Luận văn Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại UBND huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025

i
 
ii  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,  
kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất  
kỳ công trình nào khác.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã  
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn  
gốc.  
Học viên thực hiện Luận văn  
Nguyễn Thành Thanh Tuấn  
iii  
LỜI CÁM ƠN  
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn các giảng viên Viện Đào tạo Quốc tế và  
Sau đại học - Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng toàn thể UBND, tổ chức  
đoàn thể thuộc Ủy ban nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, bạn bè,  
đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.  
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến TS Lê Sĩ Trí đã trực  
tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn  
thành luận văn Thạc sĩ này.  
Mặc dù bản thân rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn  
không tránh khỏi một số thiếu sót ngoài mong muốn và những hạn chế nhất  
định. Vì vậy tôi rất mong được quý thầy cô giáo, các đồng nghiệp đóng góp ý  
kiến để luận văn được hoàn thiện hơn.  
Học viên thực hiện Luận văn  
Nguyễn Thành Thanh Tuấn  
 
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
NSNN  
NS  
Ngân sách nhà nước  
Ngân sách  
NSĐP  
HĐND  
KH  
Ngân sách địa phương  
Hội đồng nhân dân  
Kế hoạch  
UBND  
UBMTTQ  
TNCN  
XDCB  
TNMT  
TW  
Ủy ban nhân dân  
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  
Thu nhập cá nhân  
Xây dựng cơ bản  
Tài nguyên môi trường  
Trung ương  
ANCT  
TTATXH  
An ninh chính trị  
Trật tự an toàn xã hội  
vi  
MỤC LỤC  
vii  
 
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, nguồn thu ngân sách nhà  
nước còn gặp nhiều khó khăn, việc quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả  
NSNN luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và các ngành, các  
cấp. Thực hiện tốt công tác quản lý thu - chi ngân sách huyện có ý nghĩa rất  
quan trọng trong việc quản lý ngân sách cơ sở, đồng thời góp phần thực hành  
tiết kiệm, ổn định và làm lành mạnh nền tài chính, giảm hiện tượng tiêu cực,  
lãng phí, góp phần ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát.  
Thực tế trong thời gian gần đây đã xảy ra tình trạng mất ổn định về ngân  
sách tại một số đơn vị cơ sở, gây ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý của chính  
quyền. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do vi phạm các  
quy định về tài chính, kế toán ở một số đơn vị, ngân sách huyện chưa có sự quản  
lý thống nhất dẫn đến tình trạng chồng chéo, chậm chạp trong vấn đề quản lý  
thu - chi ngân sách.  
Vì vậy, việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát, hoàn thiện quy trình quản lý  
tài chính thông qua hoạt động thu - chi ngân sách tại địa phương là hết sức cần  
thiết trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh đó, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện  
công tác quản lý tài chính tại UBND huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đến  
năm 2025” thông qua hoạt động thu, chi ngân sách làm đề tài nghiên cứu cho  
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh là có tính cấp thiết và có giá  
trị ứng dụng vào thực tiễn hoạt động tại huyện.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Công tác quản lý thu - chi NSNN là yếu tố quan trọng quyết định hoạt  
động của cả bộ máy chính quyền địa phương. Vì vậy, cần nâng cao tính chủ  
động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử  
dụng NSNN. Đi đôi với việc tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện  
đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển  
kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh của  
2
địa phương, cần củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả NS và  
tài sản của nhà nước để giảm lãng phí NSNN.  
3. Mục tiêu nghiên cứu  
- Tổng quan nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trong thu - chi ngân sách  
địa phương.  
- Thực trạng hoạt động thu - chi ngân sách trên địa bàn huyện Khánh  
Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.  
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại  
UBND huyện Khánh Vĩnh đảm bảo đúng pháp luật và hiệu quả.  
