Bảo tồn không gian làng nghề nón lá truyền thống thôn Tri Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai

Bảo tồn không gian làng nghề nón lá truyền thống  
thônTri Lễ, xãTân Ước, huyệnThanh Oai  
Preservation of the traditional conical hat making space at Tri Le hamlet,  
Tan Uoc village, Thanh Oai district  
Trương Thị Thanh Diễm, Nguyễn Hằng Nga, Trần Đức Minh, Phạm Đức Anh  
Lê Xuân Hùng  
1. Mở đầu  
Tóm tắt  
Xuất phát và tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với cuộc  
sống quần cư nông nghiệp, các làng nghề truyền thống xuất hiện  
Là một nước kinh tế còn phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp và  
công nghiệp nhẹ, việc thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp nông  
trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công  
thôn, trong đó bao gồm cả việc bảo tồn và phát triển làng  
nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn. Sản xuất  
nghề truyền thống ở Việt Nam là việc làm cần thiết. Đóng góp  
nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công nghiệp trong các  
của các làng nghề đã tạo ra nhiều nét khởi sắc cho kinh tế địa  
phương. Tuy nhiên, có một thực tế đáng báo động đang diễn  
ra, đó là sự suy giảm nghiêm trọng về quy mô và chất lượng các  
làng nghề đan xen lẫn nhau. Người thợ thủ công trước hết và  
đồng thời là người nông dân, đặc biệt là các làng nghề truyền  
thống thường đơn giản, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu. Cấu  
trúc không gian làng nghề truyền thống, bao gồm các thành tố cấu  
làng nghề truyền thống. Làng nghề nón lá Tri Lễ -Thanh Oai  
cũng không phải là một ngoại lệ. Nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam  
thủ đô Hà Nội được biết đến là một làng làm nón lá nổi tiếng  
và độc đáo đứng trước nguy cơ làng nghề đang bị mai một. Dựa  
vào những gì mà Tri Lễ đã và đang làm được thì việc đưa làng  
nghề nón lá Tri Lễ trở thành điểm nhấn trong sự phát triển du  
lịch trải nghiệm làng nghề ở Việt Nam là vấn đề cần nghiên  
cứu một cách nghiêm túc.  
thành là không gian vật thể và không gian phi vật thể.  
Làng nghề truyền thống trên địa bàn thành phố Hà Nội có mật  
độ lớn, nằm dọc các trục đường giao thông và gắn liền với những  
di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội, nên rất thuận lợi cho các công ty  
du lịch lữ hành đầu tư, xây dựng những tour, tuyến du lịch. Tại các  
khu vực làng nghề phần lớn kiến trúc được phát triển một cách  
tự phát, những làng xã đang mất dần những giá trị truyền thống.  
Hình thức kiến trúc tại các làng xã thiếu đặc thù, nhà cửa xây  
dựng bám theo các tuyến đường đã vi phạm hành lang an toàn  
giao thông, đê điều và chiếm dụng khá nhiều đất canh tác. Cảnh  
quan thôn quê đang lâm vào tình trạng suy thoái nhiều mặt. Các  
làng nghề truyền thống chưa thiết lập được sự phát triển ổn định,  
thiếu một định hướng thống nhất và thiếu kiểm soát chặt chẽ đã  
làm bộ mặt kiến trúc công trình được tạo lập riêng lẻ, chất lượng  
kiến trúc thấp, cảnh quan làng quê hiện nay vẫn nặng về chắp vá  
không đồng bộ, cơ sở hạ tầng thiếu và xuống cấp, thiên nhiên bị  
xâm phạm, môi trường không gian bị ô nhiễm  
Từ khóa: Nông thôn, làng nghề, truyền thống  
Abstract  
As a country that still depends mainly on agriculture and light  
industry, promoting the modernization of agriculture and rural  
areas, including the preservation and development of traditional  
craft villages in Vietnam, is a necessary job. Contributions of craft  
villages have created many flourishing features for the local economy.  
