Giải pháp quản lý rủi ro tài chính tại công ty Cổ phần gang thép Thái Nguyên (Tisco)

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GANG  
THÉP THÁI NGUYÊN (TISCO)  
SOLUTIONS FOR FINACIAL RISK MANAGEMENT AT THAI NGUYEN IRON AND  
STEEL JOINT STOCK CORPORATION (TISCO)  
TS. Hoàng Thị Thu, ThS. Vũ Thị Hậu, Phạm Xuân Thuỷ  
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Dựa trên kết quả nghiên cứu khái quát về rủi ro tài chính của doanh nghiệp (khái niệm, các nhân tố ảnh  
hưởng, hệ thống chỉ tiêu đo lường) và quản lý rủi ro tài chính của doanh nghiệp (khái niệm, vai trò, quy trình  
và các nhân tố ảnh hưởng), bài viết này đi sâu nghiên cứu thực trạng rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần  
Gang thép Thái Nguyên (TISCO) giai đoạn 2007 - 2011. Trên cơ sở xác định rủi ro (nhận dạng rủi ro), nhóm  
tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)  
góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược sản xuất kinh doanh giai đoạn 2010 – 2015.  
Từ khóa: Rủi ro tài chính, quản lý rủi ro tài chính, cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu nợ, khả năng sinh lời, hiệu  
quả hoạt động.  
ABSTRACT  
Based on the research of financial risks (definition, the effects and measurement system) and financial  
risk management (definition, the role and effects), this paper aims to study the financial risks of Thai Nguyen  
Iron and Steel Joint Stock Corporation (TISCO) in 2007-2011. Due to the identified financial risks, authors  
suggest some solutions for managing financial risk at Thai Nguyen Iron and Steel Joint Stock Corporation  
(TISCO) to improve the business strategy in 2010-2015.  
Keywords: Financial risk, financial risk management, capital structure, debt structure, profitability,  
operation ability.  
Rủi ro tài chính của một doanh nghiệp là  
hệ quả tổng hòa của các nhân tố bên trong và  
bên ngoài doanh nghiệp bao gồm: môi trường  
của doanh nghiệp, sản phẩm và thị trường của  
doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, tình hình  
tài chính…  
1. Khái quát rủi ro tài chính và quản lý rủi  
ro tài chính của doanh nghiệp  
1.1. Rủi ro tài chính của doanh nghiệp  
Theo nghĩa rộng, rủi ro tài chính là  
khả năng xảy ra những tổn thất gắn liền  
với hoạt động tài chính và thường bắt nguồn  
từ việc thực hiện các giao dịch liên quan trực  
tiếp đến tài chính như: mua bán, đầu tư, vay nợ  
và một số hoạt động kinh doanh khác; nhưng  
cũng có thể là hệ quả gián tiếp của sự thay đổi  
các chính sách của chính phủ, các biến cố  
chính trị trong nước và quốc tế, hoặc có thể do  
tác động của thiên tai. Theo nghĩa hẹp, rủi ro  
tài chính là nguy cơ mất khả năng thanh toán  
các khoản nợ tài chính khi đến hạn do doanh  
nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính - sử dụng  
nguồn vốn vay trong hoạt động sản xuất kinh  
doanh. Trong bài viết này, rủi ro tài chính  
được hiểu theo nghĩa hẹp.  
* Môi trường của doanh nghiệp  
Mỗi doanh nghiệp đều hoạt động trong một  
điều kiện cụ thể nào đó của môi trường kinh  
doanh và các yếu tố môi trường tạo ra những  
tác động đến doanh nghiệp thông qua những cơ  
hội hay nguy cơ xuất phát từ những thay đổi  
của môi trường.  
- Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp:  
Nghiên cứu về môi trường vĩ mô nhằm đánh  
giá quy mô và tiềm năng thị trường của doanh  
nghiệp và sự tác động của môi trường như: môi  
trường văn hóa xã hội, môi trường chính trị -  
pháp luật, môi trường công nghệ, môi trường  
361  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
kinh tế (lãi suất tín dụng, tỷ giá hối đoái, giá  
cả, thị trường tài chính…);  
nguồn nguyên liệu giữ vai trò rất quan trọng  
bởi chất lượng của nguyên liệu có thể tác động  
mạnh mẽ đến chất lượng sản phẩm. Hơn thế  
nữa, trữ lượng tiềm năng và tính ổn định của  
nguồn nguyên liệu có thể quyết định sự tồn tại  
của doanh nghiệp. Khi đánh giá nguồn cung  
ứng, cần tiến hành đánh giá trên các phương  
diện như: đánh giá tính ổn định của nguồn  
nguyên liệu, đánh giá quãng đường vận chuyển  
nguyên liệu, đánh giá phương án thay thế  
nguồn nguyên liệu.  
- Môi trường ngành: Vị thế cạnh tranh của  
doanh nghiệp sẽ không được thấy rõ nếu chỉ  
dựa vào những kết quả đánh giá môi trường vĩ  
mô. Phân tích và đánh giá môi trường ngành  
nhằm xác định vị thế của doanh nghiệp trong  
ngành mà nó hoạt động bào gồm: chu kỳ kinh  
doanh, triển vọng tăng trưởng của ngành, phân  
tích về cạnh tranh trong ngành, các nguồn cung  
ứng trong ngành, áp lực cạnh tranh tiềm tàng.  
- Địa điểm của doanh nghiệp: Địa điểm của  
doanh nghiệp có một vai trò rất quan trọng bởi  
nó có thể đem lại cho doanh nghiệp lợi thế  
thương mại nếu đặt gần các trục giao thông hay  
các đô thị. Song nó cũng có thể đem lại cho  
doanh nghiệp những nguy cơ nếu có khả năng  
phải di dời. Do đó, đánh giá địa điểm của  
doanh nghiệp nhằm xác định những cơ hội hay  
triển vọng xuất phát từ địa điểm. Khi đánh giá  
địa điểm của doanh nghiệp, cần phân tích trên  
các phương diện: phương diện kinh tế, phương  
diện chính trị, phương diện xã hội, phương  
diện tự nhiên.  
* Sản phẩm và thị trường của doanh  
nghiệp  
Khi đánh giá sản phẩm của doanh nghiệp,  
cần đánh giá trên các phương diện như: tầm  
quan trọng, chu kỳ sống… Thông qua những  
đánh giá này có thể nhận thấy vị thế của doanh  
nghiệp thông qua sản phẩm và thị trường của  
doanh nghiệp.  
- Sản phẩm của doanh nghiệp: Sản phẩm  
của doanh nghiệp được đánh giá trên các  
phương diện như: vai trò sản phẩm đối với xã  
hội và nền kinh tế, đánh giá chu kỳ sống của  
sản phẩm, đánh giá tiềm năng của sản phẩm,  
đánh giá chất lượng của sản phẩm;  
- Loại hình doanh nghiệp và tổ chức quản  
lý: Trên phương diện pháp lý và kinh doanh,  
các chủ sở hữu doanh nghiệp hoàn toàn có  
quyền tự do lựa chọn loại hình và cơ cấu tổ  
chức cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế  
việc lựa chọn này đều tuân theo những quy luật  
và nguyên tắc nhất định. Bởi vậy, có thể dựa  
vào những quy luật này để: đánh giá loại hình  
là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm  
hữu hạn, công ty cổ phần…; đánh giá về tổ  
chức – quản lý doanh nghiệp; đánh giá quy mô  
của doanh nghiệp.  
