.3. Mối quan hệ giữa thu nhận tri thức và sự đổi mới  
Thu nhận tri thức là một giai đoạn quan trọng trong quy trình QLTT. QLTT là một yếu tố  
cơ bản thúc đẩy sự đổi mới của các DNVVN (Byukusenge & Munene, 2017). Khi có sự thu nhận  
tri thức mới, năng lực của nhân viên tăng lên và họ có thể biến đổi tri thức mới và tạo ra cái mới  
(Chen & Huang, 2012). Mardani, Nikoosokhan, Moradi, và Doustar (2018) cho rằng các hoạt động  
của QLTT tác động trực tiếp đến sự đổi mới và gián tiếp thông qua việc tăng khả năng đổi mới.  
Từ đó, giả thuyết H3 được phát biểu như sau:  
H3: Thu nhận tri thức có tác động dương lên sự đổi mới  
2.2.4. Mối quan hê giữa văn hóa tổ chức và sự đổi mới  
Theo Al-Saifi (2015), “VHTC định hình quá trình tri thức mới được tạo ra và phân phối  
trong các tổ chức”. Chiến lược đổi mới, cấu trúc tổ chức, và văn hóa đổi mới có tác động tích cực  
đến hiệu quả đổi mới của DN (Kalay & Lynn, 2015). VHTC giúp định hình, xác định hành vi của  
các thành viên và các hoạt động trong tổ chức. Do đó, VHTC có tác động tích cực đến sự đổi mới  
của tổ chức (Abdi et al., 2018). Từ đó, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:  
H4: VHTC có tác động dương lên sự đổi mới  
2.2.5. Mối quan hệ giữa sự đổi mới và hiệu quả tổ chức  
Trong một tổ chức, sự đổi mới có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các  
cơ hội để phát triển và vượt qua các đối thủ khác (Sáenz, Aramburu, & Rivera, 2009). Đổi mới  
được đánh giá là chiến lược khác biệt hóa quan trọng nhất để có được lợi thế cạnh tranh trên thị  
trường (Kalay & Lynn, 2015). Trong đó, đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình là hai yếu tố chiến  
lược ảnh hưởng đáng kể đến HQTC (Pelser, 2014; Suhag, Solangi, Larik, Lakho, & Tagar, 2017).  
Các biện pháp đánh giá HQTC đã được áp dụng từ Lee và Choi (2003) bao gồm nhận thức của  
các thành viên tổ chức về mức độ thành công chung, thị phần, lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng và  
tính sáng tạo của tổ chức so với các đối thủ chính, đến mức độ tri thức là nâng cao HQTC. Do đó,  
đổi mới có tác động tích cực đến HQTC (Nikabadi et al., 2016). Từ đó, giả thuyết H5 được phát  
biểu như sau:  
H5: Sự đổi mới có tác động dương lên HQTC  
2.2.6. Mối quan hệ giữa quy mô, số năm hoạt động của DN và hiệu quả tổ chức  
Quy mô và số năm hoạt động của DN có tác động tích cực đến sự tồn tại của DN (Park,  
Shin, & Kim, 2010). Theo NC của Sørensen và Stuart (2000), kinh nghiệm và năng lực tổ chức có  
được là nhờ số năm hoạt động, nó giúp cho các DN phát triển theo cách hiệu quả hơn. Bên cạnh  
đó, quy mô của DN có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới tổ chức và HQTC vì những DN lớn thường  
phân bổ nhiều nguồn lực hơn để đầu tư vào đổi mới. Rosenbusch, Brinckmann, và Bausch (2011)  
đã thực hiện một NC với tiêu đề “đổi mới có mang lại lợi nhuận không?”. Mục đích của NC này  
là để có được bằng chứng về vấn đề trong trường hợp nào các DN nhỏ có nguồn lực giới hạn có  
thể được hưởng lợi từ đổi mới. Các phát hiện cho thấy số năm hoạt động là một trong những yếu  
tố ảnh hưởng đến HQTC. Từ đó, giả thuyết H6 và H7 được phát biểu như sau:  
H6: Có sự khác biệt về HQTC theo quy mô của DN  
H7: Có sự khác biệt về HQTC theo số năm hoạt động của DN  
2.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Các giả thuyết trên có thể được tóm tắt trong mô hình NC sau (Hình 1).  
