Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: Tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII
JSLHU
JOURNAL OF SCIENCE
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng 2020, 11, 017-023
OF LAC HONG UNIVERSITY
HOJO TOKIMUNE VÀ TRẦN QUỐC TUẤN: TƯỚNG LĨNH TÀI BA
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN MÔNG THẾ KỶ XIII
HOJO TOKIMUNE AND TRAN QUOC TUAN: TALENTED
COMMANDERS IN THE WAR AGAINST THE MONGOL INVASIONS
(13TH CENTURY)
Văn Tường Vi
Khoa Đông Phương học, Đại học Lạc Hồng, Việt Nam.
TÓM TẮT. Vào thế kỷ XIII, Đại Việt và Nhật Bản đồng thời đối mặt với nguy cơ xâm lược đến từ đế quốc Nguyên Mông.
Tuy nhiên tất cả các cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông vào Đại Việt và Nhật Bản đều thất bại. Bài viết với mục tiêu lý
giải nhân tố tài năng lãnh đạo của tướng lĩnh đã góp phần đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến, cụ thể qua trường hợp
Trần Quốc Tuấn (Đại Việt) và Hojo Tokimune (Nhật Bản). Bài viết trình bày cuộc đời, sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn, Hojo
Tokimune đặt trong bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Nhật Bản, Đại Việt vào thế kỷ XIII, những chiến lược và chiến thuật
được sử dụng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Qua đó, bài viết phân tích, lập luận và chứng minh nhân
tố tài năng lãnh đạo là một trong những nguyên nhân đem lại chiến thắng cho Đại Việt và Nhật Bản trước đế quốc Nguyên
Mông hùng mạnh.
TỪ KHOÁ. Đế quốc Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn, Hojo Tokimune, nhà Trần, Mạc phủ Kamakura.
ABSTRACT. In the 13th century, Viet Nam and Japan faced up to the invasion of the Mongol Empire. However, all of the
Mongol invasions to Viet Nam and Japan ended in failure. We are trying to explain scientifically that the talent of leading
the resistance of Tran Quoc Tuan (Viet Nam) and Hojo Tokimune (Japan) were one of the reasons leading to victory. In the
content of the article, we make an overview of the life, policies and strategies of Tran Quoc Tuan and Hojo Tokimune through
the economic, political, social background of Japan and Viet Nam in the 13th century to clarify the reason above.
KEYWORDS. Mongol empire, Tran Quoc Tuan, Hojo Tokimune, the Tran dynasty, Kamakura shogunate.
định chiến thắng” [Hà Văn Tấn, 1968: 322]. Tuy nhiên, phần
đề cập đến tài lãnh đạo của Trần Quốc Tuấn vẫn còn dừng
lại ở việc trình bày chiến công, chưa thấy đúc kết lại theo hệ
thống. Phần phân tích chi tiết về chiến công, tài năng lãnh
đạo và nghiệp tích của Trần Quốc Tuấn lại được trình bày
khá chi tiết trong cuốn cuốn “Trần Quốc Tuấn và kháng
chiến chống Nguyên Mông” (2014) do Đăng Khoa và Trần
Thu biên soạn; cuốn “Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự
Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định” (2000) do Viện
lịch sử quân sự Việt Nam biên tập;.v.v.. Chúng tôi tìm thấy
nhiều tư liệu hữu ích khi phân tích và tổng hợp nghệ thuật
quân sự của Trần Quốc Tuấn từ những tác phẩm này như
cách xác định vị trí chiến trường, lối chiến đấu linh hoạt căn
cứ theo địa hình, nguồn tài nguyên có sẵn,… Đồng thời, đức
độ và cách đối nhân xử thế của Trần Quốc Tuấn cũng được
khắc họa rõ ràng. Cuốn “Việt Nam và Đông Nam A thꢀi kꢁ
chống xâm lược Nguyên - Mông (Thế kỷ 13)” (1999) của tác
giả Nguyễn Thị Thu Thủy là một trong số những tài liệu hiếm
hoi viết bằng tiếng Việt đề cập đến cuộc kháng chiến chống
Nguyên Mông trong phạm vi rộng hơn như Chiêm Thành,
quần đảo Java,… Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu
bằng tiếng Việt mà chúng tôi tiếp cận được đã phần nào đi
sâu giải thích nguyên nhân chiến thắng của cuộc kháng chiến
có sự góp mặt của nhân tố con người, cụ thể là tướng Trần
Quốc Tuấn, nhưng vẫn chưa tìm thấy công trình nào so sánh
đối chiếu nghệ thuật quân sự giữa Trần Quốc Tuấn với những
tướng quân khác cùng thời, cùng kẻ thù là đế quốc Nguyên
Mông.
1. DẪN NHẬP
Sự trỗi dậy và bành trướng của đế quốc Nguyên Mông ở
phía bắc đại lục châu Á vào thế kỷ XIII là một sự kiện lịch
sử thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trong và ngoài
nước. Khi nghiên cứu về nguyên nhân thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên Mông trường hợp Nhật Bản
và Đại Việt, chúng tôi cho rằng có nhiều nhân tố đã góp phần
vào chiến thắng này như yếu tố con người, sức mạnh quân
sự, thể chế chính trị, quan hệ quốc tế và thời tiết khí hậu.
Trong bài báo này, thông qua việc trình bày bối cảnh xã hội
của Đại Việt dưới thời nhà Trần, Nhật Bản dưới thời Mạc
phủ Kamakura, đồng thời trình bày nghiệp tích và tài năng
thao lược của Trần Quốc Tuấn và Hojo Tokimune, qua đó
làm nổi bật vai trò của hai vị tướng trong việc dẫn dắt dân
tộc chiến thắng một tập đoàn quân sự hùng mạnh nhất thế
giới lúc bấy giờ là đế quốc Nguyên Mông.
Trong phạm vi nguồn tư liệu trong nước, chúng tôi tìm
thấy nhiều tài liệu viết về cuộc kháng chiến chống Nguyên
Mông của của Đại Việt. Qua những công trình nghiên cứu
này, cuộc kháng chiến của quân dân nhà Trần vào thế kỷ XIII
đã được tái dựng lại chi tiết từ các sự kiện lịch sử, thông tin
về số lượng quân đội đến nghệ thuật quân sự cũng như các
bài học kinh nghiệm đúc kết được. Nhân vật Trần Quốc Tuấn
cũng được nhắc đến như một người anh hùng dân tộc với
những chiến công, đức độ và tài năng thao lược. Trong đó
tiêu biểu là cuốn “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên
Mông: thế kỷ XIII” (1975) của tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị
Tâm. Công trình này đã đưa ra những lý giải rất khoa học và
cụ thể về nguyên nhân chiến thắng của Đại Việt, trong đó
nêu rõ vai trò lãnh đạo của quý tộc nhà Trần và sự đoàn kết
chiến đấu của quân đội, “chính sức mạnh đoàn kết và tinh
thần quyết chiến quyết thắng của toàn dân là yếu tố quyết
Received: April 19th 2020
Accepted: July 23th 2020
*Corresponding Author
Email: [email protected]
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng
17
Văn Tưꢀng Vi
Khi nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Nguyên Mông dưới thời Trần và Mạc phủ Kamakura một
Mông của Nhật Bản vào thế kỷ XIII, chúng tôi tham khảo cách có hệ thống, theo lịch đạitrên những tài liệu sử học đáng
chủ yếu là các công trình nghiên cứu khoa học của các học tin cậy. Phương pháp logic giúp phân tích kế hoạch và hành
giả Nhật Bản. Nội dung các công trình này chủ yếu thuật lại động của các bên tham chiến, từ đó phát hiện mối quan hệ
các sự kiện lịch sử, số liệu, nhân vật,… nhưng chưa thấy nhân quả giữa các sự kiện lịch sử, hiểu rõ ngọn nguồn vấn
phần tổng hợp chiến lược – chiến thuật. Yếu tố con người, đề, tránh đưa ra những nhận định chủ quan, sai lệch. Ngoài
cụ thể là nhân vật Hojo Tokimune mặc dù được đề cập đến ra, bài viết còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để
nhưng chưa thấy làm rõ vai trò của nhân vật này trong sự phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt trong nghiệp
thành công cuối cùng của cuộc chiến. Trong số đó tiêu biểu tích và quyết sách của hai vị tướng sĩ khi chỉ huy của kháng
chiến chống quân Nguyên Mông.