- Thị trường của doanh nghiệp: quy mô thị  
trường tiềm năng, thị phần của doanh nghiệp,  
chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp…  
* Quản trị doanh nghiệp  
Mục tiêu của các hoạt động quản trị là  
nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh  
nghiệp và hướng tới sự phát triển bền vững.  
Các nội dung đánh giá bao gồm:  
- Công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp:  
Những thông tin về công nghệ hiện tại của  
doanh nghiệp giúp xác định công nghệ thuộc  
loại lạc hậu hay hiện đại, công nghệ sẽ quyết  
định việc sản xuất ra những sản phẩm ngày  
càng hoàn hảo, với chi phí giảm đi. Khi phân  
tích thông tin về công nghệ người ta thực hiện:  
đánh giá công nghệ hiện tại của doanh nghiệp,  
đánh giá chiến lược đổi mới công nghệ của  
doanh nghiệp, đánh giá công suất máy móc  
thiết bị của doanh nghiệp, đánh giá sự tác động  
của công nghệ với môi trường.  
- Quản trị nguồn nhân lực: Đánh giá nền  
văn hóa và bản sắc của doanh nghiệp, đánh giá  
chính sách nhân sự của doanh nghiệp, đánh giá  
chính sách phát triển nguồn nhân lực của  
doanh nghiệp, đánh giá tiềm năng nhân sự của  
doanh nghiệp, đánh giá về ban lãnh đạo doanh  
nghiệp.  
- Quy mô của doanh nghiệp: Quy mô của  
doanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng  
cần được xem xét khi nghiên cứu rủi ro tài  
chính của các doanh nghiệp. Vì hiện nay, ở các  
nước đang phát triển như ở Việt Nam luôn tồn  
- Nguồn nguyên liệu của doanh nghiệp:  
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến,  
362  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
tại cách nghĩ, các doanh nghiệp càng lớn thì  
càng ổn định và vững chắc và ít có khả năng  
rơi vào tình trạng vỡ nợ.  
một loại hình xác định mức độ rủi ro của doanh  
nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp, sử dụng  
đòn bẩy kinh doanh lớn thì khả năng chống đỡ  
những có sốc khắc nghiệt của môi trường kinh  
doanh mà nó đang hoạt động càng thấp. Điều  
này có nghĩa là xác suất có nguy cơ phá sản  
tăng khi đòn bẩy kinh doanh tăng. Cơ cấu tài  
sản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ suất  
đầu tư tài sản cố định (tỉ lệ tài sản cố định trên  
tổng tài sản). Về mặt lý thuyết, khi tỉ lệ tài sản  
cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản,  
doanh nghiệp có cơ hội thế chấp các tài sản  
này để tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài.  
* Tình hình tài chính  
Phân tích thông tin tài chính là cơ sở cung  
cấp cho chúng ta về tình trạng hoạt động kinh  
doanh của doanh nghiệp. Các nội dung cần  
đánh giá bao gồm:  
- Phân tích các chỉ tiêu tài chính: Thông  
qua phân tích các chỉ tiêu tài chính, người ta có  
thể xác định tình hình tài chính của doanh  
nghiệp ở thời điểm hiện tại. Đồng thời các chỉ  
tiêu tài chính cũng tạo điều kiện cho việc so  
sánh “sức khỏe” của doanh nghiệp giữa các  
thời kỳ và so sánh với các doanh nghiệp khác  
hay giá trị trung bình của ngành. Hệ thống chỉ  
tiêu tài chính dùng để phân tích rủi ro tài chính  
của doanh nghiệp thường được chia thành các  
nhóm như sau:  
+ Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng sinh  
lời: Khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh  
của doanh nghiệp được đo lường thông qua các  
chỉ tiêu như khả năng sinh lời trên tài sản, khả  
năng sinh lời trên doanh thu. Đây là nhóm chỉ  
tiêu để đánh giá hiệu quả trong việc sử dụng  
các nguồn lực của DN để tạo ra lợi nhuận. Có  
nghĩa là, giá trị hay lợi nhuận của DN càng lớn  
sẽ có nhiều khả năng thanh toán để làm giảm đi  
khả năng có nguy cơ phá sản.  
+ Nhóm chỉ tiêu đo lường năng lực thanh  
toán: Đây là nhóm chỉ tiêu dùng để đáp ứng  
các khoản nợ của doanh nghiệp, đặc biệt là các  
khoản nợ ngắn hạn. Các tỷ số thường được sử  
dụng trong nhóm chỉ tiêu thanh khoản như: hệ  
số thanh toán khái quát, hệ số thanh toán nợ  
ngắn hạn, hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh  
toán lãi vay…  
- Hiệu quả: Đây là chi phí cho việc tạo ra  
doanh thu được đo lường bằng cách theo dõi  
hai phạm trù chi phí lớn là chi phí nhân công  
và chi phí vật tư…  
- Doanh thu: Theo kết quả nghiên cứu đã  
được công bố thì tỷ số doanh thu trên tài sản  
cao là điều kiện đầu tiên để đạt được thu hồi  
vốn cao với sự đầu tư tương đối thấp và có  
những ảnh hưởng tích cực lên khả năng thanh  
toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp, do vậy sẽ  
giảm khả năng có nguy cơ phá sản.  
+ Nhóm chỉ tiêu đo lường năng lực hoạt  
động: Đây là nhóm chỉ tiêu đo lường mức độ  
hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của doanh  
nghiệp. Các chỉ tiêu hoạt động được thiết lập  
trên doanh thu nhằm xác định tốc độ quay  
vòng của một số đại lượng, cung cấp những  
thông tin cần thiết cho công tác quản lý tài  
chính, đồng thời cũng là những chỉ tiêu cho  
biết được mức độ rủi ro tài chính của doanh  
nghiệp. Các tỷ số thường được sử dụng: vòng  
quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải  
thu, vòng quay tài sản cố định…  
- Tỷ lệ tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng của  
một doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng  
trong việc tính toán xác suất có nguy có phá  
sản. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tỷ lệ tăng  
trưởng với tỷ lệ vỡ nợ, mối quan hệ này không  
đơn giản như những tỷ lệ khác so với tỷ lệ vỡ  
nợ. Vì các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh  
thường không thể đương đầu với những thác  
thức quản lý bởi chính bản thân họ. Thêm nữa,  
tăng trưởng quá nhanh không chắc được tài trợ  
từ lợi nhuận, dẫn đến kết quả là khả năng nợ và  
các rủi ro liên quan tăng lên.  
