Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: Tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII

JSLHU  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng 2020, 11, 017-023  
OF LAC HONG UNIVERSITY  
HOJO TOKIMUNE VÀ TRẦN QUỐC TUẤN: TƯỚNG LĨNH TÀI BA  
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN MÔNG THẾ KỶ XIII  
HOJO TOKIMUNE AND TRAN QUOC TUAN: TALENTED  
COMMANDERS IN THE WAR AGAINST THE MONGOL INVASIONS  
(13TH CENTURY)  
Văn Tường Vi  
Khoa Đông Phương học, Đại học Lạc Hồng, Việt Nam.  
TÓM TẮT. Vào thế kỷ XIII, Đại Việt và Nhật Bản đồng thời đối mặt với nguy cơ xâm lược đến từ đế quốc Nguyên Mông.  
Tuy nhiên tất cả các cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông vào Đại Việt và Nhật Bản đều thất bại. Bài viết với mục tiêu lý  
giải nhân tố tài năng lãnh đạo của tướng lĩnh đã góp phần đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến, cụ thể qua trường hợp  
Trần Quốc Tuấn (Đại Việt) và Hojo Tokimune (Nhật Bản). Bài viết trình bày cuộc đời, sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn, Hojo  
Tokimune đặt trong bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Nhật Bản, Đại Việt vào thế kỷ XIII, những chiến lược và chiến thuật  
được sử dụng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Qua đó, bài viết phân tích, lập luận và chứng minh nhân  
tố tài năng lãnh đạo là một trong những nguyên nhân đem lại chiến thắng cho Đại Việt và Nhật Bản trước đế quốc Nguyên  
Mông hùng mạnh.  
TỪ KHOÁ. Đế quốc Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn, Hojo Tokimune, nhà Trần, Mạc phủ Kamakura.  
ABSTRACT. In the 13th century, Viet Nam and Japan faced up to the invasion of the Mongol Empire. However, all of the  
Mongol invasions to Viet Nam and Japan ended in failure. We are trying to explain scientifically that the talent of leading  
the resistance of Tran Quoc Tuan (Viet Nam) and Hojo Tokimune (Japan) were one of the reasons leading to victory. In the  
content of the article, we make an overview of the life, policies and strategies of Tran Quoc Tuan and Hojo Tokimune through  
the economic, political, social background of Japan and Viet Nam in the 13th century to clarify the reason above.  
KEYWORDS. Mongol empire, Tran Quoc Tuan, Hojo Tokimune, the Tran dynasty, Kamakura shogunate.  
định chiến thắng” [Hà Văn Tấn, 1968: 322]. Tuy nhiên, phần  
đề cập đến tài lãnh đạo của Trần Quốc Tuấn vẫn còn dừng  
lại ở việc trình bày chiến công, chưa thấy đúc kết lại theo hệ  
thống. Phần phân tích chi tiết về chiến công, tài năng lãnh  
đạo và nghiệp tích của Trần Quốc Tuấn lại được trình bày  
khá chi tiết trong cuốn cuốn “Trần Quốc Tuấn và kháng  
chiến chống Nguyên Mông” (2014) do Đăng Khoa và Trần  
Thu biên soạn; cuốn “Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự  
Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định” (2000) do Viện  
lịch sử quân sự Việt Nam biên tập;.v.v.. Chúng tôi tìm thấy  
nhiều tư liệu hữu ích khi phân tích và tổng hợp nghệ thuật  
quân sự của Trần Quốc Tuấn từ những tác phẩm này như  
cách xác định vị trí chiến trường, lối chiến đấu linh hoạt căn  
cứ theo địa hình, nguồn tài nguyên có sẵn,… Đồng thời, đức  
độ và cách đối nhân xử thế của Trần Quốc Tuấn cũng được  
khắc họa rõ ràng. Cuốn “Việt Nam và Đông Nam A thꢀi kꢁ  
chống xâm lược Nguyên - Mông (Thế kỷ 13)” (1999) của tác  
giả Nguyễn Thị Thu Thủy là một trong số những tài liệu hiếm  
hoi viết bằng tiếng Việt đề cập đến cuộc kháng chiến chống  
Nguyên Mông trong phạm vi rộng hơn như Chiêm Thành,  
quần đảo Java,… Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu  
bằng tiếng Việt mà chúng tôi tiếp cận được đã phần nào đi  
sâu giải thích nguyên nhân chiến thắng của cuộc kháng chiến  
có sự góp mặt của nhân tố con người, cụ thể là tướng Trần  
Quốc Tuấn, nhưng vẫn chưa tìm thấy công trình nào so sánh  
đối chiếu nghệ thuật quân sự giữa Trần Quốc Tuấn với những  
tướng quân khác cùng thời, cùng kẻ thù là đế quốc Nguyên  
Mông.  
1. DẪN NHẬP  
Sự trỗi dậy và bành trướng của đế quốc Nguyên Mông ở  
phía bắc đại lục châu Á vào thế kỷ XIII là một sự kiện lịch  
sử thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trong và ngoài  
nước. Khi nghiên cứu về nguyên nhân thắng lợi của cuộc  
kháng chiến chống quân Nguyên Mông trường hợp Nhật Bản  
và Đại Việt, chúng tôi cho rằng có nhiều nhân tố đã góp phần  
vào chiến thắng này như yếu tố con người, sức mạnh quân  
sự, thể chế chính trị, quan hệ quốc tế và thời tiết khí hậu.  
Trong bài báo này, thông qua việc trình bày bối cảnh xã hội  
của Đại Việt dưới thời nhà Trần, Nhật Bản dưới thời Mạc  
phủ Kamakura, đồng thời trình bày nghiệp tích và tài năng  
thao lược của Trần Quốc Tuấn và Hojo Tokimune, qua đó  
làm nổi bật vai trò của hai vị tướng trong việc dẫn dắt dân  
tộc chiến thắng một tập đoàn quân sự hùng mạnh nhất thế  
giới lúc bấy giờ là đế quốc Nguyên Mông.  
Trong phạm vi nguồn tư liệu trong nước, chúng tôi tìm  
thấy nhiều tài liệu viết về cuộc kháng chiến chống Nguyên  
Mông của của Đại Việt. Qua những công trình nghiên cứu  
này, cuộc kháng chiến của quân dân nhà Trần vào thế kỷ XIII  
đã được tái dựng lại chi tiết từ các sự kiện lịch sử, thông tin  
về số lượng quân đội đến nghệ thuật quân sự cũng như các  
bài học kinh nghiệm đúc kết được. Nhân vật Trần Quốc Tuấn  
cũng được nhắc đến như một người anh hùng dân tộc với  
những chiến công, đức độ và tài năng thao lược. Trong đó  
tiêu biểu là cuốn “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên  
Mông: thế kỷ XIII” (1975) của tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị  
Tâm. Công trình này đã đưa ra những lý giải rất khoa học và  
cụ thể về nguyên nhân chiến thắng của Đại Việt, trong đó  
nêu rõ vai trò lãnh đạo của quý tộc nhà Trần và sự đoàn kết  
chiến đấu của quân đội, “chính sức mạnh đoàn kết và tinh  
thần quyết chiến quyết thắng của toàn dân là yếu tố quyết  
Received: April 19th 2020  
Accepted: July 23th 2020  
*Corresponding Author  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
17  
Văn Tưꢀng Vi  
Khi nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Nguyên Mông dưới thời Trần và Mạc phủ Kamakura một  
Mông của Nhật Bản vào thế kỷ XIII, chúng tôi tham khảo cách có hệ thống, theo lịch đạitrên những tài liệu sử học đáng  
chủ yếu là các công trình nghiên cứu khoa học của các học tin cậy. Phương pháp logic giúp phân tích kế hoạch và hành  
giả Nhật Bản. Nội dung các công trình này chủ yếu thuật lại động của các bên tham chiến, từ đó phát hiện mối quan hệ  
các sự kiện lịch sử, số liệu, nhân vật,… nhưng chưa thấy nhân quả giữa các sự kiện lịch sử, hiểu rõ ngọn nguồn vấn  
phần tổng hợp chiến lược – chiến thuật. Yếu tố con người, đề, tránh đưa ra những nhận định chủ quan, sai lệch. Ngoài  
cụ thể là nhân vật Hojo Tokimune mặc dù được đề cập đến ra, bài viết còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để  
nhưng chưa thấy làm rõ vai trò của nhân vật này trong sự phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt trong nghiệp  
thành công cuối cùng của cuộc chiến. Trong số đó tiêu biểu tích và quyết sách của hai vị tướng sĩ khi chỉ huy của kháng  
chiến chống quân Nguyên Mông.  