However, there is an alarming fact that is happening, which is a  
serious decline in the size and quality of traditional craft villages. Tri  
Le, Thanh Oai conical hat craft village is not an exception. Located at  
the southwest gateway of Hanoi capital, it is known as a famous and  
unique conical hat-making village facing the danger of being lost.  
Based on what Tri Le has been doing, making Tri Le conical hat craft  
village become a highlight in the development of handicraft village  
experience tourism in Vietnam is a matter that needs to be studied  
seriously.  
Làng nghề nón lá Tri Lễ là một làng quê cổ với nhiều nét truyền  
thống được lưu lại, trong đó nổi bật nhất là về truyền thống làm  
nghề Nón Lá có từ lâu đời. Nón lá Tri Lễ có tuổi đời ít hơn nón  
Chuông nhưng cũng đã có từ lâu đời, là một sản phẩm xuất hiện  
sau khi bộ phim Thuỷ Hử phát sóng. Một sản phẩm sáng tạo của  
người dân trong làng nhờ sự đam mê phim ảnh và nhân vật anh  
hùng trong phim. Không chỉ làm nón lá truyền thống, người dân  
còn sáng tạo ra nhiều sản phẩm tương tự nhưng có hình dáng  
khác và đặc biệt là sản phẩm nón lá Lâm Xung nhiều nơi yêu thích  
sử dụng.  
Key words: Rural, craft village, traditional  
Không gian ở và sản xuất trong làng nghề truyền thống thôn Tri  
Lễ có diện tích không quá lớn nhưng có khuynh hướng đa năng  
trong không gian ở của ngôi nhà. Trong tiến trình phát triển làng  
xã nông thôn cùng với quá trình hình thành các nghề truyền thống,  
không gian sản xuất gắn liền mật thiết với không gian ở. Vẫn là nơi  
ở vừa là nơi tổ chức sản xuất thủ công. Sản xuất nông nghiệp trở  
thành thứ yếu trong các hộ gia đình.  
Trương Thị Thanh Diễm, Nguyễn Hằng Nga,  
Trần Đức Minh, Phạm Đức Anh  
ĐT: 0868061298; Email: [email protected]  
TS.KTS.Lê Xuân Hùng  
Bộ môn Quy hoạch Đô thị và Nông thôn, Khoa Quy hoạch  
ĐT: 0936800809  
Email: hung.lexuan.march.ud[email protected]  
Không gian văn hóa tín ngưỡng (đình; chùa; miếu;…) là biểu  
tượng tập trung nhất của làng xã về mọi phương diện. Trước hết  
đó là trung tâm hành chính, nơi diễn ra mọi công việc quan trọng  
nhất của làng. Đình còn là trung tâm văn hóa, nơi tổ chức hội hè,  
ăn uống, giao lưu,… và quan trọng nhất, Đình còn là trung tâm về  
mặt tôn giáo. Thế đất, hướng đình được xem là quyết định vận  
mệnh cả làng, là nơi thờ Thành hoàng bảo trợ cho làng. Đình làng  
Ngày nhận bài: 18/6/2021  
Ngày sửa bài: 20/7/2021  
Ngày duyệt đăng: 29/7/2021  
S¬ 42 - 2021  
89  
KHOA H“C & C«NG NGHª  
Hình 1. Hình ảnh làng nghề truyền thống  
Hình 2. Hiện trạng không gian ở và sản xuất ở làng nghề  
là kho tàng phong phú về điêu khắc dân gian, phản ánh đời  
sống làng nghề người nông dân và lý tưởng thẩm mỹ của  
người dân địa phương.  
thông, mà đường thuỷ là chính, khẳng định tính truyền thống  
của nghề thủ công Việt Nam và làng nghề. Để khẳng định sự  
tồn tại của nó qua hình thái kinh tế xã hội hay các phương  
thức sản xuất khác nhau, để góp phần khẳng định được các  
giá trị văn hoá đích thực và ngôi vị lịch sử cuả nó trong quá  
trình tồn tại và phát triển của lịch sử dân tộc.  
