Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

TS. PhạM hUy ThꢀNh ĐạI học - ThS. hUỳNh Thị ThÚy LINh  
205  
KẾ THỪA Vꢀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HꢁA  
TRUYꢂN THỐNG DÂN TꢃC TRONG VIỆC XÂY DỰNG  
VĂN HꢁA KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
TS. PhạM hUy ThꢀNh  
Đꢂi hꢃc Kinh tꢁ, Đꢂi hꢃc Đꢀ Nꢄng  
ThS. hUỳNh Thị ThÚy LINh  
Cao đẳng Kinh tꢁ – Kꢁ hoꢂch Đꢀ Nꢄng  
TꢀM TꢁT  
Xây dꢂng văn hꢃa kinh doanh trong điꢄu kiꢅn hꢆi nhꢇp kinh tꢈ quꢉc tꢈ, đꢊi hỏi  
cꢋc doanh nghiꢅp cần phꢌi phꢋt huy cꢋc giꢋ trꢍ văn hꢃa dân tꢆc để xây dꢂng nên  
nhꢎng thương hiꢅu mang tính quꢉc gia. Nhꢎng giꢋ trꢍ văn hꢃa dân tꢆc lꢏ nguồn lꢂc  
nꢆi sinh thꢐc đẩy cꢋc doanh nghiꢅp phꢋt triển nhanh vꢏ bꢄn vꢎng trong môi trưꢑng  
cạnh tranh khꢉc liꢅt. Bꢏi viꢈt đꢄ cꢇp đꢈn cꢋc giꢋ trꢍ truyꢄn thꢉng cꢒa văn hꢃa dân  
tꢆc Viꢅt Nam: yêu nưꢓc, đoꢏn kꢈt, cần cù, tiꢈt kiꢅm, ứng xử linh hoạt mꢄm dẻo lꢏ  
nhꢎng yꢈu tꢉ cần đưꢔc phꢋt huy đꢉi vꢓi viꢅc xây dꢂng văn hꢃa kinh doanh hiꢅn nay  
ở nưꢓc ta.  
Tꢀ khꢁa: Văn hꢁa, dân tꢂc, tinh thꢃn, kinh doanh, phꢄt huy  
1. Đặt vấn đề  
rong thời đại hiện nay, đặc biệt là  
triển trong việc xây dựng văn hóa kinh  
doanh  
trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập  
kinh tế quốc tế, mỗi doanh nghiệp  
Giá trị văn hóa truyền thống là một bộ  
phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống giá  
trị tinh thần của dân tộc Việt Nam. Nói đến giá  
trị văn hóa truyền thống Việt Nam là chúng  
ta nói đến các giá trị đạo đức đặc thù của con  
người Việt Nam được thử thách qua hàng ngàn  
năm lịch sử. Theo cách hiểu đó, giá trị văn hóa  
truyền thống lꢀ những giá trị tinh thần tốt đẹp  
hình thꢀnh trong quá trình dựng nước vꢀ giữ  
nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam vꢀ  
được lưu truyền từ thꢁ hệ nꢀy sang thꢁ hệ khác.  
Đây là những giá trị nhân văn mang tính cộng  
đồng, là sự kết tinh của toàn bộ tinh hoa dân  
tộc, mang tính ổn định và được truyền từ đời  
này sang đời khác. Trải qua hàng ngàn năm  
lịch sử với sự “tiếp biến” văn hoá của dân tộc,  
đã tạo lập nên hệ giá trị văn hóa truyền thống  
của con người Việt Nam: giàu lòng yêu nước,  
T
muốn tồn tại, muốn đứng vững trên thị trường  
cạnh tranh đầy khốc liệt thì cần phải xây  
dựng được những kế hoạch, biện pháp khả  
thi. Đồng thời phải xây dựng văn hóa doanh  
nghiệp, đây là những giá trị được các thế hệ  
thành viên trong doanh nghiệp tạo dựng trên  
cơ sở nội lực của doanh nghiệp và kế thừa  
tinh hoa văn hóa của dân tộc. Doanh nghiệp  
Việt Nam trên con đường hội nhập, phải trang  
bị cho mình cả một chiều sâu văn hóa với mấy  
ngàn năm lịch sử của dân tộc, để tạo dựng nên  
những thương hiệu có đủ sức cạnh tranh lớn  
và hướng tới các lợi ích mang giá trị chân,  
thiện, mỹ.  
