Đổi mới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam

TẠPCHÍKHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG  
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY  
HUNG VUONG UNIVERSITY  
Vol. 23, No. 2 (2021): 3-10  
Tập 23, Số 2 (2021): 3-10  
Email: tapchikhoahoc@hvu.edu.vn Website: www.hvu.edu.vn  
ĐỔI MỚI PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM  
Ngô Thúy Quỳnh1*  
1Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội  
Ngày nhận bài: 10/01/2021; Ngày chỉnh sửa: 28/01/2021; Ngày duyệt đăng: 29/01/2021  
Tóm tắt  
hát triển doanh nghiệp là vấn đề sống còn đối với Việt Nam. Tuy những năm vừa qua đạt được những thành  
P
tựu đáng khích lệ nhưng việc phát triển doanh nghiệp đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập nên hiệu quả phát  
triển kinh tế của Việt Nam chưa cao, thậm chí còn có thể nói là đang ở mức thấp. Bài viết lý giải những vấn đề  
chủ yếu về thực trạng phát triển doanh nghiệp và định hướng đổi mới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam trong  
những năm tới. Đồng thời, kiến nghị những giải pháp cơ bản để đổi mới thành công việc phát triển doanh nghiệp  
đến năm 2025. Đó có thể coi là bài học bổ ích cho các địa phương tham khảo.  
Từ khóa: Doanh nghiệp, kinh tế, hiệu quả, bền vững.  
Trước tình hình như thế, tác giả bài viết  
mong muốn lý giải rõ hơn những vấn đề có  
tính quyết định đến phát triển doanh nghiệp  
ở Việt Nam. Qua đó góp phần làm cho nền  
kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ hơn và  
hiệu quả hơn. Từ đó, bài viết mong muốn  
làm tài liệu tham khảo để các tỉnh suy ngẫm  
về đường hướng phát triển doanh nghiệp  
của địa phương mình.  
1. Đặt vấn đề  
Quốc gia nào phát triển kinh tế thành  
công cũng cần có chiến lược phát triển  
doanh nghiệp đúng đắn và quyết liệt. Doanh  
nghiệp tạo ra tiền đề để giải quyết việc làm  
cho người lao động, tăng thu nhập cho người  
lao động và qua đó nuôi sống được nhiều  
người dân hơn, đóng góp quan trọng vào  
việc gia tăng quy mô và hiệu quả phát triển  
kinh tế, giải quyết tốt hơn đời sống văn hóa,  
xã hội của người dân. Ở Việt Nam, trong  
những năm vừa qua việc phát triển doanh  
nghiệp tuy đã có thành tựu đáng kể nhưng  
bộc lộ nhiều hạn chế, cũng vì thế (tất nhiên  
là còn do nhiều nguyên nhân khác nữa) nó  
là một trong những nguyên nhân cơ bản làm  
cho nền kinh tế phát triển chưa có hiệu quả  
cao, thiếu sự bền vững một cách cần thiết.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Doanh nghiệp và vai trò của doanh nghiệp  
a) Khái niệm về doanh nghiệp và trách  
nhiệm của Nhà nước đối với phát triển  
doanh nghiệp  
Trong bài viết này, tác giả không chỉ xem  
xét doanh nghiệp như đã được quy định tại  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Ngô Thúy Quỳnh  
Luật Doanh nghiệp 2015: “Doanh nghiệp  
là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ  
sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký  
thành lập theo quy định của pháp luật nhằm  
mục đích kinh doanh” mà còn muốn nói đến  
các thực thể kinh tế có chức năng sản xuất  
kinh doanh và được coi là một pháp nhân  
thực sự như hợp tác xã (cả ở lĩnh vực phi  
nông nghiệp và nông, lâm nghiệp, thủy sản  
mà đã được quy định tại Luật Hợp tác xã -  
Luật số 23/2012/QH13, ngày 20/11/2012).  
Nói cụ thể hơn, doanh nghiệp là một tổ chức  
có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa  
vụ theo luật định hoặc theo Luật Hợp tác  
xã. Doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam  
bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, doanh  
ghiệp tư nhân trong nước, doanh nghiệp tư  
nhân nước ngoài và các loại hình hoạt động  
kinh tế có tư cách pháp nhân khác. Các loại  
doanh nghiệp này quan hệ mật thiết với  
nhau, cùng nhau phát triển theo định hướng  
phát triển chung của Nhà nước. Phát triển  
doanh nghiệp không phải là hiện tượng tự  
thân. Nhà nước có vai trò quyết định đối  
với đường hướng phát triển doanh nghiệp.  
