Giải pháp quản lý rủi ro tài chính tại công ty Cổ phần gang thép Thái Nguyên (Tisco)
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GANG
THÉP THÁI NGUYÊN (TISCO)
SOLUTIONS FOR FINACIAL RISK MANAGEMENT AT THAI NGUYEN IRON AND
STEEL JOINT STOCK CORPORATION (TISCO)
TS. Hoàng Thị Thu, ThS. Vũ Thị Hậu, Phạm Xuân Thuỷ
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
TÓM TẮT
Dựa trên kết quả nghiên cứu khái quát về rủi ro tài chính của doanh nghiệp (khái niệm, các nhân tố ảnh
hưởng, hệ thống chỉ tiêu đo lường) và quản lý rủi ro tài chính của doanh nghiệp (khái niệm, vai trò, quy trình
và các nhân tố ảnh hưởng), bài viết này đi sâu nghiên cứu thực trạng rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần
Gang thép Thái Nguyên (TISCO) giai đoạn 2007 - 2011. Trên cơ sở xác định rủi ro (nhận dạng rủi ro), nhóm
tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)
góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược sản xuất kinh doanh giai đoạn 2010 – 2015.
Từ khóa: Rủi ro tài chính, quản lý rủi ro tài chính, cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu nợ, khả năng sinh lời, hiệu
quả hoạt động.
ABSTRACT
Based on the research of financial risks (definition, the effects and measurement system) and financial
risk management (definition, the role and effects), this paper aims to study the financial risks of Thai Nguyen
Iron and Steel Joint Stock Corporation (TISCO) in 2007-2011. Due to the identified financial risks, authors
suggest some solutions for managing financial risk at Thai Nguyen Iron and Steel Joint Stock Corporation
(TISCO) to improve the business strategy in 2010-2015.
Keywords: Financial risk, financial risk management, capital structure, debt structure, profitability,
operation ability.
Rủi ro tài chính của một doanh nghiệp là
hệ quả tổng hòa của các nhân tố bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp bao gồm: môi trường
của doanh nghiệp, sản phẩm và thị trường của
doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, tình hình
tài chính…
1. Khái quát rủi ro tài chính và quản lý rủi
ro tài chính của doanh nghiệp
1.1. Rủi ro tài chính của doanh nghiệp
Theo nghĩa rộng, rủi ro tài chính là
khả năng xảy ra những tổn thất gắn liền
với hoạt động tài chính và thường bắt nguồn
từ việc thực hiện các giao dịch liên quan trực
tiếp đến tài chính như: mua bán, đầu tư, vay nợ
và một số hoạt động kinh doanh khác; nhưng
cũng có thể là hệ quả gián tiếp của sự thay đổi
các chính sách của chính phủ, các biến cố
chính trị trong nước và quốc tế, hoặc có thể do
tác động của thiên tai. Theo nghĩa hẹp, rủi ro
tài chính là nguy cơ mất khả năng thanh toán
các khoản nợ tài chính khi đến hạn do doanh
nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính - sử dụng
nguồn vốn vay trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Trong bài viết này, rủi ro tài chính
được hiểu theo nghĩa hẹp.
* Môi trường của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp đều hoạt động trong một
điều kiện cụ thể nào đó của môi trường kinh
doanh và các yếu tố môi trường tạo ra những
tác động đến doanh nghiệp thông qua những cơ
hội hay nguy cơ xuất phát từ những thay đổi
của môi trường.
- Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp:
Nghiên cứu về môi trường vĩ mô nhằm đánh
giá quy mô và tiềm năng thị trường của doanh
nghiệp và sự tác động của môi trường như: môi
trường văn hóa xã hội, môi trường chính trị -
pháp luật, môi trường công nghệ, môi trường
361
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
kinh tế (lãi suất tín dụng, tỷ giá hối đoái, giá
cả, thị trường tài chính…);
nguồn nguyên liệu giữ vai trò rất quan trọng
bởi chất lượng của nguyên liệu có thể tác động
mạnh mẽ đến chất lượng sản phẩm. Hơn thế
nữa, trữ lượng tiềm năng và tính ổn định của
nguồn nguyên liệu có thể quyết định sự tồn tại
của doanh nghiệp. Khi đánh giá nguồn cung
ứng, cần tiến hành đánh giá trên các phương
diện như: đánh giá tính ổn định của nguồn
nguyên liệu, đánh giá quãng đường vận chuyển
nguyên liệu, đánh giá phương án thay thế
nguồn nguyên liệu.
- Môi trường ngành: Vị thế cạnh tranh của
doanh nghiệp sẽ không được thấy rõ nếu chỉ
dựa vào những kết quả đánh giá môi trường vĩ
mô. Phân tích và đánh giá môi trường ngành
nhằm xác định vị thế của doanh nghiệp trong
ngành mà nó hoạt động bào gồm: chu kỳ kinh
doanh, triển vọng tăng trưởng của ngành, phân
tích về cạnh tranh trong ngành, các nguồn cung
ứng trong ngành, áp lực cạnh tranh tiềm tàng.
- Địa điểm của doanh nghiệp: Địa điểm của
doanh nghiệp có một vai trò rất quan trọng bởi
nó có thể đem lại cho doanh nghiệp lợi thế
thương mại nếu đặt gần các trục giao thông hay
các đô thị. Song nó cũng có thể đem lại cho
doanh nghiệp những nguy cơ nếu có khả năng
phải di dời. Do đó, đánh giá địa điểm của
doanh nghiệp nhằm xác định những cơ hội hay
triển vọng xuất phát từ địa điểm. Khi đánh giá
địa điểm của doanh nghiệp, cần phân tích trên
các phương diện: phương diện kinh tế, phương
diện chính trị, phương diện xã hội, phương
diện tự nhiên.
* Sản phẩm và thị trường của doanh
nghiệp
Khi đánh giá sản phẩm của doanh nghiệp,
cần đánh giá trên các phương diện như: tầm
quan trọng, chu kỳ sống… Thông qua những
đánh giá này có thể nhận thấy vị thế của doanh
nghiệp thông qua sản phẩm và thị trường của
doanh nghiệp.
- Sản phẩm của doanh nghiệp: Sản phẩm
của doanh nghiệp được đánh giá trên các
phương diện như: vai trò sản phẩm đối với xã
hội và nền kinh tế, đánh giá chu kỳ sống của
sản phẩm, đánh giá tiềm năng của sản phẩm,
đánh giá chất lượng của sản phẩm;
- Loại hình doanh nghiệp và tổ chức quản
lý: Trên phương diện pháp lý và kinh doanh,
các chủ sở hữu doanh nghiệp hoàn toàn có
quyền tự do lựa chọn loại hình và cơ cấu tổ
chức cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế
việc lựa chọn này đều tuân theo những quy luật
và nguyên tắc nhất định. Bởi vậy, có thể dựa
vào những quy luật này để: đánh giá loại hình
là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần…; đánh giá về tổ
chức – quản lý doanh nghiệp; đánh giá quy mô
của doanh nghiệp.
