Đổi mới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam
TẠPCHÍKHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY
HUNG VUONG UNIVERSITY
Vol. 23, No. 2 (2021): 3-10
Tập 23, Số 2 (2021): 3-10
ĐỔI MỚI PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Ngô Thúy Quỳnh1*
1Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội
Ngày nhận bài: 10/01/2021; Ngày chỉnh sửa: 28/01/2021; Ngày duyệt đăng: 29/01/2021
Tóm tắt
hát triển doanh nghiệp là vấn đề sống còn đối với Việt Nam. Tuy những năm vừa qua đạt được những thành
P
tựu đáng khích lệ nhưng việc phát triển doanh nghiệp đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập nên hiệu quả phát
triển kinh tế của Việt Nam chưa cao, thậm chí còn có thể nói là đang ở mức thấp. Bài viết lý giải những vấn đề
chủ yếu về thực trạng phát triển doanh nghiệp và định hướng đổi mới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam trong
những năm tới. Đồng thời, kiến nghị những giải pháp cơ bản để đổi mới thành công việc phát triển doanh nghiệp
đến năm 2025. Đó có thể coi là bài học bổ ích cho các địa phương tham khảo.
Từ khóa: Doanh nghiệp, kinh tế, hiệu quả, bền vững.
Trước tình hình như thế, tác giả bài viết
mong muốn lý giải rõ hơn những vấn đề có
tính quyết định đến phát triển doanh nghiệp
ở Việt Nam. Qua đó góp phần làm cho nền
kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ hơn và
hiệu quả hơn. Từ đó, bài viết mong muốn
làm tài liệu tham khảo để các tỉnh suy ngẫm
về đường hướng phát triển doanh nghiệp
của địa phương mình.
1. Đặt vấn đề
Quốc gia nào phát triển kinh tế thành
công cũng cần có chiến lược phát triển
doanh nghiệp đúng đắn và quyết liệt. Doanh
nghiệp tạo ra tiền đề để giải quyết việc làm
cho người lao động, tăng thu nhập cho người
lao động và qua đó nuôi sống được nhiều
người dân hơn, đóng góp quan trọng vào
việc gia tăng quy mô và hiệu quả phát triển
kinh tế, giải quyết tốt hơn đời sống văn hóa,
xã hội của người dân. Ở Việt Nam, trong
những năm vừa qua việc phát triển doanh
nghiệp tuy đã có thành tựu đáng kể nhưng
bộc lộ nhiều hạn chế, cũng vì thế (tất nhiên
là còn do nhiều nguyên nhân khác nữa) nó
là một trong những nguyên nhân cơ bản làm
cho nền kinh tế phát triển chưa có hiệu quả
cao, thiếu sự bền vững một cách cần thiết.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Doanh nghiệp và vai trò của doanh nghiệp
a) Khái niệm về doanh nghiệp và trách
nhiệm của Nhà nước đối với phát triển
doanh nghiệp
Trong bài viết này, tác giả không chỉ xem
xét doanh nghiệp như đã được quy định tại
*Email: [email protected]
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngô Thúy Quỳnh
Luật Doanh nghiệp 2015: “Doanh nghiệp
là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký
thành lập theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích kinh doanh” mà còn muốn nói đến
các thực thể kinh tế có chức năng sản xuất
kinh doanh và được coi là một pháp nhân
thực sự như hợp tác xã (cả ở lĩnh vực phi
nông nghiệp và nông, lâm nghiệp, thủy sản
mà đã được quy định tại Luật Hợp tác xã -
Luật số 23/2012/QH13, ngày 20/11/2012).
Nói cụ thể hơn, doanh nghiệp là một tổ chức
có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa
vụ theo luật định hoặc theo Luật Hợp tác
xã. Doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam
bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, doanh
ghiệp tư nhân trong nước, doanh nghiệp tư
nhân nước ngoài và các loại hình hoạt động
kinh tế có tư cách pháp nhân khác. Các loại
doanh nghiệp này quan hệ mật thiết với
nhau, cùng nhau phát triển theo định hướng
phát triển chung của Nhà nước. Phát triển
doanh nghiệp không phải là hiện tượng tự
thân. Nhà nước có vai trò quyết định đối
với đường hướng phát triển doanh nghiệp.