Trong Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác  
xã quy định rõ vai trò, trách nhiệm của Nhà  
nước. Theo đó, Nhà nước “công nhận sự tồn  
tại lâu dài và phát triển của các loại hình  
doanh nghiệp, hợp tác xã; bảo đảm bình  
đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp,  
hợp tác xã không phân biệt hình thức sở hữu  
và thành phần kinh tế; công nhận tính sinh  
lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Nhà  
nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài  
sản, vốn đầu tư, thu nhập, quyền và lợi ích  
hợp pháp khác của doanh nghiệp, hợp tác  
xã và chủ sở hữu”. Phát triển doanh nghiệp  
bền vững được hiểu là việc phát triển doanh  
nghiệp trong trạng thái gia tăng tương đối  
ổn định trong thời gian dài và có hiệu quả  
theo hướng tiến bộ.  
b) Vai trò của doanh nghiệp  
Nói một cách tóm tắt, doanh nghiệp có  
vai trò quan trọng chủ yếu như sau: i) Tạo ra  
việc làm cho người lao động, trực tiếp tạo ra  
năng lực kinh tế của quốc gia, tham gia các  
chuỗi giá trị và các chuỗi cung ứng toàn cầu;  
ii) Tạo ra giá trị kinh tế, góp phần gia tăng  
quy mô và chất lượng của nền kinh tế;  
iii) Đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà  
nước và iv) Tham gia các cuộc chơi lớn về  
kinh tế với doanh nghiệp của các quốc gia  
khác trên thế giới.  
2.2. Tình hình phát triển doanh nghiệp ở  
Việt Nam  
2.2.1. Khái quát tình hình phát triển kinh  
tế Việt Nam  
Phát triển kinh tế và phát triển doanh  
nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì  
thế sự phát triển và hiệu quả phát triển của  
nền kinh tế phản ánh hiệu quả phát triển  
doanh nghiệp. Nhìn chung trong những  
năm vừa qua nền kinh tế Việt Nam đã có sự  
phát triển tương đối khá. Việt Nam đã có  
vị thế nhất định trên trường quốc tế. Theo  
Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2011-2019  
ở Việt Nam dân số tăng 1,1%, GDP tăng  
khoảng 5,9%/năm, GDP/người từ mức  
khoảng 24,8 triệu đồng năm 2010 tăng lên  
mức khoảng 62 triệu đồng giá hiện hành.  
Điều đáng kể nhất là giá trị xuất khẩu tăng  
mạnh (từ 72 tỷ lên 264 tỷ USD, đạt tốc  
độ tăng trung bình khoảng 17,6%/năm).  
Nguyên nhân chủ yếu để giá trị xuất khẩu  
tăng mạnh là do doanh nghiệp FDI đã bước  
vào giai đoạn phát triển mạnh. Tỷ lệ người  
nghèo giảm liên tục nhưng có nơi chưa bền  
vững (tức là tỷ lệ tái nghèo còn cao) theo  
kết quả tại bảng 1.  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 23, Số 2 (2021): 3-10  
Bảng 1. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Việt Nam  
Chỉ tiêu  
Đơn vị  
1.000 ng  
1.000 ng  
%
2010  
86.947  
26.515  
30,5  
2015  
2019  
96.484  
33.816  
35,0  
1. Dân số  
91.709  
31.067  
33,9  
Nhân khẩu thành thị  
% so tổng dân số  
2. Lao động từ 15 tuổi  
% so dân số chung  
1.000 ng  
%
50.393  
57,95  
3.108  
6,3  
53.984  
58,86  
3.283  
6,5  
55.767  
57,79  
4.615  
8,3  
Lao động xây dựng  
1.000 ng  
%
% so tổng số  
3. GDP, giá hiện hành  
4. GDP, giá 2010  
1.000 Tỷ đ  
1.000 Tỷ đ  
Tr. đ  
2.157,8  
2.157,8  
4.192,3  