50  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
Hình 1. Mô hình NC đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Việc hình thành thang đo được kế thừa từ NC của Valdez-Juárez và cộng sự (2016). Trong  
đó, yếu tố Đào tạo nhân viên (04 biến quan sát), Chiến lược và chính sách (07 biến quan sát), Thu  
nhận tri thức (05 biến quan sát), VHTC (04 biến quan sát), Đổi mới (04 biến quan sát), và HQTC  
(03 biến quan sát). Để đảm bảo giá trị nội dung của thang đo, một NC định tính thông qua thảo  
luận tay đôi với một giám đốc, hai trưởng phòng, ba phó phòng và bốn nhân viên quản lý bộ phận/  
nhóm tại một số DNVVN ở VN. Sau đó, thang đo được hiệu chỉnh bằng cách bỏ bớt yếu tố xu  
hướng (thu nhập từ các hoạt động và số lượng nhân viên trung bình của năm hiện tại so với hai  
năm trước đó) và chỉnh sửa từ ngữ cho phù hợp với bối cảnh NC. Thang đo được sử dụng trong  
NC là thang đo Likert 5 điểm.  
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện. Bảng câu hỏi khảo sát được gởi tới các nhà  
quản lý đã và đang làm việc tại các DNVVN thuộc các lĩnh vực xây dựng, thương mại, dịch vụ,  
và sản xuất tại VN. Khảo sát này được tiến hành vào tháng 03/2020, kết quả thu về được 227 phiếu  
khảo sát online và 58 phiếu khảo sát giấy, sau khi đã loại bỏ 74 phiếu không hợp lệ, còn lại 211  
phiếu hợp lệ, chiếm tỷ lệ 74,04%. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS v20 và AMOS  
v22 để đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố  
khẳng định (CFA) và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định giả thuyết. Đồng  
thời, phân tích ANOVA được sử dụng để kiểm định ảnh hưởng của các biến định tính lên các mối  
quan hệ này.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thống kê mô tả  
Từ kết quả thu thập dữ liệu, có tất cả 211 phiếu trả lời hợp lệ. Thông tin mô tả chi tiết của  
mẫu khảo sát được trình bày trong Bảng 1.  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 51  
Bảng 1  
Mô tả mẫu khảo sát  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu  
4.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo và phân tích EFA  
4.2.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo  
Việc kiểm định Cronbach’s Alpha được đánh giá dựa trên hệ số Alpha nếu loại biến, cùng  
với hệ số tương quan biến tổng. Nếu một biến đo lường có hệ số tương quan biến tổng ≥ 0.3 thì  
biến đó đạt yêu cầu (Nunnally, 1978).  
Bảng 2  
Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha  
52  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Sau khi phân tích Cronbach’s Alpha kiểm định độ tin cậy của 06 thang đo với 23 biến quan  
sát. Kết quả cho thấy, các thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0.6 và các hệ số tương quan  
biến tổng đều lớn hơn 0.3 nên các thang đo của các nhóm nhân tố đều đạt độ tin cậy và tiếp tục  
đưa vào phân tích nhân tố.  
4.2.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập và biến phụ thuộc  
Kết quả EFA, sử dụng phương pháp phân tích nhân tố Principal axis factoring và phép  
quay góc Promax để tìm ra các nhân tố đại điện cho các thang đo. Hệ số KMO được dùng để xem  
xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số 0.5 ≤ KMO ≤ 1 và sig. < 0.05 là đủ điều kiện phân  
tích nhân tố (Hoang & Chu, 2008).  
Bảng 3  
Kết quả phân tích nhân tố đối với các biến độc lập và biến phụ thuộc  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Kết quả phân tích EFA cho thấy, 22 biến quan sát còn lại đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn  
0.5 và gom thành 06 nhân tố. Kế đến, tiến hành phân tích CFA và SEM.  
4.3. Phân tích nhân tố khẳng định CFA và SEM  
4.3.1. Phân tích nhân tố khẳng định CFA  
Tiêu chuẩn để kiểm định độ tin cậy, tính hội tụ, và tính phân biệt của các thang đo, sử dụng  
hệ số tải chuẩn hóa (Standardized Loading Estimates) ≥ 0.5 và độ tin cậy tổng hợp CR (Composite  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 53  
Reliability) ≥ 0.7; phương sai trích trung bình AVE (Average Variance Extracted) ≥ 0.5; và  
phương sai riêng lớn nhất MSV (Maximum Shared Variance) < AVE (Hair và cộng sự, 2010).  
Một lần nữa hệ số tin cậy tổng hợp và phương sai trích được thực hiện, kết quả là biến THUN4 bị  
loại bỏ để cải thiện độ phù hợp của mô hình.  