là cuốn “北条時宗と蒙古襲来” (Hojo Tokimune và cuộc xâm
lược của Nguyên Mông) (2001) của tác giả Murai Shosuke
là một công trình viết về sự nghiệp của nhân vật Hojo
Tokimune gắn liền với chính quyền Mạc phủ Kamakura và
thế lực của dòng họ Hojo. Cuốn “蒙古襲来” (Mông Cổ xâm
lược) (2014) của tác giả Hattori Hideo gồm 10 chương với
hơn 500 trang trình bày khá chi tiết những sự kiện lịch sử
xoay quanh cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của
2. NỘI DUNG
2.1 Một số kiến thức liên quan
2.1.1 Đế quốc Nguyên Mông
Buổi ban đầu của đế quốc Nguyên Mông là một nhóm rời
rạc những bộ tộc sống bằng nghề chăn nuôi du mục trên các
thảo nguyên rộng lớn phía bắc đại lục châu Á vào thế kỷ XII.
Giữa các bộ lạc liên tục xảy ra xung đột tranh giành quyền
khai thác các đồng cỏ chăn nuôi, quyền săn bắn và chi phối
liên bộ lạc. Mãi đến đầu thế kỷ XIII, Thiết Mộc Chân (帖木
Nhật Bản. Cuốn “モンゴル襲来と国土防衛戦” (Mông Cổ xâm
lược và cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc) (2018) của tác giả
Kitaoka Masatoshi cung cấp nhiều thông tin học thuật về các
sự kiện lịch sử và số liệu có liên quan đến hai cuộc xâm lược
của đế quốc Nguyên Mông như: số lượng binh lính, cấu tạo
và tốc độ chiến thuyền, sức mạnh vũ khí,... Đặc biệt ở chương
7 có phần đánh giá về nhân vật Hojo Tokimune và một số
chiến thuật đã được sử dụng trong chiến đấu. Trong quá trình
nghiên cứu, chúng tôi cũng có tham khảo thêm một số thông
真 Temujin) tập hợp được một lực lượng quân sự nòng cốt và
tiến hành nhiều cuộc chiến thâu tóm các bộ tộc du mục khác
trên thảo nguyên. Đến năm 1206, Thiết Mộc Chân trở thành
“Đại Hãn” (大汗) - người lãnh đạo tối cao của Mông Cổ, xưng
là Thành Cát Tư Hãn (成吉思汗 Genghis Khan), lập nên nhà
tin liên quan đến chiến lược và chiến thuật đã được sử dụng nước phong kiến trung ương tập quyền là vương quốc Mông
Cổ.
Thành Cát Tư Hãn đã tổ chức các cuộc viễn chinh xâm
trong cuộc kháng chiến như cuốn “海から見た日本の防衛”
(Công cuộc phòng vệ của Nhật Bản nhìn từ biển) (2003) của
Matsumura Tsutomu; Cuốn “戦略は歴史から学べ” (Chiến lược
học từ lịch sử) (2016) của tác giả Suzuki Hiroki; Cuốn “激闘
lược các vùng lãnh thổ lân cận. Vương quốc Mông Cổ dần
lớn mạnh và trở thành một thế lực vượt trội ở phương Bắc.
Thành Cát Tư Hãn và các Hãn hậu duệ đã liên tục tổ chức
các viễn chinh, lãnh thổ dưới quyền cai trị của các Hãn Mông
Cổ trải dài khắp lục địa Á – Âu. Đế quốc Mông Cổ hình
thành. Sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, các thế hệ Hãn
hậu duệ như Oa Khoát Đài (窩闊台 Ogedei), Mông Kha (蒙哥
の日本史 北条時宗と元寇の危機” (Lịch sử Nhật Bản với những
cuộc giao tranh xung đột – Hojo Tokimune và nguy cơ xâm
lược từ Nguyên Mông) của tác giả Izawa Motohiko… Tuy
nhiên, cũng giống như các công trình viết bằng tiếng Việt,
các học giả Nhật Bản chỉ chú trọng trình bày và phân tích
chủ đề xoay quanh cuộc kháng chiến của dân tộc mình, mà
chưa thấy đề cập đến cuộc kháng chiến của các dân tộc khác,
đặc biệt là Đại Việt. Mặt khác, liên quan đến cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên Mông của Nhật Bản, chúng tôi
còn tìm thấy một số công trình khác có trình bày sơ lược nội
dung, diễn biến cuộc kháng chiến như các sách giáo khoa,
các bộ thông sử như cuốn “Lịch sử Nhật Bản” do Phan Ngọc
Liên chủ biên (1997); cuốn “Lịch sử Nhật Bản” của Lê Văn
Quang (1998), cuốn “Lịch sử Nhật Bản” do Nguyễn Quốc
Hùng chủ biên (2007), cuốn Lịch sử Nhật Bản của George
Sansom do Lê Năng An dịch sang tiếng Việt (1994)… Các
công trình này chỉ trình bày diễn biến, các sự kiện lịch sử liên
quan đến cuộc kháng chiến một cách sơ lược, khái quát,
không đề cập nhiều đến chiến lược, chiến thuật cũng như
nhân tố con người góp phần trong chiến thắng cuối cùng. Vì
vậy, chúng tôi viết bài báo này với mục đích cung cấp thêm
một góc nhìn mới về cuộc kháng chiến của hai dân tộc thông
qua điểm tương đồng và dị biệt trong vai trò lãnh đạo của
tướng lĩnh, cụ thể là hai nhân vật Hojo Tokimune và Trần
Quốc Tuấn.
Mongke), Hốt Tất Liệt (忽必烈 Kubilai) tiếp tục các cuộc viễn
chinh xâm lược. Năm 1271, Hốt Tất Liệt quyết định dời đô
về Đại Đô (大都), lên ngôi Hoàng đế, mở đầu triều đại nhà
Nguyên.
Tại Việt Nam, các học giả khi nghiên cứu lịch sử thời kỳ
này thường quen dùng cách gọi “đế quốc Nguyên Mông”,
“nhà Nguyên” hay “quân Nguyên Mông” để chỉ chính quyền
hay quân đội của vương triều Nguyên dưới sự cai trị của các
hoàng đế xuất thân Mông Cổ.