2. các giá trị văn hóa truyền thống dân  
tộc Việt Nam cần được kế thừa và phát  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
206  
yêu thương con người, cần cù, thông minh, nhiên, cốt lõi của văn hóa truyền thống Việt  
sáng tạo, hiếu học…Những giá trị đó đi sâu Nam hoàn toàn bắt nguồn từ lịch sử đấu tranh  
vào đời sống của con người Việt Nam và trở dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.  
thành những chuẩn mực được nâng niu, quý Trong số những giá trị văn hóa truyền thống  
trọng trong suốt lịch sử hàng ngàn năm dựng đó, theo chúng tôi có mấy giá trị nổi bật sau  
nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc đây cần được khơi dậy để xây dựng văn hóa  
Việt Nam, trở thành sức mạnh tinh thần to lớn kinh doanh :  
giúp nhân dân ta vượt qua vô vàn khó khăn,  
gian khổ để đi đến bến bờ vinh quang.  
- chủ nghĩa yêu nước  
Yêu quê hương đất nước là một tình cảm  
tự nhiên của con người được nảy sinh và phát  
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ  
nước, mặc dù đã có những biến cố, thăng trầm  
trong lịch sử, nhưng dân tộc ta vẫn giữ gìn và  
phát huy được các giá trịvăn hóa truyền thống  
dân tộc. Các giá trịvăn hóa truyền thống đó đi  
sâu vào đời sống tinh thần của con người Việt  
Nam, tạo dựng được một dòng chảy chủ lưu  
xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, thu hút  
sự quan tâm, chú ý của nhiều học giả, nhiều  
nhà nghiên cứu. Điều đó được khẳng định:  
triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.  
Cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt  
Nam, tinh thần yêu nước Việt Nam trở thành  
chủ nghĩa yêu nước, thành một giá trị to lớn,  
một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc  
đẩy biết bao nhiêu thế hệ con người Việt Nam  
anh dũng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ  
phẩm giá của con người Việt Nam. Lòng yêu  
nước được hiểu đó là một thứ lương tri: “chết  
đứng còn hơn sống quỳ”. “Nó không phải là  
một cái gì duy tâm, siêu hình mà là kết quả  
của kinh nghiệm đấu tranh, tồn tại, của ý thức  
hướng theo lẽ phải, theo cái lý tự nhiên của  
cuộc sống đúng mực, sống hữu ích và sống  
xứng đáng với quá khứ, hiện tại, tương lai của  
nước nhà”1. Bằng lương tri ấy, mỗi con người  
Việt Nam đã sống, cống hiến cho gia đình,  
quốc gia, dân tộc Việt Nam vững bền theo  
năm tháng trước sự thử thách khắc nghiệt của  
lịch sử dựng nước và giữ nước.  
Một lꢀ, Giá trị văn hóa truyền thống là nền  
tảng tinh thần truyền thống của Việt Nam,  
chiếm vị trí quan trọng nhất, chi phối sự vận  
động và phát triển lịch sử tư tưởng dân tộc.  
Hai lꢀ, trong các giá trịvăn hóa truyền  
thống, chủ nghĩa yêu nước là giá trị quan trọng  
nhất, là bậc thang cao nhất trong hệ giá trị văn  
hóa truyền thống Việt Nam, nó định hướng cho  
các giá trị khác cùng phát triển. Chủ nghĩa yêu  
nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh  
của con người Việt Nam.  