Kiểm định CFA sau khi loại biến THUN4, mô hình gồm 06 thang đo khái niệm và 21 biến  
quan sát. Kết quả CFA được tóm tắt trong Bảng 4 cho thấy, mô hình hiện tại phù hợp với dữ liệu  
NC.  
Bảng 4  
Kết quả phân tích CFA  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
54  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
Hình 2. Mô hình thang đo  
Kết quả đo lường sau khi loại bỏ biến quan sát THUN4 được tổng hợp trong Bảng 5:  
Bảng 5  
Kết quả đo lường độ tin cậy, tính hội tụ, và tính phân biệt  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Bảng 5 cho thấy giá trị độ tin cậy tổng hợp CR của các biến đều cao hơn 0.7. Như vậy, độ  
tin cậy tổng hợp của các thang đo này tốt và được chấp nhận. Phương sai trích bình quân AVE của  
các thang đo đơn hướng đều lớn hơn 0.5. Như vậy, phương sai trích của các thang đo này đạt  
chuẩn và được chấp nhận. Từ các chỉ số trên, mô hình thang đo đảm bảo độ tin cậy. Hệ số mỗi  
nhân tố đều lớn hơn 0.7 nên đạt độ giá trị phân biệt. Bước tiếp theo, chuyển từ mô hình thang đo  
sang mô hình NC để tiến hành thực hiện kiểm định mô hình SEM.  
4.3.2. Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM  
Kết quả phân tích SEM  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 55  
Hình 3. Mô hình SEM chuẩn hóa  
Kết quả phân tích SEM được tóm tắt trong Bảng 6 cho thấy mô hình phân tích phù hợp với  
dữ liệu NC.  
Bảng 6  
Kết quả phân tích SEM  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Hệ số ước lượng hồi quy chuẩn hóa được tóm tắt trong Bảng 7:  
Bảng 7  
Hệ số hồi quy chuẩn hóa  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Nhận xét: Mô hình trên có thể nói là phù hợp với dữ liệu NC. Với độ tin cậy 95%:  
▪ Hệ số hồi quy của DT lên DM ước lượng rơi vào khoảng [0.209 – 0.483]  
▪ Hệ số hồi quy của CS lên DM ước lượng rơi vào khoảng [0.006 – 0.302]  
▪ Hệ số hồi quy của TN lên DM ước lượng rơi vào khoảng [0.338 – 0.624]  
▪ Hệ số hồi quy của VH lên DM ước lượng rơi vào khoảng [0.004 – 0.253]  
▪ Hệ số hồi quy của DM lên HQ ước lượng rơi vào khoảng [0.954 – 1.045]  
4.4. Kiểm định ANOVA  
4.4.1. Kiểm định Post-Hoc giữa hai biến LHDN và HIEUQ  
Kết quả kiểm định Post-Hoc giữa loại hình DN và hiệu quả được tóm tắt trong Bảng 8.  
Bảng 8  
Post Hoc Tests Multiple Comparisons  
56  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Từ kết quả ở Bảng 8 cho thấy, giữa nhóm DN vừa và siêu nhỏ, DN nhỏ và siêu nhỏ có sự  
khác biệt có ý nghĩa, tuy nhiên, giữa DN vừa và DN nhỏ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống  
kê (sig.>0.05). Trong đó, cột Mean Difference (I-J) của nhóm DN vừa và siêu nhỏ có giá trị cao  
nhất là 0.45735, chứng tỏ HQTC của DN vừa lớn hơn đáng kể so với DN siêu nhỏ.  
4.4.2. Kiểm định kiểm định Post-Hoc giữa hai biến SNHD và HIEUQ  
Kết quả kiểm định Post-Hoc giữa số năm hoạt động và hiệu quả được tóm tắt trong Bảng 9.  
Bảng 9  
Post Hoc Tests Multiple Comparisons  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Từ kết quả ở Bảng 9 cho thấy, giữa các nhóm DN hoạt động từ 01-05 năm và từ 06-10  
năm, từ 06-10 năm và từ 11-15 năm, và từ 06-10 năm và trên 15 năm là có sự khác biệt có ý nghĩa,  
tuy nhiên, giữa các nhóm DN hoạt động từ 01-05 năm và từ 11-15 năm, từ 01-05 năm và trên 15  
năm, và từ 11-15 năm và trên 15 năm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (sig.>0.05). Trong  
đó, cột Mean Difference (I-J) của nhóm từ 60-10 năm và từ 11-15 năm có giá trị cao nhất, chứng  
tỏ HQTC của nhóm 11-15 năm cao hơn đáng kể so với nhóm 6-10 năm. Theo kết quả này, HQTC  
được sắp theo thứ tự tăng dần như sau: 06-10 năm, 01-05 năm, trên 15 năm, và 11-15 năm.  