2.1.2 Đại Việt và cuộc chuyển giao quyền lực Lý – Trần
Từ đầu thế kỷ XIII, tình hình nước Đại Việt dưới thời Lý
trở nên bất ổn, chiến tranh loạn lạc khắp nơi, các thế lực cát
cứ nổi lên tranh đoạt quyền lực ở địa phương, quyền lực triều
đình vô cùng suy yếu. Trong bối cảnh đó, nhà Trần dần thâu
tóm chính quyền và trở thành một thế lực quý tộc vững mạnh.
Từ năm 1220, Trần Thừa và Trần Tự Khánh đánh bại các thế
lực đối địch, chiếm vùng Hà Nam, sau đó tiến dọc theo hai
bờ sông Hồng chiếm vùng Thái Nguyên và Vĩnh Phúc, sau
đó bình định khu vực này. Thế lực của nhà Trần dần được
củng cố, chiếm giữ các vị trí quan trọng trong triều đình.
Năm 1223, Trần Thừa Khánh qua đời, Trần Thừa được
phong làm Phụ Quốc Thái Úy, Trần Thủ Độ được phong làm
Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, nắm giữ binh quyền nhà Lý. Năm
1225, Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu
Hoàng. Năm 1226, dưới sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Lý
Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, chấm
Bởi vì đây là một đề tài nghiên cứu vấn đề lịch sử với mục
đích làm rõ vai trò của Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn
trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông vào thế
kỷ XIII nên bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và
phương pháp logic. Phương pháp lịch sử giúp trình bày các
sự kiện lịch sử đã xảy ra trong cuộc kháng chiến chống quân
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng
18
Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII
dứt thời gian cai trị hơn hai trăm năm của vương triều nhà đội nhà Trần chiến đấu chống quân xâm lược. Trần Quốc
Lý.
Tuấn đã chủ động liên kết các lực lượng quân sự quý tộc nhà
Như vậy, nước Đại Việt đã trải qua một cuộc chuyển giao Trần, kêu gọi ý chí chiến đấu toàn dân để đạt đến mục tiêu
quyền lực tương đối êm thấm từ nhà Lý sang nhà Trần. Cuộc thống nhất mặt trận kháng chiến chống quân Nguyên Mông.
chuyển giao quyền lực không ảnh hưởng hay xáo trộn đến Đối mặt với nguy cơ mất nước, Trần Quốc Tuấn đã nhận rõ
tình hình kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ. Nhà Trần đã sự tương quan lực lượng, sở trường, sở đoản của quân đội
chậm rãi mở rộng quyền kiểm soát của mình, triệt tiêu dần nhà Trần và quân Nguyên Mông, từ đó vận dụng một cách
sức mạnh của nhà Lý, cuối cùng soán ngôi nhà Lý để trở linh hoạt những chiến lược, chiến thuật để dẫn dắt dân tộc
thành thế lực chính trị kiểm soát Đại Việt một cách danh chiến thắng đội quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới
chính ngôn thuận. Từ đây, nhà Trần bắt đầu xây dựng đất lúc bấy giờ.
nước thống nhất và phát triển vững vàng mãi đến thế kỷ XIV.
2.1.3 Mạc phủ Kamakura và dòng họ Hojo
Từ “Mạc phủ” (幕府), trong đó “mạc” (幕) là “tấm rèm”,
“phủ” (府) là “đại bản doanh, trụ sở, cơ quan”, “Mạc phủ”
được “lấy từ hình ảnh Tướng quân điều hành công việc trong
những tấm màn vây trên chiến trưꢀng, căn cứ hay doanh trại,
trụ sở của Tướng quân, cơ quan hành chính của chính phủ
võ sĩ, hay chính quyền của tầng lớp võ sĩ”1 [Shinmura Izuru,
2008: 2239].
Kể từ hậu kỳ thời Heian (平安), quyền lực của dòng họ
Fujiwara (藤原) ngày càng suy yếu, bị hai dòng họ Taira (平)
và Minamoto (源) liên hợp lật đổ. Về sau, mâu thuẫn phát
sinh giữa hai dòng họ này, dòng họ Taira bị đánh bại bởi
dòng họ Minamoto. Sau khi Minamoto Yoritomo (源 頼朝
1147-1199) quyết định đặt căn cứ chính quyền tại Kamakura
(鎌倉), bắt đầu thời kỳ Mạc phủ Kamakura.
Mạc phủ là một chính quyền của tầng lớp võ sĩ (武家政権)
do Tướng quân (将軍) đứng đầu và tồn tại song song với triều
đình lúc này chỉ còn tính biểu tượng. Mạc phủ Kamakura kéo
dài từ năm 1192 đến năm 1368. Sau khi Yoritomo qua đời
vào năm 1199, quyền lực Tướng quân suy sút, dòng họ Hojo
thâu tóm chính quyền và điều hành đất nước dưới danh nghĩa
“Chấp quyền” (執権 Shikken). Chấp quyền thay mặt Tướng
quân mà Tướng quân lại dưới danh nghĩa Thiên Hoàng.
Hình 1. Trần Quốc Tuấn (1228-1300)2
Thiên Hoàng lúc bấy giờ đã rời khỏi sân khấu chính trị Nhật
2.2.2 Hojo Tokimune
Bản và không còn thực quyền gì ngoài việc chủ trì lễ tấn
phong nhận chức cho các đời Tướng quân sau này. Quyền
lực thực sự do Mạc phủ nắm giữ và thực thi nhờ vào các lực
lượng võ sĩ vũ trang. Xã hội thời Kamakura là một xã hội
được quản lý bởi tầng lớp võ sĩ, nên nó có tính chất của một
xã hội quân sự hóa.
Trong suốt thời kỳ Mạc phủ Kamakura, ngoại trừ thời gian
Minamoto Yoritomo tại vị, dòng họ Hojo đã nắm giữ thực
quyền chính trị và kiểm soát toàn bộ Nhật Bản. Những chính
sách dưới sự xét duyệt của dòng họ Hojo được đánh giá là
rất khoan nhượng, tích cực và được lòng dân. Nhà Hojo có
quyền thu tô từ dân nhưng lại không giữ riêng cho mình mà
phân phát cho chư hầu, đền chùa, xây dựng mối liên kết giao
hảo với các thế lực địa phương. Chính nhờ vậy, sau khi nhà
Hojo phân phối rộng rãi chức vụ hành chính tại các tỉnh miền
tây, khu vực này đã được đặt dưới quyền kiểm soát của Mạc
phủ Kamakura.
Hojo Tokimune (北条時宗 1251-1284) (Hình 2) là vị Chấp
quyền đời thứ tám của Mạc phủ Kamakura, nhân vật đã có
công dẫn dắt dân tộc Nhật Bản vượt qua hai cuộc xâm lược
của quân Nguyên Mông năm 1271 và năm 1284. Được hun
đúc từ chiếc nôi quyền lực của gia tộc, Tokimune từ sớm đã
tiếp xúc với những nhân vật chính trị kiệt xuất của Nhật Bản
và các quốc gia láng giềng lúc bấy giờ, đó là những tướng
lĩnh chỉ huy quân đội tài ba, những văn nhân tri thức hiểu
2.2 Trần Quốc Tuấn và Hojo Tokimune
2.2.1 Trần Quốc Tuấn
Trần Quốc Tuấn (陳國峻 1228-1300) (Hình 1) hay còn
được biết đến với tên gọi Trần Quốc Tuấn (陳興道), sinh ra
trong gia đình tôn thất nhà Trần, phụ thân là Trần Liễu, chú
ruột là vua Trần Thái Tông Trần Cảnh. Được hậu thuẫn bởi
quyền lực và tài lực của gia tộc, từ nhỏ Trần Quốc Tuấn được
nuôi dạy để trở thành người kế thừa gia tộc. Trần Quốc Tuấn
đã tiếp thu nền giáo dục quý tộc chú trọng rèn luyện song
song văn võ, có cơ hội tiếp xúc giao lưu với những bậc tri
thức ưu tú và cao tăng trong và ngoài nước lúc bấy giờ.
Khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt vào thế
kỷ XIII, Trần Quốc Tuấn được giao nhiệm vụ chỉ huy quân
2 Nguồn Wikimedia:
12/12/2019).
1 Nguyên văn:(もと将軍が戦場にあって幕中で事を治めたか
らいう)将軍の居所または軍営。柳営。武家政治の政庁。ま
た、武家政権そのものをいう。
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng
19
Văn Tưꢀng Vi
biết sâu rộng về lịch sử Trung Quốc, những thiền sư ưu tú,
Thứ hai, Tokimune và Trần Quốc Tuấn được sinh ra và
giới võ sĩ chuyên nghiệp của Mạc phủ Kamakura. Mặc dù lớn lên trong một xã hội tương đối ổn định về mặt chính trị.
xuất thân danh gia vọng tộc nhưng Tokimune đã được nuôi Tại Nhật Bản, công cuộc chuyển giao quyền lực từ triều đình
dưỡng và uốn nắn từ nhỏ theo tinh thần võ sĩ. Bên cạnh đó, sang thế lực của Tướng quân đã bước đầu ổn định. Sau đó,
Tokimune còn được biết đến là một nhà lãnh đạo rất quan nhà Hojo chiếm giữ thực quyền chính trị từ Tướng quân, dần
tâm đến cuộc sống của người dân.
dần mở rộng phạm vi thế lực ra khắp vùng lãnh thổ. Tương
Như vậy, Tokimune và Trần Quốc Tuấn đều có xuất thân tự như vậy, Đại Việt cũng đã hoàn thành việc chuyển giao
danh gia vọng tộc, có quan hệ họ hàng với hoàng gia và mối quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần. Vua quan nhà Trần đã
liên kết sâu xa với triều đình đương thời. Cả hai vị tướng đều làm tốt công việc trị nước, đưa đất nước nhanh chóng vượt
được sinh ra trong gia đình võ tướng, được nuôi dưỡng để qua thời kỳ khó khăn từ cuối thời Lý để phát triển nền kinh
trở thành người lãnh đạo quân đội. Như vậy, xuất phát điểm tế. Chính vì dòng họ Hojo và nhà Trần đã tiếp giữ thực quyền
của Tokimune và Trần Quốc Tuấn có nét tương đồng với chính trị lúc bấy giờ nên Tokimune và Trần Quốc Tuấn mới
nhau, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến những thành tựu vẻ thuận lợi nắm quyền lãnh đạo kháng chiến sau này.
vang sau này.
2.3 Vai trò của Trần Quốc Tuấn và Hojo Tokimune trong
Thứ nhất, bởi vì sinh ra trong gia đình có truyền thống
cuộc kháng chiến
quan võ, nên ngay từ nhỏ Tokimune và Trần Quốc Tuấn đã
được tạo điều kiện thuận lợi để trau dồi kiến thức về nghệ
thuật quân sự, rèn luyện võ nghệ, cưỡi ngựa, bắn cung. Mặt
khác, thông qua sự trợ giúp từ gia đình, Tokimune và Trần
Quốc Tuấn đã tiếp xúc với môi trường quân đội từ rất sớm,
có cơ hội học tập hệ thống, cách thức tổ chức quân đội, lập
uy tín bản thân cũng như tạo dựng được mối quan hệ với giai
cấp tướng lĩnh lúc bấy giờ. Bởi địa vị quý tộc của mình,
Tokimune và Trần Quốc Tuấn có cơ hội tiếp xúc với những
vị tướng kiệt xuất, thiền sư uyên bác, văn nhân nổi tiếng,
thương nhân quảng giao. Họ chính là nguồn tri thức quý báu
cho Tokimune và Trần Quốc Tuấn mở mang kiến thức ra thế
giới bên ngoài, nắm bắt tình hình kinh tế chính trị quốc tế,
những bài học kinh nghiệm trong chiến đấu,… những điều
này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hoạch định đường lối
đấu tranh và lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống quân
Nguyên Mông sau này. Có thể nói, chỗ dựa và nguồn lực gia
tộc có vai trò rất lớn trong việc nuôi dưỡng, vun trồng tài
năng của Tokimune và Trần Quốc Tuấn. Khi quân Nguyên
Mông xâm lược đất nước, dòng họ Hojo và nhà Trần đã sẵn
sàng cung cấp cho Nhật Bản và Đại Việt người lãnh đạo đủ
sức gánh vác vận mệnh dân tộc.
2.3.1 Thống nhất mặt trận kháng chiến dân tộc
Một cuộc chiến tranh muốn thành công thì trước tiên phải
xây dựng được một hậu phương vững chắc. Vai trò đóng góp
của hậu phương vào một cuộc chiến thể hiện qua việc tiếp tế
vũ trang, lương thực và đảm bảo nguồn binh lực được huấn
luyện đầy đủ, phù hợp. Một đội quân dù đông đảo và thiện
chiến nhưng nếu công tác chuẩn bị hậu phương không tốt thì
cũng sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt. Nói cách khác, sự thành
bại của một cuộc chiến tranh không chỉ quyết định bởi tố chất
của binh lính hay tính ưu việt của vũ khí mà nó còn phụ thuộc
rất nhiều vào tầm nhìn chiến lược của người lãnh đạo thông
qua công tác chuẩn bị chiến tranh. Tục ngữ nói “binh mã
chưa động, lương thảo đi trước”4, hiệu quả vận động hậu
phương có thể trở thành lợi thế hay điểm yếu của một cuộc
chiến và gián tiếp ảnh hưởng năng lực chiến đấu của toàn
quân. Nói cách khác, hậu phương cần phải được chuẩn bị
“đúng lúc, đúng chỗ” trước khi xuất chiến.
Khi đứng trước nguy cơ xâm lược từ đế quốc Nguyên
Mông, công tác vận động hậu phương của Nhật Bản diễn ra
với nhịp độ khẩn trương và tinh thần đồng thuận cao độ.
Người Nhật đã đổ dồn toàn bộ sức người và sức của vào cuộc
kháng chiến này. Hojo Tokimune đã áp dụng chế độ trưng
binh thời chiến, ra lệnh cho các thế lực Ngự gia nhân vùng
Kyushu cùng với lực lượng võ sĩ địa phương chuẩn bị cho
cuộc kháng chiến. Mệnh lệnh được thông tri đến các khu vực,
đặc biệt là các vùng duyên hải như Sanuki (讃岐), Shikoku (
四 国 ), eo biển Tsushima và vùng xung quanh đó. Hojo
Tokimune cũng phát lệnh triệu tập các võ sĩ di chuyển về
Kyushu, rất nhiều võ sĩ tình nguyện tham gia chiến đấu đã
lên đường di chuyển về Hakata. Những võ tướng trực thuộc
dòng họ Hojo được cử đến bảo vệ những vị trí chiến lược.