Trong Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác
xã quy định rõ vai trò, trách nhiệm của Nhà
nước. Theo đó, Nhà nước “công nhận sự tồn
tại lâu dài và phát triển của các loại hình
doanh nghiệp, hợp tác xã; bảo đảm bình
đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp,
hợp tác xã không phân biệt hình thức sở hữu
và thành phần kinh tế; công nhận tính sinh
lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Nhà
nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài
sản, vốn đầu tư, thu nhập, quyền và lợi ích
hợp pháp khác của doanh nghiệp, hợp tác
xã và chủ sở hữu”. Phát triển doanh nghiệp
bền vững được hiểu là việc phát triển doanh
nghiệp trong trạng thái gia tăng tương đối
ổn định trong thời gian dài và có hiệu quả
theo hướng tiến bộ.
b) Vai trò của doanh nghiệp
Nói một cách tóm tắt, doanh nghiệp có
vai trò quan trọng chủ yếu như sau: i) Tạo ra
việc làm cho người lao động, trực tiếp tạo ra
năng lực kinh tế của quốc gia, tham gia các
chuỗi giá trị và các chuỗi cung ứng toàn cầu;
ii) Tạo ra giá trị kinh tế, góp phần gia tăng
quy mô và chất lượng của nền kinh tế;
iii) Đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà
nước và iv) Tham gia các cuộc chơi lớn về
kinh tế với doanh nghiệp của các quốc gia
khác trên thế giới.
2.2. Tình hình phát triển doanh nghiệp ở
Việt Nam
2.2.1. Khái quát tình hình phát triển kinh
tế Việt Nam
Phát triển kinh tế và phát triển doanh
nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì
thế sự phát triển và hiệu quả phát triển của
nền kinh tế phản ánh hiệu quả phát triển
doanh nghiệp. Nhìn chung trong những
năm vừa qua nền kinh tế Việt Nam đã có sự
phát triển tương đối khá. Việt Nam đã có
vị thế nhất định trên trường quốc tế. Theo
Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2011-2019
ở Việt Nam dân số tăng 1,1%, GDP tăng
khoảng 5,9%/năm, GDP/người từ mức
khoảng 24,8 triệu đồng năm 2010 tăng lên
mức khoảng 62 triệu đồng giá hiện hành.
Điều đáng kể nhất là giá trị xuất khẩu tăng
mạnh (từ 72 tỷ lên 264 tỷ USD, đạt tốc
độ tăng trung bình khoảng 17,6%/năm).
Nguyên nhân chủ yếu để giá trị xuất khẩu
tăng mạnh là do doanh nghiệp FDI đã bước
vào giai đoạn phát triển mạnh. Tỷ lệ người
nghèo giảm liên tục nhưng có nơi chưa bền
vững (tức là tỷ lệ tái nghèo còn cao) theo
kết quả tại bảng 1.