+ Nhóm chỉ tiêu cơ cấu nguồn vốn và cơ  
cấu tài sản: Cơ cấu nguồn vốn của doanh  
nghiệp được đo lường thông qua các chỉ tiêu  
như tỷ suất nợ, tỷ suất tự tài trợ hay tỷ suất nợ  
phải trả trên vốn chủ sở hữu. Đây là nhóm chỉ  
tiêu phản ánh quy mô nợ so với vốn chủ sở hữu  
của doanh nghiệp, là bằng chứng về khả năng  
hoàn trả các khoản nợ của doanh nghiệp trong  
dài hạn, là một nhân tố quan trọng trong bất kỳ  
- Chính sách phân phối lợi nhuận của  
doanh nghiệp: Chính sách phân chia lợi nhuận  
363  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển  
nợ vay ngắn hạn và các khoản nợ phát sinh từ  
hoạt động kinh doanh) ở thời điểm hiện tại và  
trong quá khứ. Còn luồng tiền phản ánh khả  
năng thanh toán các khoản nợ dài hạn của  
doanh nghiệp khi chúng đáo hạn trong tương  
lai. Đánh giá luồng tiền thường dựa vào chỉ  
tiêu luồng tiền trên tổng nợ của doanh nghiệp.  
Bởi vậy, luồng tiền là một chỉ số chính xác đo  
lường “tình hình sức khỏe” tài chính của doanh  
nghiệp. Nhiều doanh nghiệp mặc dù có triển  
vọng, sinh lời rất khả quan nhưng luồng tiền bị  
cạn kiệt nên dẫn tới bị phá sản.  
của doanh nghiệp và sự gia tăng giá trị của vốn  
chủ sở hữu. Khi kết thúc niên độ kế toán, lãnh  
đạo doanh nghiệp quyết định mức chia lợi tức  
và tỷ lệ trích lập các quỹ dự phòng, quỹ tích  
lũy tái đầu tư. Nếu mức chia lợi tức cổ phần  
thấp có thể làm sụt giảm giá mua – bán cổ  
phần. Ngược lại, nếu mức chia lợi tức cổ phần  
quá cao sẽ đem lại cho doanh nghiệp nhiều khó  
khăn về chính sách tài trợ ngân quỹ. Nếu  
doanh nghiệp xây dựng một chính sách phân  
chi lợi nhuận hợp lý sẽ gia tăng tiềm năng tăng  
trưởng của doanh nghiệp, bởi lợi nhuận giữ lại  
là một nguồn tài trợ ngân quỹ để tái đầu tư mở  
rộng kinh doanh rất quan trọng. Tiềm năng  
tăng trưởng làm gia tăng sự hấp dẫn đối với  
các nhà đầu tư tiềm tàng. Các chủ nợ tiềm tàng,  
các nhà cung cấp và công chúng đầu tư thường  
đánh giá cao những doanh nghiệp có chính  
sách phân chia lợi nhuận hợp lý. Vì vậy, một  
doanh nghiệp có chính sách phân phối lợi  
nhuận hợp lý sẽ được đánh giá cao.  
- Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp: Hiệu  
quả kinh tế là phần giá trị tăng thêm trong kỳ,  
xuất phát từ hiệu năng quản lý của các nhà  
quản trị của doanh nghiệp. Chỉ tiêu hiệu quả  
kinh tế giúp đo lường chất lượng của đội ngũ  
các nhà quản trị trên phương diện tài chính.  
1.2. Quản lý rủi ro tài chính của doanh  
nghiệp  
Quản lý rủi ro tài chính là xác định mức độ  
rủi ro mà doanh nghiệp mong muốn, nhận diện  
được mức độ rủi ro hiện nay của doanh nghiệp  
đang gánh chịu và sử dụng các công cụ tài  
chính để điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự theo  
mức rủi ro mong muốn. Hoạt động quản lý rủi  
ro tài chính có vai trò giúp doanh nghiệp: tránh  
khỏi nguy cơ phá sản, đóng góp trực tiếp vào  
lợi nhuận, tránh được những giảm sút về thu  
nhập hoặc thiệt hại về tài sản, và tham gia vào  
những dự án có khả năng sinh lời cao. Về cơ  
bản, quy trình quản lý rủi ro tài chính của  
- Lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp:  
Phân tích luồng tiền (cash flows) là nhằm đánh  
giá nguy cơ phá sản, hay khả năng thanh toán  
cho các khoản chi tiêu, hay tái đầu tư mở rộng  
sản xuất. Khả năng này được thể hiện qua chỉ  
tiêu giữa giá trị dòng tiền thu trong kỳ và các  
nhu cầu chi tiêu cho đầu tư và trả nợ của doanh  
nghiệp.  
Luồng tiền là những khoản tiền được tạo ra  
trong một khoảng thời gian nào đó và chúng  
sẵn sàng cho việc đầu tư, hay trả nợ dài hạn,  
hay hoàn trả vốn gốc cho chủ sở hữu. Luồng  
tiền hàng năm được xác định như sau: Các chỉ  
tiêu thanh khoản đánh giá khả năng thanh toán  
các khoản nợ ngắn hạn (bao gồm cả các khoản  
doanh nghiệp bao gồm các bước: xác định  
đo lường và kiểm soát rủi ro  
,
.
Hình 1. Quy trình quản lý rủi ro tài chính-  
Xác định rủi ro (Financial risk  
kiện rủi ro (như rủi ro do thay đổi chính  
sách, rủi ro do chính sách đầu tư và tài  
ident  
ification): liên quan đến phân biệt sự  
364  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
đã đánh dấu mốc son quan trọng trong công  
trợ…) và phát hiện nguyên nhân tiềm  
năng trước khi rủi ro xảy ra  
Đo lường rủi ro (Financial risk  
measurement): có nghĩa là đánh giá và định  
lượng các tác động và hậu quả của rủi ro  
Bước này sẽ tận dụng các nguyên mẫu  
hoặc các phương pháp khác nhau để xác  
định rủi ro như tỷ suất nợ phải trả trên  
tổng tài sản, phân tích xác suất, hệ số đòn  
bẩy tài chính, đồng thời cung cấp dữ liệu  
chính xác để ngăn chặn và kiểm soát rủi  
ro tài chính của doanh nghiệp.  
cuộc xây dựng và phát triển của đất nước. Trải  
qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, TISCO  
không ngừng tăng trưởng và lớn mạnh. Công  
suất sản xuất thép cán hiện tại đạt 650.000  
tấn/năm, hệ thống phân phối sản phẩm rộng  
với 5 chi nhánh đặt tại Hà Nội, Quảng Ninh,  
Thanh Hoá, Nghệ An, Đà Nẵng, và mạng lưới  
các nhà phân phối tại các tỉnh và thành phố  
trong cả nước.  
.
-
.
Sản phẩm thép TISCO đã trở nên nổi tiếng  
trên cả nước, được sử dụng vào hầu hết các  
Công trình xây dựng trọng điểm quốc gia như  
thủy điện Hòa Bình, Yaly, Sơn La, sân vận  
động Quốc gia Mỹ Đình, cầu Thăng Long,  
Chương Dương, và nhiều công trình khác;  
thâm nhập vào thị trường quốc tế như Canada,  
Indonesia, Lào, Campuchia. TISCO cùng với  
sản phẩm thép mang thương hiệu TISCO đã  
giành được nhiều giải thưởng: Hàng Việt Nam  
chất lượng cao, Sao vàng đất Việt, Thương  
hiệu nổi tiếng với người tiêu dùng, Nhãn hiệu  
có uy tín tại Việt Nam, và nhiều giải thưởng có  
giá trị khác.  