là cuốn “北条時宗と蒙古襲来” (Hojo Tokimune và cuộc xâm  
lược của Nguyên Mông) (2001) của tác giả Murai Shosuke  
là một công trình viết về sự nghiệp của nhân vật Hojo  
Tokimune gắn liền với chính quyền Mạc phủ Kamakura và  
thế lực của dòng họ Hojo. Cuốn “蒙古襲来” (Mông Cổ xâm  
lược) (2014) của tác giả Hattori Hideo gồm 10 chương với  
hơn 500 trang trình bày khá chi tiết những sự kiện lịch sử  
xoay quanh cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của  
2. NỘI DUNG  
2.1 Một số kiến thức liên quan  
2.1.1 Đế quốc Nguyên Mông  
Buổi ban đầu của đế quốc Nguyên Mông là một nhóm rời  
rạc những bộ tộc sống bằng nghề chăn nuôi du mục trên các  
thảo nguyên rộng lớn phía bắc đại lục châu Á vào thế kỷ XII.  
Giữa các bộ lạc liên tục xảy ra xung đột tranh giành quyền  
khai thác các đồng cỏ chăn nuôi, quyền săn bắn và chi phối  
liên bộ lạc. Mãi đến đầu thế kỷ XIII, Thiết Mộc Chân (帖木  
Nhật Bản. Cuốn “モンゴル襲来と国土防衛戦” (Mông Cổ xâm  
lược và cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc) (2018) của tác giả  
Kitaoka Masatoshi cung cấp nhiều thông tin học thuật về các  
sự kiện lịch sử và số liệu có liên quan đến hai cuộc xâm lược  
của đế quốc Nguyên Mông như: số lượng binh lính, cấu tạo  
và tốc độ chiến thuyền, sức mạnh vũ khí,... Đặc biệt ở chương  
7 có phần đánh giá về nhân vật Hojo Tokimune và một số  
chiến thuật đã được sử dụng trong chiến đấu. Trong quá trình  
nghiên cứu, chúng tôi cũng có tham khảo thêm một số thông  
真 Temujin) tập hợp được một lực lượng quân sự nòng cốt và  
tiến hành nhiều cuộc chiến thâu tóm các bộ tộc du mục khác  
trên thảo nguyên. Đến năm 1206, Thiết Mộc Chân trở thành  
“Đại Hãn” (大汗) - người lãnh đạo tối cao của Mông Cổ, xưng  
là Thành Cát Tư Hãn (成吉思汗 Genghis Khan), lập nên nhà  
tin liên quan đến chiến lược và chiến thuật đã được sử dụng nước phong kiến trung ương tập quyền là vương quốc Mông  
Cổ.  
Thành Cát Tư Hãn đã tổ chức các cuộc viễn chinh xâm  
trong cuộc kháng chiến như cuốn “海から見た日本の防衛”  
(Công cuộc phòng vệ của Nhật Bản nhìn từ biển) (2003) của  
Matsumura Tsutomu; Cuốn “戦略は歴史から学べ” (Chiến lược  
học từ lịch sử) (2016) của tác giả Suzuki Hiroki; Cuốn “激闘  
lược các vùng lãnh thổ lân cận. Vương quốc Mông Cổ dần  
lớn mạnh và trở thành một thế lực vượt trội ở phương Bắc.  
Thành Cát Tư Hãn và các Hãn hậu duệ đã liên tục tổ chức  
các viễn chinh, lãnh thổ dưới quyền cai trị của các Hãn Mông  
Cổ trải dài khắp lục địa Á – Âu. Đế quốc Mông Cổ hình  
thành. Sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, các thế hệ Hãn  
hậu duệ như Oa Khoát Đài (窩闊台 Ogedei), Mông Kha (蒙哥  
の日本史 北条時宗と元寇の危機” (Lịch sử Nhật Bản với những  
cuộc giao tranh xung đột – Hojo Tokimune và nguy cơ xâm  
lược từ Nguyên Mông) của tác giả Izawa Motohiko… Tuy  
nhiên, cũng giống như các công trình viết bằng tiếng Việt,  
các học giả Nhật Bản chỉ chú trọng trình bày và phân tích  
chủ đề xoay quanh cuộc kháng chiến của dân tộc mình, mà  
chưa thấy đề cập đến cuộc kháng chiến của các dân tộc khác,  
đặc biệt là Đại Việt. Mặt khác, liên quan đến cuộc kháng  
chiến chống quân Nguyên Mông của Nhật Bản, chúng tôi  
còn tìm thấy một số công trình khác có trình bày sơ lược nội  
dung, diễn biến cuộc kháng chiến như các sách giáo khoa,  
các bộ thông sử như cuốn “Lịch sử Nhật Bản” do Phan Ngọc  
Liên chủ biên (1997); cuốn “Lịch sử Nhật Bản” của Lê Văn  
Quang (1998), cuốn “Lịch sử Nhật Bản” do Nguyễn Quốc  
Hùng chủ biên (2007), cuốn Lịch sử Nhật Bản của George  
Sansom do Lê Năng An dịch sang tiếng Việt (1994)… Các  
công trình này chỉ trình bày diễn biến, các sự kiện lịch sử liên  
quan đến cuộc kháng chiến một cách sơ lược, khái quát,  
không đề cập nhiều đến chiến lược, chiến thuật cũng như  
nhân tố con người góp phần trong chiến thắng cuối cùng. Vì  
vậy, chúng tôi viết bài báo này với mục đích cung cấp thêm  
một góc nhìn mới về cuộc kháng chiến của hai dân tộc thông  
qua điểm tương đồng và dị biệt trong vai trò lãnh đạo của  
tướng lĩnh, cụ thể là hai nhân vật Hojo Tokimune và Trần  
Quốc Tuấn.  
Mongke), Hốt Tất Liệt (忽必烈 Kubilai) tiếp tục các cuộc viễn  
chinh xâm lược. Năm 1271, Hốt Tất Liệt quyết định dời đô  
về Đại Đô (大都), lên ngôi Hoàng đế, mở đầu triều đại nhà  
Nguyên.  
Tại Việt Nam, các học giả khi nghiên cứu lịch sử thời kỳ  
này thường quen dùng cách gọi “đế quốc Nguyên Mông”,  
“nhà Nguyên” hay “quân Nguyên Mông” để chỉ chính quyền  
hay quân đội của vương triều Nguyên dưới sự cai trị của các  
hoàng đế xuất thân Mông Cổ.  