2.875,8  
6.037,3  
3.738,5  
GDP/người  
* GDP/người, giá hiện hành  
* GDP/giá 2010  
Tr. đ  
24,8  
24,8  
72,2  
39,2  
54,3  
831  
45,7  
31,6  
62,6  
38,7  
Tr. đ  
5. Giá trị xuất khẩu  
Tỷ USD  
Tỷ USD  
%
162,0  
114,3  
70,6  
264,2  
179,2  
67,8  
Riêng khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  
% so tổng giá trị xuất khẩu  
Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người  
USD  
1.767  
2.738  
Nguồn: [3]  
Việt Nam đứng thứ 3 về dân số nhưng nền 6,5% của Nhật Bản, khoảng 4% của Singapore,  
kinh tế (GDP tính theo giá hiện hành) chỉ đứng 35,3% của Thái Lan, 22,5% của Malaysia và  
thứ 6 ở khu vực ở Đông Nam Á. Điều cần nhấn 65,9% của Indonesia. Năng suất lao động của  
mạnh là GDP/người và năng suất lao động của Việt Nam cũng thua kém với mức tương tự như  
Việt Nam đang thấp hơn so với nhiều nước thế. Chính điều đó cho biết doanh nghiệp nước  
trong khu vực. Năm 2018, GDP/người tính ta gặp khó khăn trong cạnh tranh quốc tế theo  
theo giá hiện hành USD của Việt Nam chỉ bằng như kết quả tại bảng 2.  
Bảng 2. Một số chỉ tiêu kinh tế của một số quốc gia, năm 2018  
Đơn vị  
Tr. ng  
Tỷ USD  
%
Nhật Bản Hàn Quốc  
Pháp  
64,8  
2777  
100  
Đức  
83,1  
3947  
100  
Mỹ  
329,2  
20544  
100  
Việt Nam  
96,5  
Dân số  
126,2  
4971,3  
100  
51,8  
1619  
100  
GDP, giá hiện hành  
Tỷ trọng các ngành  
- Nông nghiệp  
- Công nghiệp-XD  
- Dịch vụ  
245,2  
100  
%
1,2  
2,0  
1,5  
0,6  
1,0  
14,7  
%
29,1  
69,1  
0,7  
35,9  
53,6  
9,6  
16,9  
70,3  
10,9  
41464  
797  
27,5  
61,8  
9,9  
18,2  
74,4  
3,1  
34,2  
%
41,1  
- Phần khác*  
%
10  
GDP/người, giá hiện hành  
Xuất khẩu  
USD  
Tỷ USD  
%
39290  
917  
31363  
712,7  
44,0  
631,5  
13758  
47603  
1737  
44,0  
1459  
20902  
62795  
2510  
12,2  
3148  
7625  
2570  
261,8  
101,7  
257,6  
2713  
Xuất khẩu trên GDP  
Nhập khẩu  
18,4  
904  
28,8  
826  
Tỷ USD  
USD  
Xuất khẩu b/q người  
7266  
12299  
Nguồn: [3].  
Ghi chú: XD: xây dựng; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Ngô Thúy Quỳnh  
2.2.2. Thực trạng phát triển doanh nghiệp Nam. Từ năm 2010 đến 2019, cơ cấu kinh tế  
ở Việt Nam  
Việt Nam có sự thay đổi tương đối rõ và theo  
chiều hướng tiến bộ nhưng cũng bộc lộ không  
ít vấn đề chưa hợp lý. Tỷ trọng của kinh tế  
nhà nước giảm liên tục (từ 29,3% của năm  
2010 giảm xuống 28% năm 2015 và 26,2%  
vào năm 2019). Trong khi đó, kinh tế tư nhân  
trong nước và kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp  
nước ngoài tăng nhanh (từ 70,7% năm 2010  
tăng lên 72% năm 2015 và 73,8% vào năm  
2019). Sự thay đổi cơ cấu kinh tế tuy có xu  
hướng tiến bộ nhưng trong nền kinh tế Việt  
Nam công việc có thu nhập cao chưa nhiều  
nên nguồn thu ngân sách nhà nước khó có  
khả năng lớn. Cơ cấu kinh tế tuy có thay đổi  
nhưng sự thay đổi về chất rất hạn chế nên  
Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của  
Việt Nam như đề cập ở trên có nhiều nguyên  
nhân nhưng có nguyên nhân rất quan trọng  
và trực tiếp là do phát triển doanh nghiệp.  