Tri Lễ có làng nghề truyền thống nổi bật là nghề đan nón  
mũ lá, được công nhận vào năm 2001. Với vị trí nằm ở trong  
hành lang xanh của quy hoạch chung thành phố Hà Nội và  
thuộc huyện Thanh Oai, được biết đến là vùng đất với nhiều  
làng nghề truyền thống đặc sắc, làng nghề thủ công của thôn  
đã được công nhận và nằm trong hệ thống các điểm làng  
nghề của khu vực Hà Tây cũ. Vì vậy, Tri Lễ có cơ hội kết nối  
với các điểm văn hóa hiện có hình thành điểm du lịch tại vị trí  
kết thúc của hành lang xanh.  
Cấu trúc làng: truyền thống Bắc bộ (hình xương cá, dạng  
mảng, ven sông...). Không gian kiến trúc luôn bám lấy cảnh  
quan, mặt đất làm điểm tựa. Từ nhà ở truyền thống đến công  
trình văn hóa công cộng, công trình tôn giáo tín ngưỡng, kiến  
trúc luôn hài hoà với thiên nhiên, có sự mật thiết, chúng gắn  
kết và tôn nhau lên. Bắt đầu từ đầu làng đã có điểm mốc  
dẫn về không gian văn hóa (cổng làng, cây đa, cây gạo, cái  
cầu...). Về cấu trúc tổ chức không gian, làng nghề truyền  
thống thường có cách tổ chức không gian theo hình thức  
làng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ với hình thái cấu trúc theo  
mô hình xương cá, khép kín…Cấu trúc hình xương cá (một  
số trường hợp còn gọi là răng lược), trục đường làng chính  
đóng vai trò trục xương sống kết nối tất cả không gian trong  
làng; các công trình công cộng truyền thống nằm tại vị trí  
quan trọng về mặt hình thái hình học trên đường làng chính  
(đình làng ở đầu làng, giếng làng giữa làng, cổng làng ở cuối  
làng).  
Những năm gần đây, nón lá Tri Lễ được biết đến nhiều  
hơn nhờ những sản phẩm mới có kiểu dáng độc đáo, tiện  
dụng. Chính những chiếc nón này đã mang lại thu nhập  
cao cho người dân. Để giữ nghề và tồn tại với nghề, những  
người thợ đã nỗ lực tìm tòi, sáng tạo ra những sản phẩm  
kiểu dáng mới, đồng thời cải tiến mẫu mã cũ.  
Hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển du lịch làng nghề tại  
làng nón lá Tri Lễ còn rất hạn chế. Thiếu rất nhiều các hạng  
mục cơ bản như hệ thống bãi để xe tập trung, trung tâm giới  
thiệu sản phẩm làng nghề,… Hệ thống các công trình thông  
tin cho khách du lịch như phòng thông tin du lịch, bảo tàng  
làng nghề còn rất thiếu, hiện mới chỉ là kế hoạch trên giấy,  
chưa được triển khai thiết kế và đầu tư xây dựng.  
Công trình: Các công trình văn hóa lịch sử (đình, chùa,  
đền, miếu, nhà thờ họ, tổ nghề...) & những ngôi nhà cổ cùng  
với sự hình thành ngôi làng, được xây dựng hàng trăm năm  
trước theo lối kiến trúc gỗ - đá thời kỳ phong kiến – Pháp  
thuộc, là nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng, ở,  
sản xuât nghề.  
2. Những thành tố tạo gíá trị không gian kiến trúc cảnh  
quan làng nghề truyền thống  
Nghề: Những làng nghề truyền thống Hà Nội nổi tiếng  
còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là những ngôi làng cổ có  
nghề lâu đời. Hình thành hàng trăm năm trước đây, dựa trên  
hai yếu tố rất cơ bản là vùng nguyên liệu và điều kiện giao  
Hình thức kiến trúc: Mặt ngoài công trình là thoáng nhẹ,  
chắc chắn, không gây cảm giác nặng nề. Các chi tiết cửa,  
bệ, thềm, chân cột được chia theo mảng đơn giản nhưng  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
90  
Hình 3. Đình, chùa Tri Lễ  
Hình 4. Cấu trúc làng Việt  
nhìn gần thì được xử lý bằng các chi tiết, gờ chỉ, hoa văn  
sinh động; Mặt cắt và bố trí nội thất chủ yếu làm bằng gỗ  
được thể hiện toàn bộ trong mỗi mặt cắt của công trình.  