Tóm lại: Dựa trên các kết quả phân tích trên, các giả thuyết được chấp nhận:  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 57  
▪ H1: Có mối quan hệ tích cực giữa đào tạo nhân viên và sự đổi mới  
▪ H2: Có mối quan hệ tích cực giữa chiến lược, chính sách và sự đổi mới  
▪ H3: Có mối quan hệ tích cực giữa thu nhận tri thức và sự đổi mới  
▪ H4: Có mối quan hệ tích cực giữa VHTC và sự đổi mới  
▪ H5: Có mối quan hệ tích cực giữa sự đổi mới và HQTC  
▪ H6: Có sự khác biệt về HQTC theo quy mô của DN  
▪ H7: Có sự khác biệt về HQTC theo số năm hoạt động của DN  
5. Thảo luận kết quả nghiên cứu  
Các NC trước đã chỉ ra rằng, QLTT giúp cải thiện khả năng của các DN trong việc giải  
quyết vấn đề, thích nghi với những thay đổi và duy trì lợi thế cạnh tranh. Ba thực tiễn chính của  
QLTT có tác động tích cực đến thành công kinh doanh, bao gồm: văn hóa, chính sách, và thu nhận  
tri thức (Pham & Nguyen, 2017). Trong môi trường cạnh tranh cao, đổi mới là chìa khóa thiết yếu  
cho một DN có được một vị trí có ưu thế hơn và thu được lợi nhuận cao hơn (Kalay & Lynn,  
2015). Bên cạnh đó, Sethibe và Steyn (2016) cũng chỉ ra rằng, HQTC bị ảnh hưởng bởi sự đổi  
mới, vì vậy, tạo điều kiện cho sự đổi mới là một chức năng quản lý quan trọng có ảnh hưởng trực  
tiếp đến HQTC. Các kết quả của NC này nhằm củng cố thêm mối quan hệ giữa QLTT, sự đổi mới,  
và HQTC.  
Kết quả của NC này cho thấy, đổi mới trong các DNVVN ở VN chịu tác động của các yếu  
tố theo thứ tự từ mạnh đến yếu dần, đó là: Thu nhận tri thức, Đào tạo nhân viên, Chiến lược và  
chính sách của DN, và VHTC; và đổi mới có tác động tích cực đến HQTC. Ngoài ra, các yếu tố  
khác như số năm hoạt động và quy mô của DN cũng có tác động đến HQTC.  
So sánh với NC trước, kết quả phân tích trên cho thấy, thu nhận tri thức có tác động mạnh  
nhất đến sự đổi mới. Kết quả này tương đồng với NC của Valdez-Juárez và cộng sự (2016) cho  
rằng, thu nhận tri thức là một trong những thực tiễn cơ bản nhất của các DN trong việc quản lý đổi  
mới. Từ quan điểm này, các DN nên tập trung vào các khía cạnh của QLTT như thu nhận tri thức,  
phổ biến tri thức, và sử dụng tri thức để thúc đẩy sự đổi mới nhằm cải thiện HQTC. Vì vậy, các  
nhà quản lý, chủ sở hữu các DNVVN nên tìm cách để cải thiện tình hình thông qua việc tăng cường  
mạng lưới bên ngoài và đảm bảo liên lạc thường xuyên với các bên liên quan như khách hàng, nhà  
cung cấp, đối thủ cạnh tranh, các nhà chuyên môn, và các chuyên gia để thu nhận tri thức mới.  
Về khía cạnh VHTC, kết quả này cũng tương đồng với NC của Valdez-Juárez và cộng sự  
(2016) cho rằng, VHTC là yếu tố cần thiết cho việc thúc đẩy sự đổi mới trong các DNVVN. Các  
DNVVN cần thiết lập một nền văn hóa hữu ích và có giá trị nhằm khuyến khích chia sẻ tri thức và  
hợp tác trong tổ chức, đặc biệt là trong việc thiết lập một bầu không khí nội bộ để hỗ trợ cho sự  
đổi mới. QLTT tạo ra một nền văn hóa thúc đẩy học tập và chia sẻ tri thức, nền văn hóa như vậy  
khuyến khích các quy trình dựa trên tri thức, tạo ra sự chia sẻ và sử dụng tri thức, thay đổi hành vi  
để đổi mới và sáng tạo.  