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm  
2020 nền kinh tế tăng khoảng 2,9%. Bên  
cạnh đó, có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh phi  
nông nghiệp và trong số này có hàng trăm  
công ty kinh doanh trong khu vực sản xuất  
nông lâm thủy sản. Phần lớn doanh nghiệp  
hiện chủ yếu chỉ có việc làm có thu nhập thấp  
nên khả năng đóng góp vào thuế thu nhập,  
thuế doanh thu... cho Nhà nước đang còn có  
hạn. Đây là yếu tố chưa thể tạo ra nguồn thu  
ngân sách nhà nước (NSNN) lớn cho Việt hiệu quả phát triển cũng ở mức chưa cao.  
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế của Việt Nam  
Chỉ tiêu  
1. GDP, giá 2010  
Đơn vị  
2010  
2015  
2019  
2021  
1.000 Tỷ đ  
2.157,8  
2.875,8  
3.738,5  
4.075  
Trong đó theo ngành  
- Nông nghiệp  
1.000 Tỷ đ  
396,6  
18,4  
462,5  
16,1  
510,6  
14,3  
326  
8,0  
% so tổng GDP giá 2010  
- Công nghiệp  
%
1.000 Tỷ đ  
%
693,4  
32,1  
982,4  
34,2  
1.353,4  
36,2  
1.670  
41  
% so tổng GDP giá 2010  
*Công nghiệp chế biến, chế tạo  
% so tổng GDP giá 2010  
- Xây dựng  
1.000 Tỷ đ  
%
279,4  
12,9  
442,6  
15,4  
712,4  
19,1  
1222  
30  
1.000 Tỷ đ  
%
132,6  
6,1  
171,9  
6,0  
244,9  
6,6  
305  
7,5  
% so tổng số  
- Dịch vụ  
1.000 Tỷ đ  
%
797,2  
36,9  
1.101,2  
38,3  
1.453,7  
38,9  
1.670  
41  
% so tổng GDP giá 2010  
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm  
% so tổng GDP giá 2010  
1.000 Tỷ đ  
%
270,7  
12,5  
329,7  
11,5  
421,2  
11,3  
448  
11,0  
Nguồn: [3]  
Ở Việt Nam, có khoảng 97% doanh nghiệp NSNN của 1.000 doanh nghiệp nộp NSNN  
thuộc loại nhỏ và vừa. Năm 2019, ở Việt Nam nhiều nhất (lấy bằng 100%) thì doanh nghiệp  
có 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu nộp NSNN ở Thành phố Hồ Chí Minh đóng góp 34,1%;  
nhiều nhất và đóng góp tới 60,3% tổng thu ở Thành phố Hà Nội đóng góp 34,7%; ở Bình  
ngân sách nhà nước [6]. Trong tổng thu Dương đóng góp 3,9%; ở Đồng Nai đóng góp  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 23, Số 2 (2021): 3-10  
4,9%. Các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công NSNN quốc gia). Đồng thời, doanh nghiệp  
nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 33,3%; thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo;  
các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, tài chính ngân hàng và kinh doanh bất động  
ngân hàng và bảo hiểm đóng góp 18,7%; các sản đóng góp nhiều nhất cho NSNN (đóng  
doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đóng góp tới khoảng 61% tổng thu NSNN của Việt  
góp khoảng 10,7% tổng thu NSNN. Nhìn vào Nam). Vì thế trong những năm sắp tới cần chú  
những con số này có thể rút ra nhận định quan ý đúng mức đến việc phát triển doanh nghiệp  
trọng rằng, doanh nghiệp ở hai thành phố Hà ở hai thành phố lớn và ở các lĩnh vực vừa nói  
Nội và Hồ Chí Minh đóng góp vào NSNN đến. Có như thế mới có thêm nguồn thu ngân  
nhiều nhất (chiếm khoảng 69% tổng thu sách cho Nhà nước.  