“Tất cả những ngưꢀi dân Kyushu được lệnh tăng cưꢀng
phòng thủ. Tất cả những ngưꢀi dân Kyushu đang ở Kyoto
cũng được lệnh trở về quê hương tham gia phòng thủ”
[George Sansom, 1994: 559]. Lương thực, nước, vũ khí được
gấp rút vận chuyển đến chiến địa. Trong chiến đấu, những
võ sĩ bị thương sẽ được đưa ra khỏi chiến trường ngay lập
tức để trị liệu y tế.
Tokimune cũng ra lệnh tăng cường hệ thống phòng ngự
bằng cách xây dựng thêm các công trình phòng ngự dọc theo
bãi biển bao gồm các pháo đài, chiến lũy ở phía tây nam đảo
Honshu (本州) và vùng bờ biển tây bắc của đảo Kyushu. Bên
cạnh đó, Tokimune cũng cho chuẩn bị rất nhiều thuyền nhẹ,
Hình 2. Hojo Tokimune (1251-1284)3
3 Nguồn Wikimedia:
mune.jpg (Ngày truy cập: 12/12/2019).
4 兵马未动,粮草先行 (Binh mã vị động, lương thảo tiên hành).
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng
20
Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII
có thể cơ động tác chiến trên biển. Rút kinh nghiệm cuộc không thể đến từ “một sớm một chiều”, mà phải được gầy
kháng chiến năm 1274, quân địch đã đổ bộ tiến sâu vào vịnh dựng và nuôi dưỡng một thời gian dài bằng tài năng và đức
Hakata, cho nên Tokimune đã chủ động tăng cường khả năng độ của người thống lĩnh.
phòng thủ các vị trí chiến lược này bằng việc xây dựng dãy
tường đá kiên cố tại vịnh Hakata, từ miền đông mũi Shiga
2.3.2 Vận dụng chiến lược – chiến thuật phù hợp
dọc theo bờ biển vịnh Hakozaki đến tận Imazu. Dãy tường
đá được xây dựng trong suốt năm năm đã trở thành tuyến
phòng ngự quan trọng của quân Nhật Bản ngăn cản địch tiến
sâu vào đất liền.
2.3.2.1 Xác định vị trí phòng thủ
Việc xác định đúng vị trí chiến lược để gia tăng phòng thủ
là một nhân tố rất quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ
một cuộc chiến nào. Trong cả hai lần kháng chiến chống
quân Nguyên Mông, Hojo Tokimune đều xác định vị trí
phòng thủ chiến lược trọng điểm là vịnh Hakata, tập trung
toàn bộ lực lượng võ sĩ về cố thủ nơi này. Thứ nhất, nơi đây
là vị trí tiếp giáp gần nhất với bán đảo Triều Tiên, trong điều
kiện quân Nguyên Mông không quen đi biển, nơi đây sẽ là
đích tấn công được lựa chọn đầu tiên. Thứ hai, vịnh Hakata
là lối vào vào Kyushu, nơi tập trung ba mỏ lưu huỳnh lớn của
Nhật Bản.
Đối với trường hợp Đại Việt, Trần Quốc Tuấn đặt cứ điểm
kháng chiến tại phủ Thiên Trường6 và yêu cầu cố thủ nơi này
bằng mọi giá. Thiên Trường nằm ở vị trí dễ thủ dễ công, đồng
thời là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nhiều nhân tài, có thể
khai thác hiệu quả sức người và sức của. Thiên Trường cũng
là vùng đất được xem là kinh đô thứ hai của Đại Việt, tầm
quan trọng chỉ sau kinh thành Thăng Long. Trong cả lần
kháng chiến chống quân Nguyên Mông, quan quân nhà Trần
đều lựa chọn phủ Thiên Trường là điểm rút lui chiến lược và
duy trì sức mạnh phản công cho quân kháng chiến.
Có thể nói cả hai vị tướng đã thành công trong việc xác
định vị trí phòng thủ ngay từ đầu, điều này ảnh hưởng không
nhỏ đến toàn bộ cuộc kháng chiến sau này. Cả Tokimune và
Trần Quốc Tuấn đều căn cứ trên lợi thế bản địa khi xác định
vị trí phòng thủ. Về phía Nhật Bản, Tokimune lựa chọn vịnh
Hakata để làm vị trí phòng thủ vì nhằm vào lợi thế bờ biển:
quân Nguyên Mông không thạo đi biển, không quen với lối
chiến đấu trên thuyền và cách thức đổ bộ lên bờ. Tương tự
như vậy, Trần Quốc Tuấn lựa chọn phủ Thiên Trường bởi
địa hình và nguồn lực chi viện dồi dào từ vùng này. Tuy
nhiên, nếu nhìn vào vị trí phòng thủ của quân Nhật Bản và
Đại Việt thì có thể nhận ra điểm khác nhau trong chiến lược
phòng thủ của Tokimune và Trần Quốc Tuấn. Tokimune
quyết định đánh giữ chân địch ngay từ bờ biển, tuyệt đối
không cho tiến sâu vào bờ. Mọi nguồn lực đều đổ dồn vào
tuyến phòng thủ tại vịnh Hakata. Kế hoạch tác chiến của
Nhật Bản theo đó là “đánh nhanh, thắng nhanh”. Ngược lại,
Trần Quôc Tuấn dẫn dụ địch vào sâu trong đất liền, kết hợp
đánh du kích và rút lui chiến lược, theo đó kế hoạch tác chiến
của Trần Quốc Tuấn là “đánh lâu dài, dần dần tiêu hao được
sinh lực của địch, bồi dưỡng được lực lượng của ta, tương
quan lực lượng dần chuyển hóa theo phương hướng có lợi
cho ta và cuối cùng đánh bại được quân thù” [Hà Văn Tấn,
1968: 331]. Nếu phía Nhật Bản có lợi thế bờ biển, chỉ cần
cầm chân địch đủ lâu ngoài khơi thì có thể chiến thắng, thì
phía Đại Việt vốn nối liền đường biên giới phía bắc nên
không thể áp dụng lối “đánh nhanh, thắng nhanh” này. Mặt
khác, địa hình quần đảo của Nhật Bản lại rất khó khăn để tổ
chức phòng thủ trong đất liền như Đại Việt, một khi quân
Nguyên Mông chiếm giữ được Kyushu, lấy nơi này làm cứ
Đối với trường hợp Đại Việt, công tác chuẩn bị chiến tranh
được thực hiện từ rất sớm. Quân đội được tuyển chọn kỹ
lưỡng và huấn luyện tại chỗ. Công tác trưng binh được thực
hiện kết hợp giữa quân đội triều đình và quân đội địa phương,
hay còn gọi là “hương binh”, “gia binh”. Đến tháng 11 năm
1258, các vua Trần đã ra lệnh cho cả nước chuẩn bị vũ khí
để đánh giặc. Bên cạnh đó, công tác đóng tàu thuyền và rèn
luyện thủy quân cũng được xem trọng. Các tướng lĩnh được
bổ nhiệm đến canh giữ những vị trí chiến lược chủ yếu.