Về khía cạnh chiến lược và chính sách, kết quả này cũng tương đồng với NC của Valdez-  
Juárez và cộng sự (2016) cho rằng, các DNVVN phải thành lập các chính sách và chiến lược, cả  
trong việc thu thập và sử dụng tri thức và triển khai VHTC, dựa trên các giá trị để tăng cường hơn  
nữa các hoạt động đổi mới, vì chiến lược QLTT giúp tạo ra nhiều nhân viên sáng tạo hơn, qua đó  
làm tăng vốn tri thức, đồng thời là những cơ chế hiệu quả để cải thiện sự đổi mới. Những thực tiễn  
này là một phần quan trọng trong chiến lược phân biệt, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các DN.  
58  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
Riêng về khía cạnh đào tạo nhân viên, kết quả này trái ngược với NC của Valdez-Juárez  
và cộng sự (2016) cho rằng, không có mối quan hệ tích cực nào giữa đào tạo nhân viên và đổi mới.  
Sự khác biệt này được giải thích do những năm qua tại VN, Chính phủ tập trung vào các chính  
sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy khu vực DNVVN phát triển, cụ thể như hỗ trợ đổi mới, sáng tạo, hiện  
đại hóa công nghệ, và phát triển nguồn nhân lực có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất, chuỗi  
giá trị khu vực và toàn cầu; tạo nguồn vốn và đào tạo nghề cho người lao động. Thật vậy, nhiều  
chương trình tư vấn kiến thức về kinh doanh, công nghệ và quản lý sản xuất; tư vấn phát triển sản  
phẩm, phát triển thị trường, xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ DN; hợp tác giữa nhà trường và  
DN trong đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo nghề cho người lao động đã được thực hiện. Về phía  
DN, nên chú trọng hơn về khía cạnh này và cần có thêm nhiều chương trình tư vấn, đào tạo chính  
thức và không chính thức và khuyến khích nhân việc học tập nâng cao trình độ nhằm tăng cường  
sự sáng tạo và chia sẻ tri thức trong nhân viên.  
Xét về mối quan hệ giữa QLTT, sự đổi mới, và HQTC, kết quả của NC này cũng tương  
đồng với NC của Valdez-Juárez và cộng sự (2016) cho rằng, QLTT có ảnh hưởng đến HQTC gián  
tiếp thông qua sự đổi mới, các hoạt động của QLTT được thực hiện thông qua sự đổi mới trong  
các sản phẩm và quy trình nhằm cải thiện HQTC trong các DNVVN. Mặt khác, các yếu tố như  
loại hình DN và số năm hoạt động cũng có tác động đáng kể đến HQTC trong các DNVVN. Kết  
quả của NC này cho thấy, nhóm DN vừa và siêu nhỏ có ảnh hưởng mạnh hơn các nhóm còn lại và  
các DN hoạt động từ 06-10 năm và từ 11-15 năm có ảnh hưởng nhiều nhất đến HQTC.  
6. Kết luận  
Vận tốc và tính chất năng động của thị trường đã tạo ra động lực cạnh tranh giữa nhiều DN  
để tận dụng tài sản tri thức của họ như một phương tiện tạo ra giá trị và đạt được lợi thế cạnh tranh.  
Trong xã hội hiện nay, tri thức trở nên quan trọng hơn, và QLTT trở thành một trong những cách  
tiếp cận tốt nhất để đảm bảo sự thành công của bất kỳ DN nào (Pham, 2017). Tập trung vào QLTT  
là một lĩnh vực quan trọng đối với các DNVVN. Việc quản lý tài sản tri thức có thể cung cấp cho  
các DNVVN các công cụ mới để tồn tại, tăng trưởng, và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững  
(Evangelista et al., 2010).  