- Kiểm soát rủi ro (Financial risk control):  
t
rên cơ sở kết quả đo lường rủi ro, kiểm soát  
rủi ro là việc sử dụng các chiến lược, các  
chương trình hành động, công cụ, kỹ thuật  
phù hợp… nhằm ngăn ngừa, né tránh hoặc  
giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng  
không mong đợi của rủi ro đối với doanh  
nghiệp.  
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro  
tài chính của doanh nghiệp bao gồm: nhận  
thức của nhà quản lý doanh nghiệp đối với rủi  
ro, quy mô và hình thức tổ chức của doanh  
nghiệp, sự phát triển thị trường các sản phẩm  
phái sinh, chính sách quản lý rủi ro, phương  
thức quản lý rủi ro (chủ động và thụ động), các  
công cụ quản lý rủi ro (như hợp đồng bảo  
hiểm, hợp đồng tài chính phái sinh, các dịch vụ  
tài trợ quốc tế, lập quỹ dự trữ…).  
Với những thành tích nổi bật đóng góp vào  
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước,  
TISCO đã vinh dự được phong tặng Danh hiệu  
Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Huân  
chương Độc lập hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều  
phần thưởng cao quý khác của Đảng và Nhà  
Nước. Những thành tựu đạt được đã khẳng  
định vị thế lớn mạnh của TISCO trên thị  
trường trong nước và Quốc tế. Ngày  
29/09/2007, TISCO đã khởi công thực hiện dự  
án đầu tư mở rộng sản xuất giai đoạn 2, đánh  
dấu mốc phát triển mới quan trọng. Dự án với  
tổng mức đầu tư gần 4.000 tỷ VND; ngày  
19/07/2009, Nhà máy cán thép Thái Trung  
công suất 500.000 tấn/năm với công nghệ hiện  
đại của Italia đã được khởi công xây dựng,  
nhằm mục tiêu đến khi hoàn thành dự án nâng  
năng lực sản xuất phôi thép và thép cán từ  
nguyên liệu trong nước lên 1.000.000 tấn/năm,  
đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường và đưa  
TISCO trở thành một trong những nhà sản xuất  
thép có quy mô, công nghệ và thiết bị tiên tiến  
2. Thực trạng rủi ro tài chính tại Công ty cổ  
phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)  
2.1. Khái quát về Công ty cổ phần Gang thép  
Thái Nguyên (TISCO)  
Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên  
(TISCO) hoạt động theo mô hình CTCP từ  
ngày 01/7/2009, tiền thân là Công ty Gang thép  
Thái Nguyên - cái nôi của ngành công nghiệp  
luyện kim Việt Nam, được khởi công xây dựng  
từ năm 1959, là khu Công nghiệp đầu tiên và  
duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất  
liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến  
sản xuất gang, phôi thép và cán thép. Ngày  
29/11/1963, mẻ gang đầu tiên của TISCO ra lò  
365  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
trong khu vực và thế giới, đảm bảo cho TISCO  
phát triển nhanh và bền vững trong quá trình  
hội nhập kinh tế quốc tế.  
ký giao dịch cổ phiếu với mã TIS trên sàn giao  
dịch chứng khoán chưa niêm yết UPCOM và  
khai trương chào sàn ngày 24/03/2011.  
Với bề dày truyền thống trên 50 năm xây  
dựng và phát triển; bằng ưu thế vượt trội về  
năng lực sản xuất phôi thép từ nguyên liệu  
quặng sắt trong nước; dây chuyền sản xuất thép  
cán công nghệ và thiết bị tiên tiến; hệ thống  
phân phối sản phẩm rộng khắp; cùng với chiến  
lược đầu tư và phát triển toàn diện, chính sách  
chất lượng “Tất cả vì lợi ích người tiêu dùng”  
và phương châm hành động “Chất lượng hàng  
đầu, giá cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ đa  
dạng”, là những yếu tố cơ bản làm nên thành  
công của TISCO, là cơ sở vững chắc cho sự  
phát triển lâu dài và bền vững để TISCO luôn  
“Lớn mạnh cùng Đất nước”. TISCO đã đăng  
2.2. Thực trạng rủi ro tài chính tại Công ty cổ  
phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)  
2.2.1. Xác định rủi ro tài chính của Công ty cổ  
phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)  
Để xác định rủi ro tài chính của doanh  
nghiệp, chúng ta có thể lựa chọn sử dụng các  
mô hình định lượng tiên tiến trên thế giới như  
mô hình Logit, mô hình Z, mô hình Bathory...  
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đã sử  
dụng mô hình Z để xác định rủi ro tài  
chính cho Công ty cổ phần Gang thép Thái  
Nguyên (TISCO)  
.
Bảng 1. Rủi ro tài chính và các nhân tố ảnh hưởng của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO),  
giai đoạn 2007 -2011  
CTCP Gang thép Thái Nguyên (TIS)  
Mã CK  
Chỉ tiêu tài chính  
POM (2011)  
2007  
3,24  
0,76  
1,29  
2,19  
1,46  
0,52  
2,85  
8,52  
7,88  
9,90  
2,29  
2008  
2,21  
1,67  
1,65  
1,35  
0,54  
1,64  
1,24  
4,46  
9,95  
3,96  
1,48  
2009  
1,25  
1,97  
1,59  
1,22  
0,65  
1,72  
1,95  
2,49  
2,95  
1,78  
0,65  
2010  
2,11  
1,87  
1,53  
1,04  
0,55  
1,92  
2,13  
6,01  
7,15  
3,24  
1,41  
2011  
1,41  
1,35  
1,29  
0,88  
0,48  
1,71  
1,37  
5,16  
5,99  
1,87  
1,05  
21,37  
56,07  
1,29  
1,37  
Hệ số Z (lần)  
13,64  
2,67  
Hệ số nợ ngắn hạn (lần)  
Hệ số thanh toán tổng quát (lần)  
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn (lần)  
Hệ số khả năng thanh toán nhanh (lần)  
Hệ số thanh toán nợ dài hạn (lần)  
Hệ số thanh toán lãi vay (lần)  
Vòng quay hàng tồn kho (lần)  
Vòng quay các khoản phải thu (lần)  
Vòng quay tài sản cố định (lần)  
Vòng quay tổng tài sản (lần)  
Tỷ suất tự tài trợ (%)  
1,49  
1,15  
0,56  
2,28  
2,57  
4,26  
52,38  
31,84  
12,91  
32,92  
40,56  
0,36  
22,68 39,59 37,45 34,73  
22,98 37,09 36,35 43,53  
Tỷ suất đầu tư tài sản cố định (%)  
Tỷ suất sinh lời của doanh thu (%)  
Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản (%)  
2,00  
4,60  
0,45  
0,67  
1,64  
1,07  
2,53  
3,57  
4,68  
Nguồn: BCTC đã kiểm toán từ năm 2007 – 2011 và tính toán của nhóm tác giả  
366  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
hóa, tự do mậu dịch. Là một nước đang phát  
Mô hình Z do Edward Altman (1968)  
xây dựng để dự đoán xác suất phá sản của  
một doanh nghiệp trong vòng hai năm và  
có độ tin cậy 72% - 80%. Kết quả tính toán  
hệ số Z được sử dụng để nhận dạng rủi ro tài  
chính của doanh nghiệp, theo đó: nếu Z > 2,99  
lần, doanh nghiệp có mức độ rủi ro tài chính  
thấp; 1,81 lần < Z < 2,99 lần, doanh nghiệp có  
mức độ rủi ro tài chính trung bình; Z <1,81  
lần, doanh nghiệp có mức độ rủi ro tài chính  
cao.  
triển, Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó  
nhu cầu xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng là  
rất rõ ràng. Đây là động lực cho sự phát triển  
của ngành công nghiệp thép Việt Nam trong  
những năm qua.  