- Thị trường của doanh nghiệp: quy mô thị
trường tiềm năng, thị phần của doanh nghiệp,
chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp…
* Quản trị doanh nghiệp
Mục tiêu của các hoạt động quản trị là
nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh
nghiệp và hướng tới sự phát triển bền vững.
Các nội dung đánh giá bao gồm:
- Công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp:
Những thông tin về công nghệ hiện tại của
doanh nghiệp giúp xác định công nghệ thuộc
loại lạc hậu hay hiện đại, công nghệ sẽ quyết
định việc sản xuất ra những sản phẩm ngày
càng hoàn hảo, với chi phí giảm đi. Khi phân
tích thông tin về công nghệ người ta thực hiện:
đánh giá công nghệ hiện tại của doanh nghiệp,
đánh giá chiến lược đổi mới công nghệ của
doanh nghiệp, đánh giá công suất máy móc
thiết bị của doanh nghiệp, đánh giá sự tác động
của công nghệ với môi trường.
- Quản trị nguồn nhân lực: Đánh giá nền
văn hóa và bản sắc của doanh nghiệp, đánh giá
chính sách nhân sự của doanh nghiệp, đánh giá
chính sách phát triển nguồn nhân lực của
doanh nghiệp, đánh giá tiềm năng nhân sự của
doanh nghiệp, đánh giá về ban lãnh đạo doanh
nghiệp.
- Quy mô của doanh nghiệp: Quy mô của
doanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng
cần được xem xét khi nghiên cứu rủi ro tài
chính của các doanh nghiệp. Vì hiện nay, ở các
nước đang phát triển như ở Việt Nam luôn tồn
- Nguồn nguyên liệu của doanh nghiệp:
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến,
362
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
tại cách nghĩ, các doanh nghiệp càng lớn thì
càng ổn định và vững chắc và ít có khả năng
rơi vào tình trạng vỡ nợ.
một loại hình xác định mức độ rủi ro của doanh
nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp, sử dụng
đòn bẩy kinh doanh lớn thì khả năng chống đỡ
những có sốc khắc nghiệt của môi trường kinh
doanh mà nó đang hoạt động càng thấp. Điều
này có nghĩa là xác suất có nguy cơ phá sản
tăng khi đòn bẩy kinh doanh tăng. Cơ cấu tài
sản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ suất
đầu tư tài sản cố định (tỉ lệ tài sản cố định trên
tổng tài sản). Về mặt lý thuyết, khi tỉ lệ tài sản
cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản,
doanh nghiệp có cơ hội thế chấp các tài sản
này để tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài.
* Tình hình tài chính
Phân tích thông tin tài chính là cơ sở cung
cấp cho chúng ta về tình trạng hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Các nội dung cần
đánh giá bao gồm:
- Phân tích các chỉ tiêu tài chính: Thông
qua phân tích các chỉ tiêu tài chính, người ta có
thể xác định tình hình tài chính của doanh
nghiệp ở thời điểm hiện tại. Đồng thời các chỉ
tiêu tài chính cũng tạo điều kiện cho việc so
sánh “sức khỏe” của doanh nghiệp giữa các
thời kỳ và so sánh với các doanh nghiệp khác
hay giá trị trung bình của ngành. Hệ thống chỉ
tiêu tài chính dùng để phân tích rủi ro tài chính
của doanh nghiệp thường được chia thành các
nhóm như sau:
+ Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng sinh
lời: Khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp được đo lường thông qua các
chỉ tiêu như khả năng sinh lời trên tài sản, khả
năng sinh lời trên doanh thu. Đây là nhóm chỉ
tiêu để đánh giá hiệu quả trong việc sử dụng
các nguồn lực của DN để tạo ra lợi nhuận. Có
nghĩa là, giá trị hay lợi nhuận của DN càng lớn
sẽ có nhiều khả năng thanh toán để làm giảm đi
khả năng có nguy cơ phá sản.
+ Nhóm chỉ tiêu đo lường năng lực thanh
toán: Đây là nhóm chỉ tiêu dùng để đáp ứng
các khoản nợ của doanh nghiệp, đặc biệt là các
khoản nợ ngắn hạn. Các tỷ số thường được sử
dụng trong nhóm chỉ tiêu thanh khoản như: hệ
số thanh toán khái quát, hệ số thanh toán nợ
ngắn hạn, hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh
toán lãi vay…
- Hiệu quả: Đây là chi phí cho việc tạo ra
doanh thu được đo lường bằng cách theo dõi
hai phạm trù chi phí lớn là chi phí nhân công
và chi phí vật tư…
- Doanh thu: Theo kết quả nghiên cứu đã
được công bố thì tỷ số doanh thu trên tài sản
cao là điều kiện đầu tiên để đạt được thu hồi
vốn cao với sự đầu tư tương đối thấp và có
những ảnh hưởng tích cực lên khả năng thanh
toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp, do vậy sẽ
giảm khả năng có nguy cơ phá sản.
+ Nhóm chỉ tiêu đo lường năng lực hoạt
động: Đây là nhóm chỉ tiêu đo lường mức độ
hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của doanh
nghiệp. Các chỉ tiêu hoạt động được thiết lập
trên doanh thu nhằm xác định tốc độ quay
vòng của một số đại lượng, cung cấp những
thông tin cần thiết cho công tác quản lý tài
chính, đồng thời cũng là những chỉ tiêu cho
biết được mức độ rủi ro tài chính của doanh
nghiệp. Các tỷ số thường được sử dụng: vòng
quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải
thu, vòng quay tài sản cố định…
- Tỷ lệ tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng của
một doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng
trong việc tính toán xác suất có nguy có phá
sản. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tỷ lệ tăng
trưởng với tỷ lệ vỡ nợ, mối quan hệ này không
đơn giản như những tỷ lệ khác so với tỷ lệ vỡ
nợ. Vì các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh
thường không thể đương đầu với những thác
thức quản lý bởi chính bản thân họ. Thêm nữa,
tăng trưởng quá nhanh không chắc được tài trợ
từ lợi nhuận, dẫn đến kết quả là khả năng nợ và
các rủi ro liên quan tăng lên.