NC này kết luận rằng, các yếu tố thành công quan trọng của QLTT là Thu nhận tri thức,  
Đào tạo, Chiến lược và chính sách, và VHTC có tác động trực tiếp đến sự đổi mới và kết quả cũng  
cho thấy đổi mới góp phần đáng kể vào việc cải thiện HQTC của các DNVVN tại VN. Điều này  
có thể đạt được bằng cách xây dựng một môi trường văn hóa thúc đẩy chia sẻ và thu nhận tri thức  
trong nhân viên, tạo động lực và khuyến khích nhân viên nâng cao trình độ thông qua các khóa  
học ngắn hạn và cho phép họ tham dự các buổi hội thảo, hội nghị, và triển lãm để có được tri thức  
mới và tri thức mới nên được sử dụng để tăng cường các hoạt động đổi mới nhằm mang lại hiệu  
quả tốt hơn. Inków (2020) đã chỉ ra rằng, đổi mới và sáng tạo đã trở thành một yếu tố quan trọng  
quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức. Các tổ chức cần có năng lực đổi mới đủ cao để  
có thể phát triển và thực hiện các giải pháp mới một cách hiệu quả. Từ kết quả của NC này có thể  
giúp các nhà quản lý, chủ DN tận dụng các nguồn tri thức sẵn có bằng cách biến chúng thành sản  
phẩm mới và quy trình mới để cải thiện HQTC. Mặt khác, kết quả của NC này cũng góp phần  
củng cố cho các NC trước thông qua các bằng chứng thực nghiệm. Hướng NC tiếp theo có thể  
xem xét lại các biến này tại các nước đang phát triển như VN hoặc xem xét ảnh hưởng trực tiếp từ  
QLTT đến HQTC, hoặc tập trung vào một ngành nghề, lĩnh vực cụ thể của DNVVN.  
Tài liệu tham khảo  
Abdi, K., Mardani, A., Senin, A. A., Tupenaite, L., Naimaviciene, J., Kanapeckiene, L., & Kutut, V.  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 59  
(2018). The effect of knowledge management, organizational culture and organizational  
learning on innovation in automotive industry. Journal of Business Economics and  
Management, 19(1), 1-19. doi:10.3846/jbem.2018.1477  
Abubakar, A. M., Elrehail, H., Alatailat, M. A., & Elçi, A. (2017). Knowledge management,  
decision-making style and organizational performance. Journal of Innovation & Knowledge,  
4(2), 104-114. doi:10.1016/j.jik.2017.07.003  
Al-Saifi, S. A. (2015). Positioning organisational culture in knowledge management research.  
Journal of Knowledge Management, 19(2), 164-189. doi:10.1108/jkm-07-2014-0287  
Anderson, N., Potočnik, K., & Zhou, J. (2014). Innovation and creativity in organizations. Journal  
of Management, 40(5), 1297-1333. doi:10.1177/0149206314527128  
Asgarian, N. (2012). Knowledge management capacity and innovation performance. Management  
Science Letters, 2(8), 2739-2746. doi: 10.5267/j.msl.2012.10.015  
Augier, M., & Teece, D. J. (2009). Dynamic capabilities and the role of managers in business  
strategy and economic performance. Organization Science, 20(2), 410-421.  
doi:10.1287/orsc.1090.0424  
Bozbura, F. T. (2007). Knowledge management practices in Turkish SMEs. Journal of Enterprise  
Information Management, 20(2), 209-221. doi:10.1108/17410390710725788  
Byukusenge, E., & Munene, J. C. (2017). Knowledge management and business performance:  
Does innovation matter?. Cogent Business  
&
Management, 4(1), 1-18.  
doi:10.1080/23311975.2017.1368434  
Byukusenge, E., Munene, J., & Orobia, L. (2016). Knowledge management and business  
performance: Mediating effect of innovation. Journal of Business and Management  
Sciences, 4(4), 82-92. doi:10.12691/jbms-4-4-2  
Cantú, L. Z., Criado, J. R., & Criado, A. R. (2009). Generation and transfer of knowledge in IT-related  
SMEs. Journal of Knowledge Management, 13(5), 243-256. doi:10.1108/13673270910988088  
Chawla, D., & Joshi, H. (2010). Knowledge management practices in Indian industries: A  
comparative study. Journal of Knowledge Management, 14(5), 708-725.  
doi:10.1108/13673271011074854  
Chen, Y. S., Lin, M. J. J., & Chang, C. H. (2009). The positive effects of relationship learning and  
absorptive capacity on innovation performance and competitive advantage in industrial  
markets. Industrial Marketing Management, 38, 152-158. doi:10.1016/j.indmarman.2008.12.003  
Chen, Y. Y., & Huang, H.-L. (2012). Knowledge management fit and its implications for business  
performance: A profile deviation analysis. Knowledge-based Systems, 27, 262-270.  
doi:10.1016/j.knosys.2011.11.012  
Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (2000). Absorptive capacity: A new perspective on learning  
and innovation. Strategic Learning in a Knowledge Economy, 39-67. doi:10.1016/b978-0-  
7506-7223-8.50005-8  
Darroch, J. (2003). Developing a measure of knowledge management behaviours and practices.  