* Quyết định của các cơ quan quản lý  
Nhà nước  
Hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày  
của TISCO bị ảnh hưởng từ các quyết định  
của các cơ quan quản lý Nhà nước như quyết  
định về thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên  
môi trường. Hiện nay hệ thống pháp luật Việt  
Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và  
sửa đổi, theo đó có thể tạo ra những tổn thất  
tài chính đối với TISCO.  
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3+ 0,64X4 + 0,999X5  
Trong đó:  
* X1 = Vốn lưu động trên tổng tài sản  
(Working Capital/Total Assets);  
* X2 = Lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản  
(Retained Earnings/Total Assets);  
* Biến động lãi suất tín dụng  
* X3 = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế  
trên Tổng Tài sản (EBIT/Total Assets);  
Giống như các doanh nghiệp khác trong  
ngành thép, TISCO có hệ số đòn bẩy tài chính  
tương đối cao trong đó chủ yếu là các khoản  
nợ vay ngân hàng để tài trợ nhu cầu vốn lưu  
động và vốn đầu tư dự án. Việc huy động  
nguồn vốn vay lớn có thể giúp TISCO thêm  
sự chủ động về nguồn trong hoạt động sản  
xuất kinh doanh, song cũng khiến gia tăng sự  
phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài và làm  
giảm khả năng đối phó với những rủi ro phát  
sinh do sự ràng buộc các điều khoản hợp đồng  
vay vốn đối với các hoạt động sản xuất kinh  
doanh của TISCO… Bên cạnh đó, duy trì tỷ lệ  
nợ vay cũng đặt TISCO đối mặt với rủi ro tài  
chính do biến động lãi suất rất lớn. Biến động  
lãi suất sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên chi phí tài  
chính trong khi TISCO lại không thể tăng giá  
bán để bù đắp chi phí này trước bối cảnh thị  
trường cạnh tranh khốc liệt và những khó  
khăn mà thị trường bất động sản phải trải qua.  
* X4 = Giá thị trường của vốn cổ phần trên  
tổng nợ (Total Equity/Total Liabilities);  
* X5 = Doanh thu bán hàng trên tổng tài  
sản (Sales/Total Assets).  
Trong giai đoạn 2007 – 2011, hệ số Z của  
TISCO là 2,04 lần và có xu hướng giảm (năm  
2007 là 3,24 lần, năm 2008 là 2,21 lần, năm  
2010 là 2,11 lần, năm 2011 là 1,41 lần). Đồng  
thời, hệ số Z của TISCO hàng năm đều thấp  
hơn so với mức trung bình doanh nghiệp công  
nghiệp niêm yết và doanh nghiệp tiên tiến của  
ngành thép là Công ty cổ phần thép Pomina  
(mã CK POM). Năm 2007, TISCO có mức độ  
rủi ro tài chính thấp, năm 2008 và 2010 đạt  
mức rủi ro tài chính trung bình và năm 2011,  
TISCO có mức rủi ro tài chính cao.  
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài  
chính của Công ty cổ phần Gang thép Thái  
Nguyên (TISCO)  
Rủi ro do biến động lãi suất ảnh hưởng  
trực tiếp đến kết quả kinh doanh (chi phí lãi  
vay năm 2010 là 248.981 triệu VND, chiếm  
3,08% tổng chi phí; năm 2011 là 461.578  
triệu VND, chiếm 4,81% tổng chi phí) và thu  
hẹp lợi nhuận của TISCO (lợi nhuận sau thuế  
năm 2011 là 125.909 triệu VND, giảm  
40,42% so với năm 2010). Tuy vậy, với lợi  
* Nhu cầu xây dựng phát triển cơ sở hạ  
tầng  
Là ngành công nghiệp quan trọng của nền  
kinh tế, ngành thép chịu mọi biến động của  
nền kinh tế quốc dân cũng như biến động của  
nền kinh tế thế giới trong xu hướng toàn cầu  
367  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thế là DN đầu đàn của ngành thép từ những  
tệ thu về để cân đối nhu cầu ngoại tệ nhập  
khẩu, do vậy hạn chế sự phụ thuộc vào vấn đề  
biến động tỷ giá.  
năm đổi mới đất nước và tính hiệu quả cao  
trong hoạt động kinh doanh, TISCO đã nhận  
được nhiều sự quan tâm, khuyến khích phát  
triển của chính phủ như các chính sách cho  
vay ưu đãi, bảo lãnh đi vay…  
* Biến động giá nguyên liệu  
Các nhân tố đầu vào chính phục vụ hoạt  
động sản xuất kinh doanh của TISCO hiện nay  
là quặng sắt, thép phế, than mỡ, than cốc, phôi  
thép, dầu, điện, nước… Trong trường hợp các  
nguồn cung cấp này giảm hoặc ngừng cung cấp  
nguyên vật liệu thì không có gì bảo đảm rằng  
TISCO có thể tìm được các nguồn cung cấp  
thay thế phù hợp và kịp thời. Độ ổn định của  
nguồn cung cấp điện cũng ảnh hưởng trực tiếp  
đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của  
TISCO như sự vận hành liên tục của các dây  
chuyền, hoạt động của các bộ phận phụ trợ,  
văn phòng… Khả năng cung cấp điện trong  
nước phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như khí  
hậu, lưu lượng nước, nguồn nguyên liệu than,  
dầu, công suất đường truyền,… và gần đây,  
nguồn cung cấp điện trong nước thường bị quá  
tải vào giờ cao điểm. Điều này có thể khiến  
TISCO có thể bị gián đoạn các dây chuyền  
hoạt động, ảnh hưởng đến năng suất và chất  
lượng sản phẩm.  
Hiện tại, khoảng 43% khoản vay dài hạn  
của TISCO có từ các khoản vay ưu đãi Nhà  
nước, 57% khác là vay thương mại, tuy nhiên  
với thời hạn cho vay khá dài và lãi suất khá  
thấp so với lãi suất thị trường. Đây là lợi thế  
cạnh tranh của TISCO so với các đối thủ cạnh  
tranh trong ngành (mã CK HPG, POM ...).  
