Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh - Nguyễn Xuân Quyết
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
GIÁO TRÌNH:
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
TS. Nguyễn Xuân Quyết
TP. Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2017
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH......
1.KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ NỘI DUNG CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH
1.1. Khái niệm
1.2. Ý nghĩa và nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh
1.3. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh
1.4. Những đối tượng sử dụng công cụ phân tích hoạt động kinh doanh
1.5. Nhiệm vụ cụ thể của phân tích hoạt động kinh doanh
2.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.1. Phương pháp tính toán kỹ thuật của phân tích
2.2. Phương pháp phân tích khác (đồ thị, toán kinh tế...)
3.NGUỒN TÀI LIỆU VÀ YÊU CẦU CỦA CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
3.1. Nguồn tài liệu
3.2. Yêu cầu của công tác phân tích
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KINH DOANH
1.CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KINH DOANH
1.1. Khái niệm
1.2. Ý nghĩa và nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh
1.3. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh
1.4. Những đối tượng sử dụng công cụ phân tích hoạt động kinh doanh
1.5. Nhiệm vụ cụ thể của phân tích hoạt động kinh doanh
2.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.1. Phương pháp tính toán kỹ thuật của phân tích
2.2. Phương pháp phân tích khác (đồ thị, toán kinh tế...)
3.NGUỒN TÀI LIỆU VÀ YÊU CẦU CỦA CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
3.1. Nguồn tài liệu
2
3.2. Yêu cầu của công tác phân tích
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT TRONG KINH DOANH
1. PHÂN TÍCH YẾU TỐ LAO ĐỘNG
1.1. Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động
1.2. Phân tích năng suất lao động
2/ PHÂN TÍCH YẾU TỐ VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
2.1 Phân tích tình hình trang bị tài sản cố định
3. PHÂN TÍCH YẾU TỐ NGUYÊN VẬT LIỆU
3.1. Phân tích tình hình sử dụng nguyên vật liệu
4. PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CỦA CHI PHI SẢN XUẤT CHUNG
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN TRONG KINH DOANH
CHƯƠNG 5: DÒNG TIỀN VÀ KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
CHƯƠNG 6: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
3
CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ NỘI DUNG CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH
1.1. Khái niệm:
Phân tích hoạt động kinh doanh hiểu theo định nghĩa chung nhất là quá trình
nghiên cứu tất cả các hiện tượng, các sự vật có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của con người. Quá trình phân tích được tiến hành từ bước
khảo sát thực tế đến tư duy trừu tượng, tức là từ việc quan sát thực tế, thu thập thông tin
số liệu, xử lý phân tích các thông tin số liệu, tìm nguyên nhân, đến việc đề ra các định
hướng hoạt động và các giải pháp thực hiện các định hướng đó.
1.2. Ý nghĩa và nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh:
Phân tích hoạt động kinh doanh giúp cho doanh nghiệp tự đánh giá về thế mạnh
cũng như thế yếu để cũng cố, phát huy hay khắc phục. Nó còn là công cụ cải tiến công tác
quản trị trong doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động kinh doanh giúp phát huy mọi tiềm năng, thị trường, khai thác
tối đa những nguồn lực của doanh nghiệp, nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh
doanh.
Kết quả của Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở để ra các quyết định quản trị
ngắn hạn và dài hạn.
Phân tích hoạt động kinh doanh giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro bất
định trong kinh doanh.
1.3. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh:
Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh suy đến cùng chính là kết qủa kinh
doanh.
Nội dung phân tích chính là quá trình tìm cách lượng hoá những yếu tố của quá
trình cung cấp, sản xuất, tiêu thụ và mua bán hàng hóa thuộc các lĩnh vực sản xuất,
thương mại dịch vụ.
Phân tích hoạt động kinh doanh còn nghiên cứu tình hình sử dụng các nguồn lực:
vốn, vật tư, lao động và đất đai, những nhân tố nội tại của doanh nghiệp hoặc khách quan
từ phía thị trường và môi trường kinh doanh.
4
Phân tích hoạt động kinh doanh đi vào phân tích những kết quả đã đạt được từ
những hoạt động liên tục và vẫn còn tiếp diễn của DN, và dựa trên kết quả phân tích để để
ra các quyết định quản trị ngắn hạn lẫn dài hạn thích hợp.
1.4. Những đối tượng sử dụng công cụ phân tích hoạt động kinh doanh:
− Nhà quản trị: phân tích để có quyết định về quản trị.