Bảng 4. Một số chỉ tiêu về hiệu quả phát triển doanh nghiệp của Việt Nam  
Chỉ tiêu  
Đơn vị  
Tr.đ  
2015  
286,5  
22.442  
10.467  
14.949  
1036,1  
552,7  
3,63  
2019  
369,6  
43.928  
14.237  
27.017  
1697,7  
913,5  
3,79  
1. TSCĐ/lao động  
2. Vốn sản xuất kinh doanh  
103Tỷ đ  
103Tỷ đ  
103Tỷ đ  
103Tỷ đ  
103Tỷ đ  
%
3. Giá trị tài sản và đầu tư tài chính dài hạn  
4. Doanh thu thuần SXKD  
5. Thu nhập/lao động DN  
6. Lợi nhuận trước thuế của DN  
7. Tỷ suất lợi nhuận DN  
Riêng DN chế biến, chế tạo  
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế  
8. Số DN chế biến chế tạo  
%
4,83  
4,52  
%
3,7  
4,2  
DN  
67.490  
15,2  
111.120  
14,6  
% so tổng số DN  
%
9. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi  
10. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ  
%
46,5  
45,8  
%
39,9  
43,9  
Nguồn: [3]; Ghi chú: SXKD: Sản xuất kinh doanh; DN: Doanh nghiệp  
Năm 2019, nếu ở Thái Lan cứ khoảng 33 nguyên nhân quan trọng phải kể đến là phần  
người có 1 doanh nghiệp thì ở Việt Nam có nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ có việc  
tới 133 người mới có 1 doanh nghiệp. Tuy làm có thu nhập thấp. Điều đáng quan tâm là  
chưa có số liệu để so sánh sâu nhưng giả sử sự phát triển doanh nghiệp còn chưa đều giữa  
quy mô và trình độ doanh nghiệp như nhau các vùng miền. Hai vùng Đồng bằng sông  
thì như thế nền kinh tế Việt Nam khó có thể Hồng và miền Đông Nam Bộ có số doanh  
phát triển nhanh với số lượng doanh nghiệp nghiệp phát triển nhiều hơn các vùng miền  
ít như vậy. Để chứng minh cho ý này, theo còn lại. Tuy đó là điều tất yếu nhưng sắp tới  
Tổng cục Thống kê Việt Nam thì vào năm để tránh tình trạng quá tải cho hai vùng này  
2019 GDP/người của Việt Nam còn thấp thì cần phát triển mạnh doanh nghiệp ở các  
do rất nhiều nguyên nhân nhưng trong đó vùng khác nữa.  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Ngô Thúy Quỳnh  
Bảng 5. Một số chỉ tiêu về phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam  
Chỉ tiêu  
1. Số doanh nghiệp đang hoạt động  
- Vùng Trung du miền núi  
% so tổng số cả nước  
- Vùng Đồng bằng sông Hồng  
% so tổng số cả nước  
- Vùng BTB và DHMT  
% so tổng số cả nước  
- Vùng Tây Nguyên  
% so tổng số cả nước  
- Vùng Đông Nam Bộ  
% so tổng số cả nước  
- Vùng ĐBSCL  
Đơn vị  
DN  
DN  
2015  
442.485  
17.003  
3,8  
143.229  
32,4  
56.010  
12,7  
10.855  
2,5  
2019  
758.610  
31.812  
4,2  
238.386  
31,4  
100.725  
13,3  
19.777  
2,6  
2021  
765.100  
32.899  
4,3  
239.476  
31,3  
103.288  
13,5  
19.778  
2,6  
DN  
DN  
DN  
DN  
DN  
182.686  
41,3  
32.588  
312.821  
41,2  
55.089  
313.691  
41,0  
55.852  
% so tổng số cả nước  
7,4  
7,3  
7,3  
2. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi  
3. Tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ  
%
%
46,5  
39,9  
45,8  
43,9  
43,0  
43,8  
Nguồn: [3]; Ghi chú: SXKD: Sản xuất kinh doanh; DN: Doanh nghiệp; BTB và DHMT: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền  
Trung; ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long  
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thì thì đến năm 2019 họ đóng góp tới khoảng  
trong giai đoạn 2011-2019, các doanh nghiệp  
có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng  
15-18% tổng GDPquốc giaViệt Nam và đóng  
góp khoảng 38% vào tăng trưởng kinh tế (cụ  
thể là trong giai đoạn 2011-2019, tốc độ tăng  
GDP của cả nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng  
5,9% thì trong đó các doanh nghiệp FDI đóng  
góp điểm 2,3%). Trong khi các doanh nghiệp  
FDI đóng góp khoảng 23% vốn đầu tư xã hội  
thì đóng góp cho tăng trưởng của nền kinh tế  
quốc dân Việt Nam như thế là điều đáng suy  
ngẫm. Trong 10 năm, các doanh nghiệp có  
vốn đầu tư nước ngoài chỉ gia tăng tỷ lệ trong  
gia tăng tổng quy mô của nền kinh tế Việt  
Nam được khoảng 1,2 điểm phần trăm (bình  
quân khoảng 0,12%/năm). Mức độ đóng góp  
vào tổng thu ngân sách nhà nước cho Việt  
Nam giảm suốt trong giai đoạn 2011-2019  
(từ mức khoảng 31% năm 2010 xuống còn  
khoảng 13,6% vào năm 2019). Đây là hiện  
tượng chưa thật tương xứng tuy các doanh  
nghiệp FDI ngày càng đóng góp quan trọng  
vào xuất khẩu và công cuộc mở cửa kinh  
tế của Việt Nam. Nếu năm 2010 các doanh  
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp  
70% [3]. Đó là điều đáng ghi nhận. Song  
doanh nghiệp FDI gây tổn hại cho Việt Nam  
thông qua chuyển giá bao nhiêu thì chưa có  
số liệu thống kê và chưa được cơ quan Nhà  
nước hữu trách tính toán cụ thể.  