- Tinh thần đoàn kết  
Ba lꢀ, các giá trị văn hóa truyền thống đã  
Với lịch sử dựng nước và giữ nước hết sức  
tạo nên hệ thống lý luận mang tính chất triết đặc biệt, dân tộc Việt Nam đã xây dựng nên  
tinh thần đoàn kết bền chặt, cố kết cộng đồng  
sâu sắc trong suốt chiều dài lịch sử, trở thành  
một trong những giá trị tinh thần truyền thống  
tốt đẹp, một trong những động lực, sức mạnh  
to lớn giúp nhân dân ta vượt qua muôn vàn  
khó khăn, thử thách.  
lý: cùng một giống nòi, cùng một đất nước  
thì phải có nghĩa vụ yêu thương, đùm bọc lẫn  
nhau; đoàn kết sẽ có sức mạnh, chung sức,  
chung lòng thì sẽ dời non, lấp biển.  
Như vậy, hệ thống các giá trị văn hóa  
truyền thống Việt Nam đã được hình thành  
trong suốt hàng ngàn năm đấu tranh kiên  
cường dựng nước và giữ nước; trong giao  
lưu, tiếp thu, cải biến, chọn lọc những giá trị  
văn hóa của các tộc khác trên thế giới. Tuy  
Nền kinh tế của nước ta trước đây chủ yếu  
là tự cung, tự cấp, dựa vào thiên nhiên. Làng,  
1. Vũ Ngọc Khánh: Minh triết Hồ Chí Minh, Nxb, Văn  
hóa, Hà Nội 1999, tr15.  
TS. PhạM hUy ThꢀNh ĐạI học - ThS. hUỳNh Thị ThÚy LINh  
207  
bản, thôn, xóm trong truyền thống tổ chức xã người bạc nghĩa, bạc tình “ ăn cháo, đá bát”.  
“Cơm kẻ bất nhân ăn ấy chớ  
hội Việt Nam nhìn chung mang tính chất khép  
kín. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện cụ thể của  
mỗi vùng, mỗi địa phương mà sự giao lưu về  
kinh tế, giao thoa về văn hóa vẫn diễn ra. Việc  
trao đổi, mua bán các sản phẩm được sản xuất  
ra ở mỗi vùng, mỗi địa phương đã tạo nên sự  
gắn chặt nhân dân mọi miền đất nước lại với  
nhau. Những tục “kết bạn” không những chỉ  
thực hiện giữa các công xã trong từng vùng  
mà giữa các công xã khác vùng và khác thành  
phần dân tộc. Đây là cơ sở kinh tế - xã hội để  
tạo dựng nên sự cố kết cộng đồng, tinh thần  
hợp tác, đoàn kết trong lao động sản xuất,  
trong sinh hoạt xã hội.  
Áo người vô nghĩa, mặc chẳng thà”2.  
Sự mềm dẻo, linh hoạt và lòng yêu thương  
con người của nhân dân ta còn bao hàm cả  
lòng vị tha với những kẻ lầm đường, lạc lối,  
để họ biết lập công chuộc tội để trở về với con  
đường hiếu sinh: “Đánh kẻ chạy đi, ai đánh  
người chạy lại”. Đối với kẻ thù khi chúng bị  
thất bại: “Lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn,  
lấy chí nhân để thay cường bạo”. Đây là một  
trong những nét đặc sắc thể hiện đỉnh cao của  
nhân ái, của tình yêu thương con người ở dân  
tộc Việt Nam.  
- cần cù, tiết kiệm  
Điều kiện thiên nhiên buộc con người  
muốn tồn tại phải hiệp sức lại với nhau, giữa  
những người trong vùng, giữa những vùng  
khác nhau trong cả nước và ý thức sớm liên  
kết thành một cộng đồng dân tộc thống nhất,  
phải tựa lưng nhau mà sống đã được hình  
thành. Chính yêu cầu phải hợp sức, hợp lực  
trong sản xuất, trong đấu tranh với thiên  
nhiên từ năm này qua năm khác, đời này qua  
đời khác, là nhân tố cơ bản đầu tiên tạo nên  
ý thức thống nhất dân tộc, thống nhất quốc  
gia.  