Ngược lại với tinh thần chuẩn bị kháng chiến cao độ của
phía Nhật Bản, công tác chuẩn bị chiến tranh lại trở thành
gánh nặng cho quân Nguyên Mông. Bởi vì là một đội quân
viễn chinh xâm lược, quân Nguyên Mông không có nguồn
chi viện tại chỗ nên bị giới hạn rất nhiều trong việc chuẩn bị
lương thực và nước uống. Bởi mưu đồ bá chủ của đế quốc
Nguyên Mông, sinh hoạt của người dân vô cùng khốn khổ.
Dân chúng bị trưng thu lúa gạo, lương thực dẫn đến nạn đói
xảy ra khắp nơi. “Nhân dân Trung Quốc ở các tỉnh miền Nam
không những phải nạp thóc gạo mà còn phải chịu phu dịch
chuyển vận lương thực” [Hà Văn Tấn, 1968: 165]. Rất nhiều
người đã bỏ trốn để trốn tránh việc vận chuyển lương thực
cho quân đội Nguyên Mông.
Liên hệ với trường hợp Cao Ly5, chính quyền phong kiến
Cao Ly gần như bất lực trong công tác thống nhất mặt trận
kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Triều đình Cao Ly
đã rơi vào cảnh nội loạn và chia rẽ nội bộ với hai phái “chủ
chiến” và “chủ hòa”. Đối mặt với đại quân Nguyên Mông
tiến vào lãnh thổ, chính quyền Cao Ly mà đại diện là các
quan văn quan võ đã bỏ chạy, để mặc người dân ở lại chiến
đấu giữ thành. Chính quyền quý tộc đã kéo vào núi để gầy
dựng chiến tranh du kích. Thủ đô Gaegyong cũng được di
dời về Ganghwa-do. Tuy nhiên, chính quyền quý tộc Cao Ly
trong lúc chạy loạn vẫn sa đà vào thói sa hoa, tăng sưu thêm
thuế dẫn đến lòng dân căm phẫn. Sau khi người cầm quyền
tối cao là Choe Ui bị ám sát, chính quyền quý tộc Cao Ly sụp
đổ, Cao Ly không còn một thế lực chính trị đủ sức lãnh đạo
nhân dân kháng chiến. Khi quân Nguyên Mông ập đến, Cao
Ly từng bước giảng hòa với nhà Nguyên, tạo cơ hội cho
Nguyên Mông xâm nhập vào nội bộ các bè phái, từng bước
khống chế và chiếm đoạt quyền lực chính trị từ triều đình.
Như vậy, đối mặt với sức ép từ đế quốc Nguyên Mông,
Nhật Bản và Đại Việt đã nhanh chóng “chuyển mình” từ thời
bình sang thời chiến dưới sự lãnh đạo của Tokimune và Trần
Quốc Tuấn. Chính sức mạnh kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng
chiến của chính quyền nói chung và của Trần Quốc Tuấn,
Hojo Tokimune nói riêng đã tạo nên một khối thống nhất dân
tộc chống giặc ngoại xâm, thúc đẩy việc chuẩn bị kháng
chiến diễn ra khẩn trương, kịp thời. Sức mạnh kêu gọi này
5 Vương triều Cao Ly (918-1392): vương triều bắt đầu kể từ khi
Wang Geon lên ngôi quốc vương, đổi tên nước thành Goryeo, lấy
niên hiệu là Cheonsu (Thiên Thụ) vào năm 918 và năm sau ông dꢀi
đô từ Cheorwo về Songak. Vương triều này kéo dài gần nửa thế kỷ.
Cho đến khi các thế lực võ thần mà trung tâm là I Seong-gye và
những Sinjinsadaebu tham gia cải cách đã trở thành thế lực thống
trị mới, cuối cùng họ đã lật độ vương triều Goryeo và lập nên vương
triều Joseon (Triều Tiên).
ꢀ
Phủ Thiên Trưꢀng ngày nay là vùng đất Nam Định.
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng
21
Văn Tưꢀng Vi
điểm quân sự để tiến đánh các đảo còn lại thì chỉnh thể phòng mạnh bao nhiêu chăng nữa cuối cùng vẫn bị tan rã” [Cao
ngự Nhật Bản chắc chắn sẽ bị tách rời, rất khó để tổ chức Văn Liên, 2017: 133]. Quân Nguyên Mông cũng biết rõ điều
phản công và lần lượt bị thôn tính. Tóm lại, mặc dù đều căn này. Sau khi tấn công và chiếm được đảo Tsushima, quân
cứ trên lợi thế có sẵn để xác định vị trí phòng thủ nhưng Nguyên Mông đã lưu lại nơi này khoảng một tuần. Bên cạnh
Tokimune thì chọn phương án tốc chiến tốc thắng, còn Trần việc chỉnh đốn quân sự, tu sửa chiến thuyền, mai táng binh
Quốc Tuấn thì chọn phương án trường kỳ kháng chiến. Sự sĩ tử trận,… thì việc bổ sung lương thực và nước ngọt cũng
lựa chọn sáng suốt này đã cho thấy sự quyết đoán, tư duy rất được xem trọng. Tuy nhiên, số lượng nước ngọt quân
nhạy bén và tầm nhìn chiến lược của hai vị tướng lĩnh trước Nguyên Mông có thể dự trữ mang theo là có hạn. Đồng thời,
tình thế khó khăn lúc bấy giờ.
quân Nguyên Mông không thể luôn lênh đênh ngoài khơi vì
số lượng nước uống và lương thực cung cấp cho toàn quân
mỗi ngày là rất lớn.
2.3.2.2 Phòng thủ và phản công
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bổ sung nước
uống và lương thực, Tokimune đã ra lệnh ngăn cản địch trên
bờ biển, cố gắng không cho địch tiến sâu vào đất liền. Việc
ngăn cản không cho quân địch đổ bộ và tiến sâu vào bờ sẽ
chặn đứng nguồn tiếp viện lương thực của địch, đặc biệt là
nguồn nước ngọt. Nếu Nhật Bản thành công ngăn chặn quân
Nguyên Mông không cho đổ bộ lên bờ, đồng nghĩa với việc
cắt đứt nguồn tiếp viện nước ngọt và lương thực. Nói cách
khác, giả sử quân Nhật có thể giữ chân được quân Nguyên
Mông ngoài khơi trong thời gian đủ lâu thì cũng đồng nghĩa
với việc Nhật Bản có thể “không chiến mà thắng”.
Tương tự như vậy, năm 1285, khi phải đối mặt với sáu
mươi vạn quân Nguyên Mông tiến đến ồ ạt, Trần Quốc Tuấn
đã lựa chọn rút lui chiến lược và thực hiện kế sách “vườn
không nhà trống” để bảo toàn lực lượng. Bên cạnh đó, quân
Đại Việt cũng tổ chức tập kích đội quân tải lương thực của
Trương Văn Hổ. Đây là đội quân hậu cần cung cấp lương
thực cho đại quân Nguyên Mông nhưng lực lượng bảo vệ lại
yếu. Quân Đại Việt không mất quá nhiều công sức để triệt
hạ đội quân này nhưng lại gây tác động rất lớn đến quân
Nguyên Mông. Quân Nguyên Mông buộc phải viễn chinh
trong tình trạng thiếu thốn lương thực, từ đó trực tiếp làm
suy giảm sức mạnh chiến đấu của quân lính.