2.1.2 Đại Việt và cuộc chuyển giao quyền lực Lý – Trần  
Từ đầu thế kỷ XIII, tình hình nước Đại Việt dưới thời Lý  
trở nên bất ổn, chiến tranh loạn lạc khắp nơi, các thế lực cát  
cứ nổi lên tranh đoạt quyền lực ở địa phương, quyền lực triều  
đình vô cùng suy yếu. Trong bối cảnh đó, nhà Trần dần thâu  
tóm chính quyền và trở thành một thế lực quý tộc vững mạnh.  
Từ năm 1220, Trần Thừa và Trần Tự Khánh đánh bại các thế  
lực đối địch, chiếm vùng Hà Nam, sau đó tiến dọc theo hai  
bờ sông Hồng chiếm vùng Thái Nguyên và Vĩnh Phúc, sau  
đó bình định khu vực này. Thế lực của nhà Trần dần được  
củng cố, chiếm giữ các vị trí quan trọng trong triều đình.  
Năm 1223, Trần Thừa Khánh qua đời, Trần Thừa được  
phong làm Phụ Quốc Thái Úy, Trần Thủ Độ được phong làm  
Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, nắm giữ binh quyền nhà Lý. Năm  
1225, Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu  
Hoàng. Năm 1226, dưới sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Lý  
Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, chấm  
Bởi vì đây là một đề tài nghiên cứu vấn đề lịch sử với mục  
đích làm rõ vai trò của Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn  
trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông vào thế  
kỷ XIII nên bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và  
phương pháp logic. Phương pháp lịch sử giúp trình bày các  
sự kiện lịch sử đã xảy ra trong cuộc kháng chiến chống quân  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
18  
Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII  
dứt thời gian cai trị hơn hai trăm năm của vương triều nhà đội nhà Trần chiến đấu chống quân xâm lược. Trần Quốc  
Lý.  
Tuấn đã chủ động liên kết các lực lượng quân sự quý tộc nhà  
Như vậy, nước Đại Việt đã trải qua một cuộc chuyển giao Trần, kêu gọi ý chí chiến đấu toàn dân để đạt đến mục tiêu  
quyền lực tương đối êm thấm từ nhà Lý sang nhà Trần. Cuộc thống nhất mặt trận kháng chiến chống quân Nguyên Mông.  
chuyển giao quyền lực không ảnh hưởng hay xáo trộn đến Đối mặt với nguy cơ mất nước, Trần Quốc Tuấn đã nhận rõ  
tình hình kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ. Nhà Trần đã sự tương quan lực lượng, sở trường, sở đoản của quân đội  
chậm rãi mở rộng quyền kiểm soát của mình, triệt tiêu dần nhà Trần và quân Nguyên Mông, từ đó vận dụng một cách  
sức mạnh của nhà Lý, cuối cùng soán ngôi nhà Lý để trở linh hoạt những chiến lược, chiến thuật để dẫn dắt dân tộc  
thành thế lực chính trị kiểm soát Đại Việt một cách danh chiến thắng đội quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới  
chính ngôn thuận. Từ đây, nhà Trần bắt đầu xây dựng đất lúc bấy giờ.  
nước thống nhất và phát triển vững vàng mãi đến thế kỷ XIV.  
2.1.3 Mạc phủ Kamakura và dòng họ Hojo  
Từ “Mạc phủ” (幕府), trong đó “mạc” (幕) là “tấm rèm”,  
“phủ” (府) là “đại bản doanh, trụ sở, cơ quan”, “Mạc phủ”  
được “lấy từ hình ảnh Tướng quân điều hành công việc trong  
những tấm màn vây trên chiến trưꢀng, căn cứ hay doanh trại,  
trụ sở của Tướng quân, cơ quan hành chính của chính phủ  
võ sĩ, hay chính quyền của tầng lớp võ sĩ”1 [Shinmura Izuru,  
2008: 2239].  
Kể từ hậu kỳ thời Heian (平安), quyền lực của dòng họ  
Fujiwara (藤原) ngày càng suy yếu, bị hai dòng họ Taira (平)  
và Minamoto (源) liên hợp lật đổ. Về sau, mâu thuẫn phát  
sinh giữa hai dòng họ này, dòng họ Taira bị đánh bại bởi  
dòng họ Minamoto. Sau khi Minamoto Yoritomo (源 頼朝  
1147-1199) quyết định đặt căn cứ chính quyền tại Kamakura  
(鎌倉), bắt đầu thời kỳ Mạc phủ Kamakura.  
Mạc phủ là một chính quyền của tầng lớp võ sĩ (武家政権)  
do Tướng quân (将軍) đứng đầu và tồn tại song song với triều  
đình lúc này chỉ còn tính biểu tượng. Mạc phủ Kamakura kéo  
dài từ năm 1192 đến năm 1368. Sau khi Yoritomo qua đời  
vào năm 1199, quyền lực Tướng quân suy sút, dòng họ Hojo  
thâu tóm chính quyền và điều hành đất nước dưới danh nghĩa  
“Chấp quyền” (執権 Shikken). Chấp quyền thay mặt Tướng  
quân mà Tướng quân lại dưới danh nghĩa Thiên Hoàng.  
Hình 1. Trần Quốc Tuấn (1228-1300)2  
Thiên Hoàng lúc bấy giờ đã rời khỏi sân khấu chính trị Nhật  
2.2.2 Hojo Tokimune  
Bản và không còn thực quyền gì ngoài việc chủ trì lễ tấn  
phong nhận chức cho các đời Tướng quân sau này. Quyền  
lực thực sự do Mạc phủ nắm giữ và thực thi nhờ vào các lực  
lượng võ sĩ vũ trang. Xã hội thời Kamakura là một xã hội  
được quản lý bởi tầng lớp võ sĩ, nên nó có tính chất của một  
xã hội quân sự hóa.  
Trong suốt thời kỳ Mạc phủ Kamakura, ngoại trừ thời gian  
Minamoto Yoritomo tại vị, dòng họ Hojo đã nắm giữ thực  
quyền chính trị và kiểm soát toàn bộ Nhật Bản. Những chính  
sách dưới sự xét duyệt của dòng họ Hojo được đánh giá là  
rất khoan nhượng, tích cực và được lòng dân. Nhà Hojo có  
quyền thu tô từ dân nhưng lại không giữ riêng cho mình mà  
phân phát cho chư hầu, đền chùa, xây dựng mối liên kết giao  
hảo với các thế lực địa phương. Chính nhờ vậy, sau khi nhà  
Hojo phân phối rộng rãi chức vụ hành chính tại các tỉnh miền  
tây, khu vực này đã được đặt dưới quyền kiểm soát của Mạc  
phủ Kamakura.  
Hojo Tokimune (北条時宗 1251-1284) (Hình 2) là vị Chấp  
quyền đời thứ tám của Mạc phủ Kamakura, nhân vật đã có  
công dẫn dắt dân tộc Nhật Bản vượt qua hai cuộc xâm lược  
của quân Nguyên Mông năm 1271 và năm 1284. Được hun  
đúc từ chiếc nôi quyền lực của gia tộc, Tokimune từ sớm đã  
tiếp xúc với những nhân vật chính trị kiệt xuất của Nhật Bản  
và các quốc gia láng giềng lúc bấy giờ, đó là những tướng  
lĩnh chỉ huy quân đội tài ba, những văn nhân tri thức hiểu  
2.2 Trần Quốc Tuấn và Hojo Tokimune  
2.2.1 Trần Quốc Tuấn  
Trần Quốc Tuấn (陳國峻 1228-1300) (Hình 1) hay còn  
được biết đến với tên gọi Trần Quốc Tuấn (陳興道), sinh ra  
trong gia đình tôn thất nhà Trần, phụ thân là Trần Liễu, chú  
ruột là vua Trần Thái Tông Trần Cảnh. Được hậu thuẫn bởi  
quyền lực và tài lực của gia tộc, từ nhỏ Trần Quốc Tuấn được  
nuôi dạy để trở thành người kế thừa gia tộc. Trần Quốc Tuấn  
đã tiếp thu nền giáo dục quý tộc chú trọng rèn luyện song  
song văn võ, có cơ hội tiếp xúc giao lưu với những bậc tri  
thức ưu tú và cao tăng trong và ngoài nước lúc bấy giờ.  
Khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt vào thế  
kỷ XIII, Trần Quốc Tuấn được giao nhiệm vụ chỉ huy quân  
2 Nguồn Wikimedia:  
https://vi.wikipedia.org/wiki/Trần_Hưng_Đạo (Ngày truy cập:  
12/12/2019).  
1 Nguyên văn:(もと将軍が戦場にあって幕中で事を治めたか  
らいう)将軍の居所または軍営。柳営。武家政治の政庁。ま  
た、武家政権そのものをいう。  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
19  
Văn Tưꢀng Vi  
biết sâu rộng về lịch sử Trung Quốc, những thiền sư ưu tú,  
Thứ hai, Tokimune và Trần Quốc Tuấn được sinh ra và  
giới võ sĩ chuyên nghiệp của Mạc phủ Kamakura. Mặc dù lớn lên trong một xã hội tương đối ổn định về mặt chính trị.  
xuất thân danh gia vọng tộc nhưng Tokimune đã được nuôi Tại Nhật Bản, công cuộc chuyển giao quyền lực từ triều đình  
dưỡng và uốn nắn từ nhỏ theo tinh thần võ sĩ. Bên cạnh đó, sang thế lực của Tướng quân đã bước đầu ổn định. Sau đó,  
Tokimune còn được biết đến là một nhà lãnh đạo rất quan nhà Hojo chiếm giữ thực quyền chính trị từ Tướng quân, dần  
tâm đến cuộc sống của người dân.  
dần mở rộng phạm vi thế lực ra khắp vùng lãnh thổ. Tương  
Như vậy, Tokimune và Trần Quốc Tuấn đều có xuất thân tự như vậy, Đại Việt cũng đã hoàn thành việc chuyển giao  
danh gia vọng tộc, có quan hệ họ hàng với hoàng gia và mối quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần. Vua quan nhà Trần đã  
liên kết sâu xa với triều đình đương thời. Cả hai vị tướng đều làm tốt công việc trị nước, đưa đất nước nhanh chóng vượt  
được sinh ra trong gia đình võ tướng, được nuôi dưỡng để qua thời kỳ khó khăn từ cuối thời Lý để phát triển nền kinh  
trở thành người lãnh đạo quân đội. Như vậy, xuất phát điểm tế. Chính vì dòng họ Hojo và nhà Trần đã tiếp giữ thực quyền  
của Tokimune và Trần Quốc Tuấn có nét tương đồng với chính trị lúc bấy giờ nên Tokimune và Trần Quốc Tuấn mới  
nhau, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến những thành tựu vẻ thuận lợi nắm quyền lãnh đạo kháng chiến sau này.  
vang sau này.  
2.3 Vai trò của Trần Quốc Tuấn và Hojo Tokimune trong  
Thứ nhất, bởi vì sinh ra trong gia đình có truyền thống  
cuộc kháng chiến  
quan võ, nên ngay từ nhỏ Tokimune và Trần Quốc Tuấn đã  
được tạo điều kiện thuận lợi để trau dồi kiến thức về nghệ  
thuật quân sự, rèn luyện võ nghệ, cưỡi ngựa, bắn cung. Mặt  
khác, thông qua sự trợ giúp từ gia đình, Tokimune và Trần  
Quốc Tuấn đã tiếp xúc với môi trường quân đội từ rất sớm,  
có cơ hội học tập hệ thống, cách thức tổ chức quân đội, lập  
uy tín bản thân cũng như tạo dựng được mối quan hệ với giai  
cấp tướng lĩnh lúc bấy giờ. Bởi địa vị quý tộc của mình,  
Tokimune và Trần Quốc Tuấn có cơ hội tiếp xúc với những  
vị tướng kiệt xuất, thiền sư uyên bác, văn nhân nổi tiếng,  
thương nhân quảng giao. Họ chính là nguồn tri thức quý báu  
cho Tokimune và Trần Quốc Tuấn mở mang kiến thức ra thế  
giới bên ngoài, nắm bắt tình hình kinh tế chính trị quốc tế,  
những bài học kinh nghiệm trong chiến đấu,… những điều  
này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hoạch định đường lối  
đấu tranh và lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống quân  
Nguyên Mông sau này. Có thể nói, chỗ dựa và nguồn lực gia  
tộc có vai trò rất lớn trong việc nuôi dưỡng, vun trồng tài  
năng của Tokimune và Trần Quốc Tuấn. Khi quân Nguyên  
Mông xâm lược đất nước, dòng họ Hojo và nhà Trần đã sẵn  
sàng cung cấp cho Nhật Bản và Đại Việt người lãnh đạo đủ  
sức gánh vác vận mệnh dân tộc.  
2.3.1 Thống nhất mặt trận kháng chiến dân tộc  
Một cuộc chiến tranh muốn thành công thì trước tiên phải  
xây dựng được một hậu phương vững chắc. Vai trò đóng góp  
của hậu phương vào một cuộc chiến thể hiện qua việc tiếp tế  
vũ trang, lương thực và đảm bảo nguồn binh lực được huấn  
luyện đầy đủ, phù hợp. Một đội quân dù đông đảo và thiện  
chiến nhưng nếu công tác chuẩn bị hậu phương không tốt thì  
cũng sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt. Nói cách khác, sự thành  
bại của một cuộc chiến tranh không chỉ quyết định bởi tố chất  
của binh lính hay tính ưu việt của vũ khí mà nó còn phụ thuộc  
rất nhiều vào tầm nhìn chiến lược của người lãnh đạo thông  
qua công tác chuẩn bị chiến tranh. Tục ngữ nói “binh mã  
chưa động, lương thảo đi trước”4, hiệu quả vận động hậu  
phương có thể trở thành lợi thế hay điểm yếu của một cuộc  
chiến và gián tiếp ảnh hưởng năng lực chiến đấu của toàn  
quân. Nói cách khác, hậu phương cần phải được chuẩn bị  
“đúng lúc, đúng chỗ” trước khi xuất chiến.  
Khi đứng trước nguy cơ xâm lược từ đế quốc Nguyên  
Mông, công tác vận động hậu phương của Nhật Bản diễn ra  
với nhịp độ khẩn trương và tinh thần đồng thuận cao độ.  
Người Nhật đã đổ dồn toàn bộ sức người và sức của vào cuộc  
kháng chiến này. Hojo Tokimune đã áp dụng chế độ trưng  
binh thời chiến, ra lệnh cho các thế lực Ngự gia nhân vùng  
Kyushu cùng với lực lượng võ sĩ địa phương chuẩn bị cho  
cuộc kháng chiến. Mệnh lệnh được thông tri đến các khu vực,  
đặc biệt là các vùng duyên hải như Sanuki (讃岐), Shikoku (  
四 国 ), eo biển Tsushima và vùng xung quanh đó. Hojo  
Tokimune cũng phát lệnh triệu tập các võ sĩ di chuyển về  
Kyushu, rất nhiều võ sĩ tình nguyện tham gia chiến đấu đã  
lên đường di chuyển về Hakata. Những võ tướng trực thuộc  
dòng họ Hojo được cử đến bảo vệ những vị trí chiến lược.  