* Biến động tỷ giá hối đoái  
Trong cơ cấu nguyên vật liệu chủ yếu  
phục vụ sản xuất của TISCO hiện tại, có một  
số nguyên vật liệu vẫn đang phải thu mua từ  
các nguồn bên ngoài trong đó có một phần  
phải nhập khẩu như than mỡ. Đồng thời, một  
số DAĐT của TISCO trong đó đáng kể nhất  
có Dự án mở rộng dây chuyền luyện kim giai  
đoạn II phải nhập khẩu dây chuyền máy móc  
thiết bị từ nước ngoài. Để nhập khẩu các máy  
móc thiết bị và nguyên liệu này, TISCO phát  
sinh nhu cầu ngoại tệ để thanh toán hóa đơn  
nhập khẩu. Thời điểm nhập mua hàng hóa và  
thời điểm mua ngoại tệ thanh toán có thể  
cách xa nhau dẫn đến nguy cơ phát sinh  
chênh lệch tỷ giá từ việc VND mất giá so với  
các ngoại tệ khác (lỗ chênh lệch tỷ giá đã  
thực hiện năm 2007 là 3.120 triệu VND, năm  
2008 là 3.730 triệu VND, năm 2010 là  
16.526 triệu VND, năm 2011 là 12.598 triệu  
VND), từ đó ảnh hưởng đến giá thành sản  
xuất cũng như lợi nhuận của TISCO.  
Ngoài ra, việc giá phôi thép, thép phế tăng  
lên và TISCO không thể điều chỉnh tăng giá  
thép tương ứng có thể ảnh hưởng đến doanh  
thu và lợi nhuận của TISCO hoặc làm cho  
khách hàng tiềm năng trì hoãn các dự án của  
mình và điều này sẽ có ảnh hưởng nghiêm  
trọng đến hoạt động kinh doanh, tình hình tài  
chính của TISCO. Tuy nhiên, là một DN trọng  
điểm trong lĩnh vực sản xuất thép, TISCO  
nhận được khá nhiều sự quan tâm và ưu đãi  
của Chính phủ để phát triển hoạt động kinh  
doanh như ưu tiên về nguồn cung cấp điện,  
các mỏ quặng sắt, than… Chính vì vậy,  
TISCO có được ưu thế nhờ khả năng chủ  
động về nguồn nguyên liệu so với nhiều đối  
thủ cạnh tranh khác.  
Hiện tại, nguyên vật liệu nhập khẩu chiếm  
tỷ lệ nhỏ không đáng kể so với các nguồn  
nguyên liệu TISCO đang tự chủ. Mặt hàng  
đang nhập khẩu nhiều nhất hiện nay là than  
mỡ, trung bình chiếm khoảng 45% nhu cầu  
nguyên liệu than mỡ phục vụ luyện cốc hàng  
năm của TISCO. Do đã tự chủ được dây  
chuyền luyện cốc nên TISCO nhập rất ít than  
cốc với tỷ trọng nhập khẩu hầu như không  
đáng kể. Ngoài ra, do TISCO cũng xuất khẩu  
được thép xây dựng nên cũng có nguồn ngoại  
* Tình hình cạnh tranh trong nước và  
quốc tế  
Có thể thấy ngành thép Việt Nam, đặc  
biệt là các DN sản xuất thép phía Bắc đang  
phải đối mặt tình hình cạnh tranh rất lớn,  
368  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
không chỉ trong nội bộ ngành mà còn cả áp  
cạnh đó, tỷ suất tự tài trợ có xu hướng giảm  
(năm 2007 là 22,68%, năm 2011 là 21,37%),  
tỷ suất đầu tư TSCĐ có xu hướng tăng (năm  
2007 là 22,98%, năm 2011 là 56,07%, trong  
khi hiệu quả sử dụng tài sản (năm 2007 là  
2,29 lần, năm 2011 là 1,05 lần) cũng như khả  
năng sinh lời (ROA năm 2007 là 4,60%, năm  
2011 là 1,37%) không gia tăng tương ứng cho  
thấy mức độ rủi ro tài chính mà TISCO đang  
phải đối mặt.  
lực từ nguồn nhập khẩu nước ngoài, đặc biệt  
là nguồn thép thông qua được nhập khẩu tiểu  
ngạch từ Trung Quốc. Ngoài ra, trong tương  
lai, hàng loạt các dự án xây dựng khu liên hợp  
thép cũng sẽ được xây dựng, tạo thêm nguồn  
cung cho thị trường trong nước vốn đã đang  
dư thừa. Sự cạnh tranh có thể dẫn tới việc gia  
tăng chi phí quảng cáo và hoạt động hậu mãi  
hoặc đưa ra các chính sách cạnh tranh giá  
không lành mạnh nhằm tiêu diệt đối thủ. Do  
đó TISCO sẽ phải đầu tư thêm cho việc  
nghiên cứu phát triển sản phẩm cũng như các  
chiến lược hậu mãi và quảng cáo. Những chi  
phí này có thể làm giảm lợi nhuận biên và ảnh  
hưởng không tốt đến kết quả hoạt động kinh  
doanh của TISCO.  
* Dòng diền (CF)  
Nghiên cứu thực trạng rủi ro tài chính  
thông qua xem xét biến động của dòng tiền  
của TISCO giai đoạn 2007 - 2011 cho thấy: (i)  
dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) âm  
trong giai đoạn 2008 – 2011; (ii) dòng tiền  
đầu tư (CFI) âm với quy mô tăng dần do  
TISCO tăng đầu tư cho giai đoạn II (năm  
2007 âm 41.174 triệu VND; năm 2009 âm  
220.812 triệu VND; năm 2010 âm 503.485  
triệu VND; năm 2011 âm 2.054.212 triệu  
VND); và (iii) dòng tiền tài chính (CFF) tăng  
rất mạnh để tài trợ cho hoạt động kinh doanh  
và đầu tư (năm 2007 là âm 20.289 triệu VND,  
năm 2011 là 2.255.944 triệu VND).  
Trong giai đoạn 2007 – 2011, hệ số nợ  
ngắn hạn của Công ty cổ phần Gang thép Thái  
Nguyên (TISCO) có xu hướng giảm, năm  
2008 là 1,67 lần, năm 2011 là 1,35 lần. Đặc  
biệt, năm 2011, toàn bộ tài sản ngắn hạn của  
TISCO không đủ trang trải cho các khoản nợ  
ngắn hạn (hệ số thanh toán nợ ngắn hạn chỉ  
đạt 0,88 lần, trong khi POM đạt 1,15 lần). Bên  
Hình 2. Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (∆CF) – TISCO - Nguồn: BCTC đã kiểm toán năm 2007 – 2011  
369  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO)  
nhanh. Cơ cấu dòng tiền đầu tư gồm ba bộ  
phận chính: dòng tiền đầu tư mới TSCĐ, đầu  
tư góp vốn và các hoạt động khác (chủ yếu là  
cho vay). Hậu quả của dòng tiền đầu tư lớn và  
liên tục tăng đã gây áp lực và khó khăn đối  
Hoạt động kinh doanh của TISCO không  
tạo ra dòng tiền dương trong bốn năm liên  
tiếp. Đặc biệt dòng tiền thuần từ hoạt động  
kinh doanh có xu hướng âm và giảm dần qua  
các năm. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh  
chia thành: dòng tiền vào (lợi nhuận và khấu  
hao) và dòng tiền ra (chênh lệch dòng tiền lưu  
động). Nguyên nhân hoạt động kinh doanh  
của TISCO có dòng tiền âm là do dòng tiền ra  
lớn hơn dòng tiền vào. Dòng tiền ở lại gồm:  
(i) lợi nhuận chịu thuế có xu hướng giảm dần  
do lợi nhuận gộp biên giảm và chi phí tài  
chính tăng nhanh; (ii) giá trị khấu hao hàng  
năm có tăng nhưng không đáng kể. Dòng tiền  
ở lại TISCO thấp là do: lợi nhuận gộp biên  
giảm đồng thời khả năng sinh lời cũng thấp  
hơn mức trung bình ngành (bằng 20 -30%  
mức bình quân ngành thép).  
với công tác thu xếp nguồn của TISCO  
.