Đây cũng là một trong những giá trị đạo  
đức nổi bật trong hệ giá trị truyền thống của  
dân tộc Việt Nam. Trong quá trình phát triển  
của dân tộc, người Việt luôn biết cách tạo ra  
của cải vật chất từ chính đôi tay và trí tuệ  
của mình. Với đức tính cần cù, chịu khó cha  
ông ta đã sáng tạo ra được những thành quả  
lao động hết sức to lớn và vô cùng quý giá,  
cả về vật chất lẫn tinh thần. Việt Nam từ  
một nước có nền nông nghiệp lâu đời, với  
kết cấu công xã nông thôn bền chặt. Lao  
động nông nghiệp là loại hình sản xuất vất  
vả “một nắng, hai sương”, “bán mặt cho đất,  
bán lưng cho trời”, cần nhiều thời gian, công  
sức mới có hạt cơm, bát gạo để ăn. Hơn nữa,  
thiên nhiên lại rất khắc nghiệt, trung bình  
một năm Việt Nam chịu ảnh hưởng từ 10  
cho đến 12 cơn bão, mùa nắng thì hạn cháy  
đồng, mùa mưa thì lũ lụt. Để hạn chế sự tàn  
- Ứng xử linh hoạt, mềm dẻo  
Xuất phát từ vị trí địa lý của đất nước đã tạo  
nên điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phú,  
cùng với khí hậu nhiệt đới ẩm giao mùa, nên  
đã tạo ra những tố chất mềm dẻo, linh hoạt,  
giỏi thích ứng của người Việt Nam. Trong  
ứng xử với nhau người Việt Nổi tiếng “mềm phá của thiên nhiên, người dân Việt Nam  
quanh năm, suốt tháng phải lo đắp đập, đắp  
đê (đê sông Hồng là biểu tượng cho sức mạnh  
kỳ diệu của con người Việt Nam trong chống  
lụt), đào mương lấy nước tưới cho cây trồng.  
Theo sự tổng kết của giáo sư Trần Văn Giàu,  
người nước ngoài đến Việt Nam đều hết sức  
kinh ngạc khi nhìn thấy mọi cơ năng của con  
mại như nước”, trọng khách, hiếu khách “vừa  
lòng khách đến, vui lòng khách đi”. Đối cuộc  
sống, người Việt có cách ứng xử mềm dẻo, vị  
tha “chín bỏ làm mười”. Khi xảy ra va chạm,  
người Việt thường cố gắng giải quyết cho êm  
đẹp, vẹn cả đôi đường, với phương châm “có  
lý có tình” hay là “một bì cái lý, không bằng  
một tý cái tình”. Coi trọng cái tình, cho nên  
con người Việt coi thường và khinh bỉ những  
2. Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà  
Nội 1976,tr.40.  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
208  
người Việt Nam đều được sử dụng để làm Việt Nam trong lòng bè bạn quốc tế. Mỗi con  
việc: đầu đội, vai gánh, lưng cõng, tay nhanh người Việt Nam thể hiện bằng cách lao động  
nhẹn và khéo léo, chân chạy như bay.  
chăm chỉ, nhiệt tính cống hiến, có ý thức đóng  
góp vào sự phát triển chung của đất nước, vì  
một đất nước Việt Nam hùng cường. Các  
doanh nhân Việt Nam cần phải xác định rõ  
họ đang đi trên một mặt trận “thương trường  
là chiến trường”, ở đây họ là “người lính trên  
mặt trận của thời bình”, đang gánh vác một  
trọng trách lớn đi đầu trong mặt trận kinh tế  
để làm giàu cho Tổ quốc.  
3. Kế thừa và phát huy các giá trị văn  
hóa truyền thống của dân tộc trong việc  
xây dựng văn hóa kinh doanh ở nước ta  
hiện nay.  