Thứ ba, chiến lược “linh hoạt lợi dụng lợi thế và sở
trường để tấn công địch”. Nói như Suzuki Hiroki, “chỉ có
ưu thế thì không thể chiến thắng, mà nó gắn liền với hành
động tạo ra hoàn cảnh phát huy lợi thế” [Suzuki Hiroki,
2016: 3]. Sức mạnh quân sự của quân Nguyên Mông nằm ở
lối tiến quân ồ ạt, điều động toàn bộ binh lực xông lên phía
trước và sử dụng nhiều vũ khí tiên tiến lúc bấy giờ như hỏa
dược, pháo cối, máy bắn đá... Tuy nhiên, thế mạnh quân sự
này không được phát huy hiệu quả đối với chiến trường Đại
Việt và Nhật Bản.
Khi xâm lược Nhật Bản, một mặt quân Nguyên Mông phải
tổ chức hải quân vượt biển, một mặt máy bắn đá cồng kềnh
khó vận chuyển vào bờ, do đó máy bắn đá không thể phát
huy hiệu quả trong cuộc chiến này. Khi chiến thuyền quân
Nguyên Mông tiến vào vịnh Hakata, binh lính sẽ từ thuyền
lớn xuống thuyền nhỏ, rồi từ thuyền nhỏ tiếp cận bờ, mỗi lần
như vậy thuyền nhỏ chỉ chở được khoảng mười lăm người
và phải đối mặt với lực lượng phòng ngự của võ sĩ Nhật Bản
đợi sẵn trên bờ. Đây là cơ hội cho các võ sĩ Nhật Bản chủ
động phản công do quân Nguyên Mông bị phân tán, rất khó
quy tụ sức mạnh tập thể, nếu tấn công vào thời điểm này thì
sức mạnh công phá sẽ tăng cao. Hơn nữa, những thuyền nhỏ
sau khi đưa quân Nguyên Mông đổ bộ lên bờ sẽ được kéo về
chiến thuyền để chuẩn bị cho đợt đổ bộ tiếp theo. Việc di
chuyển đi đi về về này tương đối mất thời gian, quân Nhật
nhân cơ hội tiêu diệt lần lượt toán đổ bộ mà không phải đối
mặt với đội quân chủ lực áp đảo về mặt số lượng ngay từ khi
bắt đầu cuộc chiến.
Kết quả thành bại của một cuộc chiến tranh quyết định
không chỉ bởi sự tương quan lực lượng hai bên. Một trong
những nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến kết quả cuộc
chiến là khả năng đánh giá tình hình thực tế để vạch ra được
một chiến lược phù hợp. Khi chiến đấu với quân Nguyên
Mông, Trần Quốc Tuấn và Hojo Tokimune đều vận dụng
linh hoạt các chiến lược và chiến thuật phù hợp đặt trong mối
tương quan lực lượng với quân Nguyên Mông.
Thứ nhất, chiến lược “không đối đầu trực tiếp với quân
lực của địch”. Trong cả hai lần xâm lược Nhật Bản, quân
Nguyên Mông đều thành công tiến sâu vào vịnh Hakata và
đổ bộ lên bờ ở một số vị trí chiến lược như Hakozaki,
Momochihara và Imazu. Phía Nhật Bản đã tổ chức phòng
ngự bằng tường đá, sử dụng vũ khí cung tên đốt thuyền địch,
dùng kỵ binh đối đầu với bộ binh. Trong cuộc chạm trán trên
đất liền, các võ sĩ Nhật Bản đã chiến đấu theo từng nhóm
nhỏ, đặt chiến trường ở nơi hiểm yếu, cố gắng rút ngắn
khoảng cách với đối thủ để nhanh chóng đi vào cận chiến,
qua đó vô hiệu hóa thói quen tấn công ồ ạt của quân Nguyên
Mông. “Quân Nhật Bản có thói quen bắn tên lúc mở trận,
sau khi gây ra tổn thất nặng nề cho quân địch mới tiến vào
đánh giáp lá cà” [Matsumura Tsutomu 2003: 69]. Nhờ chiến
lược này, quân Nhật Bản mặc dù có số lượng ít hơn nhưng
đã giữ vững chiến tuyến một thời gian dài, kìm chế tốc độ
tiến sâu vào đất liền của quân Nguyên Mông.
Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, các võ sĩ Nhật Bản
đã nhiều lần đối đầu trực tiếp với quân Nguyên Mông và bị
thất bại. Tuy nhiên, đến cuộc kháng chiến lần thứ hai thì rất
ít xảy ra những cuộc xung đột trực diện của quân đội Nhật
Bản với cánh quân chủ lực Nguyên Mông, mà chủ yếu
chuyển sang lối đánh du kích mang lại hiệu quả hơn.
Trong cuộc kháng chiến của Đại Việt, khi quân Nguyên
Mông tiến công ồ ạt từ nhiều phía, Trần Quốc Tuấn đã chủ
trương rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng. Quân Đại
Việt chủ động lựa chọn né tránh mũi nhọn tấn công của địch,
bỏ thành Thăng Long nhưng cố thủ ở Nam Định, tránh đối
đầu trực tiếp với thế tấn công hung mãnh của địch. Đồng
thời, quân Nguyên Mông bị bối rối không xác định được vị
trí cánh quân chủ lực của Đại Việt, do đó buộc phải phân tán
lực lượng chiếm đóng ở nhiều vị trí, quân lính luôn trong
trạng thái căng thẳng bị động phòng ngự, tạo cơ hội cho quân
Đại Việt chủ động tổ chức phản công.
Thứ hai, chiến lược “ngăn chặn nguồn tiếp tế, bổ sung
lương thực, nước uống của địch”. Khi quân Nguyên Mông
hành quân, ngoài số lương thực giới hạn được vận chuyển
theo đoàn, thì còn liên tục bổ sung lương thực bằng cách
chiếm đoạt vơ vét ở những nơi hành quân đi qua. Ngăn chặn
không cho quân Nguyên Mông nhận được tiếp tế lương thực
tại chỗ cũng đồng nghĩa với việc làm suy yếu năng lực chiến
đấu của địch.
Đối với bất kỳ một chuyến hàng hải nào, việc bổ sung
nguồn nước luôn được ưu tiên hàng đầu. Nói như Cao Văn
Liên, “một quân đội mà thiếu lương thực thì dù có hùng
Khi chiến đấu ngăn cản không cho quân Nguyên Mông đổ
bộ lên bờ, thành phần tham chiến về phía Nhật Bản là những
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng
22
Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII
võ sĩ Kamakura cưỡi ngựa và đoàn võ sĩ tùy tùng trong vai và giữ nước của các dân tộc. Đó là những kinh nghiệm quân
trò bộ binh. Trong khi quân Nguyên Mông rải rác khó quy tụ sự, chiến tranh vũ trang, đấu tranh ngoại giao,… được đúc
lực lượng do không thiết lập được cứ điểm trên bờ, thì quân kết từ xương máu của bao thế hệ. Chỉ có sự kết hợp hợp lý
đội Nhật Bản với số lượng ít hơn đã giành được ưu thế. Số giữa phát triển kinh tế và củng cố an ninh quốc phòng mới
lượng binh lính Nguyên Mông bị giết và bị thương trong trận có thể đảm bảo được sự phát triển bền vững của đất nước.