Chính vì vậy, sự mạch lạc về hệ chịu lực đỡ mái: hệ khung  
cột, bộ vì, kẻ, bẩy, hoành, rui, mè, … tạo nên giá trị thẩm mỹ  
nội thất kiến trúc. Màu sắc công trình: thường có màu nâu  
nhạt hoặc mầu nâu đỏ của các mái ngói, mầu nâu xám của  
các cánh cửa gỗ, tường có mầu vôi trắng hoặc màu đỏ tự  
nhiên của gạch. Mảng tường vôi trắng, cộng sinh lên bởi  
mầu đỏ của ngói hay màu nền sân gạch. Màu sắc của các  
công trình tôn giáo tín ngưỡng: thường phong phú hơn bởi  
các họa tiết trang trí.  
thời đại, đảm bảo sự phát triển chung của xã hội.  
Theo như quyết định số: 2636/QĐ-BNN-CB về việc phê  
duyệt Chương trinh bảo tồn và phát triển làng nghề cũng đã  
để cập tới bốn quan điểm rõ ràng về vẫn đề bảo tổn và phát  
triển làng nghề:  
Một là, bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát  
triển hài hòa giữa sản xuất hàng hóa với bảo vệ môi trường  
và gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống theo hướng  
bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn.  
Hai là, bảo tồn và phát triển làng nghề phải kết hợp phát  
triển hài hòa các cơ sở ngành nghề quy mô vừa và nhỏ, đa  
dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong  
các làng nghề, chú trọng phát triển các hợp tác xã, doanh  
nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn ở làng quê.  
Giá trị văn hóa xã hội.: Trải qua hàng thế kỷ phát triển, nét  
văn hóa làng nghề được hình thành lưu giữ phong tục tập  
quán, đời sống, lao động sản xuất của từng người dân. Làng  
nghề nước ta phản ánh cuộc sống cư dân nông nghiệp gắn  
liền với cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế  
độ làng xã, trong đó bao gồm cả yếu tố dòng họ. Làng nghề  
không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa “nghề” với “nghiệp”  
mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được  
phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy  
định khác  
Ba là, bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát  
huy sự tham gia của cộng đồng gắn liền với quá trình công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, từng bước  
hình thành các thị trấn, thị tứ và phát triển nông thôn mới.  
Bốn là, bảo tồn và phát triển làng nghề phải gắn với thị  
trường hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu, phù  
hợp phát triển kinh tế xã hội và phát huy lợi thế so sánh của  
mỗi vùng, mỗi địa phương, góp phần tạo việc làm, tăng thu  
nhập, xóa đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách thu nhập  
giữa thành thị và nông thôn.  
3. Quan điểm về bảo tồn làng nghề truyền thống  
Để bảo tồn một làng nghè truyền thống, không đơn giản  
là lo xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá... mà cốt lõi là phải  
làm cho sản phẩm làng nghề có chỗ đứng trên thị trường,  
người dân phải sống được bằng nghề truyền thống như  
trước đây cha ông họ đã vì kiếm sống mà sinh ra nghề. Nói  
cách khác, quan điểm tiếp cận về bảo tồn là duy trì những hệ  
cấu trúc vật thể và phi vật thể nhưng phải mang lại sức sống  
4. Giải pháp quy hoạch bảo tồn làng nón lá truyền  
thống thôn Tri Lễ  
Quy hoạch khu vực trung tâm văn hóa lịch sử: Khu vực  
này cần phải được bảo tồn, nâng cấp ở mức cao nhất vì đây  
là nơi lưu giữ nét đặc trưng của làng. Khi nghề truyền thống  
S¬ 42 - 2021  
91  
KHOA H“C & C«NG NGHª  
Hình 5. Minh họa không gian trung tâm văn hóa lịch sử làng sau quy hoạch  
Hình 6. Giải pháp cải tạo chỉnh trang khu ở - sản xuất nghề truyền thống  
Hình 7. Sơ đồ tổ chức trục đường tâm linh  
khôi phục và có bước đi đúng đắn, đây sẽ là khu vực trưng  
bày một số không gian triển lãm và các sản phẩm thủ công  
truyền thống của làng.  