− Người cho vay: phân tích để có quyết định tài trợ vốn.
− Nhà đầu tư: phân tích để có quyết định đầu tư, liên doanh.
− Các cổ đông: phân tích để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp – nơi họ
có phần vốn góp của mình.
1.5. Nhiệm vụ cụ thể của phân tích hoạt động kinh doanh :
Đánh giá giữa kết quả thực hiện so với kế hoạch hoặc so với tình hình thực hiện kỳ
trước, so với các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành hoặc chỉ tiêu bình quân nội ngành và
các thông số thị trường.
Phân tích những nhân tố nội tại và khách quan đã ảnh hưởng đến tình hình thực
hiện kế hoạch .
Phân tích hiệu quả các phương án kinh doanh hiện tại và các dự án đầu
tư dài hạn. Xây dựng kế hoạch dựa trên kết quả phân tích.
Phân tích dự báo, phân tích chính sách và phân tích rủi ro trên các mặt hoạt động
của doanh nghiệp.
Lập báo cáo kết quả phân tích, thuyết minh và đề xuất các biện pháp quản trị. Các
báo cáo được thể hiện bằng lời văn, bảng biểu và bằng các loại đồ thị.
2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.1. Phương pháp tính toán kỹ thuật của phân tích:
Cùng với sự phát triển của nhận thức các hiện tượng kinh tế, cũng như sự phát
triển của các môn khoa học kinh tế và toán học ứng dụng, đã hình thành nên các phương
pháp tính toán kỹ thuật được sử dụng trong khoa học phân tích kinh tế.
a) Phương pháp chi tiết:
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích hoạt động kinh doanh.
Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo các hướng khác nhau.
Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: các chỉ tiêu biểu hiện kết quả hoạt
động kinh doanh do nhiều bộ phận cấu thành, từng bộ phận lại biểu hiện chi tiết về một
khía cạnh nhất định của kết quả kinh doanh. Phân tích chi tiết các chỉ tiêu cho phép đánh
giá một cách chính xác, cụ thể kết quả kinh doanh đạt được. Đây là phương pháp được sử
5
dụng rộng rãi trong phân tích mọi kết quả hoạt động kinh doanh. Ví du: trong phân tích
chỉ tiêu giá thành bao gồm các bộ phận như: chi phí nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ,
nhiên liệu, chi phí tiền lương, khấu hao thiết bị máy móc, chi phí sản xuất chung… Đến
lượt mình từng bộ phận lại bao gồm nhiều chi tiết cụ thể khác nhau. Như chi phí sản xuất
chung trong chỉ tiêu giá thành lại bao gồm: lương chính, phụ của nhân viên quản lý phân
xưởng, bao mòn tài sản cố định dùng chung cho phân xưởng, chi phí phục vụ và quản lý
phân xưởng…
Chi tiết theo thời gian: kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá
trình. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng đơn vị
thời gian thường không đồng đều. Ví dụ: trong sản xuất, sản lượng sản phẩm thực hiện
từng tháng, từng quý trong năm không đều nhau. Tương tự trong thương mại, doanh số
mua bán từng thời gian trong năm cũng không bằng nhau. Việc phân tích chi tiết theo
thời gian giúp ta đánh giá được nhịp điệu, tốc độ phát triển của hoạt động kinh doanh qua
các thời kỳ khác nhau, từ đó tìm nguyên nhân và giải pháp có hiệu lực cho công việc kinh
doanh.
Chi tiết theo địa điểm: kết quả kinh doanh được thực hiện bởi các phân xưởng, tổ
đội sản xuất… hay các cửa hàng, trạm, trại, xí nghiệp trực thuộc doanh nghiệp. Phân tích
chi tiết theo địa điểm giúp ta đánh giá kết quả thực hiện hạch toán kinh tế nội bộ.
b) Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng lâu đời và phổ biến nhất. So
sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa,
có nội dung và tính chất tương tự để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ
tiêu.
Nó cho phép chúng ta tổng hợp được những nét chung cũng như tách ra được
những nét riêng của các hiện tượng được so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt
phát triển hay kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm ra các giải pháp quản lý
tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể.
Vì vậy, để tiến hành so sánh bắt buộc phải giải quyết những vấn đề cơ bản như xác
định số gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh, mục tiêu so sánh.
− Số gốc để so sánh: tùy thuộc vào mục đích cụ thể của hoạt động phân tích mà ta xác
định số gốc để so sánh. So sánh các số liệu thực hiện với các số liệu định mức, kế
hoạch giúp ta đánh giá mức độ biến động so với mục tiêu đề ra.