Journal of Knowledge Management, 7(5), 41-54. doi:10.1108/13673270310505377  
Durst, S., & Edvardsson, I. R. (2012). Knowledge management in SMEs: A literature review.  
Journal of Knowledge Management, 16, 879-903. doi:10.1108/13673271211276173  
60  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
Evangelista, P., Esposito, E., Lauro, V., & Raffa, M. (2010). The adoption of knowledge  
management systems in small firms. Electronic Journal of Knowledge Management, 8(1),  
33-42.  
Hair, J., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2010). Multivariate data analysis (7th ed.).  
Upper saddle River, NJ: Pearson Education.  
Halila, F., & Rundquist, J. (2011). The development and market success of eco-innovations.  
European Journal of Innovation Management, 14(3), 278-302. doi:10.1108/14601061111148807  
Hoang, T., & Chu, N. N. M. (2008). Phân tích dữ liệu NC với SPSS [Analyze NC data with SPSS].  
Ho Chi Minh, Vietnam: Nhà xuất bản Thống Kê.  
Inków, M. (2020). Organizational innovation capability as a result of knowledge  
management processes - A literature review. Management (Sciendo), 24(1), 143-156.  
doi:10.2478/manment-2019-0040  
Kalay, F., & Lynn, G. S. (2015). The impact of strategic innovation management practices on firm  
innovation performance. Research Journal of Business and Management – (RJBM), 2(3),  
412-429. doi:10.17261/Pressacademia.2015312989  
Kim, D.-Y., Kumar, V., & Kumar, U. (2012). Relationship between quality management  
and  
innovation.  
Journal  
of  
Operations  
Management,  
30(4),  
295-315.  
doi:10.1016/j.jom.2012.02.003  
Lee, H., & Choi, B. (2003). Knowledge management enablers, processes, and organizational  
performance: An integrative view and empirical examination. Journal of Management  
Information System, 20(1), 179-228. doi:10.1080/07421222.2003.11045756  
Mardani, A., Nikoosokhan, S., Moradi, M., & Doustar, M. (2018). The relationship between  
knowledge management and innovation performance. The Journal of High Technology  
Management Research, 29(1), 12-26. doi:10.1016/j.hitech.2018.04.002  
Nikabadi, M. S., Bagheri, S., & Mohammadi-Hoseini, S. A. (2016). Effects of knowledge  
management strategy and organizational learning capability on innovation-driven  
performance in an oil company. Knowledge Management & E-Learning, 8(2), 334-355.  
doi:10.34105/j.kmel.2016.08.022  
Nonaka, I., & Takeuchi, H. (1995). The knowledge creating company: How Japanese companies  
create the dynamics of innovation. New York, NY: Oxford University Press.  
Nunnally, J. (1978). Psychometric theory. New York, NY: McGraw Hill.  
Paez-Logreira, H., Zamora-Musa, R., & Velez-Zapata, J. (2016). Relation analysis of knowledge  
management, research, and innovation in university research groups. Journal of Technology  
Management & Innovation, 11(4), 5-11. doi:10.4067/s0718-27242016000400002  
Pannu, H. (2017). The impact of knowledge management infrastructure on organizational performance  
in SMEs. International Journal of Human Resource & Industrial Research, 4(2), 26-31.  
Park, Y., Shin, J., & Kim, T. (2010). Firm size, age, industrial networking, and growth: A case of  
the Korean manufacturing industry. Small Business Economics, 35(2), 153-168.  
doi:10.1007/s11187-009-9177-7  
Pelser, T. (2014). The affect of innovation strategies and their connect to company performance.  
Mediterranean Journal of Social Sciences, 5(9), 60-68. doi:10.5901/mjss.2014.v5n9p60  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61 61  
Pham, Q. T. (2016). Giáo trình Quản lý Tri thức [Knowledge management curriculum]. Hanoi,  
Vietnam: NXB Xây Dựng.  
Pham, Q. T. (2017). A knowledge management approach for ensuring the success of IT industries  
in Vietnam. Hauppauge, NY: Nova Science Publishers, Inc.  
Pham, Q. T., & Le, M. H. (2018). The impact of knowledge management on innovation  
performance of small and medium enterprises - An empirical study in Lam Dong province.  