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác  
quản lý thu chi ngân sách, đề tài tập trung phân tích làm rõ thực trạng quản lý  
thu - chi ngân sách, từ đó rút ra những nguyên nhân, tìm ra các giải pháp có căn  
cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn để tăng cường quản lý tài chính tại UBND  
huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng, cân  
đối thu - chi NSNN tại địa phương, thúc đẩy tăng trưởng toàn diện trên các lĩnh  
vực kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội của huyện.  
4. Câu hỏi nghiên cứu  
- NSNN là gì? Nội dung cơ bản của công tác quản lý tài chính địa  
phương thông qua hoạt động thu, chi ngân sách là gì?  
- Thực trạng công tác quản lý tài chính tại UBND huyện Khánh Vĩnh,  
tỉnh Khánh Hòa.  
- Tại sao phải hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại UBND huyện  
Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa?  
- Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại UBND huyện  
Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030?  
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: công tác quản lý tài chính tại địa phương thông  
qua công tác quản lý thu - chi NSNN tại địa phương (vấn đề thực hiện, lập, dự  
toán, quyết toán ngân sách, ...).  
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu công tác quản lý tài chính thông qua  
3
hoạt động thu - chi ngân sách tại UBND huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.  
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 - 2020.  
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu  
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp định tính,  
phương pháp thu thập tài liệu kết hợp phương pháp thống kê kinh tế, phân tích  
và tổng hợp, phương pháp toán học, phương pháp so sánh, phương pháp dự báo.  
- Nguồn tài liệu sử dụng: Nguồn số liệu thu thập trực tiếp từ các báo cáo  
quyết toán ngân sách tại UBND huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa từ năm  
2016 - 2020 và các tài liệu lý luận liên quan đến NS và quản lý ngân sách.  
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về NSNN, NSNN  
cấp địa phương, từ đó hoàn thiện lý luận về công tác quản lý tài chính thông qua  
hoạt động thu - chi NS trên địa bàn huyện.  
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý tài  
chính thông qua các hoạt động thu - chi ngân sách trên địa bàn huyện Khánh  
VĨnh, tỉnh Khánh Hòa, trên cơ sở các kết quả đã đạt được, đồng thời chỉ rõ  
những hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại đó. Các giải pháp mà luận văn  
nêu ra là tài liệu để đội ngũ cán bộ quản lý NS trên địa bàn huyện tham khảo, áp  
dụng.  
8. Kết cấu và nội dung luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận  
văn chia thành 3 Chương như sau:  
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý tài chính thông  
qua hoạt động thu-chi ngân sách.  
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính thông qua hoạt động  
thu-chi ngân sách tại UBND huyện Khánh Vĩnh.  
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính thông  
qua hoạt động thu, chi ngân sách tại UBND huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa  
đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.  
4
CHƯƠNG 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC HOẠT ĐỘNG  
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG THU, CHI  
NGÂN SÁCH  
1.1. Nhìn nhận chung về quản lý tài chính thông qua hoạt động thu,  
chi ngân sách:  
Cơ quan nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện chức năng  
duy trì và phát triển xã hội, thường quy định các khoản thu mang tính bắt buộc  
các đối tượng trong xã hội phải đóng góp nhằm đảm bảo chi tiêu cho bộ máy  
Nhà nước, quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế. NSNN là một phạm trù kinh tế,  
lịch sử, trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội, khái niệm về NSNN được  
đề cập trên nhiều góc độ khác nhau.  
Theo quy định của Việt Nam tại khoản 14 Điều 4 Luật NSNN số  
83/2015/QH13 ngày 25/6/2015: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu,  
chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong khoảng một thời gian nhất  
định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các  
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.  
1.1.1 Chức năng của quản lý tài chính thông qua hoạt động thu, chi  
ngân sách  
Thứ nhất: phân cấp giữa các cấp ngân sách về tỷ lệ phần trăm (%) giữa  
các khoản thu giữa các cấp ngân sách và bổ sung cân đối ngân sách từ cấp trên  
cho cấp dưới để đảm bảo hoạt động thu, chi giữa các cấp ngân sách từ trung  
ương đến địa phương.  