− So sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước (năm trước, quý trước, tháng trước) giúp
ta nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của hiện tượng.
− So sánh số liệu của thời gian này với số liệu cùng kỳ của thời gian trước giúp ta
nghiên cứu nhịp độ thực hiện kinh doanh trong từng khoảng thời gian.
6
− So sánh số liệu thực hiện với các thông số kinh tế kỹ thuật trung bình hoặc tiên tiến
giúp ta đánh giá được mức độ phấn đấu của doanh nghiệp.
− So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với doanh nghiệp tương đương, điển hình
hoặc doanh nghiệp thuộc đối thủ cạnh tranh giúp ta đánh giá được thế mạnh, yếu của
doanh nghiệp.
− So sánh số liệu thực tế với mức hợp đồng đã ký, tổng nhu cầu… giúp ta biết được khả
năng đáp ứng nhu cầu của thị trường.
− So sánh các thông số kinh tế kỹ thuật của các phương án kinh tế khác nhau giúp ta lựa
chọn được phương án tối ưu.
c) Phương pháp liên hoàn (phương pháp số chênh lệch):
Một chỉ tiêu kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố. Ví dụ: chỉ tiêu doanh số
bán hàng của một công ty ít nhất chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 2 nhân tố: khối lượng bán
hàng và giá bán hàng hóa. Thông qua phương pháp thay thế liên hoàn, các nhà phân tích
có thể nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lên chỉ tiêu cần phân tích.
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của
các nhân tố lên chỉ tiêu phân tích bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ
giá trị gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Sau đó,
so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu khi chưa có biến đổi của
nhân tố cần xác định, ta sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó.
Xác định đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng lên chỉ tiêu kinh tế phân tích và thể hiện
mối quan hệ các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích bằng một công thức nhất định.
Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng trong công thức theo trình tự nhất định và chú ý:
Nhân tố khối lượng thay thế trước, nhân tố trọng lượng thay thế sau.
Nhân tố ban đầu thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau.
Xác định ảnh hưởng của nhân tố nào thì lấy kết quả tính toán của bước trước để
tính mức độ ảnh hưởng và cố định các nhân tố còn lại.
Chúng ta có thể khái quát mô hình chung của phép thay thế liên hoàn như sau:
Nếu có Q = abcd thì Q1 = a1b1c1d1 và Q0 = a0 b0 c0
d0
ĐTPT: DQ = Q1 -Q0
Nguyên tắc sử dụng phương phápthay thế liên hoàn:
DQa = a1b0 c0 d 0 -a0 b0 c0 d 0
DQb = a1b1c0 d0 -a1b0 c0 d0
DQc = a1b1c1d 0 -a1b1c0 d0
7
DQd = a1b1c1d1 -a1b1c1d 0
Tổng hợp: DQ = DQa +DQb +DQc +DQd
d) Phương pháp số chêch lệch:
Là phương pháp biến dạng của phương pháp thay thế liên hoàn. Nhưng cách tính
đơn giản hơn và cho phép tính ngay được kết quả cuối cùng bằng cách xác định mức độ
ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với
kế hoạch của nhân tố đó.
Dạng tổng quát của số chênh lệch:
ĐTPT:
DQa = (a1 - a0)b0c0d0
DQb = (b1 - b0)a1c0d0
DQc = (c1 - c0)a1b1d0
DQd = (d1 - d0)a1b1c1
Tổng hợp: DQ = DQa +DQb +DQc +DQd
Ngoài các phương pháp phân tích nêu ở trên, trong thực tế người ta còn sử dụng
các phương pháp khác như phương pháp đồ thị, phương pháp toán kinh tế...
3. NGUỒN TÀI IỆU VÀ YÊU CẦU CỦA CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
3.1. Nguồn tài liệu:
Khi thực hiện phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần phải thu thập
những tài liệu sau đây:
− Bảng cân đối kế toán (Balance sheet).
− Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Statement).
− Bảng thuyết minh báo cáo tài chính (Explaination of Financial
Statement). Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (The Statement of Cash Flows).
− Các bảng báo cáo đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển
của doanh nghiệp qua các năm hoạt động.