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tập 23, Số 2 (2021): 3-10
Bảng 1. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Việt Nam
Chỉ tiêu
Đơn vị
1.000 ng
1.000 ng
%
2010
86.947
26.515
30,5
2015
2019
96.484
33.816
35,0
1. Dân số
91.709
31.067
33,9
Nhân khẩu thành thị
% so tổng dân số
2. Lao động từ 15 tuổi
% so dân số chung
1.000 ng
%
50.393
57,95
3.108
6,3
53.984
58,86
3.283
6,5
55.767
57,79
4.615
8,3
Lao động xây dựng
1.000 ng
%
% so tổng số
3. GDP, giá hiện hành
4. GDP, giá 2010
1.000 Tỷ đ
1.000 Tỷ đ
Tr. đ
2.157,8
2.157,8
4.192,3
2.875,8
6.037,3
3.738,5
GDP/người
* GDP/người, giá hiện hành
* GDP/giá 2010
Tr. đ
24,8
24,8
72,2
39,2
54,3
831
45,7
31,6
62,6
38,7
Tr. đ
5. Giá trị xuất khẩu
Tỷ USD
Tỷ USD
%
162,0
114,3
70,6
264,2
179,2
67,8
Riêng khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
% so tổng giá trị xuất khẩu
Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người
USD
1.767
2.738
Nguồn: [3]
Việt Nam đứng thứ 3 về dân số nhưng nền 6,5% của Nhật Bản, khoảng 4% của Singapore,
kinh tế (GDP tính theo giá hiện hành) chỉ đứng 35,3% của Thái Lan, 22,5% của Malaysia và
thứ 6 ở khu vực ở Đông Nam Á. Điều cần nhấn 65,9% của Indonesia. Năng suất lao động của
mạnh là GDP/người và năng suất lao động của Việt Nam cũng thua kém với mức tương tự như
Việt Nam đang thấp hơn so với nhiều nước thế. Chính điều đó cho biết doanh nghiệp nước
trong khu vực. Năm 2018, GDP/người tính ta gặp khó khăn trong cạnh tranh quốc tế theo
theo giá hiện hành USD của Việt Nam chỉ bằng như kết quả tại bảng 2.
Bảng 2. Một số chỉ tiêu kinh tế của một số quốc gia, năm 2018
Đơn vị
Tr. ng
Tỷ USD
%
Nhật Bản Hàn Quốc
Pháp
64,8
2777
100
Đức
83,1
3947
100
Mỹ
329,2
20544
100
Việt Nam
96,5
Dân số
126,2
4971,3
100
51,8
1619
100
GDP, giá hiện hành
Tỷ trọng các ngành
- Nông nghiệp
- Công nghiệp-XD
- Dịch vụ
245,2
100
%
1,2
2,0
1,5
0,6
1,0
14,7
%
29,1
69,1
0,7
35,9
53,6
9,6
16,9
70,3
10,9
41464
797
27,5
61,8
9,9
18,2
74,4
3,1
34,2
%
41,1
- Phần khác*
%
10
GDP/người, giá hiện hành
Xuất khẩu
USD
Tỷ USD
%
39290
917
31363
712,7
44,0
631,5
13758
47603
1737
44,0
1459
20902
62795
2510
12,2
3148
7625
2570
261,8
101,7
257,6
2713
Xuất khẩu trên GDP
Nhập khẩu
18,4
904
28,8
826
Tỷ USD
USD
Xuất khẩu b/q người
7266
12299
Nguồn: [3].
Ghi chú: XD: xây dựng; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngô Thúy Quỳnh
2.2.2. Thực trạng phát triển doanh nghiệp Nam. Từ năm 2010 đến 2019, cơ cấu kinh tế
ở Việt Nam
Việt Nam có sự thay đổi tương đối rõ và theo
chiều hướng tiến bộ nhưng cũng bộc lộ không
ít vấn đề chưa hợp lý. Tỷ trọng của kinh tế
nhà nước giảm liên tục (từ 29,3% của năm
2010 giảm xuống 28% năm 2015 và 26,2%
vào năm 2019). Trong khi đó, kinh tế tư nhân
trong nước và kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tăng nhanh (từ 70,7% năm 2010
tăng lên 72% năm 2015 và 73,8% vào năm
2019). Sự thay đổi cơ cấu kinh tế tuy có xu
hướng tiến bộ nhưng trong nền kinh tế Việt
Nam công việc có thu nhập cao chưa nhiều
nên nguồn thu ngân sách nhà nước khó có
khả năng lớn. Cơ cấu kinh tế tuy có thay đổi
nhưng sự thay đổi về chất rất hạn chế nên
Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam như đề cập ở trên có nhiều nguyên
nhân nhưng có nguyên nhân rất quan trọng
và trực tiếp là do phát triển doanh nghiệp.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm
2020 nền kinh tế tăng khoảng 2,9%. Bên
cạnh đó, có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh phi
nông nghiệp và trong số này có hàng trăm
công ty kinh doanh trong khu vực sản xuất
nông lâm thủy sản. Phần lớn doanh nghiệp
hiện chủ yếu chỉ có việc làm có thu nhập thấp
nên khả năng đóng góp vào thuế thu nhập,
thuế doanh thu... cho Nhà nước đang còn có
hạn. Đây là yếu tố chưa thể tạo ra nguồn thu
ngân sách nhà nước (NSNN) lớn cho Việt hiệu quả phát triển cũng ở mức chưa cao.