Cải tạo trục đường chính bằng con đường tâm linh, trục  
lễ hội bắt đầu từ khu vực cổng vào làng, gồm có Đình làng  
Tri Lễ, đi qua Chùa Báo Ân và kết thúc ở cổng ra làng kết nối  
trung tâm xã Tri Lễ, từ đó phát triển cảnh quan tuyến đường.  
Quy hoạch khu vực nhà ở - sản xuất nghề truyền thống  
Xây mới bổ sung các hạng mục như trung tâm giao lưu,  
không gian hội nghề, không gian trưng bày và bán hàng, bến  
xe và các dịch vụ kèm theo.  
Bảo tồn, tôn tạo một số công trình nhà cổ truyền thống,  
nhà của nghệ nhân để làm điểm du lịch. Gìn giữ hoạt động  
sản xuất truyền thống, hạn chế việc sửa chữa, cơi nới tự  
phát nhằm đảm bảo điều kiện môi trường sinh thái và hài  
hòa với cảnh quan kiến trúc của làng nghề truyền thống.  
Khu vui chơi, giải trí: xây dựng khu công viên cây xanh,  
vườn hoa để tạo cảnh quan kiến trúc làng, phục vụ nhu cầu  
nghỉ ngơi của dân làng và khách du lịch. Không gian nghỉ  
ngơi giải trí thể dục thể thao được bố trí kết hợp với không  
gian sinh hoạt  
Các ngôi nhà này cần được nâng cấp, cải tạo phục vụ  
cho du lịch tìm hiểu văn hóa làng nghề cũng như mở thêm  
một số dịch vụ như homestay. Mô hình nhà ở này vừa kết  
hợp sản xuất và kinh doanh, trưng bày những sản phẩm đặc  
trưng của hộ gia đình. Đặc biệt nó còn có khu ở dành cho  
khách du lịch muốn tham quan trải nghiệm.  
Giải pháp quản lý kiến trúc các công trình hiện có  
Trong làng tồn tại một số công trình nhà ở, nhóm nhà ở  
có giá trị lịch sử & kiến trúc (nhà ở thuần nông hoặc kết hợp  
với sản xuất nghề truyền thống mang đặc trưng vùng đất  
Tổ chức tuyến tham quan và dịch vụ du lịch  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
92  
Hình 8. Sơ đồ bố trí nhóm công trình ở hiện có  
Hình 9. Giải pháp cho không gian khu chợ  
S¬ 42 - 2021  
93  
KHOA H“C & C«NG NGHª  
Hình 10. Giải pháp cho khu cây xanh làng  
đồng bằng Bắc Bộ với khuôn viên vườn, sân, xưởng sản  
xuất, ao cá,139 nhà chính, nhà ngang một tầng, mái dốc)  
phân bố rải rác tại các vị trí khác nhau  
5. Kết luận  
Trong xu thế đất nước phát triển và giao lưu hội nhập  
quốc tế, công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của làng  
nghề truyền thống là một nhiệm vụ đặc biệt ý nghĩa và làng  
nghề nón lá truyền thống thôn Tri Lễ có những đóng góp  
quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã  
hội của địa phương. Sản phẩm nón lá Tri Lễ rất phong phú,  
không chỉ đẹp về mẫu mã, kiểu dáng, hình khối mà còn kết  
tinh những giá trị văn học, nghệ thuật, thẩm mỹ, tín ngưỡng  
của những người làm nghề nơi đây. Tuy nhiên, sau một thời  
gian phát triển, môi trường, hoạt động sản xuất & cảnh quan  
làng nghề nón lá truyền thống thôn Tri Lễ đang bị biến đổi bởi  
tác động của quá trình CNH & HĐH nông thôn.  