“Tất cả những ngưꢀi dân Kyushu được lệnh tăng cưꢀng  
phòng thủ. Tất cả những ngưꢀi dân Kyushu đang ở Kyoto  
cũng được lệnh trở về quê hương tham gia phòng thủ”  
[George Sansom, 1994: 559]. Lương thực, nước, vũ khí được  
gấp rút vận chuyển đến chiến địa. Trong chiến đấu, những  
võ sĩ bị thương sẽ được đưa ra khỏi chiến trường ngay lập  
tức để trị liệu y tế.  
Tokimune cũng ra lệnh tăng cường hệ thống phòng ngự  
bằng cách xây dựng thêm các công trình phòng ngự dọc theo  
bãi biển bao gồm các pháo đài, chiến lũy ở phía tây nam đảo  
Honshu (本州) và vùng bờ biển tây bắc của đảo Kyushu. Bên  
cạnh đó, Tokimune cũng cho chuẩn bị rất nhiều thuyền nhẹ,  
Hình 2. Hojo Tokimune (1251-1284)3  
3 Nguồn Wikimedia:  
mune.jpg (Ngày truy cập: 12/12/2019).  
4 兵马未动,粮草先行 (Binh mã vị động, lương thảo tiên hành).  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
20  
Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII  
có thể cơ động tác chiến trên biển. Rút kinh nghiệm cuộc không thể đến từ “một sớm một chiều”, mà phải được gầy  
kháng chiến năm 1274, quân địch đã đổ bộ tiến sâu vào vịnh dựng và nuôi dưỡng một thời gian dài bằng tài năng và đức  
Hakata, cho nên Tokimune đã chủ động tăng cường khả năng độ của người thống lĩnh.  
phòng thủ các vị trí chiến lược này bằng việc xây dựng dãy  
tường đá kiên cố tại vịnh Hakata, từ miền đông mũi Shiga  
2.3.2 Vận dụng chiến lược – chiến thuật phù hợp  
dọc theo bờ biển vịnh Hakozaki đến tận Imazu. Dãy tường  
đá được xây dựng trong suốt năm năm đã trở thành tuyến  
phòng ngự quan trọng của quân Nhật Bản ngăn cản địch tiến  
sâu vào đất liền.  
2.3.2.1 Xác định vị trí phòng thủ  
Việc xác định đúng vị trí chiến lược để gia tăng phòng thủ  
là một nhân tố rất quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ  
một cuộc chiến nào. Trong cả hai lần kháng chiến chống  
quân Nguyên Mông, Hojo Tokimune đều xác định vị trí  
phòng thủ chiến lược trọng điểm là vịnh Hakata, tập trung  
toàn bộ lực lượng võ sĩ về cố thủ nơi này. Thứ nhất, nơi đây  
là vị trí tiếp giáp gần nhất với bán đảo Triều Tiên, trong điều  
kiện quân Nguyên Mông không quen đi biển, nơi đây sẽ là  
đích tấn công được lựa chọn đầu tiên. Thứ hai, vịnh Hakata  
là lối vào vào Kyushu, nơi tập trung ba mỏ lưu huỳnh lớn của  
Nhật Bản.  
Đối với trường hợp Đại Việt, Trần Quốc Tuấn đặt cứ điểm  
kháng chiến tại phủ Thiên Trường6 và yêu cầu cố thủ nơi này  
bằng mọi giá. Thiên Trường nằm ở vị trí dễ thủ dễ công, đồng  
thời là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nhiều nhân tài, có thể  
khai thác hiệu quả sức người và sức của. Thiên Trường cũng  
là vùng đất được xem là kinh đô thứ hai của Đại Việt, tầm  
quan trọng chỉ sau kinh thành Thăng Long. Trong cả lần  
kháng chiến chống quân Nguyên Mông, quan quân nhà Trần  
đều lựa chọn phủ Thiên Trường là điểm rút lui chiến lược và  
duy trì sức mạnh phản công cho quân kháng chiến.  
Có thể nói cả hai vị tướng đã thành công trong việc xác  
định vị trí phòng thủ ngay từ đầu, điều này ảnh hưởng không  
nhỏ đến toàn bộ cuộc kháng chiến sau này. Cả Tokimune và  
Trần Quốc Tuấn đều căn cứ trên lợi thế bản địa khi xác định  
vị trí phòng thủ. Về phía Nhật Bản, Tokimune lựa chọn vịnh  
Hakata để làm vị trí phòng thủ vì nhằm vào lợi thế bờ biển:  
quân Nguyên Mông không thạo đi biển, không quen với lối  
chiến đấu trên thuyền và cách thức đổ bộ lên bờ. Tương tự  
như vậy, Trần Quốc Tuấn lựa chọn phủ Thiên Trường bởi  
địa hình và nguồn lực chi viện dồi dào từ vùng này. Tuy  
nhiên, nếu nhìn vào vị trí phòng thủ của quân Nhật Bản và  
Đại Việt thì có thể nhận ra điểm khác nhau trong chiến lược  
phòng thủ của Tokimune và Trần Quốc Tuấn. Tokimune  
quyết định đánh giữ chân địch ngay từ bờ biển, tuyệt đối  
không cho tiến sâu vào bờ. Mọi nguồn lực đều đổ dồn vào  
tuyến phòng thủ tại vịnh Hakata. Kế hoạch tác chiến của  
Nhật Bản theo đó là “đánh nhanh, thắng nhanh”. Ngược lại,  
Trần Quôc Tuấn dẫn dụ địch vào sâu trong đất liền, kết hợp  
đánh du kích và rút lui chiến lược, theo đó kế hoạch tác chiến  
của Trần Quốc Tuấn là “đánh lâu dài, dần dần tiêu hao được  
sinh lực của địch, bồi dưỡng được lực lượng của ta, tương  
quan lực lượng dần chuyển hóa theo phương hướng có lợi  
cho ta và cuối cùng đánh bại được quân thù” [Hà Văn Tấn,  
1968: 331]. Nếu phía Nhật Bản có lợi thế bờ biển, chỉ cần  
cầm chân địch đủ lâu ngoài khơi thì có thể chiến thắng, thì  
phía Đại Việt vốn nối liền đường biên giới phía bắc nên  
không thể áp dụng lối “đánh nhanh, thắng nhanh” này. Mặt  
khác, địa hình quần đảo của Nhật Bản lại rất khó khăn để tổ  
chức phòng thủ trong đất liền như Đại Việt, một khi quân  
Nguyên Mông chiếm giữ được Kyushu, lấy nơi này làm cứ  
Đối với trường hợp Đại Việt, công tác chuẩn bị chiến tranh  
được thực hiện từ rất sớm. Quân đội được tuyển chọn kỹ  
lưỡng và huấn luyện tại chỗ. Công tác trưng binh được thực  
hiện kết hợp giữa quân đội triều đình và quân đội địa phương,  
hay còn gọi là “hương binh”, “gia binh”. Đến tháng 11 năm  
1258, các vua Trần đã ra lệnh cho cả nước chuẩn bị vũ khí  
để đánh giặc. Bên cạnh đó, công tác đóng tàu thuyền và rèn  
luyện thủy quân cũng được xem trọng. Các tướng lĩnh được  
bổ nhiệm đến canh giữ những vị trí chiến lược chủ yếu.  