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế của Việt Nam
Chỉ tiêu
1. GDP, giá 2010
Đơn vị
2010
2015
2019
2021
1.000 Tỷ đ
2.157,8
2.875,8
3.738,5
4.075
Trong đó theo ngành
- Nông nghiệp
1.000 Tỷ đ
396,6
18,4
462,5
16,1
510,6
14,3
326
8,0
% so tổng GDP giá 2010
- Công nghiệp
%
1.000 Tỷ đ
%
693,4
32,1
982,4
34,2
1.353,4
36,2
1.670
41
% so tổng GDP giá 2010
*Công nghiệp chế biến, chế tạo
% so tổng GDP giá 2010
- Xây dựng
1.000 Tỷ đ
%
279,4
12,9
442,6
15,4
712,4
19,1
1222
30
1.000 Tỷ đ
%
132,6
6,1
171,9
6,0
244,9
6,6
305
7,5
% so tổng số
- Dịch vụ
1.000 Tỷ đ
%
797,2
36,9
1.101,2
38,3
1.453,7
38,9
1.670
41
% so tổng GDP giá 2010
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
% so tổng GDP giá 2010
1.000 Tỷ đ
%
270,7
12,5
329,7
11,5
421,2
11,3
448
11,0
Nguồn: [3]
Ở Việt Nam, có khoảng 97% doanh nghiệp NSNN của 1.000 doanh nghiệp nộp NSNN
thuộc loại nhỏ và vừa. Năm 2019, ở Việt Nam nhiều nhất (lấy bằng 100%) thì doanh nghiệp
có 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu nộp NSNN ở Thành phố Hồ Chí Minh đóng góp 34,1%;
nhiều nhất và đóng góp tới 60,3% tổng thu ở Thành phố Hà Nội đóng góp 34,7%; ở Bình
ngân sách nhà nước [6]. Trong tổng thu Dương đóng góp 3,9%; ở Đồng Nai đóng góp
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tập 23, Số 2 (2021): 3-10
4,9%. Các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công NSNN quốc gia). Đồng thời, doanh nghiệp
nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 33,3%; thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo;
các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, tài chính ngân hàng và kinh doanh bất động
ngân hàng và bảo hiểm đóng góp 18,7%; các sản đóng góp nhiều nhất cho NSNN (đóng
doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đóng góp tới khoảng 61% tổng thu NSNN của Việt
góp khoảng 10,7% tổng thu NSNN. Nhìn vào Nam). Vì thế trong những năm sắp tới cần chú
những con số này có thể rút ra nhận định quan ý đúng mức đến việc phát triển doanh nghiệp
trọng rằng, doanh nghiệp ở hai thành phố Hà ở hai thành phố lớn và ở các lĩnh vực vừa nói
Nội và Hồ Chí Minh đóng góp vào NSNN đến. Có như thế mới có thêm nguồn thu ngân
nhiều nhất (chiếm khoảng 69% tổng thu sách cho Nhà nước.