Journal of Science Ho Chi Minh City Open University, 8(3), 117-132.  
doi:10.46223/HCMCOUJS.econ.en.8.2.168.2018  
Pham, Q. T., & Nguyen, D. T. (2017). An empirical investigation of knowledge management in  
Vietnamese SMEs. In 17th International Conference on Computational Science and Its  
Applications (ICCSA), IEEE (pp. 1-6). doi:10.1109/ICCSA.2017.8000016  
Plessis, M. (2007). The role of knowledge management in innovation. Journal of Knowledge  
Management, 11(4), 20-29. doi:10.1108/13673270710762684  
Polanyi, M. (1966). The tacit dimension. London, UK: Routledge & Kegan Paul.  
Rashdi, M. A., Akmal, S. B., & Al-shami, S. A. (2019). Knowledge management and  
organizational performance: A research on systematic literature. International Journal of  
Innovative Technology and Exploring Engineering (IJITEE), 8(6S4), 757-762.  
doi:10.35940/ijitee.F1153.0486S419  
Rosenbusch, N., Brinckmann, J., & Bausch, A. (2011). Is innovation always beneficial? A meta-  
analysis of the relationship between innovation and performance in SMEs. Journal of  
Business Venturing, 26(4), 441-457. doi:10.1016/j.jbusvent.2009.12.002  
Roxas, B., Battisti, M., & Deakins, D. (2014). Learning, innovation and firm performance:  
Knowledge management in small firms. Knowledge Management Research & Practice, 12,  
443-453. doi:10.1057/kmrp.2012.66  
Sáenz, J., Aramburu, N., & Rivera, O. (2009). Knowledge sharing and innovation performance: A  
comparison between high‐ tech and low‐ tech companies. Journal of Intellectual Capital,  
10, 22-36. doi:10.1108/14691930910922879  
Serban, A. M., & Luan, J. (2002). Overview of knowledge management. New Direction for  
Institutional Research, 113, 5-16.  
Serenko, A. (2013). Meta-analysis of scientometric research of knowledge management:  
Discovering the identity of the discipline. Journal of Knowledge Management, 17(5), 773-  
812. doi:10.1108/jkm-05-2013-0166  
Sethibe, T., & Steyn, R. (2016). Innovation and organisational performance: A critical review of  
the instruments used to measure organisational performance. The Southern African Journal  
of Entrepreneurship and Small Business Management, 8(1), 12. doi:10.4102/sajesbm.v8i1.50  
Sørensen, J. B., & Stuart, T. E. (2000). Aging, obsolescence, and organizational innovation.  
Administrative Science Quarterly, 45(1), 81-112. doi:10.2307/2666980  
Suhag, A. K., Solangi, S. R., Larik, R. S. A., Lakho, M. K., & Tagar, A. H. (2017). The  
relationship of innovation with organizational performance. International Journal of  
Research - Granthaalayah, 5(2), 292-306. doi: 10.5281/zenodo.345736  
Torabi, F., & El-Den, J. (2017). The impact of knowledge management on organizational  
62  
Phạm A. Tuấn, Phạm Q. Trung. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2), 45-61  
productivity: A case study on koosar bank of Iran. Procedia Computer Science, 124, 300-  
310. doi:10.1016/j.procs.2017.12.159  
Valdez-Juárez, L. E., García-Pérez de Lema, D., & Maldonado-Guzmán, G. (2016). Management  
of knowledge, innovation and performance in SMEs. Interdisciplinary Journal of  
Information, Knowledge, and Management, 11, 141-176. doi:10.28945/3455  
Velu, C. (2015). Knowledge management capabilities of lead firms in innovation ecosystems. AMS  
Review, 5(3-4), 123-141. doi:10.1007/s13162-015-0068-6  
Wong, K. Y., & Aspinwall, E. (2005). An empirical study of the important factors for knowledge-  
management adoption in the SME Sector. Journal of Knowledge Management, 9(3), 64-82.  
doi:10.1108/13673270510602773  
Zheng, W., Yang, B., & McLean, G. N. (2010). Linking organizational culture, structure, strategy,  
and organizational effectiveness: Mediating role of knowledge management. Journal of  
Business Research, 63(7), 763-771. doi:10.1016/j.jbusres.2009.06.005  
pdf 18 trang Thùy Anh 10700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa quản lý tri thức, đổi mới, và hiệu quả tổ chức: Nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_quan_ly_tri_thuc_doi_moi_va_hieu_qua_to_chu.pdf