Dòng tiền từ hoạt động tài chính (CFF)  
Hậu quả của dòng tiền đầu tư lớn và liên  
tục tăng đã gây áp lực và khó khăn đối với  
công tác thu xếp nguồn vốn. TISCO đã sử  
dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài  
hạn (tỷ lệ tài sản dài hạn trên nợ dài hạn và  
vốn chủ sở hữu năm 2007 là 40,31%, năm  
2009 là 84,24%, năm 2010 là 96,97%, năm  
2011 là 112,52%). Đồng thời, duy trì tăng  
trưởng cả hoạt động kinh doanh và hoạt động  
đầu tư, với nguồn vốn từ lợi nhuận và khấu  
hao giữ lại, vốn nợ từ vay nợ ngắn hạn và dài  
hạn. Tuy nhiên tốc độ tăng đầu tư của TISCO  
lại cao hơn so với tốc độ tăng của vốn dài hạn  
(gồm vốn chủ sở hữu và vay nợ dài hạn). Điều  
này cho thấy cơ cấu vốn của TISCO đang bị  
mất cân đối.  
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư (CFI)  
Hiện nay CTCP Gang thép Thái Nguyên  
(TISCO) đang đầu tư xây dựng cơ bản dở  
dang với giá trị dòng tiền đầu tư mới tăng  
Hình 3. Quy mô vay nợ ngân hàng – TISCO  
370  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Hình 4. Tài sản dài hạn và Vốn dài hạn (Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn) – TISCO –  
Nguồn: BCTC đã kiểm toán năm 2007 – 2011Tóm lại, rủi ro tài chính là hệ quả của việc mất cân đối kỳ  
hạn nợ, tài sản và dòng tiền thể hiện trong tình hình tài chính của TISCO như sau:  
Thứ nhất, hoạt động kinh doanh chính  
không tạo ra dòng tiền vào mà ngược lại cần  
thêm ngày càng nhiều tiền để duy trì hoạt  
động. Hoạt động đầu tư ngày càng cần thêm  
vốn đầu tư dài hạn. Hiện nay TISCO đã phải  
dùng vốn ngắn hạn để tài trợ.  
tăng suất đầu tư dẫn đến tăng mức trích khấu  
hao và giảm lợi nhuận kinh doanh sau đầu tư.  
3. Một số giải pháp quản lý rủi ro tài chính  
tại Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên  
(TISCO)  
Để kiểm soát rủi ro tài chính trong thời  
gian tới, Công ty cổ phần Gang thép Thái  
Nguyên (TISCO) cần thực hiện đồng bộ các  
giải pháp sau đây:  
Thứ hai, sức ép lên hoạt động tài chính:  
TISCO phải liên tục tăng vay để tài trợ cho  
đầu tư và kinh doanh. Do nguồn vốn ngắn hạn  
trên có kỳ hạn ngắn nên TISCO đang ở trong  
tình trạng phải xoay vòng vốn ngắn hạn.  
Thứ nhất, cần hạn chế những rủi ro về mặt  
pháp lý bằng việc tích cực nghiên cứu, tìm hiểu  
và nắm bắt những thay đổi về hệ thống pháp  
luật cũng như chủ trương, chính sách của Nhà  
nước để điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh  
doanh cho phù hợp. Ngoài ra, TISCO nên cố  
gắng giảm thiểu những rủi ro về mặt pháp lý  
khác ví dụ trong quan hệ hợp đồng kinh tế  
bằng việc tham vấn các luật sư, chuyên gia  
pháp lý đối với những vấn đề liên quan.  
Thứ ba, giảm khả năng thanh toán: Khả  
năng thanh toán của TISCO đều giảm cả ở  
khả năng thanh toán ngắn hạn (năm 2007 là  
2,19 lần; năm 2008 là 1,35 lần; năm 2009 là  
1,22 lần; năm 2010 là 1,04 lần; năm 2011 là  
0,88 lần) và khả năng thanh toán nhanh (năm  
2007 là 1,46 lần; năm 2010 là 0,55 lần; năm  
2011 là 0,48 lần).  
Thứ năm, thiếu vốn ngắn hạn phục vụ  
cho hoạt động sản xuất kinh doanh do TISCO  
đã sử dụng vốn để đầu tư dài hạn (tỷ lệ tài sản  
dài hạn trên nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu  
năm 2007 là 40,31%; năm 2009, 84,24%; năm  
2010, 96,97%; năm 2011, 112,52%).  
Thứ hai, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất  
kinh doanh thép, nhu cầu vốn lưu động để duy  
trì hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày  
của TISCO hàng ngày là rất lớn. Ngoài ra,  
trong kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng  
lực sản xuất, quy mô của TISCO, nhu cầu vốn  
cố định cũng không hề nhỏ. Như vậy, rủi ro do  
biến động lãi suất sẽ có tác động trực tiếp đến  
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của  
TISCO. Để giảm thiểu rủi ro này, ngoài việc  
Thứ sáu, chi phí tài chính tăng cao: Lãi  
suất vay ngắn hạn khá cao và chi phí tài chính  
này đã được vốn hóa vào dự án. Điều này làm  
371  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
tạo lập và duy trì mối quan hệ chặt chẽ với hệ  
biệt là phải tính toán chi tiết các nguồn vốn cho  
dự án đầu tư mở rộng sản xuất giai đoạn II.  
Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, kiểm soát  
các chi phí, việc chấp hành các quy chế, quy  
định của công ty.  
thống các ngân hàng thương mại để có được  
mức lãi suất đi vay cạnh tranh, TISCO cần chủ  
động hạn chế vốn lưu động bằng cách:  
- Đẩy nhanh vòng quay hàng tồn kho thông  
qua dự báo chính xác hơn lượng hàng tồn kho  
và nguyên liệu cần thiết;  
Thứ năm, đặc thù của ngành thép là giá  
thành nguyên liệu đóng góp tỷ trọng rất lớn  
(khoảng trên 90%) trong tổng giá vốn hàng  
bán. Đặc thù này dẫn đến rủi ro đáng kể do  
biến động giá nguyên liệu đối với kết quả sản  
xuất kinh doanh của TISCO. Do vậy, TISCO  
cần áp dụng những biện pháp nhằm khắc phục  
rủi ro do biến động giá nguyên liệu như sau: (i)  
chủ động nghiên cứu, nắm bắt và dự báo xu  
hướng biến động giá nguyên liệu; (ii) tối ưu  
hóa mức dự trữ hàng tồn kho; và (iii) tiếp tục  
nâng cao năng lực tự khai thác nguyên liệu,  
giảm thiểu phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu  
bên ngoài.  
- Đẩy mạnh hình thức bán hàng thanh toán  
trực tiếp để giảm số ngày một vòng quay các  
khoản phải thu;  
- Tăng cường số ngày một vòng quay các  
khoản phải trả. Đối với các khoản vay dài hạn  
phục vụ hoạt động đầu tư phát triển, TISCO  
cần cố gắng phối hợp giữa tiến độ xây dựng và  
tiến độ giải ngân để tăng mức độ hoạt động của  
vốn vay.  