+ Nhóm chỉ tiêu cơ cấu nguồn vốn và cơ
cấu tài sản: Cơ cấu nguồn vốn của doanh
nghiệp được đo lường thông qua các chỉ tiêu
như tỷ suất nợ, tỷ suất tự tài trợ hay tỷ suất nợ
phải trả trên vốn chủ sở hữu. Đây là nhóm chỉ
tiêu phản ánh quy mô nợ so với vốn chủ sở hữu
của doanh nghiệp, là bằng chứng về khả năng
hoàn trả các khoản nợ của doanh nghiệp trong
dài hạn, là một nhân tố quan trọng trong bất kỳ
- Chính sách phân phối lợi nhuận của
doanh nghiệp: Chính sách phân chia lợi nhuận
363
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển
nợ vay ngắn hạn và các khoản nợ phát sinh từ
hoạt động kinh doanh) ở thời điểm hiện tại và
trong quá khứ. Còn luồng tiền phản ánh khả
năng thanh toán các khoản nợ dài hạn của
doanh nghiệp khi chúng đáo hạn trong tương
lai. Đánh giá luồng tiền thường dựa vào chỉ
tiêu luồng tiền trên tổng nợ của doanh nghiệp.
Bởi vậy, luồng tiền là một chỉ số chính xác đo
lường “tình hình sức khỏe” tài chính của doanh
nghiệp. Nhiều doanh nghiệp mặc dù có triển
vọng, sinh lời rất khả quan nhưng luồng tiền bị
cạn kiệt nên dẫn tới bị phá sản.
của doanh nghiệp và sự gia tăng giá trị của vốn
chủ sở hữu. Khi kết thúc niên độ kế toán, lãnh
đạo doanh nghiệp quyết định mức chia lợi tức
và tỷ lệ trích lập các quỹ dự phòng, quỹ tích
lũy tái đầu tư. Nếu mức chia lợi tức cổ phần
thấp có thể làm sụt giảm giá mua – bán cổ
phần. Ngược lại, nếu mức chia lợi tức cổ phần
quá cao sẽ đem lại cho doanh nghiệp nhiều khó
khăn về chính sách tài trợ ngân quỹ. Nếu
doanh nghiệp xây dựng một chính sách phân
chi lợi nhuận hợp lý sẽ gia tăng tiềm năng tăng
trưởng của doanh nghiệp, bởi lợi nhuận giữ lại
là một nguồn tài trợ ngân quỹ để tái đầu tư mở
rộng kinh doanh rất quan trọng. Tiềm năng
tăng trưởng làm gia tăng sự hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư tiềm tàng. Các chủ nợ tiềm tàng,
các nhà cung cấp và công chúng đầu tư thường
đánh giá cao những doanh nghiệp có chính
sách phân chia lợi nhuận hợp lý. Vì vậy, một
doanh nghiệp có chính sách phân phối lợi
nhuận hợp lý sẽ được đánh giá cao.
- Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp: Hiệu
quả kinh tế là phần giá trị tăng thêm trong kỳ,
xuất phát từ hiệu năng quản lý của các nhà
quản trị của doanh nghiệp. Chỉ tiêu hiệu quả
kinh tế giúp đo lường chất lượng của đội ngũ
các nhà quản trị trên phương diện tài chính.
1.2. Quản lý rủi ro tài chính của doanh
nghiệp
Quản lý rủi ro tài chính là xác định mức độ
rủi ro mà doanh nghiệp mong muốn, nhận diện
được mức độ rủi ro hiện nay của doanh nghiệp
đang gánh chịu và sử dụng các công cụ tài
chính để điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự theo
mức rủi ro mong muốn. Hoạt động quản lý rủi
ro tài chính có vai trò giúp doanh nghiệp: tránh
khỏi nguy cơ phá sản, đóng góp trực tiếp vào
lợi nhuận, tránh được những giảm sút về thu
nhập hoặc thiệt hại về tài sản, và tham gia vào
những dự án có khả năng sinh lời cao. Về cơ
bản, quy trình quản lý rủi ro tài chính của
- Lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp:
Phân tích luồng tiền (cash flows) là nhằm đánh
giá nguy cơ phá sản, hay khả năng thanh toán
cho các khoản chi tiêu, hay tái đầu tư mở rộng
sản xuất. Khả năng này được thể hiện qua chỉ
tiêu giữa giá trị dòng tiền thu trong kỳ và các
nhu cầu chi tiêu cho đầu tư và trả nợ của doanh
nghiệp.
Luồng tiền là những khoản tiền được tạo ra
trong một khoảng thời gian nào đó và chúng
sẵn sàng cho việc đầu tư, hay trả nợ dài hạn,
hay hoàn trả vốn gốc cho chủ sở hữu. Luồng
tiền hàng năm được xác định như sau: Các chỉ
tiêu thanh khoản đánh giá khả năng thanh toán
các khoản nợ ngắn hạn (bao gồm cả các khoản
doanh nghiệp bao gồm các bước: xác định
đo lường và kiểm soát rủi ro
,
.
Hình 1. Quy trình quản lý rủi ro tài chính-
Xác định rủi ro (Financial risk
kiện rủi ro (như rủi ro do thay đổi chính
sách, rủi ro do chính sách đầu tư và tài
ident
ification): liên quan đến phân biệt sự
364
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
đã đánh dấu mốc son quan trọng trong công
trợ…) và phát hiện nguyên nhân tiềm
năng trước khi rủi ro xảy ra
Đo lường rủi ro (Financial risk
measurement): có nghĩa là đánh giá và định
lượng các tác động và hậu quả của rủi ro
Bước này sẽ tận dụng các nguyên mẫu
hoặc các phương pháp khác nhau để xác
định rủi ro như tỷ suất nợ phải trả trên
tổng tài sản, phân tích xác suất, hệ số đòn
bẩy tài chính, đồng thời cung cấp dữ liệu
chính xác để ngăn chặn và kiểm soát rủi
ro tài chính của doanh nghiệp.
cuộc xây dựng và phát triển của đất nước. Trải
qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, TISCO
không ngừng tăng trưởng và lớn mạnh. Công
suất sản xuất thép cán hiện tại đạt 650.000
tấn/năm, hệ thống phân phối sản phẩm rộng
với 5 chi nhánh đặt tại Hà Nội, Quảng Ninh,
Thanh Hoá, Nghệ An, Đà Nẵng, và mạng lưới
các nhà phân phối tại các tỉnh và thành phố
trong cả nước.
.
-
.
Sản phẩm thép TISCO đã trở nên nổi tiếng
trên cả nước, được sử dụng vào hầu hết các
Công trình xây dựng trọng điểm quốc gia như
thủy điện Hòa Bình, Yaly, Sơn La, sân vận
động Quốc gia Mỹ Đình, cầu Thăng Long,
Chương Dương, và nhiều công trình khác;
thâm nhập vào thị trường quốc tế như Canada,
Indonesia, Lào, Campuchia. TISCO cùng với
sản phẩm thép mang thương hiệu TISCO đã
giành được nhiều giải thưởng: Hàng Việt Nam
chất lượng cao, Sao vàng đất Việt, Thương
hiệu nổi tiếng với người tiêu dùng, Nhãn hiệu
có uy tín tại Việt Nam, và nhiều giải thưởng có
giá trị khác.