Thứ hai: đôn đốc, kiểm tra, giám sát, sử dụng các nghiệp vụ công tác  
như kiểm tra việc chấp hành NSNN, kế toán, kiểm toán và quyết toán NSNN  
một cách thường xuyên liên tục.  
1.1.2 Quản lý tài chính thông qua hoạt động thu, chi ngân sách có  
vai trò như thế nào  
NSNN luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất  
       
5
định, góp phần khai thác, huy động các nguồn tài chính, đảm bảo nhu cầu chi  
của Nhà nước theo mục tiêu; bù đắp cho những khiếm khuyết của thị trường,  
kích thích phát triển kinh tế và phòng chống lạm phát.  
1.1.3 Phân cấp hoạt động quản lý tài chính về hoạt động thu, chi  
ngân sách  
Đối với Việt Nam, hệ thống NSNN được tổ chức thành hai cấp: Ngân  
sách trung ương và Ngân sách địa phương. Việc phân cấp Ngân sách được cụ  
thể hoá trong Luật NSNN. Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm bảo  
bằng nguồn tài chính nhất định khi được đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ có hiệu quả  
hơn là sự sắp đặt từ trên xuống.  
Chủ động khai thác triệt để các nguồn thu để đáp ứng một cách tốt nhất  
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ đó giảm dần nguồn hỗ  
trợ của ngân sách từ cấp trên, góp phần giảm bội chi ngân sách nhà nước, đẩy lùi  
lạm phát và các hiện tượng tiêu cực khác. Phân cấp quản lý và phân cấp ngân  
sách cũng đã được các cấp có thẩm quyền triển khai thực hiện và đang tiếp tục  
hoàn chỉnh.  
1.1.4 Nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN  
* Nguồn thu NSNN:  
Nguồn thu NSNN chia thành các loại: Các khoản thu ngân sách được  
hưởng 100%; các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa các cấp  
ngân sách với nhau; Thu bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu; Thu  
chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang.  
* Chi NSNN có các nhiệm vụ:  
- Ngân sách trung ương:  
+ Chi đầu tư phát triển;  
+ Chi dự trữ quốc gia;  
+ Chi thường xuyên;  
+ Chi trả nợ lãi các khoản tiền do Chính phủ vay;  
+ Chi viện trợ;  
+ Chi cho vay theo quy định của pháp luật;  
   
6
+ Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính trung ương;  
+ Chi chuyển nguồn của ngân sách trung ương sang năm sau;  
+ Chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa  
phương.  
- Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương: Chi đầu tư phát triển; Chi  
thường xuyên; Chi trả nợ lãi các khoản do chính quyền địa phương vay; Chi bổ  
sung quỹ dự trữ tài chính địa phương; Chi chuyển nguồn sang năm sau của ngân  
sách địa phương; Chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân  
sách cấp dưới; Chi hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ quy định tại các điểm a, b  
và c khoản 9 Điều 9 của Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015.  
1.5 Quản lý tài chính thông qua hoạt động thu, chi ngân sách Nhà  
nước cấp địa phương  
1.5.1 Khái niệm quản lý NSNN cấp địa phương  
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng  
một hệ thống phương pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, tiếp  
cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ cho lợi ích của con người. Đây là hoạt động có  
mục đích của chủ thể tuân theo những nguyên tắc nhất định và là quá trình thực  
hiện đồng thời hàng loạt các chức năng liên kết hữu cơ với nhau từ dự toán - xây  
dựng kế hoạch - tổ chức thực hiện - động viên phối hợp - điều chỉnh - hạch toán  
- kiểm tra.  
Quản lý NSĐP là tập trung nguồn tài chính, hình thành quỹ Ngân sách  
của địa phương (căn cứ vào các chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền của địa  
phương được phân định theo quy định của pháp luật) và thực hiện phân phối, sử  
dụng nguồn NS đó một cách hợp lý, có hiệu quả nhằm thực hiện các yêu cầu của  
Nhà nước giao cho địa phương, hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã  
hội của địa phương.  