Giải pháp quản lý kiến trúc các công trình xây mới  
Xây dựng chợ mới thay cho khu vực chợ tự phát ở Đình  
làng và giếng làng, nơi phát luồng hàng hóa, giao thương,  
tiêu thụ nông sản, sản phẩm thủ công, tiểu thủ công nghiệp,  
đây cũng là địa điểm thu hút phần lớn khách du lịch.  
Bảo tồn các giá trị vật thể truyền thống gồm: giếng làng, ao,  
hồ, không gian mở  
Thôn Tri Lễ có giếng làng to nhất hiện nay cùng với công  
trình di tích Đình làng được công nhận là Di tích quốc gia nên  
ngoài việc cải tạo chỉnh trang lại khu vực này thì cũng phải  
đảm bảo được việc bảo tồn giá trị văn hóa khu vực nơi đây.  
Ngoài ra, khu vực nghiên cứu còn có một trong hai con sông  
chính chảy qua trong toàn bộ Huyện Thanh Oai, đó là kênh  
Yên Cốc, là yếu tố có thể khai thác được để tạo nên cảnh  
quan đẹp cho toàn khu vực  
Nhận thấy những vấn đề tồn tại trong thực trạng phát  
triển của làng nghề nón lá truyền thống thôn Tri Lễ, nhóm  
nghiên cứu đã tìm hiểu và đưa ra các ý kiến về giải pháp bảo  
tồn và phát huy giá trị cảnh quan làng nghề phục vụ cho việc  
phát triển du lịch: Bảo tồn những không gian quần thể truyền  
thống, áp dụng với các công trình văn hóa lịch sử, nhà ở  
truyền thống, ao hồ, giếng nước, đồng ruộng. Bảo tồn và cải  
tạo không gian hoạt động làng nghề nhằm phục vụ cho nhu  
cầu tìm hiểu văn hóa làng nghề của du khách. Bên cạnh đó,  
nhóm đưa ra một số các giải pháp xây dựng thêm các công  
trình phục vụ cho du lịch: tổ chức các tuyến thăm quan, vui  
chơi giải trí, khu trưng bày triển lãm. Giải pháp về xây dựng  
hạ tầng và xử lý môi trường làng nghề, phát huy vai trò cộng  
đồng dân cư tham gia công tác bảo tồn và phát triển du lịch  
làng nghề Tri Lễ cũng được chú trọng./.  
Giải pháp phát huy vai trò cộng đồng dân cư tham gia công  
tác bảo tồn và phát triển du lịch làng nghề Tri Lễ  
Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá giới thiệu tiềm năng  
du lịch của thành phố, trong đó có sản phẩm du lịch của làng  
nghề. Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ thợ thủ công mỹ  
nghệ có trình độ thẩm mỹ, kiến thức khoa học, sự hiểu biết  
về truyền thống và văn hóa làng nghề. Tuyên truyền, giáo  
dục ý thức cộng đồng, đồng thời công khai thông tin quy  
hoạch và quản lý xây dựng, bảo tồn phát triển làng để người  
dân có thể cùng đóng góp và tham gia.  
6. Nguyễn Hữu Thắng (2010) Phát triển làng nghề, doanh nghiệp  
làng nghề thủ công nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ  
nghệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.  
T¿i lièu tham khÀo  
1. Nguyễn Văn Áng, Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (chủ biên)  
(2002), Ảnh hưởng cũa đô thị hóa tới nông thôn ngoại thành Hà  
Nội, thực trạng và giái pháp, NXB Chính tri quốc gia, Hà Nội.  
7. Đỗ Quang Dùng (2006) Phát triển làng nghề trong quá trình  
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Hà Tây.  
2. André Donzel (2008), “Đô thị hóa vùng ven và nhà ở tại Pháp:  
Những thách thức về môi trường và xã hội”, Kỷ yếu Hội thảo  
quốc tế Các xu hướng đố thị hóa và đố thị hóa vùng ven ớ Đông  
Nam Á, thành pho Hồ Chi Minh, tr. 41-59.  
8. Vũ Quốc Tuấn (2011), Làng nghề trong công cuộc phát triển đất  
nước. Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội.  