Ngược lại với tinh thần chuẩn bị kháng chiến cao độ của  
phía Nhật Bản, công tác chuẩn bị chiến tranh lại trở thành  
gánh nặng cho quân Nguyên Mông. Bởi vì là một đội quân  
viễn chinh xâm lược, quân Nguyên Mông không có nguồn  
chi viện tại chỗ nên bị giới hạn rất nhiều trong việc chuẩn bị  
lương thực và nước uống. Bởi mưu đồ bá chủ của đế quốc  
Nguyên Mông, sinh hoạt của người dân vô cùng khốn khổ.  
Dân chúng bị trưng thu lúa gạo, lương thực dẫn đến nạn đói  
xảy ra khắp nơi. “Nhân dân Trung Quốc ở các tỉnh miền Nam  
không những phải nạp thóc gạo mà còn phải chịu phu dịch  
chuyển vận lương thực” [Hà Văn Tấn, 1968: 165]. Rất nhiều  
người đã bỏ trốn để trốn tránh việc vận chuyển lương thực  
cho quân đội Nguyên Mông.  
Liên hệ với trường hợp Cao Ly5, chính quyền phong kiến  
Cao Ly gần như bất lực trong công tác thống nhất mặt trận  
kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Triều đình Cao Ly  
đã rơi vào cảnh nội loạn và chia rẽ nội bộ với hai phái “chủ  
chiến” và “chủ hòa”. Đối mặt với đại quân Nguyên Mông  
tiến vào lãnh thổ, chính quyền Cao Ly mà đại diện là các  
quan văn quan võ đã bỏ chạy, để mặc người dân ở lại chiến  
đấu giữ thành. Chính quyền quý tộc đã kéo vào núi để gầy  
dựng chiến tranh du kích. Thủ đô Gaegyong cũng được di  
dời về Ganghwa-do. Tuy nhiên, chính quyền quý tộc Cao Ly  
trong lúc chạy loạn vẫn sa đà vào thói sa hoa, tăng sưu thêm  
thuế dẫn đến lòng dân căm phẫn. Sau khi người cầm quyền  
tối cao là Choe Ui bị ám sát, chính quyền quý tộc Cao Ly sụp  
đổ, Cao Ly không còn một thế lực chính trị đủ sức lãnh đạo  
nhân dân kháng chiến. Khi quân Nguyên Mông ập đến, Cao  
Ly từng bước giảng hòa với nhà Nguyên, tạo cơ hội cho  
Nguyên Mông xâm nhập vào nội bộ các bè phái, từng bước  
khống chế và chiếm đoạt quyền lực chính trị từ triều đình.  
Như vậy, đối mặt với sức ép từ đế quốc Nguyên Mông,  
Nhật Bản và Đại Việt đã nhanh chóng “chuyển mình” từ thời  
bình sang thời chiến dưới sự lãnh đạo của Tokimune và Trần  
Quốc Tuấn. Chính sức mạnh kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng  
chiến của chính quyền nói chung và của Trần Quốc Tuấn,  
Hojo Tokimune nói riêng đã tạo nên một khối thống nhất dân  
tộc chống giặc ngoại xâm, thúc đẩy việc chuẩn bị kháng  
chiến diễn ra khẩn trương, kịp thời. Sức mạnh kêu gọi này  
5 Vương triều Cao Ly (918-1392): vương triều bắt đầu kể từ khi  
Wang Geon lên ngôi quốc vương, đổi tên nước thành Goryeo, lấy  
niên hiệu là Cheonsu (Thiên Thụ) vào năm 918 và năm sau ông dꢀi  
đô từ Cheorwo về Songak. Vương triều này kéo dài gần nửa thế kỷ.  
Cho đến khi các thế lực võ thần mà trung tâm là I Seong-gye và  
những Sinjinsadaebu tham gia cải cách đã trở thành thế lực thống  
trị mới, cuối cùng họ đã lật độ vương triều Goryeo và lập nên vương  
triều Joseon (Triều Tiên).  
ꢀ
Phủ Thiên Trưꢀng ngày nay là vùng đất Nam Định.  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
21  
Văn Tưꢀng Vi  
điểm quân sự để tiến đánh các đảo còn lại thì chỉnh thể phòng mạnh bao nhiêu chăng nữa cuối cùng vẫn bị tan rã” [Cao  
ngự Nhật Bản chắc chắn sẽ bị tách rời, rất khó để tổ chức Văn Liên, 2017: 133]. Quân Nguyên Mông cũng biết rõ điều  
phản công và lần lượt bị thôn tính. Tóm lại, mặc dù đều căn này. Sau khi tấn công và chiếm được đảo Tsushima, quân  
cứ trên lợi thế có sẵn để xác định vị trí phòng thủ nhưng Nguyên Mông đã lưu lại nơi này khoảng một tuần. Bên cạnh  
Tokimune thì chọn phương án tốc chiến tốc thắng, còn Trần việc chỉnh đốn quân sự, tu sửa chiến thuyền, mai táng binh  
Quốc Tuấn thì chọn phương án trường kỳ kháng chiến. Sự sĩ tử trận,… thì việc bổ sung lương thực và nước ngọt cũng  
lựa chọn sáng suốt này đã cho thấy sự quyết đoán, tư duy rất được xem trọng. Tuy nhiên, số lượng nước ngọt quân  
nhạy bén và tầm nhìn chiến lược của hai vị tướng lĩnh trước Nguyên Mông có thể dự trữ mang theo là có hạn. Đồng thời,  
tình thế khó khăn lúc bấy giờ.  
quân Nguyên Mông không thể luôn lênh đênh ngoài khơi vì  
số lượng nước uống và lương thực cung cấp cho toàn quân  
mỗi ngày là rất lớn.  
2.3.2.2 Phòng thủ và phản công  
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bổ sung nước  
uống và lương thực, Tokimune đã ra lệnh ngăn cản địch trên  
bờ biển, cố gắng không cho địch tiến sâu vào đất liền. Việc  
ngăn cản không cho quân địch đổ bộ và tiến sâu vào bờ sẽ  
chặn đứng nguồn tiếp viện lương thực của địch, đặc biệt là  
nguồn nước ngọt. Nếu Nhật Bản thành công ngăn chặn quân  
Nguyên Mông không cho đổ bộ lên bờ, đồng nghĩa với việc  
cắt đứt nguồn tiếp viện nước ngọt và lương thực. Nói cách  
khác, giả sử quân Nhật có thể giữ chân được quân Nguyên  
Mông ngoài khơi trong thời gian đủ lâu thì cũng đồng nghĩa  
với việc Nhật Bản có thể “không chiến mà thắng”.  
Tương tự như vậy, năm 1285, khi phải đối mặt với sáu  
mươi vạn quân Nguyên Mông tiến đến ồ ạt, Trần Quốc Tuấn  
đã lựa chọn rút lui chiến lược và thực hiện kế sách “vườn  
không nhà trống” để bảo toàn lực lượng. Bên cạnh đó, quân  
Đại Việt cũng tổ chức tập kích đội quân tải lương thực của  
Trương Văn Hổ. Đây là đội quân hậu cần cung cấp lương  
thực cho đại quân Nguyên Mông nhưng lực lượng bảo vệ lại  
yếu. Quân Đại Việt không mất quá nhiều công sức để triệt  
hạ đội quân này nhưng lại gây tác động rất lớn đến quân  
Nguyên Mông. Quân Nguyên Mông buộc phải viễn chinh  
trong tình trạng thiếu thốn lương thực, từ đó trực tiếp làm  
suy giảm sức mạnh chiến đấu của quân lính.  