- Kiểm soát rủi ro (Financial risk control):
t
rên cơ sở kết quả đo lường rủi ro, kiểm soát
rủi ro là việc sử dụng các chiến lược, các
chương trình hành động, công cụ, kỹ thuật
phù hợp… nhằm ngăn ngừa, né tránh hoặc
giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng
không mong đợi của rủi ro đối với doanh
nghiệp.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro
tài chính của doanh nghiệp bao gồm: nhận
thức của nhà quản lý doanh nghiệp đối với rủi
ro, quy mô và hình thức tổ chức của doanh
nghiệp, sự phát triển thị trường các sản phẩm
phái sinh, chính sách quản lý rủi ro, phương
thức quản lý rủi ro (chủ động và thụ động), các
công cụ quản lý rủi ro (như hợp đồng bảo
hiểm, hợp đồng tài chính phái sinh, các dịch vụ
tài trợ quốc tế, lập quỹ dự trữ…).
Với những thành tích nổi bật đóng góp vào
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước,
TISCO đã vinh dự được phong tặng Danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Huân
chương Độc lập hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều
phần thưởng cao quý khác của Đảng và Nhà
Nước. Những thành tựu đạt được đã khẳng
định vị thế lớn mạnh của TISCO trên thị
trường trong nước và Quốc tế. Ngày
29/09/2007, TISCO đã khởi công thực hiện dự
án đầu tư mở rộng sản xuất giai đoạn 2, đánh
dấu mốc phát triển mới quan trọng. Dự án với
tổng mức đầu tư gần 4.000 tỷ VND; ngày
19/07/2009, Nhà máy cán thép Thái Trung
công suất 500.000 tấn/năm với công nghệ hiện
đại của Italia đã được khởi công xây dựng,
nhằm mục tiêu đến khi hoàn thành dự án nâng
năng lực sản xuất phôi thép và thép cán từ
nguyên liệu trong nước lên 1.000.000 tấn/năm,
đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường và đưa
TISCO trở thành một trong những nhà sản xuất
thép có quy mô, công nghệ và thiết bị tiên tiến
2. Thực trạng rủi ro tài chính tại Công ty cổ
phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)
2.1. Khái quát về Công ty cổ phần Gang thép
Thái Nguyên (TISCO)
Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên
(TISCO) hoạt động theo mô hình CTCP từ
ngày 01/7/2009, tiền thân là Công ty Gang thép
Thái Nguyên - cái nôi của ngành công nghiệp
luyện kim Việt Nam, được khởi công xây dựng
từ năm 1959, là khu Công nghiệp đầu tiên và
duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất
liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến
sản xuất gang, phôi thép và cán thép. Ngày
29/11/1963, mẻ gang đầu tiên của TISCO ra lò
365
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
trong khu vực và thế giới, đảm bảo cho TISCO
phát triển nhanh và bền vững trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
ký giao dịch cổ phiếu với mã TIS trên sàn giao
dịch chứng khoán chưa niêm yết UPCOM và
khai trương chào sàn ngày 24/03/2011.
Với bề dày truyền thống trên 50 năm xây
dựng và phát triển; bằng ưu thế vượt trội về
năng lực sản xuất phôi thép từ nguyên liệu
quặng sắt trong nước; dây chuyền sản xuất thép
cán công nghệ và thiết bị tiên tiến; hệ thống
phân phối sản phẩm rộng khắp; cùng với chiến
lược đầu tư và phát triển toàn diện, chính sách
chất lượng “Tất cả vì lợi ích người tiêu dùng”
và phương châm hành động “Chất lượng hàng
đầu, giá cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ đa
dạng”, là những yếu tố cơ bản làm nên thành
công của TISCO, là cơ sở vững chắc cho sự
phát triển lâu dài và bền vững để TISCO luôn
“Lớn mạnh cùng Đất nước”. TISCO đã đăng
2.2. Thực trạng rủi ro tài chính tại Công ty cổ
phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)
2.2.1. Xác định rủi ro tài chính của Công ty cổ
phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)
Để xác định rủi ro tài chính của doanh
nghiệp, chúng ta có thể lựa chọn sử dụng các
mô hình định lượng tiên tiến trên thế giới như
mô hình Logit, mô hình Z, mô hình Bathory...
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đã sử
dụng mô hình Z để xác định rủi ro tài
chính cho Công ty cổ phần Gang thép Thái
Nguyên (TISCO)
.
Bảng 1. Rủi ro tài chính và các nhân tố ảnh hưởng của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO),
giai đoạn 2007 -2011
CTCP Gang thép Thái Nguyên (TIS)
Mã CK
Chỉ tiêu tài chính
POM (2011)
2007
3,24
0,76
1,29
2,19
1,46
0,52
2,85
8,52
7,88
9,90
2,29
2008
2,21
1,67
1,65
1,35
0,54
1,64
1,24
4,46
9,95
3,96
1,48
2009
1,25
1,97
1,59
1,22
0,65
1,72
1,95
2,49
2,95
1,78
0,65
2010
2,11
1,87
1,53
1,04
0,55
1,92
2,13
6,01
7,15
3,24
1,41
2011
1,41
1,35
1,29
0,88
0,48
1,71
1,37
5,16
5,99
1,87
1,05
21,37
56,07
1,29
1,37
Hệ số Z (lần)
13,64
2,67
Hệ số nợ ngắn hạn (lần)
Hệ số thanh toán tổng quát (lần)
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn (lần)
Hệ số khả năng thanh toán nhanh (lần)
Hệ số thanh toán nợ dài hạn (lần)
Hệ số thanh toán lãi vay (lần)
Vòng quay hàng tồn kho (lần)
Vòng quay các khoản phải thu (lần)
Vòng quay tài sản cố định (lần)
Vòng quay tổng tài sản (lần)
Tỷ suất tự tài trợ (%)
1,49
1,15
0,56
2,28
2,57
4,26
52,38
31,84
12,91
32,92
40,56
0,36
22,68 39,59 37,45 34,73
22,98 37,09 36,35 43,53
Tỷ suất đầu tư tài sản cố định (%)
Tỷ suất sinh lời của doanh thu (%)
Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản (%)
2,00
4,60
0,45
0,67
1,64
1,07
2,53
3,57
4,68
Nguồn: BCTC đã kiểm toán từ năm 2007 – 2011 và tính toán của nhóm tác giả
366
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
hóa, tự do mậu dịch. Là một nước đang phát
Mô hình Z do Edward Altman (1968)
xây dựng để dự đoán xác suất phá sản của
một doanh nghiệp trong vòng hai năm và
có độ tin cậy 72% - 80%. Kết quả tính toán
hệ số Z được sử dụng để nhận dạng rủi ro tài
chính của doanh nghiệp, theo đó: nếu Z > 2,99
lần, doanh nghiệp có mức độ rủi ro tài chính
thấp; 1,81 lần < Z < 2,99 lần, doanh nghiệp có
mức độ rủi ro tài chính trung bình; Z <1,81
lần, doanh nghiệp có mức độ rủi ro tài chính
cao.
triển, Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó
nhu cầu xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng là
rất rõ ràng. Đây là động lực cho sự phát triển
của ngành công nghiệp thép Việt Nam trong
những năm qua.