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục  
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công  
bằng, văn minh”, văn hóa kinh doanh ở nước  
ta bắt đầu được hình thành và phát triển. Trên  
con đường phát triển, xây dựng văn hóa kinh  
doanh vẫn đang còn nhiều bất cập, sự nhận  
thức về tính tất yếu phải xây dựng văn hóa  
kinh doanh để đáp ứng với yêu cầu của hội  
nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra nhiều vấn đề.  
Muốn có một chiến lược phát triển lâu dài,  
bền vững, các doanh nghiệp Việt Nam phải  
xây dựng văn hóa kinh doanh, đây chính là  
nguồn lực nội sinh của doanh nghiệp. Để xây  
dựng văn hóa kinh doanh trong giai đọan hiện  
nay, chúng ta cần phát huy và kế thừa những  
giá trị văn hóa của dân tộc trong hoạt động  
kinh doanh, làm cho lợi ích của doanh nghiệp  
gắn với giá trị chân, thiện mỹ. Để làm được  
điều đó chúng ta cần:  
Xây dựng đất nước sánh vai với các nước  
trên thế giới, đội ngũ doanh nhân nước nhà  
phải có ý chí làm giàu, đưa ra những hình thức  
kinh doanh đủ sức cạnh tranh với các doanh  
nghiệp nước ngoài. Mặt khác, xã hội phải tạo  
mọi điều kiện cho họ phát triển các ý tưởng  
kinh doanh, cổ vũ và tôn vinh những doanh  
nhân làm giàu cho bản thân, cho gia đình và  
xã hội. Ngày 31 tháng 7 năm 2009, Bộ Chính  
trị đã phát động cuộc vận động Người Việt  
Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, với mục  
tiêu khuyến khích người tiêu dùng Việt Nam  
tiêu thụ hàng nội địa, đồng thời khuyến khích  
các doanh nghiệp trong nước hướng tới thị  
trường nội địa.  
Đây là một chương trình khơi dậy tinh thần  
yêu nước của người Việt Nam, kích thích sản  
xuất và tiêu thụ hàng hóa trong nước, đảm  
bảo yếu tố bình ổn giá trên thị trường. Cuộc  
vận động cũng làm thay đổi nhận thức của  
các doanh nghiệp Việt Nam: hàng Việt Nam  
chỉ bán cho người Việt Nam khi người lao  
động và quản lý doanh nghiệp Việt Nam sản  
xuất ra những hàng hóa một cách trân trọng,  
đảm bảo yếu tố chữ tín với chất lượng tốt.  
Thứ nhất, phát huy chủ nghĩa yêu nước  
trong tình hình mới đối với các doanh nghiệp  
và người tiêu dùng Việt Nam.  
Trong giai đoạn hiện nay với sự tác động  
sâu sắc của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập  
kinh tế quốc tế, đây vừa là cơ hội nhưng cũng  
là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt  
Nam. Phát triển nhưng phải tạo dựng được  
nền tảng vững chắc, phát triển nhưng không  
đánh mất đi bản sắc, thương hiệu của doanh  
nghiệp mình. Để làm được như vậy, mỗi  
doanh nghiệp Việt Nam phải ý thức được vị  
trí, vai trò của mình đối với phát triển không  
Thứ hai, kế thừa và phát huy truyền thống  
đoàn kết để tạo nên văn hóa kinh doanh của  
các doanh nghiệp Việt Nam.  
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế  
chỉ của bản thân mình mà còn vì cộng đồng, đòi hỏi các doanh nghiệp và đội ngũ doanh  
quốc gia, dân tộc. Phát huy chủ nghĩa yêu nhân Việt Nam cần phải đồng tâm hợp lực để  
nước trong giai đoạn hiện nay, là thể hiện nâng cao sức cạnh tranh của mình. Đồng thời  
bằng những hành động cụ thể tôn vinh vị thế liên kết lại để chống lại việc bán phá giá của  
TS. PhạM hUy ThꢀNh ĐạI học - ThS. hUỳNh Thị ThÚy LINh  
209  
các doanh nghiệp làm ăn không chân chính, thức sâu sắc vì trách nhiệm và nghĩa vụ của  
bảo vệ thị trường trong nước. Để làm được  
những vấn đề đó, các doanh nghiệp phải đồng  
tâm, hợp lực nâng cao sức cạnh tranh, tránh  
tình trạng mạnh ai người đó làm.  
mình vì nhân dân, đất nước, chỉ có đoàn kết  
mới tạo ra sức mạnh.  