Thứ ba, chiến lược “linh hoạt lợi dụng lợi thế và sở  
trường để tấn công địch”. Nói như Suzuki Hiroki, “chỉ có  
ưu thế thì không thể chiến thắng, mà nó gắn liền với hành  
động tạo ra hoàn cảnh phát huy lợi thế” [Suzuki Hiroki,  
2016: 3]. Sức mạnh quân sự của quân Nguyên Mông nằm ở  
lối tiến quân ồ ạt, điều động toàn bộ binh lực xông lên phía  
trước và sử dụng nhiều vũ khí tiên tiến lúc bấy giờ như hỏa  
dược, pháo cối, máy bắn đá... Tuy nhiên, thế mạnh quân sự  
này không được phát huy hiệu quả đối với chiến trường Đại  
Việt và Nhật Bản.  
Khi xâm lược Nhật Bản, một mặt quân Nguyên Mông phải  
tổ chức hải quân vượt biển, một mặt máy bắn đá cồng kềnh  
khó vận chuyển vào bờ, do đó máy bắn đá không thể phát  
huy hiệu quả trong cuộc chiến này. Khi chiến thuyền quân  
Nguyên Mông tiến vào vịnh Hakata, binh lính sẽ từ thuyền  
lớn xuống thuyền nhỏ, rồi từ thuyền nhỏ tiếp cận bờ, mỗi lần  
như vậy thuyền nhỏ chỉ chở được khoảng mười lăm người  
và phải đối mặt với lực lượng phòng ngự của võ sĩ Nhật Bản  
đợi sẵn trên bờ. Đây là cơ hội cho các võ sĩ Nhật Bản chủ  
động phản công do quân Nguyên Mông bị phân tán, rất khó  
quy tụ sức mạnh tập thể, nếu tấn công vào thời điểm này thì  
sức mạnh công phá sẽ tăng cao. Hơn nữa, những thuyền nhỏ  
sau khi đưa quân Nguyên Mông đổ bộ lên bờ sẽ được kéo về  
chiến thuyền để chuẩn bị cho đợt đổ bộ tiếp theo. Việc di  
chuyển đi đi về về này tương đối mất thời gian, quân Nhật  
nhân cơ hội tiêu diệt lần lượt toán đổ bộ mà không phải đối  
mặt với đội quân chủ lực áp đảo về mặt số lượng ngay từ khi  
bắt đầu cuộc chiến.  
Kết quả thành bại của một cuộc chiến tranh quyết định  
không chỉ bởi sự tương quan lực lượng hai bên. Một trong  
những nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến kết quả cuộc  
chiến là khả năng đánh giá tình hình thực tế để vạch ra được  
một chiến lược phù hợp. Khi chiến đấu với quân Nguyên  
Mông, Trần Quốc Tuấn và Hojo Tokimune đều vận dụng  
linh hoạt các chiến lược và chiến thuật phù hợp đặt trong mối  
tương quan lực lượng với quân Nguyên Mông.  
Thứ nhất, chiến lược “không đối đầu trực tiếp với quân  
lực của địch”. Trong cả hai lần xâm lược Nhật Bản, quân  
Nguyên Mông đều thành công tiến sâu vào vịnh Hakata và  
đổ bộ lên bờ ở một số vị trí chiến lược như Hakozaki,  
Momochihara và Imazu. Phía Nhật Bản đã tổ chức phòng  
ngự bằng tường đá, sử dụng vũ khí cung tên đốt thuyền địch,  
dùng kỵ binh đối đầu với bộ binh. Trong cuộc chạm trán trên  
đất liền, các võ sĩ Nhật Bản đã chiến đấu theo từng nhóm  
nhỏ, đặt chiến trường ở nơi hiểm yếu, cố gắng rút ngắn  
khoảng cách với đối thủ để nhanh chóng đi vào cận chiến,  
qua đó vô hiệu hóa thói quen tấn công ồ ạt của quân Nguyên  
Mông. “Quân Nhật Bản có thói quen bắn tên lúc mở trận,  
sau khi gây ra tổn thất nặng nề cho quân địch mới tiến vào  
đánh giáp lá cà” [Matsumura Tsutomu 2003: 69]. Nhờ chiến  
lược này, quân Nhật Bản mặc dù có số lượng ít hơn nhưng  
đã giữ vững chiến tuyến một thời gian dài, kìm chế tốc độ  
tiến sâu vào đất liền của quân Nguyên Mông.  
Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, các võ sĩ Nhật Bản  
đã nhiều lần đối đầu trực tiếp với quân Nguyên Mông và bị  
thất bại. Tuy nhiên, đến cuộc kháng chiến lần thứ hai thì rất  
ít xảy ra những cuộc xung đột trực diện của quân đội Nhật  
Bản với cánh quân chủ lực Nguyên Mông, mà chủ yếu  
chuyển sang lối đánh du kích mang lại hiệu quả hơn.  
Trong cuộc kháng chiến của Đại Việt, khi quân Nguyên  
Mông tiến công ồ ạt từ nhiều phía, Trần Quốc Tuấn đã chủ  
trương rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng. Quân Đại  
Việt chủ động lựa chọn né tránh mũi nhọn tấn công của địch,  
bỏ thành Thăng Long nhưng cố thủ ở Nam Định, tránh đối  
đầu trực tiếp với thế tấn công hung mãnh của địch. Đồng  
thời, quân Nguyên Mông bị bối rối không xác định được vị  
trí cánh quân chủ lực của Đại Việt, do đó buộc phải phân tán  
lực lượng chiếm đóng ở nhiều vị trí, quân lính luôn trong  
trạng thái căng thẳng bị động phòng ngự, tạo cơ hội cho quân  
Đại Việt chủ động tổ chức phản công.  
Thứ hai, chiến lược “ngăn chặn nguồn tiếp tế, bổ sung  
lương thực, nước uống của địch”. Khi quân Nguyên Mông  
hành quân, ngoài số lương thực giới hạn được vận chuyển  
theo đoàn, thì còn liên tục bổ sung lương thực bằng cách  
chiếm đoạt vơ vét ở những nơi hành quân đi qua. Ngăn chặn  
không cho quân Nguyên Mông nhận được tiếp tế lương thực  
tại chỗ cũng đồng nghĩa với việc làm suy yếu năng lực chiến  
đấu của địch.  
Đối với bất kỳ một chuyến hàng hải nào, việc bổ sung  
nguồn nước luôn được ưu tiên hàng đầu. Nói như Cao Văn  
Liên, “một quân đội mà thiếu lương thực thì dù có hùng  
Khi chiến đấu ngăn cản không cho quân Nguyên Mông đổ  
bộ lên bờ, thành phần tham chiến về phía Nhật Bản là những  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
22  
Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII  
võ sĩ Kamakura cưỡi ngựa và đoàn võ sĩ tùy tùng trong vai và giữ nước của các dân tộc. Đó là những kinh nghiệm quân  
trò bộ binh. Trong khi quân Nguyên Mông rải rác khó quy tụ sự, chiến tranh vũ trang, đấu tranh ngoại giao,… được đúc  
lực lượng do không thiết lập được cứ điểm trên bờ, thì quân kết từ xương máu của bao thế hệ. Chỉ có sự kết hợp hợp lý  
đội Nhật Bản với số lượng ít hơn đã giành được ưu thế. Số giữa phát triển kinh tế và củng cố an ninh quốc phòng mới  
lượng binh lính Nguyên Mông bị giết và bị thương trong trận có thể đảm bảo được sự phát triển bền vững của đất nước.  