Bảng 4. Một số chỉ tiêu về hiệu quả phát triển doanh nghiệp của Việt Nam
Chỉ tiêu
Đơn vị
Tr.đ
2015
286,5
22.442
10.467
14.949
1036,1
552,7
3,63
2019
369,6
43.928
14.237
27.017
1697,7
913,5
3,79
1. TSCĐ/lao động
2. Vốn sản xuất kinh doanh
103Tỷ đ
103Tỷ đ
103Tỷ đ
103Tỷ đ
103Tỷ đ
%
3. Giá trị tài sản và đầu tư tài chính dài hạn
4. Doanh thu thuần SXKD
5. Thu nhập/lao động DN
6. Lợi nhuận trước thuế của DN
7. Tỷ suất lợi nhuận DN
Riêng DN chế biến, chế tạo
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế
8. Số DN chế biến chế tạo
%
4,83
4,52
%
3,7
4,2
DN
67.490
15,2
111.120
14,6
% so tổng số DN
%
9. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi
10. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
%
46,5
45,8
%
39,9
43,9
Nguồn: [3]; Ghi chú: SXKD: Sản xuất kinh doanh; DN: Doanh nghiệp
Năm 2019, nếu ở Thái Lan cứ khoảng 33 nguyên nhân quan trọng phải kể đến là phần
người có 1 doanh nghiệp thì ở Việt Nam có nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ có việc
tới 133 người mới có 1 doanh nghiệp. Tuy làm có thu nhập thấp. Điều đáng quan tâm là
chưa có số liệu để so sánh sâu nhưng giả sử sự phát triển doanh nghiệp còn chưa đều giữa
quy mô và trình độ doanh nghiệp như nhau các vùng miền. Hai vùng Đồng bằng sông
thì như thế nền kinh tế Việt Nam khó có thể Hồng và miền Đông Nam Bộ có số doanh
phát triển nhanh với số lượng doanh nghiệp nghiệp phát triển nhiều hơn các vùng miền
ít như vậy. Để chứng minh cho ý này, theo còn lại. Tuy đó là điều tất yếu nhưng sắp tới
Tổng cục Thống kê Việt Nam thì vào năm để tránh tình trạng quá tải cho hai vùng này
2019 GDP/người của Việt Nam còn thấp thì cần phát triển mạnh doanh nghiệp ở các
do rất nhiều nguyên nhân nhưng trong đó vùng khác nữa.
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngô Thúy Quỳnh
Bảng 5. Một số chỉ tiêu về phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam
Chỉ tiêu
1. Số doanh nghiệp đang hoạt động
- Vùng Trung du miền núi
% so tổng số cả nước
- Vùng Đồng bằng sông Hồng
% so tổng số cả nước
- Vùng BTB và DHMT
% so tổng số cả nước
- Vùng Tây Nguyên
% so tổng số cả nước
- Vùng Đông Nam Bộ
% so tổng số cả nước
- Vùng ĐBSCL
Đơn vị
DN
DN
2015
442.485
17.003
3,8
143.229
32,4
56.010
12,7
10.855
2,5
2019
758.610
31.812
4,2
238.386
31,4
100.725
13,3
19.777
2,6
2021
765.100
32.899
4,3
239.476
31,3
103.288
13,5
19.778
2,6
DN
DN
DN
DN
DN
182.686
41,3
32.588
312.821
41,2
55.089
313.691
41,0
55.852
% so tổng số cả nước
7,4
7,3
7,3
2. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi
3. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
%
%
46,5
39,9
45,8
43,9
43,0
43,8
Nguồn: [3]; Ghi chú: SXKD: Sản xuất kinh doanh; DN: Doanh nghiệp; BTB và DHMT: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Trung; ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thì thì đến năm 2019 họ đóng góp tới khoảng
trong giai đoạn 2011-2019, các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng
15-18% tổng GDPquốc giaViệt Nam và đóng
góp khoảng 38% vào tăng trưởng kinh tế (cụ
thể là trong giai đoạn 2011-2019, tốc độ tăng
GDP của cả nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng
5,9% thì trong đó các doanh nghiệp FDI đóng
góp điểm 2,3%). Trong khi các doanh nghiệp
FDI đóng góp khoảng 23% vốn đầu tư xã hội
thì đóng góp cho tăng trưởng của nền kinh tế
quốc dân Việt Nam như thế là điều đáng suy
ngẫm. Trong 10 năm, các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài chỉ gia tăng tỷ lệ trong
gia tăng tổng quy mô của nền kinh tế Việt
Nam được khoảng 1,2 điểm phần trăm (bình
quân khoảng 0,12%/năm). Mức độ đóng góp
vào tổng thu ngân sách nhà nước cho Việt
Nam giảm suốt trong giai đoạn 2011-2019
(từ mức khoảng 31% năm 2010 xuống còn
khoảng 13,6% vào năm 2019). Đây là hiện
tượng chưa thật tương xứng tuy các doanh
nghiệp FDI ngày càng đóng góp quan trọng
vào xuất khẩu và công cuộc mở cửa kinh
tế của Việt Nam. Nếu năm 2010 các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp
70% [3]. Đó là điều đáng ghi nhận. Song
doanh nghiệp FDI gây tổn hại cho Việt Nam
thông qua chuyển giá bao nhiêu thì chưa có
số liệu thống kê và chưa được cơ quan Nhà
nước hữu trách tính toán cụ thể.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang sử
dụng công nghệ chưa thuộc loại cao. Ông
Vũ Tiến Lộc Chủ tịch Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng,
trình độ công nghệ của các doanh nghiệp
ở Việt Nam vẫn bị đánh giá là lạc hậu.