Ngoài ra với việc trở thành công ty cổ  
phần, TISCO cũng có thêm các kênh huy động  
vốn khác thông qua thị trường chứng khoán  
như phát hành chứng khoán ra công chúng hay  
phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư chiến lược.  
Sự linh hoạt này chắc chắn sẽ giúp TISCO  
giảm bớt rủi ro từ biến động lãi suất của thị  
trường.  
Thứ sáu, để tồn tại và phát triển trong tình  
hình cạnh tranh gay gắt này, TISCO cần xây  
dựng một kế hoạch tổng thể nhằm nâng cao  
năng lực cạnh tranh của bản thân thông qua  
nhiều nhóm giải pháp, tiêu biểu như:  
- Tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao tay  
nghề công nhân nhằm giảm tiêu hao, tiết kiệm  
nguyên vật liệu, qua đó làm giảm giá thành sản  
phẩm;  
Thứ ba, là một doanh nghiệp sản xuất và  
kinh doanh thép, nhu cầu nhập khẩu quặng sắt.  
phôi thép, thép phế và than mỡ để đưa vào chu  
trình sản xuất ra thép cán thành phẩm là hoạt  
động thường ngày. Bởi vậy biến động về tỷ giá  
hối đoái cũng sẽ gây những tác động nhất định  
đối với kết quả sản xuất và kinh doanh của  
TISCO. Để phòng ngừa rủi ro tài chính do biến  
động tỷ giá hối đoái, TISCO cần tận dụng lợi  
thế của mình là nâng cao năng lực khai thác  
nguồn nguyên liệu sẵn có, qua đó giảm bớt tỷ  
trọng của nguyên vật liệu nhập khẩu. Ngoài ra,  
TISCO cũng cần chủ động kế hoạch nhập khẩu  
và dự trữ ngoại tệ phục vụ hoạt động này. Mối  
quan hệ tốt đẹp nếu được TISCO tạo lập với  
các ngân hàng thương mại cũng góp phần đảm  
bảo nguồn cung ngoại tệ khi cần.  
- Đầu tư mở rộng công suất nhà máy để đạt  
tới tính kinh tế trên quy mô;  
- Nâng cao hiệu quả của hệ thống phân  
phối qua đó khẳng định hình ảnh một thương  
hiệu mạnh trong mắt người tiêu dùng;  
- Chú trọng công tác nghiên cứu, dự báo,  
kế hoạch nhằm theo sát diễn biến thị trường,  
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn;  
- Nâng cao chất lượng quản trị và điều  
hành doanh nghiệp thông qua các biện pháp  
tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp.  
Thứ bảy, ứng dụng giải pháp chống mất  
cân đối kỳ hạn như tăng vốn bằng phát hành cổ  
phiếu; giảm sức ép trả cổ tức, chuyển hình thức  
trả cổ tức từ tiền mặt sang cổ phiếu; phát hành  
trái phiếu.  
Thứ tư, chủ động thiết lập quan hệ với các  
ngân hàng và các tổ chức tín dụng để chuẩn bị  
đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và  
thực hiện các dự án đầu tư của công ty. Đặc  
372  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Thứ tám, lãi suất tiền vay là chi phí đầu  
- Sử dụng thận trọng và linh hoạt công cụ  
đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh  
nhằm đạt được mục tiêu gia tăng lợi nhuận  
trong điều kiện lãi suất thấp, đồng thời hạn  
chế rủi ro thua lỗ khi lãi suất biến động ngoài  
dự đoán;  
vào nên để đảm bảo phòng ngừa và hạn chế rủi  
ro tài chính, các doanh nghiệp nói chung và  
TISCO nói riêng cần:  
- Tính toán và dự báo thật đầy đủ, chính  
xác về chi phí lãi vay khi xem xét, đánh giá  
hiệu quả và quyết định thực hiện đối với các  
phương án/dự án sản xuất kinh doanh;  
- Thường xuyên tăng cường năng lực tự  
chủ về tài chính, đa dạng hóa các kênh huy  
động vốn, tránh việc phụ thuộc quá lớn vào  
nguồn vốn vay ngân hàng./.  
- Tích cực và chủ động thực hiện các công  
cụ phòng ngừa rủi ro thông qua việc khai thác,  
sử dụng các công cụ tài chính phái sinh (chẳng  
hạn, hợp đồng hoán đổi lãi suất…) để bảo hiểm  
rủi ro do biến động lãi suất trên thị trường;  
- Trích lập đầy đủ các quỹ dự phòng về tài  
chính trong hoạt động kinh doanh nhằm tạo  
nguồn lực dự phòng, giúp cho doanh nghiệp  
đứng vững trong các cú sốc về lãi suất;  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (2008, 2009, 2010, 2011, 2012), “BCTC hợp nhất  
cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2007, 31/12/2008, 31/12/2009, 31/12/2010. 31/12/2011  
đã được kiểm toán”, Thái Nguyên.  
[2] Phan Thanh Tròn (2011), "Quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp ngành thuốc bảo vệ thực  
vật", Luận án Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh.  
[3] Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ (2009), “Quản trị tài chính doanh nghiệp”. Nhà Xuất bản Giao  
thông Vận tải, Hà Nội.  
[4] Vũ Thị Hậu, Lê Văn Luyện (2011), “Rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp công nghiệp và  
dịch vụ- nguy cơ tiềm tàng của khủng hoảng tài chính”. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân  
hàng, số 115 – tháng 12/2011, trang 38 - 44.  
[5] Xếp hạng tín nhiệm 596 doanh nghiệp niệm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, Trích lục từ  
Báo cáo thường niên chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2011, Nhà xuất bản Thông tin và truyền  
thông, Hà Nội.  
[6] Ann-Katrin Napp (2011), “Financial management in SME – the use of financial analysis for  
identifying analysing and monitoring internal financial risks”. Aarhus School of Business,  
Aarhus University.  
[7] Amalendu Bhunia, Somnath Mukhuti (2012), “Financial risk measurement of small and  
medium – sized companies listed in Bombay stock exchange”, Internationl Journal of  
advances in management and economics, pp. 1 - 8.  
[8] Gang Fu, Weilan Fu and Dan Liu (2012), “Empirical study on financial risk factors:  
Capital structure, operation ability, profitability, and solvency -  
evidence from listed  
”, Journal of Business Management and Economics Vol. 3(5). pp. 0173-  
companies in China  
0178.  
[9] Steven Li (2003),"Future trends and challenges of financial risk management in the digital  
economy", Managerial Finance, Vol. 29 Iss: 5 pp. 111 – 125.  
[10] John B.Caouette, Edward I.Altman, Paul Narayanan (1998), “Managing Credit Risk, The next  
Great Financial Challenge”, Published by John Wiley & Sons, pp.112-122...  
373  
pdf 13 trang Thùy Anh 17400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp quản lý rủi ro tài chính tại công ty Cổ phần gang thép Thái Nguyên (Tisco)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_quan_ly_rui_ro_tai_chinh_tai_cong_ty_co_phan_gang.pdf