đối đầu với kỵ binh Nhật Bản rất nhiều. Phía Nhật Bản đã  
tận dụng và phát huy lợi thế bờ biển để phát huy hiệu quả  
4. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Cao Văn Liên. Thủy hải chiến Việt Nam. Nhà xuất bản Thanh  
niên, 2017.  
[2] Đăng Khoa, Trần Thu (biên soạn). Trần Quốc Tuấn và kháng  
chiến chống Nguyên Mông. Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin,  
2014.  
[3] George Sansom, Lịch sử Nhật Bản. Nhà xuất bản Khoa học  
Xã hội Hà Nội, 1994.  
[4] Gustave Le Bon. Những qui luật tâm lý về sự tiến hóa của các  
dân tộc. Nhà xuất bản Thế giới, 2016.  
[5] Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm. Cuộc kháng chiến chống xâm  
lược Nguyên Mông: Thế kỉ 13. Nhà xuất bản Khoa học Xã  
hội, 1968.  
[6] Nguyễn Thị Thu Thủy. Việt Nam và Đông Nam A thꢀi kꢁ  
chống xâm lược Nguyên - Mông (Thế kỷ 13). Nhà xuất bản  
Trẻ, 1999.  
[7] Phan Ngọc Liên, Lịch sử Nhật Bản. Nhà xuất bản Văn hóa  
Thông tin, 1997.  
[8] Viện lịch sử quân sự Việt Nam. Anh hùng dân tộc, thiên tài  
quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định. Nhà xuất  
bản Quân đội nhân dân, 2000.  
chiến lược giữ chân địch trên biển, ngăn không cho đổ bộ lên  
đất liền.  
Liên hệ trường hợp của Đại Việt, nhà Trần cũng nhận thức  
rõ thế mạnh của quân Nguyên Mông là kỵ binh, nên quân  
Đại Việt thường lợi dụng địa hình sông ngòi, kênh rạch để  
phản công, cố gắng không đối đầu với kỵ binh Nguyên Mông  
trên vùng địa hình bằng phẳng. Khi phải đối đầu với đại quân  
Nguyên Mông tấn công ồ ạt, phía Đại Việt cũng đã lựa chọn  
cách đánh tránh đối đầu trực diện với quân chủ lực.  
Uy lực của chiến lược sẽ thay đổi tùy vào tình hình thực  
tế, trong mối tương quan với đối thủ hay hoàn cảnh tổ chức  
thực hiện chiến lược. Đối mặt với lực lượng quân sự hùng  
mạnh là quân Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn và Hojo  
Tokimune đã rất sáng suốt khi lựa chọn chiến thuật “tránh  
nặng tìm nhẹ” nhờ đó bảo toàn lực lượng trong khi vẫn chiến  
đấu tiêu hao lực lượng địch. Lịch sử đã cho thấy không bao  
giờ có cái gọi là chiến lược tuyệt đối, ngay cả một chiến lược  
được cho là mạnh nhất cũng không phải vạn năng.  
[9] Matsumura Tsutomu. Công cuộc phòng vệ của Nhật Bản nhìn  
từ biển. Nhà xuất bản PHP Kenkyusho, 2003.  
3. KẾT LUẬN  
Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược  
của Nhật Bản, Đại Việt và kết quả của nó khiến cả thế giới  
phải kinh ngạc. Nhiều người cho rằng kết quả cuối cùng này  
là một “thần tích” khi nhìn vào sự chênh lệch lực lượng và  
sức mạnh quân đội giữa bên xâm lược và bên kháng chiến.  
Trên thực tế, hai lần xâm lược của đế quốc Nguyên Mông  
vào thế kỷ XIII thực sự là một “nhân họa” mà dân tộc Nhật  
Bản, Đại Việt đã phải oằn mình chống đỡ. Bài viết với mong  
muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc khẳng định chiến  
thắng của Nhật Bản và Đại Việt trước quân Nguyên Mông  
hùng mạnh có một phần nguyên nhân xuất phát từ tài năng  
lãnh đạo kháng chiến của tầng lớp tướng lĩnh, đó là trường  
hợp của Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn. Từ việc lãnh  
đạo toàn dân chuẩn bị kháng chiến đến những quyết sách,  
chiến lược, chiến thuật được sử dụng trong những lần đụng  
độ với quân Nguyên Mông đã chứng minh tài năng quân sự  
kiệt xuất của hai vị tướng lĩnh tài ba là Trần Quốc Tuấn và  
Hojo Tokimune. Đây chính là “những con ngưꢀi kiệt xuất  
mà một dân tộc văn minh sở hữu”, nói như Gustave Le Bon,  
“tất cả mọi thế hệ, toàn bộ quá khứ của một chủng tộc đã  
sinh ra những thiên tài tốt đẹp này, họ là những đóa hoa  
tuyệt vꢀi của một chủng tộc. Họ là vinh quang đích thực của  
một quốc gia, và mỗi thành viên trong đó, cho đến kẻ khiêm  
tốn nhất, cũng có thể tự hào vì họ. Họ không xuất hiện tình  
cꢀ hay do phép màu, mà đại diện cho sự hoàn mỹ của một  
quá khứ dài lâu” [Gustave Le Bon, 2016: 202].  
(松村 劭, 海から見た日本の防衛,PHP 研究所, 2003)  
[10] Suzuki Hiroki. Chiến lược học từ lịch sử. Nhà xuất bản  
Diamond, 2016.  
鈴木 博毅 ,戦略は歴史から学べ,ダイヤモンド社, 2016)  
[11] Hattori Hideo. Mông Cổ xâm lược. Nhà xuất bản Yamagawa,  
2014.  
(服部 英雄 (2014)、蒙古襲来、山川出版社)  
[12] Izawa Motohiko. Izawa Motohiko - Lịch sử Nhật Bản với  
những cuộc giao tranh xung đột. Nhà xuất bản Kadokawa,  
2015.  
(井沢 元彦 (2015)、井沢元彦の激闘の日本史 北条時宗と  
元寇の危機、角川学芸出版)  
[13] Kitaoka Masatoshi. Mông Cổ xâm lược và cuộc chiến bảo vệ  
Tổ quốc. Nhà xuất bản Shoubunsha, 2018.  
(北岡 正敏 (2018)、モンゴル襲来と国土防衛戦、叢文社)  
[14] Matsumura Tsutomu, Công cuộc phòng vệ của Nhật Bản nhìn  
từ biển. Nhà xuất bản PHP Kenkyusho, 2003.  
(松村 劭 (2003)、海から見た日本の防衛、PHP 研究所)  
[15] Murai Shosuke. Hojo Tokimune và cuộc xâm lược của Mông  
Cổ. Nhà xuất bản NHK, 2001.  
(村井 章介 (2001)、北条時宗と蒙古襲来、日本放送出版協  
会)  
[16] Suzuki Hiroki. Chiến lược học từ lịch sử. Nhà xuất bản  
Diamond, 2016.  
ꢀ鈴木 博毅 (2016)、戦略は歴史から学べ、ダイヤモンド社)  
[17] Shinmura Izuru. Từ điển Kojien. Nhà xuất bản Iwanami,  
2008.  
Việt Nam đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa đất nước, bên cạnh những cố gắng vươn mình bắt kịp  
trình độ kỹ thuật tiên tiến của thế giới, chúng ta cần phải tiếp  
tục học hỏi những bài học từ quá khứ đấu tranh dựng nước  
ꢀ新村 出 (2008), 広辞苑、岩波書店)  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
23  
pdf 7 trang Thùy Anh 16660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: Tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhojo_tokimune_va_tran_quoc_tuan_tuong_linh_tai_ba_trong_cuoc.pdf