Kết quả khảo sát của VCCI năm 2016 tại
10 ngành, trong đó có 7 ngành thuộc lĩnh
vực công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy,
công nghệ của các doanh nghiệp của nước
ta đến chủ yếu từ các nước đang phát triển
(chiếm khoảng 65%), trong đó có tới 26,6%
công nghệ đến từ Trung Quốc. Trong khi
đó, tỷ lệ các công nghệ có xuất xứ từ Mỹ,
Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước thuộc
Liên minh Châu Âu chỉ chiếm khoảng 32%
(song trong đó có trên 18% thuộc công nghệ
khoảng 55% giá trị xuất khẩu của Việt Nam ra đời trước năm 2005) [6].
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tập 23, Số 2 (2021): 3-10
Bảng 6. Xuất xứ công nghệ được sử dụng tại các doanh nghiệp
ở Việt Nam đến năm 2019
Số TT
Loại công nghệ
Của các nước đang phát triển thuộc công nghệ cũ trước 2005
Của các nước đang phát triển thuộc công nghệ mới sau 2005
Của Trung Quốc thuộc loại công nghệ trước 2005
Của Trung Quốc thuộc loại công nghệ sau 2005
Của các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật bản, EU trước 2005
Của các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật bản, EU sau 2005
Đến từ nơi khác
Tỷ lệ doanh nghiệp,%
1.
8,8
29,8
4,5
2.
3
22,1
18,1
13,8
2,9
4
Nguồn: [6]
3.2. Kiến nghị giải pháp
3. Kết luận và kiến nghị giải pháp
- Nhà nước trung ương cũng như chính
quyền các địa phương cấp tỉnh cần xây dựng
chiến lược phát triển doanh nghiệp cho thời
kỳ trung và dài hạn. Trước hết phải xác định
rõ lĩnh vực mũi nhọn, danh mục sản phẩm
chủ lực với việc làm có thu nhập cao mà Việt
Nam sẽ phát triển đến năm 2025 và đến năm
2045. Nhà nước cùng đội ngũ doanh nghiệp
tìm ra những việc làm có thu nhập cao là
công việc vô cùng quan trọng và cấp bách.
3.1. Kết luận
Doanh nghiệp ở Việt Nam phát triển đang
ở mức khiêm tốn, số lượng doanh nghiệp đã
chưa nhiều, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa
lại chiếm tới phần lớn, do đó năng lực kinh
tế của doanh nghiệp Việt Nam đang rất hạn
chế. Hiệu quả phát triển doanh nghiệp chưa
cao như kỳ vọng. Để Việt Nam có sự phát
triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững thì
nhất thiết phải đổi mới chủ trương, đường lối
phát triển doanh nghiệp. Cụ thể là:
- Tăng nhanh số lượng, chất lượng doanh
nghiệp. Đến năm 2025 cứ khoảng 45 người
có 1 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp
lớn chiếm khoảng 10-15%, sau đó đạt tỷ lệ
khoảng 20-25% vào năm 2045. Nhà nước
ban hành và tổ chức thực hiện luật pháp,
chính sách có lợi cho doanh nghiệp làm
ăn chân chính. Nhanh chóng thu hút nhiều
doanh nghiệp có ý nghĩa chiến lược đến từ
các quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới
để có thể thu hút công nghệ hiện đại, nguồn
tài chính lớn và mở rộng thị trường trên phạm
vi toàn cầu.