* Quyết định của các cơ quan quản lý
Nhà nước
Hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày
của TISCO bị ảnh hưởng từ các quyết định
của các cơ quan quản lý Nhà nước như quyết
định về thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên
môi trường. Hiện nay hệ thống pháp luật Việt
Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và
sửa đổi, theo đó có thể tạo ra những tổn thất
tài chính đối với TISCO.
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3+ 0,64X4 + 0,999X5
Trong đó:
* X1 = Vốn lưu động trên tổng tài sản
(Working Capital/Total Assets);
* X2 = Lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản
(Retained Earnings/Total Assets);
* Biến động lãi suất tín dụng
* X3 = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
trên Tổng Tài sản (EBIT/Total Assets);
Giống như các doanh nghiệp khác trong
ngành thép, TISCO có hệ số đòn bẩy tài chính
tương đối cao trong đó chủ yếu là các khoản
nợ vay ngân hàng để tài trợ nhu cầu vốn lưu
động và vốn đầu tư dự án. Việc huy động
nguồn vốn vay lớn có thể giúp TISCO thêm
sự chủ động về nguồn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, song cũng khiến gia tăng sự
phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài và làm
giảm khả năng đối phó với những rủi ro phát
sinh do sự ràng buộc các điều khoản hợp đồng
vay vốn đối với các hoạt động sản xuất kinh
doanh của TISCO… Bên cạnh đó, duy trì tỷ lệ
nợ vay cũng đặt TISCO đối mặt với rủi ro tài
chính do biến động lãi suất rất lớn. Biến động
lãi suất sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên chi phí tài
chính trong khi TISCO lại không thể tăng giá
bán để bù đắp chi phí này trước bối cảnh thị
trường cạnh tranh khốc liệt và những khó
khăn mà thị trường bất động sản phải trải qua.
* X4 = Giá thị trường của vốn cổ phần trên
tổng nợ (Total Equity/Total Liabilities);
* X5 = Doanh thu bán hàng trên tổng tài
sản (Sales/Total Assets).
Trong giai đoạn 2007 – 2011, hệ số Z của
TISCO là 2,04 lần và có xu hướng giảm (năm
2007 là 3,24 lần, năm 2008 là 2,21 lần, năm
2010 là 2,11 lần, năm 2011 là 1,41 lần). Đồng
thời, hệ số Z của TISCO hàng năm đều thấp
hơn so với mức trung bình doanh nghiệp công
nghiệp niêm yết và doanh nghiệp tiên tiến của
ngành thép là Công ty cổ phần thép Pomina
(mã CK POM). Năm 2007, TISCO có mức độ
rủi ro tài chính thấp, năm 2008 và 2010 đạt
mức rủi ro tài chính trung bình và năm 2011,
TISCO có mức rủi ro tài chính cao.
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài
chính của Công ty cổ phần Gang thép Thái
Nguyên (TISCO)
Rủi ro do biến động lãi suất ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả kinh doanh (chi phí lãi
vay năm 2010 là 248.981 triệu VND, chiếm
3,08% tổng chi phí; năm 2011 là 461.578
triệu VND, chiếm 4,81% tổng chi phí) và thu
hẹp lợi nhuận của TISCO (lợi nhuận sau thuế
năm 2011 là 125.909 triệu VND, giảm
40,42% so với năm 2010). Tuy vậy, với lợi
* Nhu cầu xây dựng phát triển cơ sở hạ
tầng
Là ngành công nghiệp quan trọng của nền
kinh tế, ngành thép chịu mọi biến động của
nền kinh tế quốc dân cũng như biến động của
nền kinh tế thế giới trong xu hướng toàn cầu
367
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
thế là DN đầu đàn của ngành thép từ những
tệ thu về để cân đối nhu cầu ngoại tệ nhập
khẩu, do vậy hạn chế sự phụ thuộc vào vấn đề
biến động tỷ giá.
năm đổi mới đất nước và tính hiệu quả cao
trong hoạt động kinh doanh, TISCO đã nhận
được nhiều sự quan tâm, khuyến khích phát
triển của chính phủ như các chính sách cho
vay ưu đãi, bảo lãnh đi vay…
* Biến động giá nguyên liệu
Các nhân tố đầu vào chính phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh của TISCO hiện nay
là quặng sắt, thép phế, than mỡ, than cốc, phôi
thép, dầu, điện, nước… Trong trường hợp các
nguồn cung cấp này giảm hoặc ngừng cung cấp
nguyên vật liệu thì không có gì bảo đảm rằng
TISCO có thể tìm được các nguồn cung cấp
thay thế phù hợp và kịp thời. Độ ổn định của
nguồn cung cấp điện cũng ảnh hưởng trực tiếp
đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của
TISCO như sự vận hành liên tục của các dây
chuyền, hoạt động của các bộ phận phụ trợ,
văn phòng… Khả năng cung cấp điện trong
nước phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như khí
hậu, lưu lượng nước, nguồn nguyên liệu than,
dầu, công suất đường truyền,… và gần đây,
nguồn cung cấp điện trong nước thường bị quá
tải vào giờ cao điểm. Điều này có thể khiến
TISCO có thể bị gián đoạn các dây chuyền
hoạt động, ảnh hưởng đến năng suất và chất
lượng sản phẩm.
Hiện tại, khoảng 43% khoản vay dài hạn
của TISCO có từ các khoản vay ưu đãi Nhà
nước, 57% khác là vay thương mại, tuy nhiên
với thời hạn cho vay khá dài và lãi suất khá
thấp so với lãi suất thị trường. Đây là lợi thế
cạnh tranh của TISCO so với các đối thủ cạnh
tranh trong ngành (mã CK HPG, POM ...).
* Biến động tỷ giá hối đoái
Trong cơ cấu nguyên vật liệu chủ yếu
phục vụ sản xuất của TISCO hiện tại, có một
số nguyên vật liệu vẫn đang phải thu mua từ
các nguồn bên ngoài trong đó có một phần
phải nhập khẩu như than mỡ. Đồng thời, một
số DAĐT của TISCO trong đó đáng kể nhất
có Dự án mở rộng dây chuyền luyện kim giai
đoạn II phải nhập khẩu dây chuyền máy móc
thiết bị từ nước ngoài. Để nhập khẩu các máy
móc thiết bị và nguyên liệu này, TISCO phát
sinh nhu cầu ngoại tệ để thanh toán hóa đơn
nhập khẩu. Thời điểm nhập mua hàng hóa và
thời điểm mua ngoại tệ thanh toán có thể
cách xa nhau dẫn đến nguy cơ phát sinh
chênh lệch tỷ giá từ việc VND mất giá so với
các ngoại tệ khác (lỗ chênh lệch tỷ giá đã
thực hiện năm 2007 là 3.120 triệu VND, năm
2008 là 3.730 triệu VND, năm 2010 là
16.526 triệu VND, năm 2011 là 12.598 triệu
VND), từ đó ảnh hưởng đến giá thành sản
xuất cũng như lợi nhuận của TISCO.