3.2. Yêu cầu của công tác phân tích:
Muốn công tác phân tích hoạt động kinh doanh mang ý nghĩa thiết thực, làm cơ sở
tham mưu cho các nhà quản lý đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của
mình, thì công tác phân tích kinh tế phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Tính đầy đủ: nội dung và kết quả phân tích phụ thuộc rất nhiều vào sự đầy đủ của
nguồn tài liệu sưu tập.
8
Tính chính xác: chất lượng của công tác phân tích phụ thuộc rất nhiều vào tính
chính xác của nguồn số liệu khai thác; sự chính xác khi lựa chọn phương pháp phân tích,
chỉ tiêu dùng để phân tích.
Tính kịp thời: sau mỗi thương vụ hoặc chu kỳ sản xuất kinh doanh phải kịp thời tổ
chức phân tích đánh giá tình hình hoạt động, để nắm bắt được những mặt mạnh, mặt tồn
tại trong kinh doanh nhằm đề xuất những giải pháp cho thời kỳ kinh doanh tiếp theo có
hiệu quả hơn.
Để đạt được những yêu cầu trên, tổ chức công tác phân tích thường được tiến hành
theo 3 bước sau:
− Chuẩn bị cho quá trình
phân tích.
− Tiến hành phân tích.
− Tổng hợp, đánh giá kết quả phân tích.
Các bước này có những nội dung, vị trí riêng nhưng có mối quan hệ mật thiết với
nhau, do đó cần tổ chức tốt từng bước để không ảnh hưởng đến quá trình phân tích chung.
CÂU HỎI
1) Trình bày Khái niệm, Ý nghĩa và nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh?
2) Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh?
3) Yêu cầu của công tác phân tích?
9
CHƯƠNG 2.
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KINH DOANH
1.
CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KINH DOANH.
Khấu cuối cùng của quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp là khâu tiêu thụ mà
thực chất là bán các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Tuỳ vào tính chất hoạt động của từng
loại doanh nghiệp mà sản phẩm hàng hoá có thể do hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
tạo ra hoặc mua của các doanh nghiệp khác. Kết quả tiêu thụ sản phẩm thể hiện kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu doanh thu.
Chế độ kế toán mới và theo Thông tư số 76 TC/TCDN ban hàng ngày 15/11/1996
về hướng dẫn chế độ quản lý doanh thu quy định doanh thu của các doanh nghiệp Nhà
nước bao gồm doanh thu từ hoạt động kinh doanh và doanh thu từ hoạt động khác.
Ngày 25/10/2000 theo QĐ số 167/2000/QĐ – BTC đã sửa đổi bổ sung các thông
tư trước đây và Thông tư 89/2002/TT – BTC ngày 09/12/2002 của Bộ Tài Chính thì báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh thể hiện ở mẫu được trình bày cụ thể trong chương 6.
1.1. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh:
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung
ứng, dịch vụ sau khi trừ các khoản thuế thanh toán, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại
(nếu có chứng từ hợp lệ) và được khách hàng chấp nhận thanh toán (không phân biệt đã
thu hay chưa thu tiền).
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn bao gồm:
Các khoản trợ giá, phụ thu theo quy định Nhà nước để sử dụng cho doanh nghiệp
đối với hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp tiêu thụ trong kỳ được Nhà Nước cho phép.
Giá trị các sản phẩm, hàng hoá đem biếu, tặng hoặc tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp
như: dùng ciment thành phẩm để xây dựng, sửa chữa, ở xí nghiệp sản xuất ciment.
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh có 3 chỉ tiêu:
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: doanh thu bán hàng là toàn bộ tiền bán
sản phẩm hàng hoá dịch vụ đã được khách hàng chấp nhận thanh toán (không phân biệt
đã thu hay chưa thu được tiền).
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ: doanh thu thuần bán hàng và cung
cấp dịch vụ phản ánh khoản tiền thực tế doanh nghiệp thu được trong kinh doanh. Công
thức cụ thể như sau:
DT Thuần = DTBH và CCDV – các khoản giảm trừ
10
Các khoản giảm trừ bao gồm:
− Chiết khấu thương mại Giảm giá hàng bán
− Hàng bán bị trả lại
− Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp, thuế giá trị gia tăng theo phương
pháp trực tiếp
1.2. Thu nhập từ các hoạt động khác:
Các khoản thu nhập khác là các khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thường
xuyên ngoài các khoản thu đã được quy định ở điểm trên như: thu từ bán vật tư, hàng hoá,
tài sản dôi thừa, công cụ dụng cũ đã phân bổ hết giá trị, bị hư hỏng hoặc không cần sử
dụng.
2.
PHÂN TÍCH CHUNG KẾT QUẢ KINH DOANH
Phân tích chung kết quả hoạt động kinh doanh là nhằm đánh giá tổng quát tình
hình bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh. Trước khi phân tích cần chú ý kiểm
tra chỉnh lý số liệu khi phân tích.
Chúng ta hãy xem những thông tin sau của công ty NQ:
Kế hoạch
Thực hiện
Chỉ tiêu
SL
100
ĐG
10
TT
SL
110
ĐG
10
TT
Mặt hàng A
1.000
3.000
6.000
1.100
3.080
6.300
Mặt hàng B
Mặt hàng C
Tổng cộng
150
200
20
140
210
22
30
30
10.000
10.480
Tổng chi phí
HĐKD
8.000
7.900
Người ta có thể dùng chỉ tiêu hiện vật hoặc giá trị để đánh giá kết quả tiêu thụ sản
phẩm. Nếu gọi M là doanh thu bán hàng, khi đó ta có:
M = ∑pq ; M0 = ∑ p0q0 ; M1 = ∑ p1q1
Trong đó : P0,P1: giá bán kỳ gốc, kỳ phân tích
q0,q1: khối lượng hàng bán kỳ gốc, kỳ phân tích.
11
2.1. Sử dụng phương pháp so sánh khi phân tích
Dùng phương pháp so sánh ta xác định được mức chênh lệch trong doanh thu và %
thực hiện doanh thu (hoặc chỉ số thực hiện) và đánh giá sự biến động của nó:
∆ DT = ∆M = M1 – M0 = 10.480 – 10.000 = 480 $
M1 10.480
Và % thực hiện DT: Im
.100% 104,8%
M0 10.000
Phân tích có liên hệ với chi phí:
Để đánh giá một cách chính xác tình hình thực hiện doanh thu nói chung cần liên
hệ với chi phí. Chi phí mà chúng ta liên hệ là toàn bộ chi phí của doanh nghiệp được phân
bổ cho hàng bán ra. Ta có:
Tcp1
M d / c M1 M 0.
M1 M 0dcTcp
Tcp0
7.900
Md /c 10.480 10.000.
10.480 9.875 605$
8.000
Và% thực hiện kế hoạch có liên hệ chi phí:
M
10.480
9.875
1 .100%
M 0
.100% 108,13%
Qua phân tích chúng ta thấy nếu liên hệ với chi phí thì kết quả kinh doanh không
phải như đã phân tích ở trên. Với chi phí thực tế đã bỏ ra 7.900$ thì đáng lẽ doanh thu chỉ
đạt được là 9.875$ chứ không phải 10.480$, chỉ đạt 95% theo dự kiến đặt ra. Như vậy
doanh thu thực tế đạt được hiệu quả cao hơn so với kế hoạch.
2.2. Phân tích theo các bộ phận cấu thành:
Tổng doanh thu của doanh nghiệp bao gồm các khoản thu từ hoạt động động bán
hàng - cung cấp dịch vụ, và các hoạt động khác trong đó thu từ hoạt động bán hàng là chủ
yếu.
Khi phân tích cần lưu ý:
Xác định khối lượng, giá trị và tỷ trọng của từng loại và sự chênh lệch qua các kỳ.
12
Đánh giá sự biến động các chỉ tiêu trên và tìm nguyên nhân của sự biến động đó.
Đưa ra các giải pháp để tăng doanh thu cho từng loại và doanh thu chung của doanh
nghiệp.
2.3. Xác định hai nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu:
Có hai nhân tố tác động trực tiếp đến doanh thu bán hàng là khối lượng hàng hoá
tiêu thụ và giá cả hàng hoá tiêu thụ. Tuy nhiên, các nhân tố này lại chịu ảnh hưởng bởi
nhiều nhân tố khách quan, chủ quan khác nhau như:
− Các nhân tố về thị trường
− Các nhân tố về cơ chế chính sách của Nhà nước Việt Nam cũng như các nước trên thế
giới.
− Nhóm các nhân tố về cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
− Nhóm các nhân tố về trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất, trình độ tổ chức
quản lý, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ giao tiếp ứng xử trong quan hệ với
khách hàng, với công chúng và có tác động trực tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Nghiên cứu những nhân tố khách quan lẫn chủ quan sẽ thấy được những tác động
của các yếu tố bên trong, bên ngoài của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tận dụng những
cơ hội thuận lợi, tìm những giải pháp hạn chế những rủi ro khó khăn, khai thác một cách
triệt để năng lực của doanh nghiệp nhằm chiếm lĩnh thị trường, đẩy mạnh bán ra tăng
doanh thu cho doanh nghiệp.
Ngoài ra chúng ta cần xác định mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố; số
lượng hàng hoá tiêu thụ và cả giá cả hàng hoá tiêu thụ đến doanh thu bán hàng.
Đối tượng phân tích : ∆ M = 10480 – 10000 = 480 $, trong đó:
∆ MA = 1.100 – 1.000 = 100 $
∆ MB = 3.080 – 3.000 = 80 $
∆ MC = 6.300 – 6.000 = 300 $
480 $
10.480
Chỉ số doanh thu: Im
1,048
10.000
Nhân tố số lượng hàng hóa tiêu thụ:
MKL( A) q p q p
0
1
0
0
13
MKL( A) [(10x110) + (20x140) + (30x210 )]-[(10x100) + (20x150) + (30x200 )]
= 10.200 – 10.000 = 200 $
q p
10200
0
1
Chỉ số khối lượng hàng hóa: Iq
1,02
q p 10000
0
0
Nhân tố giá cả:
Mgia
q p q p 10480 10200 280$
1
1
1
0
q p
10480
1
1
Chỉ số giá cả hàng hóa: Ip
1,027
q p 10200
1
0
Tổng hợp các nhân tố:
∆ M = ∆ MKL + ∆ MGiá = 200 + 280 = 480 $
q p
q p
10200 10480
x 1,02 x1,027 1,048
x
0
1
0
1
1
0
M Iq xI p
q p
q p
10000 10200
0
1
3.
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KINH DOANH THEO MẶT HÀNG
3.1. Phân tích theo khối lượng mặt hàng:
Phân tích theo khối lượng mặt hàng được thực hiện theo nguyên tắc không lấy mặt
hàng tiêu thụ vượt chỉ tiêu bù cho mặt hàng tiêu thụ không đạt dự kiến. Phương pháp này
thực hiện chủ yếu đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ được giao hay các đơn đặt
hàng tương đối ổn định. Trong phân tích phải xác định % thực hiện kế hoạch tiêu thụ mặt
hàng.
Doanh thu thực hiện theo mặt hàng
% THKL mặt hàng =
x 100
Doanh thu kế hoạch
Chúng ta hãy xem ví dụ sau đây, số liệu lấy từ báo cáo của công ty CK:
14
Bảng phân tích kết quả kinh doanh theo mặt hàng
14500
Ta có % hoàn thành kế hoạch =
100% = 96.67%
15000
∆ M mặt hàng = 14.500 – 15.000 = - 500$
Kết quả phân tích cho ta thấy xét về khối lượng doanh nghiệp hoàn thành vượt
mức kế hoạch tiêu thụ (103.33%) nhưng về từng mặt hàng lại không đạt kế hoạch đề ra.
3.2. Phân tích theo kết cấu mặt hàng:
Kết cấu mặt hàng nói lên tỷ trọng của các mặt hàng trong tổng số. Nếu như kết cấu
mặt hàng bằng kế hoặch đặt ra là tối ưu, thì sự thay đổi kết cấu mặt hàng trong tiêu thụ là
không có lợi cho doanh nghiệp vì vậy cần phân tích và xác định % hoàn thành kết cấu
mặt hàng.
DT được coi là thực hiện theo kết cấu
% thực hiện KH =
x 100
Doanh thu thực tế theo kết cấu KH
Quay trở lại với ví dụ của công ty CK:
Bảng phân tích theo kết cấu mặt hàng
15
14800
15500
Ta có % thực hiện KH theo kết cấu mặt hàng =
100% = 95.48%
Qua ví dụ chúng ta thấy do kết cấu thực tế thay đổi so với kế hoạch đã làm cho %
thực hiện kế hoạch theo kết cấu mặt hàng chỉ đạt 95.48%.
Doanh thu Thực Tế theo kết cấu kế hoạch (cột 5) được tính bằng cách lấy tổng số
doanh thu thực tế ở cột 3 (15.500$) nhân với tỷ trọng tiêu thụ kế hoạch mỗi mặt hàng (cột
4). Ví dụ: mặt hàng B: 15.500$ x 33.33% = 5.166,15 $.
Mức hoàn thành Kế Hoạch theo kết cấu Kế Hoạch (cột 6): được tình bằng cách so
sánh số liệu giữa cột (5) và cột Doanh Thu Thực Tế (cột 3). Nếu số liệu ở cột (5) nhỏ hơn
cột (3), sẽ lấy số liệu cột (5) đưa sang cột 6. Ví dụ: mặt hàng A : cột (5) 4.133,85 $, cột
(3): 4.500$, số 4.133,85 $ sẽ được chuyển sang cột (6).
Nếu số liệu ở cột (5) lớn hơn cột (3), số ở cột (3) sẽ được đưa sang cột (6). Ví dụ:
Mặt hàng C : số liệu cột (5) : 6.200$, số liệu cột (3) : 5.500$, số liệu cột (3): 5.500$ sẽ
được đưa sang cột (6).
4.
PHÂN TÍCH SẢN XUẤT - CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
Mỗi DN kinh doanh những lĩnh vực khác nhau có thể sử dụng những phương pháp
phân tích, đánh giá chất lượng khác nhau... Phương pháp phân tích chất lượng sản phẩm
sản xuất được sử dụng thông qua Hệ số phẩm cấp bình quân hoặc đơn giá bán bình quân.
Tuy nhiên, phương pháp hệ số phẩm cấp bình quân được sử dụng nhiều nhất.
Đây là phương pháp được hình thành từ quá trình sản xuất khi cùng một yếu tố đầu
vào (nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị) cùng một dây chuyển sản xuất nhưng
16
kết quả đầu ra có thể là những sản phẩm đúng quy định, những sản phẩm chưa đúng quy
định và bán thành phẩm.
Hệ số phẩm cấp bình quân được hiểu là tỷ số giữa tổng sản lượng từng thứ hạng
phẩm cấp tính theo giá kế hoạch của từng thứ hạng phẩm cấp với tổng sản lượng từng thứ
hạng phẩm cấp tính theo giá kế hoạch của phẩm cấp có thứ hạng cao nhất.
Công thức tính như sau:
n
Q .P
i
ki
i1
n
H p
Q .P
i
kI
i1
Hp: hệ số phẩm cấp bình quân
Qi: số lượng sản phẩm của thứ hạng phẩm cấp i
Pki: đơn giá kế hoạch của thứ hạng phẩm cấp i
PkI: đơn giá kế hoạch của thứ hạng phẩm cấp loại 1
Nếu Hp càng gần 1, chứng tỏ chất lượng sản phẩm sản xuất ra càng cao. Hp càng
xa 1 thì sản phẩm sản xuất ra nhiều thứ hạng phẩm cấp, chất lượng sản phẩm sản xuất ra
thấp.
Khi hệ số phẩm cấp bình quân thay đổi sẽ ảnh hưởng đến doanh thu cũng như lợi
nhuận của DN, thể hiện qua công thức sau:
∆Gs = (Hp1 - Hpk) x ∑Q1i .PkI
Qua công thức trên, ta thấy nếu cùng một khối lượng sản phẩm sản xuất nhưng nếu
tăng được hệ số phẩm cấp bình quân thì làm tăng được doanh thu. Do vậy, có thể nói:
Nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng có nghĩa là nâng cao giá trị sản xuất của DN. Nếu
∆Gs >0 chứng tỏ doanh thu và lợi nhuận tăng và ngược lại.
Chẳng hạn, DN A chuyên chế biến về thủy sản, cụ thể là sản phẩm mực, năm
2017 DN tiến hành chế biến theo quy trình sản xuất và đầu ra thu được là sản phẩm mực
loại 1 và mực loại 2, trong đó quy định mực loại 1 (thứ hạng 1) là sản phẩm đạt tiêu
chuẩn về màu sắc, kích thước... mực loại 2 (thứ hạng 2) là những sản phẩm chưa đúng
theo tiêu chuẩn mà DN đề ra. Sau quá trình sản xuất thu được nhiều sản phẩm, qua quá
trình kiểm tra có những sản phẩm đạt tiêu chuẩn và không đạt tiêu chuẩn như sau:
Sản phẩm Khối lượng sản xuất
Khối lượng sản
xuất thực tế (kg)
Đơn giá kế
Đơn giá thực tế
(1.000 đ)
Mực
Loại 1
Loại 2
kế hoạch (kg)
hoạch (1.000 đ)
5.000
6.300
4.200
450
400
460
410
17
3.700
Sử dụng phương pháp hệ số phẩm cấp bình quân, ta có:
(5000*450) (3700*400)
3730000
H pk
0,95
0,96
(5000*450) (3700*450) 3915000
(6300*450) (4200*400)
4515000
H p1
(6300*450) (4200*450) 4725000
Với Hpk là hệ số phẩm cấp ở kế hoạch và Hp1 là hệ số phẩm cấp ở thực tế
Nhận thấy, khối lượng sản phẩm mực loại 1 và loại 2 ở thực tế sau khi sản xuất
đều nhiều hơn so với kế hoạch đề ra. DN có thể nhận định khi khối lượng tăng hơn so với
kế hoạch đề ra thì DN có thể cung cấp dư thừa nhu cầu của người tiêu dùng, có thể xuất
khẩu, tạo ra doanh thu cao hơn.
Trong bước tính toán sử dụng duy nhất đơn giá bán ở kế hoạch, do trong quá trình
sản xuất thì chỉ quan tâm đến sự thay đổi về khối lượng sản phẩm được tạo ra, chưa phân
tích vào quá trình tiêu thụ nên không thể sử dụng đơn giá bán ở thực tế. Khi phân tích cần
quan tâm khi sử dụng phương pháp này với một nhược điểm là thực tế đơn giá bán luôn
thay đổi.
Khi so sánh hệ số phẩm cấp bình quân ở kế hoạch và thực tế không có sự chênh
lệch lớn, hệ số phẩm cấp bình quân dao động từ 0,95 đến 0,96 (gần 1) nên chất lượng sản
xuất sản phẩm mực năm 2017 được đánh giá là cao, hầu hết những sản phẩm Mực là sản
phẩm đạt chất lượng cao (hầu hết là sản phẩm loại 1), làm cho giá trị sản xuất hay nói
cách khác là doanh thu bán sản phẩm Mực tăng 1 lượng là 28.350 (1.000 đ).
Phương pháp này giúp DN xác định được doanh thu dự kiến có thể đạt được sau
khi tiêu thụ, DN có thể làm căn cứ để đẩy mạnh hơn nữa quá trình tiêu thụ sản phẩm,
nhằm tối đa nhất doanh thu có thể đạt được.
Tùy thuộc vào từng sản phẩm của DN kinh doanh các lĩnh vực khác nhau mà quá
trình sản xuất hình thành ra những sản phẩm có nhiều thứ hạng phẩm cấp khác nhau.
Không thể có một quy định chung về thứ hạng phẩm cấp. Để đánh giá được về thứ hạng
phẩm cấp cần sử dụng một đội ngũ có tay nghề cao và có nhiều kinh nghiệm liên quan
đến sản phẩm.
Đôi khi những sản phẩm đạt chất lượng tiêu chuẩn cao chiếm tỷ lệ ít hơn so với
sản phẩm không đạt chất lượng, điều này do nhiều yếu tố khác nhau cấu tạo thành, có thể
do chất lượng của các yếu tố đầu vào cũng có thể do quy trình sản xuất bị gián đoạn, máy
móc không đảm bảo… Điều này làm cho doanh thu không cao. Do đó, để quá trình phân
tích chất lượng có hiệu quả cần thiết phải xác định tương đối chính xác về thứ hạng của
sản phẩm. Đây cũng được xem là một hạn chế trong thực hiện phương pháp này.
18
CÂU HỎI
1) Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bao gồm các kkoản nào?
2) Khoản không được tính vào KQ hoạt động kinh doanh? cho ví dụ?
3) Nhân tố nào ảnh hưởng đến doanh thu của đơn vị?
19
CHƯƠNG 3.
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT TRONG KINH
DOANH
Giới thiệu: để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có đủ lực lượng lao động,
máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu, hàng hóa,dịch vụ… các yếu tố này phải được sử
dụng cân đối, hài hòa trong quá trình sản xuất kinh doanh thì mới đảm bảo đem lại kết
quả sản xuất cao, chi phí sản xuất thấp, vậy hiệu quả kinh doanh mới cao được.
1. PHÂN TÍCH YẾU TỐ LAO ĐỘNG
1.1. Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động
a) Phân tích tình hình biến động lao động: sử dụng phương pháp so sánh để phân
tích
So sánh tuyệt đối:
∆LĐ=LĐ1 – LĐ0
LĐ0, LĐ1: lao động bình quân kỳ gốc và kỳ thực hiện.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh - Nguyễn Xuân Quyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_phan_tich_hoat_dong_kinh_doanh_nguyen_xuan_quyet.pdf