Các doanh nghiệp Việt Nam đang sử  
dụng công nghệ chưa thuộc loại cao. Ông  
Vũ Tiến Lộc Chủ tịch Phòng Thương mại  
và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng,  
trình độ công nghệ của các doanh nghiệp  
ở Việt Nam vẫn bị đánh giá là lạc hậu.  
Kết quả khảo sát của VCCI năm 2016 tại  
10 ngành, trong đó có 7 ngành thuộc lĩnh  
vực công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy,  
công nghệ của các doanh nghiệp của nước  
ta đến chủ yếu từ các nước đang phát triển  
(chiếm khoảng 65%), trong đó có tới 26,6%  
công nghệ đến từ Trung Quốc. Trong khi  
đó, tỷ lệ các công nghệ có xuất xứ từ Mỹ,  
Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước thuộc  
Liên minh Châu Âu chỉ chiếm khoảng 32%  
(song trong đó có trên 18% thuộc công nghệ  
khoảng 55% giá trị xuất khẩu của Việt Nam ra đời trước năm 2005) [6].  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 23, Số 2 (2021): 3-10  
Bảng 6. Xuất xứ công nghệ được sử dụng tại các doanh nghiệp  
ở Việt Nam đến năm 2019  
Số TT  
Loại công nghệ  
Của các nước đang phát triển thuộc công nghệ cũ trước 2005  
Của các nước đang phát triển thuộc công nghệ mới sau 2005  
Của Trung Quốc thuộc loại công nghệ trước 2005  
Của Trung Quốc thuộc loại công nghệ sau 2005  
Của các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật bản, EU trước 2005  
Của các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật bản, EU sau 2005  
Đến từ nơi khác  
Tỷ lệ doanh nghiệp,%  
1.  
8,8  
29,8  
4,5  
2.  
3
22,1  
18,1  
13,8  
2,9  
4
Nguồn: [6]  
3.2. Kiến nghị giải pháp  
3. Kết luận và kiến nghị giải pháp  
- Nhà nước trung ương cũng như chính  
quyền các địa phương cấp tỉnh cần xây dựng  
chiến lược phát triển doanh nghiệp cho thời  
kỳ trung và dài hạn. Trước hết phải xác định  
rõ lĩnh vực mũi nhọn, danh mục sản phẩm  
chủ lực với việc làm có thu nhập cao mà Việt  
Nam sẽ phát triển đến năm 2025 và đến năm  
2045. Nhà nước cùng đội ngũ doanh nghiệp  
tìm ra những việc làm có thu nhập cao là  
công việc vô cùng quan trọng và cấp bách.  