Ngoài ra, việc giá phôi thép, thép phế tăng
lên và TISCO không thể điều chỉnh tăng giá
thép tương ứng có thể ảnh hưởng đến doanh
thu và lợi nhuận của TISCO hoặc làm cho
khách hàng tiềm năng trì hoãn các dự án của
mình và điều này sẽ có ảnh hưởng nghiêm
trọng đến hoạt động kinh doanh, tình hình tài
chính của TISCO. Tuy nhiên, là một DN trọng
điểm trong lĩnh vực sản xuất thép, TISCO
nhận được khá nhiều sự quan tâm và ưu đãi
của Chính phủ để phát triển hoạt động kinh
doanh như ưu tiên về nguồn cung cấp điện,
các mỏ quặng sắt, than… Chính vì vậy,
TISCO có được ưu thế nhờ khả năng chủ
động về nguồn nguyên liệu so với nhiều đối
thủ cạnh tranh khác.
Hiện tại, nguyên vật liệu nhập khẩu chiếm
tỷ lệ nhỏ không đáng kể so với các nguồn
nguyên liệu TISCO đang tự chủ. Mặt hàng
đang nhập khẩu nhiều nhất hiện nay là than
mỡ, trung bình chiếm khoảng 45% nhu cầu
nguyên liệu than mỡ phục vụ luyện cốc hàng
năm của TISCO. Do đã tự chủ được dây
chuyền luyện cốc nên TISCO nhập rất ít than
cốc với tỷ trọng nhập khẩu hầu như không
đáng kể. Ngoài ra, do TISCO cũng xuất khẩu
được thép xây dựng nên cũng có nguồn ngoại
* Tình hình cạnh tranh trong nước và
quốc tế
Có thể thấy ngành thép Việt Nam, đặc
biệt là các DN sản xuất thép phía Bắc đang
phải đối mặt tình hình cạnh tranh rất lớn,
368
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
không chỉ trong nội bộ ngành mà còn cả áp
cạnh đó, tỷ suất tự tài trợ có xu hướng giảm
(năm 2007 là 22,68%, năm 2011 là 21,37%),
tỷ suất đầu tư TSCĐ có xu hướng tăng (năm
2007 là 22,98%, năm 2011 là 56,07%, trong
khi hiệu quả sử dụng tài sản (năm 2007 là
2,29 lần, năm 2011 là 1,05 lần) cũng như khả
năng sinh lời (ROA năm 2007 là 4,60%, năm
2011 là 1,37%) không gia tăng tương ứng cho
thấy mức độ rủi ro tài chính mà TISCO đang
phải đối mặt.
lực từ nguồn nhập khẩu nước ngoài, đặc biệt
là nguồn thép thông qua được nhập khẩu tiểu
ngạch từ Trung Quốc. Ngoài ra, trong tương
lai, hàng loạt các dự án xây dựng khu liên hợp
thép cũng sẽ được xây dựng, tạo thêm nguồn
cung cho thị trường trong nước vốn đã đang
dư thừa. Sự cạnh tranh có thể dẫn tới việc gia
tăng chi phí quảng cáo và hoạt động hậu mãi
hoặc đưa ra các chính sách cạnh tranh giá
không lành mạnh nhằm tiêu diệt đối thủ. Do
đó TISCO sẽ phải đầu tư thêm cho việc
nghiên cứu phát triển sản phẩm cũng như các
chiến lược hậu mãi và quảng cáo. Những chi
phí này có thể làm giảm lợi nhuận biên và ảnh
hưởng không tốt đến kết quả hoạt động kinh
doanh của TISCO.
* Dòng diền (CF)
Nghiên cứu thực trạng rủi ro tài chính
thông qua xem xét biến động của dòng tiền
của TISCO giai đoạn 2007 - 2011 cho thấy: (i)
dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) âm
trong giai đoạn 2008 – 2011; (ii) dòng tiền
đầu tư (CFI) âm với quy mô tăng dần do
TISCO tăng đầu tư cho giai đoạn II (năm
2007 âm 41.174 triệu VND; năm 2009 âm
220.812 triệu VND; năm 2010 âm 503.485
triệu VND; năm 2011 âm 2.054.212 triệu
VND); và (iii) dòng tiền tài chính (CFF) tăng
rất mạnh để tài trợ cho hoạt động kinh doanh
và đầu tư (năm 2007 là âm 20.289 triệu VND,
năm 2011 là 2.255.944 triệu VND).
Trong giai đoạn 2007 – 2011, hệ số nợ
ngắn hạn của Công ty cổ phần Gang thép Thái
Nguyên (TISCO) có xu hướng giảm, năm
2008 là 1,67 lần, năm 2011 là 1,35 lần. Đặc
biệt, năm 2011, toàn bộ tài sản ngắn hạn của
TISCO không đủ trang trải cho các khoản nợ
ngắn hạn (hệ số thanh toán nợ ngắn hạn chỉ
đạt 0,88 lần, trong khi POM đạt 1,15 lần). Bên
Hình 2. Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (∆CF) – TISCO - Nguồn: BCTC đã kiểm toán năm 2007 – 2011
369
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO)
nhanh. Cơ cấu dòng tiền đầu tư gồm ba bộ
phận chính: dòng tiền đầu tư mới TSCĐ, đầu
tư góp vốn và các hoạt động khác (chủ yếu là
cho vay). Hậu quả của dòng tiền đầu tư lớn và
liên tục tăng đã gây áp lực và khó khăn đối
Hoạt động kinh doanh của TISCO không
tạo ra dòng tiền dương trong bốn năm liên
tiếp. Đặc biệt dòng tiền thuần từ hoạt động
kinh doanh có xu hướng âm và giảm dần qua
các năm. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
chia thành: dòng tiền vào (lợi nhuận và khấu
hao) và dòng tiền ra (chênh lệch dòng tiền lưu
động). Nguyên nhân hoạt động kinh doanh
của TISCO có dòng tiền âm là do dòng tiền ra
lớn hơn dòng tiền vào. Dòng tiền ở lại gồm:
(i) lợi nhuận chịu thuế có xu hướng giảm dần
do lợi nhuận gộp biên giảm và chi phí tài
chính tăng nhanh; (ii) giá trị khấu hao hàng
năm có tăng nhưng không đáng kể. Dòng tiền
ở lại TISCO thấp là do: lợi nhuận gộp biên
giảm đồng thời khả năng sinh lời cũng thấp
hơn mức trung bình ngành (bằng 20 -30%
mức bình quân ngành thép).
với công tác thu xếp nguồn của TISCO
.