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết  
Thành công, thành công, đại thành công”.  
Đoàn kết các doanh nghiệp là một sự tất  
yếu trong bối cảnh cạnh tranh khắc nghiệt,  
chỉ có đoàn kết với nhau thì các doanh nghiệp  
Việt Nam mới đủ sức mạnh để bảo vệ thị  
trường nội địa, bảo vệ thương hiệu hàng hóa  
Việt. Đây chính là bảo vệ lợi ích hàng chục  
triệu lao động Việt Nam, chống lại việc bóc  
lột sức lao động, chèn ép giá, chống hàng giả,  
hàng lậu. Các doanh nghiệp phải chủ động  
liên hệ, liên kết lại với nhau, hỗ trợ, bổ sung  
cho nhau những vấn đề khiếm khuyết của các  
doanh nghiệp, tạo thành một sức mạnh cộng  
sinh hiệu quả, làm nên thương hiệu hàng hóa  
Việt trong tương lai.  
Thứ ba, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa  
sự mềm dẻo, linh hoạt, sống có nghĩa, có tình  
trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt  
Nam  
Dân tộc Việt Nam trong lịch sử đã trải  
nhiều thử thách, gian khổ, con người Việt  
Nam đã biết lựa thời và thế để ứng xử với  
các các nước lân bang với mục đích bảo vệ  
đất nước. Những nhân vật lịch sử đã làm  
rạng danh đất nước như: Lê Hoàn, Phạm Cự  
Lượng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn,  
Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn Trãi…đến thời đại  
Hồ Chí Minh có Xuân Thủy, Nguyễn Thi Thị  
Bình, Lê Hữu Thọ…đã bình tĩnh, tự tin, mềm  
dẻo, linh hoạt để đối ứng với kẻ thù, đảm bảo  
lợi ích của dân tộc.  
Đoàn kết, thống nhất ý chí giữa các doanh  
nghiệp là vấn đề không dễ dàng trong môi  
trường cạnh tranh khốc liệt, bài toán lợi ích  
của các doanh nghiệp luôn được đặt ra, Nếu  
chỉ vì lợi ích trước mắt, sự liên kết của các  
doanh nghiệp khó có thể diễn ra được. Do  
vậy, để đoàn kết, thống nhất ý chí giữa các  
doanh nghiệp cần phải có niềm tin, chữ tín  
được đặt lên hàng đầu. Các doanh nhân chỉ  
có thể hình thành được niềm tin từ việc tôn  
trọng lợi ích của nhau và có tầm nhìn lâu dài  
về sự phát triển của doanh nghiệp, đất nước.  
Mặt khác, niềm tin và chữ tín giúp các doanh  
nghiệp tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp, trên cơ  
sở tôn trọng, tin cậy lẫn nhau trong hoạt động  
sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy thị  
trường kinh doanh ở nước ta hiện lành mạnh,  
thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu  
tư, liên doanh, liên kết vì sự phát triển của  
doanh nghiệp và đất nước. Trên thực tế sự  
liên kết của các doanh nghiệp Việt Nam chưa  
chặt chẽ, để lại nhiều lỗ hổng trên thị trường,  
làm mất đi yếu tố cạnh tranh của các doanh  
nghiệp Việt. Khơi dậy và phát huy giá trị đoàn  
kết của dân tộc, làm cho các doanh nghiệp ý  
Gần 30 năm đổi mới, Đảng ta chủ trương  
“Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy  
với các nước”, dựa vào nguyên tắc quan hệ  
“hợp tác hai bên cùng có lợi, không can thiệp  
vào công việc nội bộ của nhau, đảm bảo độc  
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”.  
Đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu trên mặt  
trận ngoại giao, Việt Nam đã tham gia hầu hết  
các tổ chức kinh tế của thế giới, vị thế của đất  
nước được nâng lên. Đây chính là điều kiện  
và cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam hội  
nhập quốc tế một cách sâu rộng.  
Các doanh nghiệp phải nhận thức sâu sắc  
trong điều kiện hội nhập quốc tế, thương hiệu  
hàng hóa, sản phẩm của các doanh nghiệp là  
yếu tố quyết định thành công. Muốn làm được  
điều đó bên cạnh chất lượng sản phẩm, cần  
quan tâm tới văn hóa ứng xử của các doanh  
nghiệp đối với người tiêu dùng và đối tác.  
Sự kiện Việt Nam gia nhập vào WTO đã cho  
thấy khả năng đàm phán ngoại giao của Đảng  
và và Nhà nước ta, sự linh hoạt, mềm dẻo  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
210  
trong ứng xử đã làm thay đổi quan điểm của nghiệp luôn phải đặt ra những câu hỏi lớn để  
nhiều nước về Việt Nam. Các doanh nghiệp tồn tại và phát triển: sản xuất cái gì, sản xuất  
Việt Nam cần xem đó là tiền đề, điều kiện lớn như thể nào, sản xuất cho ai. Tất cả những  
để doanh nghiệp Việt Nam đàm phán, ký kết câu hỏi đó đều hướng tới đầu ra và đầu vào  
với các đối tác của mình.  
của sản phẩm, trong quá trình đó thì có sự  
đóng góp lớn của người lao động với đức tính  
cần cù và sự tiết kiệm từ nguyên liệu, nhân  
công lao động, chi phí trung gian để hạ giá  
thành sản phẩm. Đức tính cần cù, tiết kiệm  
của người dân Việt Nam cần được các doanh  
nghiệp nước ta phát huy trong quá trình hội  
nhập, tạo ra những sản phẩm chiếm lĩnh thị  
trường “tốt, rẻ, mẫu mã đẹp”.  
Hợp tác để cùng phát triển trong bối cảnh  
toàn cầu hóa là tất yếu, nhưng các doanh  
nghiệp Việt Nam cần phải vận dụng đúng  
nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong  
quan hệ với các đối tác, mới đảm bảo sự phát  
triển lâu dài. Nguyên tắc, mục tiêu của doanh  
nghiệp phải được giữ vững, biện pháp để thực  
hiện nguyên tắc, mục tiêu đó phải thay đổi  
theo từng thời điểm, từng đối tác. Phát triển  
không được đánh mất đi bản sắc văn hóa,  
thương hiệu của doanh nghiệp, phát triển là  
đảm bảo cho bản sắc văn hóa, thương hiệu  
của doanh nghiệp được củng cố và phát triển.  
Trong điều kiện hội nhập hiện nay, các tập  
đoàn kinh tế xuyên quốc gia, họ luôn muốn  
độc bá thị trường, họ có đủ sức mạnh về tài  
chính để buộc các đối thủ cạnh tranh ngã  
ngục. Các doanh nghiệp Việt Nam tham gia  
vào thị trường quốc tế chúng ta phải nhận  
thức sâu sắc, văn hóa doanh nghiệp, thương  
hiệu sản phẩm sẽ là nền tảng vững chắc để  
cạnh tranh và phát triển. Đồng thời, phải linh  
hoạt, khéo léo “liệu cơm gắp mắm” để ứng xử  
trong thị trường quốc tế đầy những thử thách,  
khắc nghiệt.  