3.1. Kết luận  
Doanh nghiệp ở Việt Nam phát triển đang  
ở mức khiêm tốn, số lượng doanh nghiệp đã  
chưa nhiều, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa  
lại chiếm tới phần lớn, do đó năng lực kinh  
tế của doanh nghiệp Việt Nam đang rất hạn  
chế. Hiệu quả phát triển doanh nghiệp chưa  
cao như kỳ vọng. Để Việt Nam có sự phát  
triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững thì  
nhất thiết phải đổi mới chủ trương, đường lối  
phát triển doanh nghiệp. Cụ thể là:  
- Tăng nhanh số lượng, chất lượng doanh  
nghiệp. Đến năm 2025 cứ khoảng 45 người  
có 1 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp  
lớn chiếm khoảng 10-15%, sau đó đạt tỷ lệ  
khoảng 20-25% vào năm 2045. Nhà nước  
ban hành và tổ chức thực hiện luật pháp,  
chính sách có lợi cho doanh nghiệp làm  
ăn chân chính. Nhanh chóng thu hút nhiều  
doanh nghiệp có ý nghĩa chiến lược đến từ  
các quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới  
để có thể thu hút công nghệ hiện đại, nguồn  
tài chính lớn và mở rộng thị trường trên phạm  
vi toàn cầu.  
- Gia tăng doanh nghiệp lớn, nhất là doanh  
nghiệp của người Việt Nam và doanh nghiệp  
lớn của các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia,  
đa quốc gia.  
- Nhanh chóng nâng cao trình độ công  
nghệ của doanh nghiệp, tạo điều kiện doanh  
nghiệp có việc làm thu nhập cao, tham gia  
nhiều vào các chuỗi cung ứng, các chuỗi giá  
trị, các mạng phân phối toàn cầu.  
- Nhà nước cần hỗ trợ để các doanh  
nghiệp Việt Nam đủ sức tham gia các chuỗi  
giá trị, các chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng  
thời, tạo khung khổ pháp lý có lợi cho phát  
triển doanh nghiệp.  
- Nhanh chóng hoàn thiện khung khổ luật  
pháp, chính sách của Nhà nước về doanh  
nghiệp và về các lĩnh vực liên quan đến phát  
triển doanh nghiệp. Nâng cao năng lực quản  
lý và điều hành kinh tế nói chung và điều  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Ngô Thúy Quỳnh  
[2] Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp số  
59/2020/QH14 ngày 17/6/2020.  
hành phát triển doanh nghiệp nói riêng. Tạo  
mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp ra  
đời và làm ăn có hiệu quả trên cơ sở chuyển  
đổi số và phát triển kinh tế số thành công;  
tận dụng các lợi ích từ dữ liệu lớn, internet  
kết nối vạn vật và các nền tảng công nghệ  
xuyên quốc gia. Có biện pháp hữu hiệu giảm  
thiểu thiệt hại do tình trạng chuyển giá đối  
với doanh nghiệp FDI và khai khống, sai  
lệch giả dưới chiêu bài lỗ giả để trốn thuế,  
không nộp thuế vào ngân sách nhà nước của  
doanh nghiệp trong nước.  
[3] Tổng cục Thống kê (2015-2019). Niên giám  
thống kê.  
[4] Ngô Doãn Vịnh (2010). Phát triển: Điều kỳ  
diệu và bí ẩn. Nhà xuất bản Chính trị Quốc  
gia, Hà Nội.  
[5] Ngô Doãn Vịnh & Lê Thị Thanh Thủy (2020).  
Nâng cao năng suất lao động của Việt nam:  
Nhận diện những vấn đề gốc rễ để hành động  
đúng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường  
Đại học Hùng Vương, 1(18), 3-11.  
[6] Viettimes (2018). Trình độ công nghệ doanh  
nghiệp Việt lạc hậu, gần 60% vẫn sử dụng  
giải pháp tuổi đời trên 6 năm. Truy cập ngày:  
lac-hau>.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019). Sách trắng doanh  
nghiệp 2019. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.  
INNOVATION FOR ENTERPRISE DEVELOPMENT IN VIETNAM  
Ngo Thuy Quynh1  
1National Academy of Public Administration, Hanoi  
Abstract  
nterprise (Business) development is vital to Vietnam. Despite encouraging achievements in the past few  
years, business development is revealing many limitations and shortcomings, so Vietnam’s economic  
development efficiency is not high, it can even be said to be in low. The article explains key issues about the  
current situation of business development and the innovation orientation of business development in Vietnam  
in the coming years. At the same time, basic solutions are proposed to successfully innovate for business  
development by 2025. That can be considered as a useful lesson for localities to refer.  
E
Keywords: Enterprise, economy, efficiency, sustainability.  
10  
pdf 8 trang Thùy Anh 19460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đổi mới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdoi_moi_phat_trien_doanh_nghiep_o_viet_nam.pdf