9. Quyết định số 2636/QĐ-BNN-CB, 31/10/2011, của Bộ Nông  
nghiệp và phát triển nông thôn về việc phê duyệt Chương trình  
Bảo tồn và Phát triển làng nghề.  
3. Phạm Hùng Cường (LATS) (2001), Chuyển đổi câu trúc làng xã  
vùng ven đô thị lớn đồng bằng sống Hồng thành các đơn vị ở  
trong quá trình đô thị hóa, Đại học Xây đựng, Hà Nội.  
10. Di sản văn hóa (2009) Văn hóa Óc Eo-nhận thức và giải pháp  
bảo tồn phát huy giá trị di tích, Nhà xuất bản Cục Di sản văn  
hóa.  
4. Đỗ Thị Lệ Hằng (2008), “Thực trạng chuyền đổi nghề nghiệp của  
cư dân vùng ven trong quá trình đô thị hoá”, Tạp chí Tâm lý học,  
số 3, từ. 37-40.  
5. Trương Minh Hằng và nhóm tác giả (2011), Tổng tập nghề và  
làng nghề truyền thống Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,  
Hà Nội.  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
94  
TIN T¸C & S¼ KIªN  
PGS.TS.KTS. Lê Quân - Hiệu trưởng Trường Đại học  
Kiến trúc Hà Nội cũng cho biết: Hội thảo được tổ chức để  
tri ân những đóng góp to lớn của các chuyên gia Ba Lan và  
Việt Nam trong khôi phục và bảo tồn các công trình di sản  
đang bị đe dọa tại Việt Nam, cũng như những nỗ lực của họ  
trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ chuyên gia bảo tồn tiếp  
nối. Hội thảo cũng là cơ hội chia sẻ những kiến thức và kinh  
nghiệm quý báu về bảo tồn và công nghệ thu được trong  
các dự án nghiên cứu và trùng tu đã hoàn thành ở Ba Lan  
và Việt Nam.  
Hội thảo khoa học quốc tế: Kinh nghiệm  
Ba Lan - Việt Nam trong bảo tồn di sản  
kiến trúc  
Nhân dịp kỷ niệm 71 năm thiết lập quan hệ ngoại giao  
Việt Nam - Ba Lan, 40 năm quan hệ hợp tác Ba Lan - Việt  
Nam về bảo tồn; trong hai ngày 11 và 12/10/2021, Trường  
Đại học Kiến trúc Hà Nội phối hợp với Trường Đại học Công  
nghệ Kielce (Ba Lan) và Trường Đại học Thủy lợi tổ chức  
Hội thảo Khoa học Quốc tế với chủ đề “Kinh nghiệm Ba Lan  
- Việt Nam trong bảo tồn di sản kiến trúc”. Hội thảo được  
tổ chức dưới sự bảo trợ của Đại sứ quán Ba Lan theo hình  
thức trực tiếp kết hợp trực tuyến với sự tham gia của các  
nhà nghiên cứu, giảng viên, chuyên gia hàng đầu về bảo tồn.  
Hội thảo bao gồm 3 phiên theo hình thức trực tuyến  
Kielce (Ba Lan) - Hà Nội trong 2 ngày: 11 - 12/10/2021.  
Nghiên cứu sinh Nguyễn Dư Minh bảo vệ  
thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành  
Quản lý đô thị và công trình  
Chiều 15/10/2021, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội tổ  
chức đánh giá Luận án Tiến sĩ cấp trường cho nghiên cứu  
sinh Nguyễn Dư Minh với đề tài: “Áp dụng phương pháp điều  
chỉnh đất trong triển khai dự án đầu tư xây dựng khu đô thị  
tại đô thị trung tâm Thủ đô Hà Nội”, chuyên ngành Quản lý  
đô thị và Công trình, mã số 62.58.01.06. Người hướng dẫn  
khoa học là TS.KTS. Lê Trọng Bình và TS.KTS. Trần Thị Lan  
Anh.  