1.5.2 Nội dung quản lý NSNN cấp địa phương  
Quản lý NSĐP gồm ba khâu: lập dự toán, thực hiện và quyết toán ngân  
sách. Trong một năm ngân sách, tức là chấp hành ngân sách của chu trình hiện  
tại, quyết toán ngân sách của chu trình trước và lập ngân sách của chu trình sau.  
7
Quản lý NSĐP cũng tuân thủ chu trình ngân sách trên gồm các bước:  
1.5.2.1 Lập dự toán Ngân sách  
Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán NS là nhằm tính toán đúng đắn NS  
trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chỉ tiêu thu - chi  
của NS trong kỳ kế hoạch. Yêu cầu quá trình lập dự toán NS phải đảm bảo:  
+ Bám sát kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và có tác động tích cực đối  
với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.  
+ Thực hiện đúng và đầy đủ các quan điểm của chính sách tài chính địa  
phương trong từng thời kỳ, đảm bảo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, thể  
hiện đầy đủ các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính địa phương như:  
Trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bố trí các nội dung  
chi tiêu. Khâu lập kế hoạch NS cũng phải thể hiện đầy đủ các yêu cầu của Luật  
Ngân sách nhà nước trong việc: xác định phạm vi, mức độ của nội dung các  
khoản thu - chi, phân định thu - chi giữa các cấp, cân đối NS.  
- Căn cứ lập dự toán NS:  
+ Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, đảm bảo  
quốc phòng - an ninh của Đảng và Chính quyền địa phương trong năm kế hoạch  
và những năm tiếp theo. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đồng thời cũng là  
nơi sử dụng các khoản chi NS.  
+ Căn cứ vào các kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế  
hoạch NS của các năm trước, đặc biệt là của năm báo cáo, kết hợp các chính  
sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức cụ thể về thu, chi tài chính nhà nước.  
- Quy trình lập dự toán NSĐP gồm ba giai đoạn:  
+ Giai đoạn 1: hướng dẫn lập dự toán NS và thông báo số kiểm tra.  
Trước ngày 31/5 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về việc xây  
dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm sau. Trước ngày  
10/6 Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn lập dự toán NSNN và thông  
báo số kiểm tra về dự toán NSNN cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc  
Chính phủ, cơ quan khác ở TW và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung  
ương. UBND cấp tỉnh tiếp tục hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán  
8
NS cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp quận, huyện. UBND cấp quận,  
huyện tiếp tục hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán NS cho xã,  
phường, thị trấn.  
+ Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán Ngân sách.  
Các đơn vị trên cơ sở các văn bản hướng dẫn tiến hành lập dự toán thu,  
chi NS trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực  
tiếp. Đơn vị dự toán cấp I xem xét, tổng hợp, lập dự toán tổng thể báo cáo cơ  
quan tài chính, kế hoạch và đầu tư cùng cấp trước ngày 20/7 hàng năm kèm theo  
bản thuyết minh chi tiết căn cứ tính toán từng khoản thu - chi. Cơ quan Tài  
chính các cấp tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán NS với các cơ quan, đơn  
vị cùng cấp và UBND, cơ quan tài chính cấp dưới (đối với năm đầu của thời kỳ  
ổn định NS). Cơ quan, đơn vị cấp trên phải tổ chức làm việc để thảo luận về dự  
toán với các đơn vị dự toán NS trực thuộc trong quá trình lập dự toán.  
+ Giai đoạn 3: Quyết định phân bổ, giao dự toán Ngân sách.  
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi NS của UBND cấp  
trên, UBND địa phương trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán NSĐP và  
phương án phân bổ dự toán NS cấp mình, đảm bảo dự toán NS địa phương được  
quyết định trước ngày 31/12 năm trước.  
1.5.2.2 Chấp hành Ngân sách Nhà nước  
- Chấp hành thu NS gồm các nội dung sau:  
+ Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan và cơ quan  
khác được giao nhiệm vụ thu NS (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu  
NS.  
+ Cơ quan thu NSĐP có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các  
cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm  
tra của UBND và sự giám sát của HĐND về công tác thu NS tại địa phương.  