đối đầu với kỵ binh Nhật Bản rất nhiều. Phía Nhật Bản đã
tận dụng và phát huy lợi thế bờ biển để phát huy hiệu quả
4. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cao Văn Liên. Thủy hải chiến Việt Nam. Nhà xuất bản Thanh
niên, 2017.
[2] Đăng Khoa, Trần Thu (biên soạn). Trần Quốc Tuấn và kháng
chiến chống Nguyên Mông. Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin,
2014.
[3] George Sansom, Lịch sử Nhật Bản. Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội Hà Nội, 1994.
[4] Gustave Le Bon. Những qui luật tâm lý về sự tiến hóa của các
dân tộc. Nhà xuất bản Thế giới, 2016.
[5] Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm. Cuộc kháng chiến chống xâm
lược Nguyên Mông: Thế kỉ 13. Nhà xuất bản Khoa học Xã
hội, 1968.
[6] Nguyễn Thị Thu Thủy. Việt Nam và Đông Nam A thꢀi kꢁ
chống xâm lược Nguyên - Mông (Thế kỷ 13). Nhà xuất bản
Trẻ, 1999.
[7] Phan Ngọc Liên, Lịch sử Nhật Bản. Nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin, 1997.
[8] Viện lịch sử quân sự Việt Nam. Anh hùng dân tộc, thiên tài
quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định. Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân, 2000.
chiến lược giữ chân địch trên biển, ngăn không cho đổ bộ lên
đất liền.
Liên hệ trường hợp của Đại Việt, nhà Trần cũng nhận thức
rõ thế mạnh của quân Nguyên Mông là kỵ binh, nên quân
Đại Việt thường lợi dụng địa hình sông ngòi, kênh rạch để
phản công, cố gắng không đối đầu với kỵ binh Nguyên Mông
trên vùng địa hình bằng phẳng. Khi phải đối đầu với đại quân
Nguyên Mông tấn công ồ ạt, phía Đại Việt cũng đã lựa chọn
cách đánh tránh đối đầu trực diện với quân chủ lực.
Uy lực của chiến lược sẽ thay đổi tùy vào tình hình thực
tế, trong mối tương quan với đối thủ hay hoàn cảnh tổ chức
thực hiện chiến lược. Đối mặt với lực lượng quân sự hùng
mạnh là quân Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn và Hojo
Tokimune đã rất sáng suốt khi lựa chọn chiến thuật “tránh
nặng tìm nhẹ” nhờ đó bảo toàn lực lượng trong khi vẫn chiến
đấu tiêu hao lực lượng địch. Lịch sử đã cho thấy không bao
giờ có cái gọi là chiến lược tuyệt đối, ngay cả một chiến lược
được cho là mạnh nhất cũng không phải vạn năng.
[9] Matsumura Tsutomu. Công cuộc phòng vệ của Nhật Bản nhìn
từ biển. Nhà xuất bản PHP Kenkyusho, 2003.
3. KẾT LUẬN
Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược
của Nhật Bản, Đại Việt và kết quả của nó khiến cả thế giới
phải kinh ngạc. Nhiều người cho rằng kết quả cuối cùng này
là một “thần tích” khi nhìn vào sự chênh lệch lực lượng và
sức mạnh quân đội giữa bên xâm lược và bên kháng chiến.
Trên thực tế, hai lần xâm lược của đế quốc Nguyên Mông
vào thế kỷ XIII thực sự là một “nhân họa” mà dân tộc Nhật
Bản, Đại Việt đã phải oằn mình chống đỡ. Bài viết với mong
muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc khẳng định chiến
thắng của Nhật Bản và Đại Việt trước quân Nguyên Mông
hùng mạnh có một phần nguyên nhân xuất phát từ tài năng
lãnh đạo kháng chiến của tầng lớp tướng lĩnh, đó là trường
hợp của Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn. Từ việc lãnh
đạo toàn dân chuẩn bị kháng chiến đến những quyết sách,
chiến lược, chiến thuật được sử dụng trong những lần đụng
độ với quân Nguyên Mông đã chứng minh tài năng quân sự
kiệt xuất của hai vị tướng lĩnh tài ba là Trần Quốc Tuấn và
Hojo Tokimune. Đây chính là “những con ngưꢀi kiệt xuất
mà một dân tộc văn minh sở hữu”, nói như Gustave Le Bon,
“tất cả mọi thế hệ, toàn bộ quá khứ của một chủng tộc đã
sinh ra những thiên tài tốt đẹp này, họ là những đóa hoa
tuyệt vꢀi của một chủng tộc. Họ là vinh quang đích thực của
một quốc gia, và mỗi thành viên trong đó, cho đến kẻ khiêm
tốn nhất, cũng có thể tự hào vì họ. Họ không xuất hiện tình
cꢀ hay do phép màu, mà đại diện cho sự hoàn mỹ của một
quá khứ dài lâu” [Gustave Le Bon, 2016: 202].
(松村 劭, 海から見た日本の防衛,PHP 研究所, 2003)
[10] Suzuki Hiroki. Chiến lược học từ lịch sử. Nhà xuất bản
Diamond, 2016.
鈴木 博毅 ,戦略は歴史から学べ,ダイヤモンド社, 2016)
[11] Hattori Hideo. Mông Cổ xâm lược. Nhà xuất bản Yamagawa,
2014.
(服部 英雄 (2014)、蒙古襲来、山川出版社)
[12] Izawa Motohiko. Izawa Motohiko - Lịch sử Nhật Bản với
những cuộc giao tranh xung đột. Nhà xuất bản Kadokawa,
2015.
(井沢 元彦 (2015)、井沢元彦の激闘の日本史 北条時宗と
元寇の危機、角川学芸出版)
[13] Kitaoka Masatoshi. Mông Cổ xâm lược và cuộc chiến bảo vệ
Tổ quốc. Nhà xuất bản Shoubunsha, 2018.
(北岡 正敏 (2018)、モンゴル襲来と国土防衛戦、叢文社)
[14] Matsumura Tsutomu, Công cuộc phòng vệ của Nhật Bản nhìn
từ biển. Nhà xuất bản PHP Kenkyusho, 2003.
(松村 劭 (2003)、海から見た日本の防衛、PHP 研究所)
[15] Murai Shosuke. Hojo Tokimune và cuộc xâm lược của Mông
Cổ. Nhà xuất bản NHK, 2001.
(村井 章介 (2001)、北条時宗と蒙古襲来、日本放送出版協
会)
[16] Suzuki Hiroki. Chiến lược học từ lịch sử. Nhà xuất bản
Diamond, 2016.
ꢀ鈴木 博毅 (2016)、戦略は歴史から学べ、ダイヤモンド社)
[17] Shinmura Izuru. Từ điển Kojien. Nhà xuất bản Iwanami,
2008.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, bên cạnh những cố gắng vươn mình bắt kịp
trình độ kỹ thuật tiên tiến của thế giới, chúng ta cần phải tiếp
tục học hỏi những bài học từ quá khứ đấu tranh dựng nước
ꢀ新村 出 (2008), 広辞苑、岩波書店)
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng
23
Bạn đang xem tài liệu "Hojo Tokimune và Trần Quốc Tuấn: Tướng lĩnh tài ba trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hojo_tokimune_va_tran_quoc_tuan_tuong_linh_tai_ba_trong_cuoc.pdf