Tham dự Hội thảo, về phía điểm cầu Trường Đại học  
Kiến trúc Hà Nội có Ngài Wojciech Gerwel - Đại sứ Cộng  
hoà Ba Lan tại Việt Nam; TS.KTS. Hoàng Đạo Cương - Thứ  
trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch; PGS.TS.KTS. Lê  
Quân - Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cùng  
sự hiện diện của các chuyên gia, các nhà khoa học đến từ  
các Trường Đại học, các tổ chức trong và ngoài nước.  
Phát biểu khai mạc hội thảo, Ngài Đại sứ Cộng hoà Ba  
Lan tại Việt Nam - Wojciech Gerwel đã khẳng định mối quan  
hệ hợp tác giữa Việt Nam - Ba Lan trong lĩnh vực bảo tồn  
di tích đã được thiết lập từ những năm 1980, với hình ảnh  
đẹp còn lưu lại là Kiến trúc sư Kazic với hoạt động tu bổ di  
tích Mỹ Sơn, Hội An và Huế. Trong thời gian tới, hai nước  
sẽ quyết tâm và tăng cường hơn nữa trong lĩnh vực tu bổ,  
tôn tạo di tích để đạt được những mục tiêu mà hai bên đã  
đặt ra. Ba Lan cũng sẽ mở các lớp đào tạo, hướng dẫn cho  
các chuyên gia bảo tồn di tích của Việt Nam . Đại sứ quán  
Ba Lan cũng đề xuất với Bộ Giáo dục và Đào tạo của Ba  
Lan cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam sang học đại học  
tại Ba Lan, đồng thời cử sinh viên Ba Lan sang Việt Nam để  
cùng chuyên gia Việt Nam nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm  
về bảo tồn di tích. Đánh giá cao sự hợp tác của Ba Lan trong  
công tác bảo tồn, tu bổ di tích, di sản trong thời gian qua, Thứ  
trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương  
tin tưởng rằng trong thời gian tới, mối quan hệ hợp tác bảo  
tồn di tích, di sản giữa Việt Nam - Ba Lan sẽ không ngừng  
được củng cố và tăng cường, qua đó góp phần cho sự thành  
công của công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di tích và di  
sản văn hóa Việt Nam. Thứ trưởng khẳng định, Bộ Văn hóa,  
Thể thao và Du lịch rất quan tâm đến ý kiến của Ngài đại sứ  
về việc mở các khóa tập huấn đào tạo chuyên gia tu bổ di  
tích tại Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ giao  
các đơn vị liên quan phối hợp thực hiện.  
Tham dự buổi bảo vệ có PTS.TS.KTS. Nguyễn Tuấn Anh  
- Phó Hiệu trưởng; các nhà khoa học, các giảng viên đang  
làm công tác giảng dạy trong và ngoài Trường; đồng nghiệp  
cùng gia đình và bạn bè của Nghiên cứu sinh.  
Với những kết quả đạt được trong luận án, Nghiên cứu  
sinh Nguyễn Dư Minh đã hoàn thành mục đích và nhiệm  
vụ nghiên cứu. Luận án có những đóng góp thiết thực vào  
việc: Nghiên cứu tìm hiểu về phương pháp điều chỉnh đất  
bao gồm: thuật ngữ, khái niệm, cơ chế vận hành, phạm vi áp  
dụng, điều kiện áp dụng và ưu, nhược điểm, chọn lọc những  
nội dung của phương pháp điều chỉnh đất trong triển khai  
các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị trên thế giới cho bối  
cảnh Việt Nam; Nghiên cứu áp dụng các cơ chế của phương  
pháp điều chỉnh đất trong triển khai dự án đầu tư xây dựng  
khu khu đô thị tại đô thị trung tâm Thủ đô Hà Nội.  
Hội đồng đánh giá đây là một công trình nghiên cứu khoa  
học độc lập, nghiêm túc, bám sát và đáp ứng được những  
yêu cầu của luận án Tiến sĩ. Nghiên cứu sinh đã vận dụng  
lý thuyết để phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề  
nghiên cứu. Kết quả phân tích và một số nhận định có chất  
lượng khoa học. Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa sâu sắc cả về  
lý luận và thực tiễn.  
Điểm lại quá trình hợp tác Khoa học - