Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến lao động ngành dệt may Việt Nam

TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN LAO ĐỘNG  
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM  
TS. Nguyễn Kế Nghĩa  
Đại học Kinh tế Quốc dân  
Tóm tắt  
Tại Việt Nam, ngành dệt may có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội đó là môt  
trong những ngành sử dụng nhiều lao động. Lao động trong ngành dệt may chiếm tỷ  
trọng lớn trong tổng lao động của các ngành chế biến, chế tạo, trong đó ngành may  
(sản xuất trang phục) thu hút khoảng ¼ trong tổng số lao động ngành công nghiệp và  
có xu hướng tăng qua các năm. Dệt may là một trong những ngành có kim ngạch xuất  
khẩu lớn nhất của Việt Nam trong những năm gần đây. Sự tham gia sâu của các  
doanh nghiệp nước ngoài có thể đẩy quá trình thay đổi các phương thức sản xuất của  
ngành này theo xu hướng của Các mạng công nghiệp 4.0 xảy ra nhanh hơn. Báo cáo  
của ILO (2016) cũng đánh giá trong số các ngành công nghiệp chế biến chế tạo của  
Việt Nam thì ngành dệt may chịu tác động mạnh mẽ nhất của quá trình tự động hóa.  
Bài viết này tập trung vào phân tích tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 lên lao  
động của ngành dệt may.  
Từ khóa: Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, ngành dệt may, lao động dệt may.  
Abstracts  
In Vietnam, the textile and garment industry has a significant impact on the  
social economy as it is one of the labour-intensive industries. Labour in the textile and  
garment industry makes up a large proportion of labour used in the processing and  
manufacturing sector. Garment industry (clothing manufacturers) attracts one-fourth  
of the gross number of labours used in the industrial sector and is in a growing trend.  
Textile and garment industry is one of the industries having biggest import and export  
turnover in recent years. The participation of foreign enterprises would push this  
industry into applying production methods of industrial revolution 4.0 more quickly.  
The ILO report in 2016 also suggested that in the processing and manufacturing  
sector, automation would have the biggest impact on the textile and garment industry.  
This paper focuses on analyzing the impact of the industrial revolution 4.0 on labour  
in Vietnam’s textile and garment industry.  
Key word: industrial revolution 4.0, the textile and garment, labours  
1. Khái quát thực trạng ngành dệt may Việt Nam  
294  
Trong quy hoạch phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020, ngành  
công nghiệp dệt may sẽ trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn,  
hướng về xuất khẩu và có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng  
cao, tạp nhiều việc làm cho xã hội. Theo báo cáo của Hiệp hội Dệt may Việt Nam,  
trong giai đoạn 2010 – 2015, ngành dệt may có kim ngạch tăng trưởng xuất khẩu hàng  
năm ở mức 15%, đưa dệt may trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng thứ 2 chỉ  
sau điện thoại và các linh kiện. Kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2017 đạt hơn 31 tỷ  
USD, tăng hơn 10,23% so với năm 2016 và chiếm đến tỷ trọng xuất khẩu 15,92 %  
tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.  
Hình 1- Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam  
Hàng thủy sản 4,05%  
Điện thoại và linh kiện  
18,66%  
Phương tiện vận tải và  
phụ tùng 4,03%  
Máy móc thiết bị, dụng  
cụ phụ tùng khác 5,04%  
Sắt thép 2,14%  
Giày dép 7,41%  
Sản phẩm dệt may  
15,92%  
Nguồn: Tổng cục Thống kê  
Dệt may Việt Nam là một trong những ngành gia công xuất khẩu quan trọng  
khi Việt Nam mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Dệt may cũng là ngành được  
hưởng lợi đặc biệt khi Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại cũng như đa  
phương. Ví dụ, sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực từ năm  
2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ có tốc độ tăng trưởng cao nhất  
so với các thị trường khác. Chỉ riêng trong năm 2002, giá trị xuất khẩu hàng dệt may  
vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng hơn 21 lần lên hơn 950 triệu USD so với mức 45 triệu  
USD năm 2001. Ngành dệt may của Việt Nam cũng được hưởng lợi từ các hiệp định  
thương mại khác, như Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU, Hiệp định Đối  
tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản. Theo hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS),  
xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản đang có xu hướng tăng cao do các doanh  
nghiệp Việt Nam được hưởng lợi về ưu đãi thuế từ các hiệp định thương mại song  
phương và đa phương với Nhật Bản. Năm 2010, năm đầu tiên thực hiện hiệp định đối  
tác Việt Nam – Nhật Bản, kim ngạch hàng dệt may xuất khẩu vào quốc gia này tăng  
295  
20% so với năm 2009. Bên cạnh đó, Hiệp định Tự do Việt Nam – EU ký kết vào năm  
2015 mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó các doanh nghiệp dệt  
may tiếp cận dễ dàng hơn vào thị trường Châu Âu.  
Ngành dệt may bao gồm các lĩnh vực chính là sản xuất sợi, dệt nhuộm (thuộc  
nhóm hoàn thiện sản phẩm dệt) và may mặc. Bảng 1 cho thấy dệt may của Việt Nam  
chủ yếu là ngành may mặc với số lượng doanh nghiệp lớn hơn rất nhiều so với các  
ngành còn lại trong nhóm và số lao động chiếm tới 81,37% tổng số lao động của  
ngành dệt may.  
Bảng 1: Số lượng doanh nghiệp và tổng số lao động trong ngành dệt may  
Số doanh  
nghiệp  
Tổng số  
lao động  
Tỷ trọng lao động  
trong ngành dệt  
may  
Ngành  
Sản xuất sợi  
418  
292  
318  
5.742  
13  
89.944  
29.068  
16.644  
1.273.517  
1.126  
5.75%  
1.86%  
1.06%  
81.37%  
0.07%  
1.13%  
8.73%  
0.03%  
Sản xuất vải dệt thoi  
Hoàn thiện sản phẩm dệt  
May trang phục  
Sản xuất sản phẩm từ da lông thú  
Sản xuất trang phục dệt kim  
Sản xuất vali túi xách  
Sản xuất sợi nhân tạo  
271  
707  
15  
17.611  
136.689  
430  
Nguồn. Điều tra doanh nghiệp 2016, Tổng cục Thống kê  
Mặc dù may mặc là ngành chủ lực, song vị trí của các doanh nghiệp Việt Nam  
trong chuỗi giá trị hàng may mặc vẫn chỉ định vị ở các công đoạn có giá trị gia tăng  
thấp. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, có tới 85% số doanh nghiệp may mặc được  
nghiên cứu đang áp dụng mô hình sản xuất gia công (Cut – Make – Trim), các công  
đoạn đóng góp ít nhất trong chuỗi giá trị sản phẩm. Hầu hết các doanh nghiệp may  
mặc của Việt Nam chỉ hoạt động với tư cách là các nhà thầu phụ thực hiện hợp động  
gia công cho các nhà bán lẻ chuyên nghiệp, các nhà sản xuất thương hiệu. Các đơn đặt  
hàng thường kèm theo thiết kế sản phẩm và đặc điểm kỹ thuật.  
Bên cạnh đó, ngành sản xuất sợi và sản xuất vải trong nước còn chưa phát  
triển, sản xuất may mặc của Việt Nam đang phụ thuộc vào các doanh nghiệp nước  
ngoài đóng vai trò cung cấp nguyên liệu đầu vào. Ngành sản xuất trang phục của Việt  
Nam bị phụ thuộc vào vải nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, đặc biệt là  
sản xuất hàng may mặc xuất khẩu. Giá trị nhập khẩu vải ước đạt 9,4 tỷ USD trong  
296  
năm 2015 trong đó 4,7 tỷ USD là dành cho vải Trung Quốc. Hàn Quốc là nhà cung  
cấp lớn thứ hai với 19,5% thị phần, tiếp theo là Nhật Bản 5,9%. Việc không chủ động  
được nguyên phụ liệu trong nước, phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài đã  
làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, khiến giá  
trị gia tăng trong sản phẩm dệt may còn thấp.  
Các doanh nghiệp FDI đang chiếm ưu thế so với các doanh nghiệp nội địa  
trong lĩnh vực may mặc về cả quy mô lẫn hoạt động xuất khẩu. Theo số liệu điều tra  
doanh nghiệp, 755 doanh nghiệp có vốn đầu nước nước ngoài, chiếm 13,4% tổng số  
doanh nghiệp may mặc đang hoạt động, trong đó 584 doanh nghiệp chiếm 73% có  
hoạt động xuất khẩu. Ngược lại, tuy số doanh nghiệp nội địa chiếm đa số nhưng chỉ có  
757 doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, chiếm 14,89%. Về quy mô, các doanh  
nghiệp trong nước chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ với số lượng lao động trung bình  
khoảng 100 người và doanh thu trung bình hơn 21 tỷ đồng, chỉ bằng 1/9 về số lao  
động và 1/8 về doanh thu bình quân của các doanh nghiệp FDI.  
Bảng 2: Số lượng và quy mô doanh nghiệp may mặc phân loại theo loại hình  
doanh nghiệp năm 2015  
Tổng số doanh Doanh nghiệp  
Doanh  
nghiệp nội  
địa  
nghiệp  
FDI  
Tổng số doanh nghiệp  
5.640  
210,08  
755  
5.081  
106,46  
Lao động bình quân (người)  
921,57  
Doanh thu thuần bình quân  
(triệu đồng)  
39.328,23  
16.236,85  
21.210,65  
Số doanh nghiệp có hoạt động  
xuất khẩu  
1.341  
584  
757  
Nguồn: Số liệu điều tra doanh nghiệp 2015, Tổng cục Thống kê  
Dệt may hiện là ngành quan trọng tạo ra số việc làm lớn với khoảng gần 6.000  
doanh nghiệp đang hoạt động, thu hút khoảng 2,5 triệu lao động. Phần lớn trong số lao  
động đó tập trung vào lĩnh vực sản xuất trang phục với yêu cầu không cao về kỹ năng.  
Như phân tích ở trên, đa số các doanh nghiệp may mặc chủ yếu hoạt động theo  
phương thức gia công (CMT), tương ứng với các khâu có giá trị gia tăng thấp và đòi  
hỏi trình độ lao động không cao. Với phương thức CMT, các doanh nghiệp Việt Nam  
chủ yếu đảm nhận khâu sản xuất. Khâu này chiếm tới 75% tổng số lao động. Nhưng  
công đoạn này chỉ yêu cầu người lao động có trình độ tiểu học và đã được đào tạo về  
chuyên môn (có thể thông qua các lớp đào tạo ngắn hạn hoặc đào tạo tại doanh  
297  
nghiệp). Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề/cao đẳng, đại học của phân ngành  
trong nhóm dệt may còn cao. Mặc dù trong những năm gần đây, tỷ lệ này có giảm  
nhưng vẫn luôn ở trên mức 80%.  
Một đặc điểm chú ý là, lao động trong ngành may mặc chủ yếu là lao động nữ.  
Theo Công đoàn lao động ngành dệt may, khoảng 70% lao động trong ngành là nữ,  
chủ yếu là đã tốt nghiệp bậc tiểu học, trung học cơ sở và có tuổi đời còn khá trẻ, tỷ lệ  
chưa có gia đình cao. Đặc điểm này có thể dẫn tới tỷ lệ nhảy việc cao ở lao động nữ,  
khiến các doanh nghiệp e dè trong việc đầu tư nâng cao trình độ cho họ.  
2 Xu hướng thay đổi công nghệ sản xuất trong ngành dệt may trong CMCN 4.0  
Việc áp dụng dây chuyền tự động hóa và ứng dụng công nghệ thông tin trong  
nhiều giai đoạn quan trọng của quá trình sản xuất, như dây chuyền thiết bị tự động đồ  
sợi, vận chuyển ống sợi thô tự động sang máy sợi con, tự động đồ sợi con, tự động  
vận chuyển ống sợi con sang máy đánh ống sợi…tự động đồ búp sợi đẩy trên máy  
đánh ống sợi đã nâng cao năng suất lao động, dẫn tới giảm đáng kể số lượng lao động.  
Nếu trước đây, vào khoảng năm 2005, 10 nghìn cọc sợi phải dùng đến trên 100 lao  
động, thì đến năm 2016, những doanh nghiệp tiên tiến nhất của Việt Nam, với 10  
nghìn cọc sợi cũng chỉ cần đến 25 – 30 lao động, giảm gần 4 lần. Trong khi đó, trên  
thế giới có những nhà máy tiên tiến nhất chỉ sử dụng 10 công nhân với 10 nghìn cọc  
sợi đối với các mặt hàng phù hợp, ít thay đổi. Quá trình tự động hóa này đã giảm thiểu  
các yếu tố chủ quan của con người tác động vào máy móc thiết bị và nâng cao chất  
lượng sợi.  
Đối với ngành nhuộm, việc áp dụng internet của vạn vật và dữ liệu lớn đang  
dần thay đổi phương thức sản xuất. Theo phương pháp nhuộm thủ công mà các doanh  
nghiệp nhuộm Việt Nam đang áp dụng, chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào  
trình độ tay nghề của công nhân làm ra công thức màu, tỷ lệ nhuộm chính xác từ lần  
đầu thường thấp. Hơn nữa, khi đưa ra sản xuất hàng loạt, màu sắc có thể sẽ bị thay đổi  
do sự sinh nhiệt trong khâu hoàn tất, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến tính ổn định và  
đồng đều của sản phẩm. Trong khi đó trên thế giới, việc ứng dụng công nghệ thông tin  
trong quy trình nhuộm vài ngày càng trở lên phổ biến với nhiều ưu điểm hơn. Với ứng  
dụng dữ liệu lớn và công nghệ lưu trữ, quản lý và phân tích dữ liệu, cơ sở dữ liệu về  
hàng triệu giá trị màu sắc khác nhau khi tiến hành đo trên các vật liệu khác nhau được  
lưu trữ đồng thời với các công thức tạo màu sắc đó đã được thực hiện thành công.  
Chất liệu và màu mẫu mà khách hàng yêu cầu sẽ được tìm kiếm, so sánh với các màu  
trong cơ sở dữ liệu để đưa ra công thức tối ưu nhất. Tiếp đó, máy tính còn được dùng  
để điều khiển các thiết bị liên quan trong quá trình sản xuất thử nghiệm cũng như khi  
sản xuất hàng loạt như máy pha màu, cân điện tử, quản lý kho hóa chất… Từ đó, ổn  
định được chất lượng nhuộm, ổn định được công thức nhuộm và tăng được tỷ lệ  
298  
nhuộm chính xác ngay từ lần đầu.. Với những ưu điểm đó, phương pháp nhuộm thủ  
công sẽ dễ dàng bị thay thế và việc ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất như trên  
sẽ dẫn tới cắt giảm lao động trong ngành. Một số nhà quản lý ở các công ty sợi cho  
biết, thông thường một nhà máy dệt nhuộm cần có khoảng 500 đến 600 công nhân,  
nhưng nếu áp dụng công nghệ thông tin và dữ liệu lớn thì không cần nhiều lao động  
đến thế. Tuy nhiên, nhìn chung, các khâu ứng dụng công nghệ thông tin và dữ liệu lớn  
thay thế phương pháp truyền thống trong quy trình nhuộm vải vốn không sử dụng  
nhiều lao động, nên những đổi mới này không dẫn đến giảm ồ ạt số lượng lao động.  
Đồng thời, lao động trong các khâu này cũng là lao động có kỹ năng cơ bản, nên việc  
nâng cấp để đạt được yêu cầu phù hợp với công nghệ sẽ không tốn nhiều thời gian và  
số lao động dôi dư sau khi đổi mới công nghệ này có thể dễ dàng được sử dụng mở  
rộng sản xuất.  
Lĩnh vực may mặc được chia làm hai nhóm: sản xuất các sản phẩm thời trang  
và sản xuất các sản phẩm theo tiêu chuẩn. Đối với sản xuất các sản phẩm thời trang  
với nhiều chi tiết tỉ mỉ và khó thực hiện, thay đổi liên tục, nhiều kích cỡ khác nhau và  
với số lượng lớn hạn chế, việc áp dụng tự động hóa hay robot trong quá trình sản xuất  
là hết sức khó khăn. Công nghệ in 3D được kỳ vọng là phương thức sản xuất trong  
tương lai sẽ giúp cho việc tùy biến sản phẩm thời trang phù hợp với các yêu cầu đã  
dạng của từng khách hàng khi người tiêu dùng ngày càng có ý thức về việc cá nhân  
hóa các trang phục. Nên xu hướng này trở nên phổ biến, cá khâu từ thiết kế đến sản  
xuất sẽ được đảm nhiệm bởi máy móc với sự điều khiển của chuyên gia về máy tính  
và đồ họa. Hệ quả là các nghệ nhân và các thợ may lành nghề sẽ đối mặt với nguy cơ  
mất việc làm. Tuy nhiên, khả năng tình huống đó xảy ra trong vài năm tới là tương đối  
thấp. Khả năng áp dụng công nghệ này cho việc sản xuất thương mại hóa còn rất hạn  
chế do chi phí công nghệ vẫn còn ở mức cao và thời gian để tạo ra một sản phẩm cũng  
lâu hơn nhiều so với phương pháp truyền thống. Hiện nay các sản phẩm thời trang in  
3D mới chỉ xuất hiện trong một số triển lãm thời trang hay trong bộ sưu tập của một  
số nhà thiết kế.  
Đối với các sản phẩm được sản xuất hàng loạt theo quy chuẩn, với các chi tiết  
cố định, ít thay đổi, việc áp dụng tự động hóa và robot trong quá trình sản xuất trở nên  
ngày càng phổ biến. Hiện tại, các doanh nghiệp may mặc Việt Nam (ví dụ: FGL,  
Xuân Tây, Saitex, Ocean sky Apparel…) đã áp dụng công nghệ vắt vải, cắt chỉ, đính  
cúc tự động với sự điều khiển của máy tính. Trong tương lai, robot sẽ đi vào những  
công đoạn khó đòi hỏi tay nghề cao như ghép cổ, vào tay, măng séc… Do đó, CMCN  
4.0 sẽ tác động mạnh mẽ tới lao động trong các doanh nghiệp sản xuất hàng may sẵn  
xuất khẩu.  
3. Tác động của CMCN 4.0 đến lao động ngành dệt may của Việt Nam  
299  
Tác động của CMCN 4.0 đến lao động trong ngành dệt may của Việt Nam thể  
hiện như sau:  
Nguy cơ giảm số lượng việc làm do thay thế lao động bằng robot  
Như đề cập phân trên về xu hướng thay đổi công nghệ, cùng với việc áp dụng  
máy móc tự động hóa và robot vào sản xuất, sự cắt giảm nhu cầu về lao động là rõ  
ràng. Theo dự báo của ILO năm 2014, hơn 2/3 trong số 9,5 triệu lao động ngành dệt  
may và da giày tại Đông Nam Á đang bị đe dọa bởi sự bùng nổ của khoa học công  
nghệ trong ngành này. Đặc biệt, với ngành dệt may của Việt Nam với các đặc điểm  
tập trung trong nhóm ngành may mặc trang phục và ở công đoạn có giá trị gia tăng  
thấp, sản xuất các sản phẩm theo quy chuẩn, tác động của CMCN 4.0 đến cắt giảm lao  
động sẽ càng sâu sắc. Cũng theo báo cáo trên, khoảng 86% lao động trong ngành may  
mặc, da giày của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ xu thế tự động hóa, công  
nghiệp hóa trong ngành, trong khi tỷ lệ này ở Campuchia và Indonesia lần lượt là 88%  
và 64%. Cũng khẳng định xu hướng này, song Ngân hàng Thế giới, lại chỉ ra một bức  
tranh tươi sáng hơn cho các quốc gia này. Các nước nghèo với mức lương thấp và việc  
áp dụng công nghệ chậm hơn, quá trình thay thế lao động sẽ có thể chậm hơn, tạo ra  
khoảng cách thời gian để các chính sách và thể chế có thể thích nghi. Điều đó mang  
hàm ý cho các quốc gia như Việt Nam không chỉ tập trung phát triển các kỹ năng hiện  
đại cho trẻ em và thanh thiếu niên, mà còn cần phải đưa ra chiến lược cho việc đào tạo  
lại và học tập lâu dài cho những người đang làm việc.  
Nguy cơ giảm số lượng việc làm do sự dịch chuyển sản xuất về các nước tiêu  
thụ  
Dệt may Việt Nam trong CMCN 4.0 có thể phải đối mặt với nguy cơ chuyển  
dịch sản xuất theo hướng quay lại các nước hay khu vực tiêu thụ như Mỹ, EU, Nhật  
Bản, Hàn Quốc. Ví dụ cho xu thế chuyển dịch này là sự hồi sinh ngành công nghiệp  
dệt may của Mỹ tưởng như đã chết sau nhiều thập kỷ. Ngành công nghiệp dệt may,  
mà chủ yếu là sản xuất bông sợi, đã từng giữ vững vị trí thống trị trong nền kinh tế ở  
các bang miền nam nước Mỹ. Ở tiểu bang Nam Califonia trong năm 1940 có tới 40%  
việc làm từ ngành dệt may, tuy nhiên con số này chỉ còn 1,1% vào năm 2013. Đặc  
biệt, trước năm 2010, thuê gia công và đặt nhà máy ở các nước đang phát triển như  
Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam để tận dụng nguồn nhân công giá rẻ, đã  
được các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn. Bên cạnh đó, cùng với trình độ tự động hóa  
tăng lên ở các nhà máy nội địa đã dẫn đến việc cắt giảm khoảng 200.000 lao động  
trong lĩnh vực này. Khoảng 650 nhà máy đã đóng cửa từ năm 1997 đến năm 2009.  
Từ sau nhưng năm 2010, sự gia tăng chi phí lao động ở Trung Quốc và các  
nước khác cùng với chi phí vận chuyển cao đã khiến nhiều doanh nghiệp quyết định  
đưa nhà máy trở lại Mỹ. Sự phát triển công nghệ thời trang tùy biến và áp lực cạnh  
300  
tranh cao trong thương mại điện tử đòi hỏi các doanh nghiệp phải rút ngắn thời gian từ  
khi nhận đơn hàng tới khi giao hàng. Điều này cũng góp phần thúc đẩy các doanh  
nghiệp có những quyết định di chuyển nơi sản xuất về gần với khách hàng của họ hơn.  
Năm 2013, các công ty ở Brasil, Canada, Trung Quốc, Tiểu vương quốc Ảrập, Anh,  
Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, Thụy Sỹ và Hoa Kỳ đã công bố kế  
hoạch mở hoặc mở rộng các nhà máy dệt ở Georgia, Louisiana, North Carolina, Nam  
Carolina, Tennessee và Virginia. Hãng Adidas cũng quyết định xây dựng thêm nhà  
máy tại Đức lần đầu tiên sau nhiều năm thuê ngoài vào năm 2016 và xây dựng một  
nhà máy nữa tại Mỹ vào năm 2017.  
Giá trị gia tăng của ngành dệt và trang phục Hoa Kỳ sau một thời gian dài suy  
giảm nay đã có xu hướng tăng nhẹ qua các năm, từ 15,13 tỷ USD năm 2009 lên 17,98  
tỷ USD năm 2015 đối với ngành dệt và từ 9,92 tỷ USD năm 2009 lên 10,92 tỷ USD  
năm 2015 đối với ngành trang phục. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng dệt may và  
trang phục của Hoa Kỳ cũng liên tục tăng từ 19,7 tỷ USD năm 2010 lên 23,9 tỷ USD  
năm 2014.  
Tuy nhiên, sự dịch chuyển sản xuất này không dẫn tới sự tăng việc làm tại các  
nước trên, mà nó chỉ làm giảm số lượng việc làm bị cắt giảm. Theo Cục Thống kê Lao  
động Hoa Kỳ, từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016, sản xuất hàng dệt của  
Hoa Kỳ và sản xuất hàng may mặc đã mất 8.300 và 9.200 công việc. Lý do là mặc dù  
số lượng nhà máy gia tăng, nhưng các nhà máy trong giai đoạn này đều có mức tự  
động hóa cao, vì vậy nhu cầu sử dụng ít công nhân hơn. Ví dụ nhà máy sản xuất sợi  
cotton Parkdale đã từng đóng cửa ở thập niên 90 nhưng đã hoạt động lại vào năm  
2010. Nhà máy hiện này sản xuất 1,1 tấn sợi mỗi tuần chỉ với 140 lao động, mức sản  
lượng cần tới 2.000 lao động nếu vào những năm 1990.  
Sự dịch chuyển sản xuất về các nước tiêu thụ không chỉ làm sụt giảm lao động  
trong ngành dệt may tại các công ty đa quốc gia mà còn làm tăng sự cạnh tranh trong  
ngành, có thể dẫn đến tác động thu hẹp sản xuất của các doanh nghiệp ở các nước  
đang phát triển, làm giảm nhu cầu lao động ở các nước này.  
Nguy cơ giảm số lượng việc làm do sự dịch chuyển sản xuất sang nước có  
chi phí lao động thấp hơn.  
Theo báo cáo được thực hiện bởi Smith và công sự (2014), chi phí nhân công  
tăng cao ở Trung Quốc cùng với sự e ngại về những rủi ro khi quá phụ thuộc vào sản  
xuất ở một quốc gia đã dẫn tới sự chuyển hướng đầu tư từ Trung Quốc sang các thị  
trường lân cận. Với lợi thế nhân công giá rẻ hơn, cùng với các ưu đãi thuế và các điều  
kiện thương mại ưu đãi mà EU cung cấp. Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho  
các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực dệt may, giầy dép và đồ da.  
301  
Tuy nhiên, yếu tố lợi thế quan trọng nhất là chi phí lao động rẻ đang dần dần bị  
xóa mờ khi thu nhập bình quân của người Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối  
nhanh. Mức lương trung bình ngành dệt may năm 2016 đã tăng 1% so với năm 2015,  
đạt mức 402 - 604 USD/tháng. Con số này mặc dù chỉ bằng gần ½ so với Malaysia  
(725 – 1.019 USD/tháng) và bằng ¼ so với mức lương trung bình ngành dệt may tại  
Singapore, nhưng vẫn cao hơn Philipines, Indonesia và ở mức trên trung bình trong  
khu vực ASEAN.  
Sự tăng lên thu nhập của người lao động trong ngành có thể dẫn đến hệ quả là  
sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư sang các nước khác có chi phí lao động thấp hơn Việt  
Nam như Myanmar, Bangladesh, Cămpuchia…  
Nguy cơ giảm việc làm do sự chuyển dịch sản xuất sang các nước có chi phí  
công nghệ rẻ.  
Đối với các doanh nghiệp định hướng ứng dụng máy móc tự động hóa và  
robot, ngoài việc mở nhà máy tại quốc gia tiêu thụ sản phẩm chính, các công ty này  
cũng tìm kiếm địa điểm đầu tư có chi phí máy móc rẻ, như Trung Quốc và Ấn Độ.  
Trung Quốc, Ấn Độ cùng với Đức, Italy và Thụy Sỹ đang cạnh tranh gay gắt trong  
lĩnh vực chế tạo máy móc công nghệ phục dệt may. Theo báo cáo của công ty chứng  
khoán FPT, Trung Quốc hiện đang là nhà sản xuất máy móc công nghiệp dệt may lớn  
nhất thế giới, hiện cung cấp trang thiết bị cho 80% thị trường máy móc dệt may trong  
nước. Ấn Độ cũng có khoảng 750 đơn vị sản xuất máy móc, thiết bị, gồm 250 đơn vị  
sản xuất máy móc hoàn chỉnh, phần còn lại là sản xuất phụ tùng và linh kiện. Việc chủ  
động về máy móc công nghệ trong nước sẽ giúp làm giảm chi phí đầu tư, chi phí vận  
hành, bảo trì máy móc. Với chi phí máy móc rẻ hơn so với các quốc gia khác, các  
quốc gia này có thể thu hút dòng vốn đầu tư trở lại.  
Cơ hội từ việc tăng năng suất lao động  
Mặc dù là quốc gia xuất khẩu hàng dệt may, quần áo, giầy dép lớn nhất khu  
vực Đông Nam Á và luôn nằm trong tốp các quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn  
nhất thế giới về nhóm hàng này, năng suất lao động trong ngành dệt may của Việt  
Nam vẫn nằm ở mức thấp so với các quốc gia khác. Hình 2 cho thấy năng suất lao  
động của Việt Nam chưa bằng ¼ của Thái Lan, thậm chí thấp hơn cả của Campuchia.  
Hình 2: Năng suất lao động trong lĩnh vực dệt may, của một số nước ASEAN  
Đơn vị: USD  
302  
Nguồn: Huynh.P.2015. Strong export and job growth in Asia’s garment and footwear  
sector, Asia-Pacific Garment and footwear sector research Notr, Issue 1, November  
(Bangkok, ILO)  
Một số học giả có cách nhìn tích cực hơn khi cho rằng CMCN 4.0 mang đến cơ  
hội chưa từng có để cải thiện năng suất lao động. Với việc áp dụng tự động hóa, robot  
và sử dụng các dữ liệu lớn, khả năng sản xuất sẽ tăng lên nhiều lần. Từ đó, thu nhập  
của người lao động trong ngành được cải thiện một cách nhanh chóng. Đây là cơ hội  
lớn cho các doanh nghiệp trong ngành thu hút được lực lượng lớn lao động có kỹ  
năng, phát triển bền vững hơn, hạn chế tình trạng biến động lao động.  
4. Sự sẵn sàng của lực lượng lao động dệt may cho Cách mạng công nghiệp 4.0  
Theo những phân tích ở trên, số lượng việc làm trong ngành dệt may trong dài  
hạn sẽ có xu hướng giảm. Trong ngắn hạn, lợi thế về nhân công vẫn còn, nên áp lực  
thay thế lao động chưa thực sự mạnh mẽ. Lao động trong ngành được dự báo vẫn tiếp  
tục tăng trong thời gian tới. Theo dự báo về nhu cầu nhân lực ngành dệt may khu vực  
phía nam (khu vực chiếm tới hơn 60,5% tổng số doanh nghiệp ngành dệt may), nhu  
cầu tuyển dụng mới trung bình hàng năm trong giai đoạn 2015 đến 2025 của các  
doanh nghiệp dệt may vào khoảng 60.000 việc làm, riêng Thành phố Hồ Chí Minh là  
20.500 việc làm. Trong đó, nhu cầu về lao động phổ thông chiếm 50% và lao động có  
trình độ trung cấp trở lên chiếm 20% và công nhân kỹ thuật chiếm 30%. So với tỷ lệ  
lao động và trình độ tương ứng cho thấy tỷ lệ này cho thấy xu hướng giảm đáng kể về  
nhu cầu lao động phổ thông và trung cấp nghề, trong khi đó nhu cầu về công nhân kỹ  
thuật có tay nghè, và trung cấp nghề trở lên tăng cao. Vì vậy, để chuẩn bị tốt cho việc  
hiện đại hóa sản xuất, công tác đào tạo lao động là cực kỳ quan trọng để đáp ứng nhu  
cầu của quá trình hiện đại hóa sản xuất.  
303  
Hình 3: Dự báo nhu cầu tuyển dụng theo trình độ ngành dệt may trong  
giai đoạn 2015 – 2025  
Nguồn: Trần Anh Tuấn (2015) Tham luận thực trạng và dự báo nguồn nhân lực  
ngành dệt may. Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động  
thành phố Hồ Chí Minh  
Hiện nay, đa số người lao động trong ngành dệt may chủ yếu chỉ được đào tạo  
tại nhà máy. Các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phổ thông, sau đó bố trí thợ giỏi  
kèm việc hoặc gửi tới một trung tâm dạy nghề trong khoảng thời gian ngắn để người  
công nhân có kỹ năng tham gia vào quá trình sản xuất. Việc đào tạo nhân lực cho  
ngành dệt may của các trung tâm và các trường hiện chưa đáp ứng được nhu cầu thực  
tế của nhiều doanh nghiệp. Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung chủ yếu các cơ sở  
đào tạo lao động ngành dệt may chỉ có 11 trường đào tạo nhóm ngành dệt may, hàng  
năm chỉ tuyển sinh và đào tạo khoảng 1.900 lao động (trình độ đại học là 200 người).  
Nhân lực thiết kế thời trang được đào tạo tại Việt Nam hầu hết chỉ có khả năng kinh  
doanh ở quy mô nhỏ, chưa đủ khả năng thiết kế và triển khai sản xuất để thương mại  
hóa với quy mô toàn ngành. Trong các ngành có nhu cầu lớn về nhân lực có kỹ năng,  
như sợi, dệt, nhuộm, cần khoảng 300 - 400 kỹ sư/năm, trong khi đó các trường đại học  
ở Việt Nam chỉ cung cấp được khoảng 30 kỹ sư/ năm chưa bằng 10% nhu cầu phát  
triển.  