Phối hợp với UBMTTQ địa phương và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận  
động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp NS theo quy định  
của Luật Ngân sách và các quy định khác của Pháp luật.  
+ Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có  
9
trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp NS phải nộp  
đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào NS.  
- Chấp hành chi NS gồm các phần việc phân bổ và giao dự toán chi NS,  
kiểm soát chi, điều chỉnh dự toán NSNN: Sau khi UBND tỉnh giao dự toán chi  
NS cho các đơn vị sử dụng NS trực thuộc theo các nguyên tắc được quy định, dự  
toán chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng NS được phân bổ theo từng loại  
của nhiệm vụ chi và ngành kinh tế.  
+ Nội dung cơ bản của chi thường xuyên NS huyện: chi cho các hoạt  
động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục thể thao, văn hoá xã  
hội; chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước; chi cho hoạt động  
hành chính nhà nước; chi cho Quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội; các  
khoản chi khác.  
+ Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của NSĐP bao gồm: Nguyên tắc  
quản lý theo dự toán; Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; Nguyên tắc chi trực tiếp  
qua Kho bạc nhà nước.  
+ Chi đầu tư phát triển dựa trên nguyên tắc quản lý cấp phát thanh toán  
vốn đầu tư xây dựng cơ bản như cấp phát vốn trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh  
trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài liệu thiết kế, dự toán. Mục  
chi này chỉ được thực hiện khi có đã có trong dự toán NS được giao, đúng chế  
độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định, đã được thủ trưởng  
đơn vị sử dụng NS hoặc người được ủy quyền quyết định chi. Trường hợp sử  
dụng vốn, kinh phí NS để đầu tư XDCB, mua sắm trang thiết bị, phương tiện  
làm việc và các công việc khác phải qua thẩm định giá thì phải tổ chức đấu thầu  
hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật.  
Quản lý các khoản chi là hướng tới mục tiêu đảm bảo yêu cầu tiết kiệm  
và hiệu quả, từ đó quản lý chặt chẽ các đối tượng sử dụng ngân sách, đối tượng  
thụ hưởng NS, quản lý có hiệu quả các khâu xây dựng dự toán, xây dựng tiêu  
chuẩn, định mức, chấp hành và quyết toán NS, trên cơ sở đó đổi mới cơ cấu chi,  
các biện pháp quản lý chi.  
1.5.2.3 Quyết toán Ngân sách  
10  
Quyết toán NS là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý, yêu cầu là đảm  
bảo tính chính xác, trung thực và kịp thời và phải đảm bảo các nguyên tắc sau:  
- Số liệu quyết toán Ngân sách gồm: Số quyết toán thu NS là số thu đã  
được thực nộp hoặc hạch toán thu NS qua Kho bạc Nhà nước. Số quyết toán chi  
NS là số chi đã thực thanh toán hoặc đã hạch toán chi theo quy định tại của Luật  
NSNN.  
Trình tự lập, gửi, xét duyệt và thẩm định quyết toán năm của các đơn vị  
dự toán được quy đinh như sau: Đơn vị dự toán cấp dưới lập báo cáo quyết toán  
theo chế độ quy định và gửi đơn vị dự toán cấp trên.  
+ Đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét  
duyệt cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc. Các đơn vị dự toán cấp trên là đơn vị  
dự toán cấp I, phải tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm của đơn vị mình và  
báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc, gửi cơ quan tài  
chính cùng cấp.  
+ Cơ quan Tài chính cùng cấp thẩm định quyết toán năm của các đơn vị  
dự toán cùng cấp, xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý sai  
phạm trong quyết toán của đơn vị dự toán, ra thông báo thẩm định quyết toán  
gửi đơn vị dự toán. Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng  
NS, cơ quan tài chính duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết  
toán cho đơn vị dự toán cấp I.  