Dòng tiền từ hoạt động tài chính (CFF)
Hậu quả của dòng tiền đầu tư lớn và liên
tục tăng đã gây áp lực và khó khăn đối với
công tác thu xếp nguồn vốn. TISCO đã sử
dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài
hạn (tỷ lệ tài sản dài hạn trên nợ dài hạn và
vốn chủ sở hữu năm 2007 là 40,31%, năm
2009 là 84,24%, năm 2010 là 96,97%, năm
2011 là 112,52%). Đồng thời, duy trì tăng
trưởng cả hoạt động kinh doanh và hoạt động
đầu tư, với nguồn vốn từ lợi nhuận và khấu
hao giữ lại, vốn nợ từ vay nợ ngắn hạn và dài
hạn. Tuy nhiên tốc độ tăng đầu tư của TISCO
lại cao hơn so với tốc độ tăng của vốn dài hạn
(gồm vốn chủ sở hữu và vay nợ dài hạn). Điều
này cho thấy cơ cấu vốn của TISCO đang bị
mất cân đối.
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư (CFI)
Hiện nay CTCP Gang thép Thái Nguyên
(TISCO) đang đầu tư xây dựng cơ bản dở
dang với giá trị dòng tiền đầu tư mới tăng
Hình 3. Quy mô vay nợ ngân hàng – TISCO
370
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Hình 4. Tài sản dài hạn và Vốn dài hạn (Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn) – TISCO –
Nguồn: BCTC đã kiểm toán năm 2007 – 2011Tóm lại, rủi ro tài chính là hệ quả của việc mất cân đối kỳ
hạn nợ, tài sản và dòng tiền thể hiện trong tình hình tài chính của TISCO như sau:
Thứ nhất, hoạt động kinh doanh chính
không tạo ra dòng tiền vào mà ngược lại cần
thêm ngày càng nhiều tiền để duy trì hoạt
động. Hoạt động đầu tư ngày càng cần thêm
vốn đầu tư dài hạn. Hiện nay TISCO đã phải
dùng vốn ngắn hạn để tài trợ.
tăng suất đầu tư dẫn đến tăng mức trích khấu
hao và giảm lợi nhuận kinh doanh sau đầu tư.
3. Một số giải pháp quản lý rủi ro tài chính
tại Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên
(TISCO)
Để kiểm soát rủi ro tài chính trong thời
gian tới, Công ty cổ phần Gang thép Thái
Nguyên (TISCO) cần thực hiện đồng bộ các
giải pháp sau đây:
Thứ hai, sức ép lên hoạt động tài chính:
TISCO phải liên tục tăng vay để tài trợ cho
đầu tư và kinh doanh. Do nguồn vốn ngắn hạn
trên có kỳ hạn ngắn nên TISCO đang ở trong
tình trạng phải xoay vòng vốn ngắn hạn.
Thứ nhất, cần hạn chế những rủi ro về mặt
pháp lý bằng việc tích cực nghiên cứu, tìm hiểu
và nắm bắt những thay đổi về hệ thống pháp
luật cũng như chủ trương, chính sách của Nhà
nước để điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh
doanh cho phù hợp. Ngoài ra, TISCO nên cố
gắng giảm thiểu những rủi ro về mặt pháp lý
khác ví dụ trong quan hệ hợp đồng kinh tế
bằng việc tham vấn các luật sư, chuyên gia
pháp lý đối với những vấn đề liên quan.
Thứ ba, giảm khả năng thanh toán: Khả
năng thanh toán của TISCO đều giảm cả ở
khả năng thanh toán ngắn hạn (năm 2007 là
2,19 lần; năm 2008 là 1,35 lần; năm 2009 là
1,22 lần; năm 2010 là 1,04 lần; năm 2011 là
0,88 lần) và khả năng thanh toán nhanh (năm
2007 là 1,46 lần; năm 2010 là 0,55 lần; năm
2011 là 0,48 lần).
Thứ năm, thiếu vốn ngắn hạn phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh do TISCO
đã sử dụng vốn để đầu tư dài hạn (tỷ lệ tài sản
dài hạn trên nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu
năm 2007 là 40,31%; năm 2009, 84,24%; năm
2010, 96,97%; năm 2011, 112,52%).
Thứ hai, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất
kinh doanh thép, nhu cầu vốn lưu động để duy
trì hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày
của TISCO hàng ngày là rất lớn. Ngoài ra,
trong kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng
lực sản xuất, quy mô của TISCO, nhu cầu vốn
cố định cũng không hề nhỏ. Như vậy, rủi ro do
biến động lãi suất sẽ có tác động trực tiếp đến
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
TISCO. Để giảm thiểu rủi ro này, ngoài việc
Thứ sáu, chi phí tài chính tăng cao: Lãi
suất vay ngắn hạn khá cao và chi phí tài chính
này đã được vốn hóa vào dự án. Điều này làm
371
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
tạo lập và duy trì mối quan hệ chặt chẽ với hệ
biệt là phải tính toán chi tiết các nguồn vốn cho
dự án đầu tư mở rộng sản xuất giai đoạn II.
Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, kiểm soát
các chi phí, việc chấp hành các quy chế, quy
định của công ty.
thống các ngân hàng thương mại để có được
mức lãi suất đi vay cạnh tranh, TISCO cần chủ
động hạn chế vốn lưu động bằng cách:
- Đẩy nhanh vòng quay hàng tồn kho thông
qua dự báo chính xác hơn lượng hàng tồn kho
và nguyên liệu cần thiết;
Thứ năm, đặc thù của ngành thép là giá
thành nguyên liệu đóng góp tỷ trọng rất lớn
(khoảng trên 90%) trong tổng giá vốn hàng
bán. Đặc thù này dẫn đến rủi ro đáng kể do
biến động giá nguyên liệu đối với kết quả sản
xuất kinh doanh của TISCO. Do vậy, TISCO
cần áp dụng những biện pháp nhằm khắc phục
rủi ro do biến động giá nguyên liệu như sau: (i)
chủ động nghiên cứu, nắm bắt và dự báo xu
hướng biến động giá nguyên liệu; (ii) tối ưu
hóa mức dự trữ hàng tồn kho; và (iii) tiếp tục
nâng cao năng lực tự khai thác nguyên liệu,
giảm thiểu phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu
bên ngoài.
- Đẩy mạnh hình thức bán hàng thanh toán
trực tiếp để giảm số ngày một vòng quay các
khoản phải thu;
- Tăng cường số ngày một vòng quay các
khoản phải trả. Đối với các khoản vay dài hạn
phục vụ hoạt động đầu tư phát triển, TISCO
cần cố gắng phối hợp giữa tiến độ xây dựng và
tiến độ giải ngân để tăng mức độ hoạt động của
vốn vay.