5. Một số vấn đề đặt ra  
Nhà nước cần quy hoạch hệ thống cơ sở đào tạo ngành dệt may tương xứng với  
quy mô và nhu cầu thực tế của ngành. Đặc biệt, phát triển đào tạo bậc trung cấp  
chuyên nghiệp ở ngành dệt để đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành sản xuất nguyên  
phụ liệu trong nước; có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đào tạo  
lao động. Các phân tích nêu trên đều cho thấy việc ứng dụng công nghiệp 4.0 vào  
304  
ngành dệt may là tất yếu, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi mà chu kỳ thay đổi  
công nghệ trong lĩnh vực dệt may ngày càng có xu hướng giảm, chỉ còn khoảng 15  
năm đối với công nghệ sản xuất sợi, dệt, nhuộm và còn 3-5 năm đối với công nghệ sản  
xuất sản phẩm may mặc. Trước thực trạng đó, để đáp ứng nhu cầu nhân lực dệt may  
cho công nghiệp 4.0, công tác đào tạo nguồn nhân lực cần phải được thực hiện một  
cách có hệ thống tại tất cả các trường có đào tạo đại học và cao đẳng cho ngành dệt  
may  
Hiệp hội Dệt May Việt Nam làm đầu mối để phối hợp và liên kết với các doanh  
nghiệp, cơ sở đào tạo trong và ngoài nước triển khai chương trình đạo tạo nguồn nhân  
lực cho ngành.  
Chỉ có khi chất lượng lao động được tăng lên thì doanh nghiệp mới có thể khai  
thác tốt các nguồn nguyên liệu, tăng năng suất lao động và năng lực quản lý để tăng  
khả năng cạnh tranh. Cụ thể, doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn cho việc đào tạo  
nguồn nhân lực, chủ động tuyển dụng và có trách nhiệm đào tạo chuyên sâu với  
những nhân viên cam kết gắn bó lâu dài. Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến  
khích người lao động chủ động nâng cao trình độ, tay nghề bằng chế độ lương, thưởng  
phù hợp. Một trong những thách thức đối với các doanh nghiệp dệt may hiện nay là  
hiện tượng nhảy việc của những nhân sự có tay nghề và kinh nghiệm. Vì vậy, muốn  
giữ chân người lao động, ngoài mức tiền lương tương xứng, doanh nghiệp cần áp  
dụng các phương thức quản trị hiệu quả như: tạo điều kiện để người lao động phát huy  
năng lực, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, quan tâm tới các nhu cầu tinh  
thần…  
Hầu hết lao động dệt may là từ người nông dân chuyển dịch nghề, trở thành  
người công nhân, họ cần đồng thời dần thay đổi ý thức lao động công nghiệp hóa,  
sống hiệu quả hơn, loại bỏ dần những thói quen lè phè, đủng đỉnh lãng phí thời gian  
vô ích trong những việc làng, nhờ đó mà dành thời gian học tập, tiến bộ, tạo ra nhiều  
của cải vật chất cho xã hội, hạn chế tệ nạn. Những lao động đủ năng lực tiếp cận được  
kiến thức mới, làm chủ máy móc thế hệ mới, sẽ giữ được việc làm. Còn phần đông  
những lao động không thể làm chủ được công nghệ cao, bị thải loại khỏi thị trường  
lao động.  
Tài liệu tham khảo  
1. Ban Kinh tế Trung ương (2017) – Sách tham khảo:Việt Nam với cuộc cách  
mạng công nghiệp lần thứ 4  
2. Bộ Công thương 92017). Báo cáo chỉ số thương mại điện từ 2017  
3. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (2015), Báo cáo tổng kết của Hiệp hội Dệt May  
305  
4. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (2016), Báo cáo tổng kết của Hiệp hội Dệt May  
5. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (2017), Báo cáo tổng kết của Hiệp hội Dệt May  
6. Lê Quốc Lý (2017): Cách mạng Công nghiệp 4.0: Thời cơ và thách thức đối  
với sự phát triển kinh tế Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 19, tháng  
07/2017  
7. Huynh.P.(2015), Strong export and job growth in Asia’s garment and footwear  
sector, Asia-Pacific Garment and footwear sector research Notr, Issue 1,  
November (Bangkok, ILO)  
8. Trần Anh Tuấn (2015) Tham luận thực trạng và dự báo nguồn nhân lực ngành  
dệt may. Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động  
thành phố Hồ Chí Minh  
9. Tổng cục Thống kê (2016), Niên giám Thống kê năm 2015  
10. Tổng cục Thống kê (2017), Niên giám Thống kê năm 2016  
11. Tổng cục Thống kê (2018), Niên giám Thống kê năm 2017  
306  
pdf 13 trang Thùy Anh 20780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến lao động ngành dệt may Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_cach_mang_cong_nghiep_4_0_den_lao_dong_nganh_de.pdf