Trình tự lập, gửi, thẩm định quyết toán thu, chi NS hàng năm của NS  
được quy định như sau: Mẫu, biểu báo cáo quyết toán năm của NSNN nói chung  
và NS huyện nói riêng thực hiện theo chế độ kế toán Nhà nước và các văn bản  
hướng dẫn của Bộ Tài chính.  
+ Bộ phận tài chính - kế toán địa phương lập quyết toán thu - chi NS  
trình UBND cùng cấp xem xét gửi phòng Tài chính-Kế hoạch; Đồng thời  
UBND địa phương trình HĐND địa phương phê chuẩn. Sau khi được HĐND  
địa phương phê chuẩn, UBND địa phương báo cáo bổ sung, quyết toán NS gửi  
phòng Tài chính-Kế hoạch. Phòng Tài chính-Kế hoạch thẩm định quyết toán  
thu, chi NS địa phương.  
11  
Nội dung duyệt quyết toán năm đối với đơn vị dự toán: Xét duyệt từng  
khoản thu, chi phát sinh tại đơn vị. Các khoản thu phải đúng pháp luật, pháp  
lệnh thuế, pháp lệnh phí, lệ phí và các chế độ thu khác của Nhà nước. Các khoản  
chi phải đảm bảo các điều kiện chi quy định, thu - chi phải hạch toán theo đúng  
chế độ kế toán, đúng mục lục NSNN, đúng niên độ. Chứng từ thu - chi phải hợp  
pháp. Sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu  
của Kho bạc Nhà nước.  
1.5.2.4 Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán Ngân sách  
Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đảm bảo việc thực hiện NS đúng pháp  
luật, việc sử dụng nguồn lực đóng góp của nhân dân đúng mục tiêu, tránh những  
hậu quả xấu đè nặng lên người dân, người chịu thuế.  
Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán NS được thực hiện bởi nhiều cơ  
quan, trong đó, chịu trách nhiệm chính và trước hết là thủ trưởng các đơn vị dự  
toán phải thường xuyên tự kiểm tra đối chiếu với chính sách chế độ về quản lý  
NS để đảm bảo việc thu, chi đúng chính sách, chế độ quy định. Các Bộ, các đơn  
vị dự toán cấp trên chịu trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành các chế độ thu, chi  
và quản lý NS, quản lý tài sản nhà nước của các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn  
các đơn vị này thực hiện việc kiểm tra trong đơn vị mình. Cơ quan tài chính, cơ  
quan thu NS, cơ quan Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế  
độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ đối với các đơn vị, cá nhân có nghĩa vụ thu  
nộp NS, đơn vị sử dụng NS các cấp.  
Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và  
quản lý NS, quản lý tài sản Nhà nước của các tổ chức và cá nhân.  
Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ xác định tính đúng đắn, hợp pháp của  
báo cáo quyết toán NS các cấp và các đơn vị dự toán. Kết quả kiểm toán được  
báo cáo trước Chính phủ, Quốc hội và thực hiện trước khi Quốc hội, HĐND phê  
chuẩn quyết toán ngân sách.  
1.6 Yêu cầu quản lý tài chính thông qua hoạt động thu, chi ngân  
sách địa phương  
Để quản lý NSNN cần nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ  
12  
quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN, củng cố kỷ luật tài  
chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của nhà nước, tăng  
tích luỹ nham thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng  
xã hội chủ nghĩa. Quản lý NSĐP cần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,  
nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh của địa phương.  
Với chi tiêu ngân sách, kinh phí của ngân sách được chi cho các sự  
nghiệp quan trọng của Nhà nước như sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp văn hóa, sự  
nghiệp giáo dục - đào tạo, sự nghiệp khoa học... về hình thức là chi tiêu dùng  
nhưng thực chất là đảm bảo cho một xã hội trong tương lai có sự phát triển.  
Điều này cho thấy NSNN có vai trò đối với xã hội rất lớn. Tại các địa phương,  
chi NSĐP là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào  
NSĐP và đưa chúng đến đúng mục đích sử dụng. Vì vậy chi NSĐP không phải  
chỉ là định hướng chung chung, mà phải được tính toán phân bổ theo từng chỉ  
tiêu, mục tiêu, từng hoạt động đảm bảo thực hiện được các vấn đề lớn, vấn đề  
mang tính trọng tâm thuộc mục tiêu chương trình của từng địa phương và cả  
quốc gia.  