Ngoài ra với việc trở thành công ty cổ
phần, TISCO cũng có thêm các kênh huy động
vốn khác thông qua thị trường chứng khoán
như phát hành chứng khoán ra công chúng hay
phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư chiến lược.
Sự linh hoạt này chắc chắn sẽ giúp TISCO
giảm bớt rủi ro từ biến động lãi suất của thị
trường.
Thứ sáu, để tồn tại và phát triển trong tình
hình cạnh tranh gay gắt này, TISCO cần xây
dựng một kế hoạch tổng thể nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của bản thân thông qua
nhiều nhóm giải pháp, tiêu biểu như:
- Tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao tay
nghề công nhân nhằm giảm tiêu hao, tiết kiệm
nguyên vật liệu, qua đó làm giảm giá thành sản
phẩm;
Thứ ba, là một doanh nghiệp sản xuất và
kinh doanh thép, nhu cầu nhập khẩu quặng sắt.
phôi thép, thép phế và than mỡ để đưa vào chu
trình sản xuất ra thép cán thành phẩm là hoạt
động thường ngày. Bởi vậy biến động về tỷ giá
hối đoái cũng sẽ gây những tác động nhất định
đối với kết quả sản xuất và kinh doanh của
TISCO. Để phòng ngừa rủi ro tài chính do biến
động tỷ giá hối đoái, TISCO cần tận dụng lợi
thế của mình là nâng cao năng lực khai thác
nguồn nguyên liệu sẵn có, qua đó giảm bớt tỷ
trọng của nguyên vật liệu nhập khẩu. Ngoài ra,
TISCO cũng cần chủ động kế hoạch nhập khẩu
và dự trữ ngoại tệ phục vụ hoạt động này. Mối
quan hệ tốt đẹp nếu được TISCO tạo lập với
các ngân hàng thương mại cũng góp phần đảm
bảo nguồn cung ngoại tệ khi cần.
- Đầu tư mở rộng công suất nhà máy để đạt
tới tính kinh tế trên quy mô;
- Nâng cao hiệu quả của hệ thống phân
phối qua đó khẳng định hình ảnh một thương
hiệu mạnh trong mắt người tiêu dùng;
- Chú trọng công tác nghiên cứu, dự báo,
kế hoạch nhằm theo sát diễn biến thị trường,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn;
- Nâng cao chất lượng quản trị và điều
hành doanh nghiệp thông qua các biện pháp
tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp.
Thứ bảy, ứng dụng giải pháp chống mất
cân đối kỳ hạn như tăng vốn bằng phát hành cổ
phiếu; giảm sức ép trả cổ tức, chuyển hình thức
trả cổ tức từ tiền mặt sang cổ phiếu; phát hành
trái phiếu.
Thứ tư, chủ động thiết lập quan hệ với các
ngân hàng và các tổ chức tín dụng để chuẩn bị
đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và
thực hiện các dự án đầu tư của công ty. Đặc
372
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Thứ tám, lãi suất tiền vay là chi phí đầu
- Sử dụng thận trọng và linh hoạt công cụ
đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh
nhằm đạt được mục tiêu gia tăng lợi nhuận
trong điều kiện lãi suất thấp, đồng thời hạn
chế rủi ro thua lỗ khi lãi suất biến động ngoài
dự đoán;
vào nên để đảm bảo phòng ngừa và hạn chế rủi
ro tài chính, các doanh nghiệp nói chung và
TISCO nói riêng cần:
- Tính toán và dự báo thật đầy đủ, chính
xác về chi phí lãi vay khi xem xét, đánh giá
hiệu quả và quyết định thực hiện đối với các
phương án/dự án sản xuất kinh doanh;
- Thường xuyên tăng cường năng lực tự
chủ về tài chính, đa dạng hóa các kênh huy
động vốn, tránh việc phụ thuộc quá lớn vào
nguồn vốn vay ngân hàng./.
- Tích cực và chủ động thực hiện các công
cụ phòng ngừa rủi ro thông qua việc khai thác,
sử dụng các công cụ tài chính phái sinh (chẳng
hạn, hợp đồng hoán đổi lãi suất…) để bảo hiểm
rủi ro do biến động lãi suất trên thị trường;
- Trích lập đầy đủ các quỹ dự phòng về tài
chính trong hoạt động kinh doanh nhằm tạo
nguồn lực dự phòng, giúp cho doanh nghiệp
đứng vững trong các cú sốc về lãi suất;
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (2008, 2009, 2010, 2011, 2012), “BCTC hợp nhất
cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2007, 31/12/2008, 31/12/2009, 31/12/2010. 31/12/2011
đã được kiểm toán”, Thái Nguyên.
[2] Phan Thanh Tròn (2011), "Quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp ngành thuốc bảo vệ thực
vật", Luận án Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh.
[3] Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ (2009), “Quản trị tài chính doanh nghiệp”. Nhà Xuất bản Giao
thông Vận tải, Hà Nội.
[4] Vũ Thị Hậu, Lê Văn Luyện (2011), “Rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp công nghiệp và
dịch vụ- nguy cơ tiềm tàng của khủng hoảng tài chính”. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân
hàng, số 115 – tháng 12/2011, trang 38 - 44.
[5] Xếp hạng tín nhiệm 596 doanh nghiệp niệm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, Trích lục từ
Báo cáo thường niên chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2011, Nhà xuất bản Thông tin và truyền
thông, Hà Nội.
[6] Ann-Katrin Napp (2011), “Financial management in SME – the use of financial analysis for
identifying analysing and monitoring internal financial risks”. Aarhus School of Business,
Aarhus University.
[7] Amalendu Bhunia, Somnath Mukhuti (2012), “Financial risk measurement of small and
medium – sized companies listed in Bombay stock exchange”, Internationl Journal of
advances in management and economics, pp. 1 - 8.
[8] Gang Fu, Weilan Fu and Dan Liu (2012), “Empirical study on financial risk factors:
Capital structure, operation ability, profitability, and solvency -
evidence from listed
”, Journal of Business Management and Economics Vol. 3(5). pp. 0173-
companies in China
0178.
[9] Steven Li (2003),"Future trends and challenges of financial risk management in the digital
economy", Managerial Finance, Vol. 29 Iss: 5 pp. 111 – 125.
[10] John B.Caouette, Edward I.Altman, Paul Narayanan (1998), “Managing Credit Risk, The next
Great Financial Challenge”, Published by John Wiley & Sons, pp.112-122...
373
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp quản lý rủi ro tài chính tại công ty Cổ phần gang thép Thái Nguyên (Tisco)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_phap_quan_ly_rui_ro_tai_chinh_tai_cong_ty_co_phan_gang.pdf