- Gia tăng doanh nghiệp lớn, nhất là doanh
nghiệp của người Việt Nam và doanh nghiệp
lớn của các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia,
đa quốc gia.
- Nhanh chóng nâng cao trình độ công
nghệ của doanh nghiệp, tạo điều kiện doanh
nghiệp có việc làm thu nhập cao, tham gia
nhiều vào các chuỗi cung ứng, các chuỗi giá
trị, các mạng phân phối toàn cầu.
- Nhà nước cần hỗ trợ để các doanh
nghiệp Việt Nam đủ sức tham gia các chuỗi
giá trị, các chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng
thời, tạo khung khổ pháp lý có lợi cho phát
triển doanh nghiệp.
- Nhanh chóng hoàn thiện khung khổ luật
pháp, chính sách của Nhà nước về doanh
nghiệp và về các lĩnh vực liên quan đến phát
triển doanh nghiệp. Nâng cao năng lực quản
lý và điều hành kinh tế nói chung và điều
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngô Thúy Quỳnh
[2] Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp số
59/2020/QH14 ngày 17/6/2020.
hành phát triển doanh nghiệp nói riêng. Tạo
mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp ra
đời và làm ăn có hiệu quả trên cơ sở chuyển
đổi số và phát triển kinh tế số thành công;
tận dụng các lợi ích từ dữ liệu lớn, internet
kết nối vạn vật và các nền tảng công nghệ
xuyên quốc gia. Có biện pháp hữu hiệu giảm
thiểu thiệt hại do tình trạng chuyển giá đối
với doanh nghiệp FDI và khai khống, sai
lệch giả dưới chiêu bài lỗ giả để trốn thuế,
không nộp thuế vào ngân sách nhà nước của
doanh nghiệp trong nước.
[3] Tổng cục Thống kê (2015-2019). Niên giám
thống kê.
[4] Ngô Doãn Vịnh (2010). Phát triển: Điều kỳ
diệu và bí ẩn. Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
[5] Ngô Doãn Vịnh & Lê Thị Thanh Thủy (2020).
Nâng cao năng suất lao động của Việt nam:
Nhận diện những vấn đề gốc rễ để hành động
đúng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường
Đại học Hùng Vương, 1(18), 3-11.
[6] Viettimes (2018). Trình độ công nghệ doanh
nghiệp Việt lạc hậu, gần 60% vẫn sử dụng
giải pháp tuổi đời trên 6 năm. Truy cập ngày:
02/01/2021, từ <https://viettimes.vn/chu-tich-
lac-hau>.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019). Sách trắng doanh
nghiệp 2019. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
INNOVATION FOR ENTERPRISE DEVELOPMENT IN VIETNAM
Ngo Thuy Quynh1
1National Academy of Public Administration, Hanoi
Abstract
nterprise (Business) development is vital to Vietnam. Despite encouraging achievements in the past few
years, business development is revealing many limitations and shortcomings, so Vietnam’s economic
development efficiency is not high, it can even be said to be in low. The article explains key issues about the
current situation of business development and the innovation orientation of business development in Vietnam
in the coming years. At the same time, basic solutions are proposed to successfully innovate for business
development by 2025. That can be considered as a useful lesson for localities to refer.
E
Keywords: Enterprise, economy, efficiency, sustainability.
10
Bạn đang xem tài liệu "Đổi mới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
doi_moi_phat_trien_doanh_nghiep_o_viet_nam.pdf