Việc hoạch định bố trí, xây dựng cơ cấu các khoản chi ngân sách phải  
phù hợp với bối cảnh lịch sử và mục tiêu phát triển. Chi vào đâu? Chi bao  
nhiêu? Chi như thế nào? Chi nhằm mục đích gì? Đó là những vấn đề phải có sự  
chỉ đạo của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương.  
Quản lý các khoản chi là hướng tới mục tiêu đảm bảo yêu cầu tiết kiệm  
và hiệu quả, các cơ quan thẩm quyền và chuyên môn của địa phương phải luôn  
coi tiết kiệm và hiệu quả là tiêu chí cơ bản khi xác lập các biện pháp quản lý, từ  
đó quản lý chặt chẽ các đối tượng sử dụng NS, đối tượng thụ hưởng NS, quản lý  
có hiệu quả các khâu xây dựng dự toán, xây dựng tiêu chuẩn, định mức, chấp  
hành và quyết toán ngân sách. Thường xuyên phân tích đánh giá, tổng kết rút  
kinh nghiệm, trên cơ sở đó đổi mới cơ cấu chi, các biện pháp quản lý chi. Gắn  
mục tiêu quản lý các khoản chi với nội dung quản lý các mục tiêu của kinh tế vĩ  
mô (tăng thêm việc làm, kiềm chế lạm phát, ổn định cán cân thanh toán, ổn định  
xã hội, phát triển kinh tế, giữ vững quốc phòng, an ninh...).  
13  
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính thông qua hoạt  
động thu, chi ngân sách  
* Hệ thống pháp luật  
Theo Các Mác: Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên  
thành luật mà nội dung của nó bị quy định bởi điều kiện vật chất của xã hội.  
Nghĩa là pháp luật vừa là một phạm trù chủ quan thể hiện ý chí của giai cấp  
thống trị, vừa là một phạm trù khách quan thể hiện ý chí bị quy định bởi điều  
kiện vật chất của xã hội.  
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo  
đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều  
chỉnh các quan hệ xã hội. Bản chất sâu xa của pháp luật là giai cấp, biểu hiện dễ  
thấy nhất của pháp luật là tính xã hội, tính dân tộc và tính mở.  
Pháp luật xuất phát từ nhu cầu khách quan của xã hội, là nhu cầu tự thân  
của chính bộ máy nhà nước để hoạt động có hiệu quả dựa trên những nguyên tắc  
và quy định cụ thể. Là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế, xã hội, pháp  
luật triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước một cách nhanh nhất,  
đồng bộ và có hiệu quả trên quy mô rộng lớn nhất. Chỉ có trên cơ sở một hệ  
thống pháp luật đồng bộ và đủ mạnh nhà nước mới phát huy được hiệu lực quản  
lý kinh tế - xã hội.  
Trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật có tính độc lập tương đối:  
- Pháp luật phụ thuộc vào kinh tế: nội dung pháp luật do các quan hệ  
kinh tế -xã hội quyết định, chế độ kinh tế là cơ sở của pháp luật. Sự thay đổi của  
kinh tế sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay đổi của pháp luật. Pháp luật luôn  
phản ánh trình độ phát triển của chế độ kinh tế, nó không thể cao hơn hoặc thấp  
hơn trình độ phát triển đó.  
- Pháp luật có tác động trở lại một cách mạnh mẽ đối với kinh tế có thể  
là tích cực hoặc tiêu cực: khi pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị là lực  
lượng tiến bộ trong xã hội, phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế thì pháp  
luật có nội dung tiến bộ và có tác dụng tích cực. Ngược lại sẽ kìm hãm sự phát  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 74 trang Thùy Anh 13460 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại UBND huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_hoan_thien_cong_tac_quan_ly_tai_chinh_tai_ubnd_huye.pdf