Các doanh nghiệp phải kích thích được  
đức tính cần cù và sáng tạo của người lao  
động trong sản xuất, kinh doanh, để tạo ra  
lợi ích cho doanh nghiệp, từ những sản phẩm  
có khả năng cạnh tranh cao. Trong quá trình  
sản xuất và kinh doanh cần phải sắp xếp con  
người đúng với sở trường, năng lực của người  
lao động. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải  
có chiến lược phát triển kinh doanh phù hợp,  
đầu tư có hiệu quả.Tháo gỡ dần những chi  
phí trung gian không đáng có, tiết kiệm vốn,  
thời gian để huy động mọi khả năng có thể  
đầu tư, phát triển doanh nghiệp với tầm nhìn  
dài hạn.  
Đức tính cần cù, tiết kiệm, thông minh của  
người Việt, là yếu tố nội sinh mà các doanh  
nghiệp cần phải sớm nhận thức được và phát  
huy yếu tố đó trong môi trường cạnh tranh.  
Đây là những phẩm chất đáng quý cần được  
khơi dậy để tạo ra tiềm lực cho các doanh  
nghiệp Việt Nam vững bước tiến vào môi  
trường cạnh tranh quốc tế. Xây dựng nền  
kinh tế Việt Nam phát triển bền vững, điều  
cần thiết là phải không ngừng học hỏi kinh  
nghiệm sản xuất kinh doanh của các nước  
trên thế giới từ kinh nghiệm quản lý, ứng  
dụng thành tựu khoa học công nghệ để tăng  
năng suất lao động. Bối cảnh toàn cầu hóa  
là cơ hội để chúng ta học tập kinh nghiệm  
xây dựng văn hóa kinh doanh ở các nước phát  
triển, đồng thời chúng ta nâng cao được các  
Trong những năm qua, có rất nhiều doanh  
nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành  
công to lớn ở trong và ngoài nước trên các  
lĩnh vực kinh doanh, liên kết đầu tư, thu hút  
vốn, mở rộng thị trường. Điều đó chứng tỏ,  
các doanh nhân Việt Nam có khả năng thích  
ứng nhanh trong quá trình hội nhập, tạo nên  
thương hiệu hàng hóa Việt.  
Thứ tư, kế thừa và phát huy giá trị cần cù,  
tiết kiệm trong xây dựng văn hóa kinh doanh  
của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá  
trình hội nhập quốc tế.  
C.Mác đã khẳng định trong điều kiện  
nền kinh tế sản xuất hàng hóa thì các doanh  
TS. PhạM hUy ThꢀNh ĐạI học - ThS. hUỳNh Thị ThÚy LINh  
211  
giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam lên phát triển của xã hội mang tính nhân văn,  
hướng thiện. Các hoạt động sản xuất kinh  
doanh không chỉ nhằm mục tiêu là tối đa  
hóa lợi nhuận, tìm kiếm lợi ích bằng mọi âm  
mưu, thủ đoạn mà phải hướng tới những giá  
trị nhân văn, nhân ái, những giá trị văn hóa  
tốt đẹp của cộng đồng, dân tộc. Gắn với xu  
thế phát triển đó là phải xây dựng văn hóa  
kinh doanh của các doanh nghiệp dựa trên sự  
kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền  
thống của dân tộc. Hướng con người chú ý tới  
các yếu tố văn hóa, đây là nguồn lực nội sinh,  
hướng các hoạt động kinh doanh gắn liền với  
các giá trị chân, thiện, mỹ.  
một tầm cao mới vừa có sự kế thừa bổ sung  
và phát triển. Cần cù, tiết kiệm cùng với sự  
thông minh sáng tạo của người Việt kết hợp  
với hiệu quả và chất lượng của văn hóa kinh  
doanh ở các nước phát triển sẽ tạo ra “kiến  
tha lâu đầy tổ”, “bây giờ khó nhọc có ngày  
phong lưu”, dẫn đến một sức cạnh tranh mới  
cho các doanh nghiệp Việt Nam.  
4. Kết luận  
Xây dựng nền kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tạo ra sự  
pdf 7 trang Thùy Anh 12700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfke_thua_va_phat_huy_cac_gia_tri_van_hoa_truyen_thong_dan_toc.pdf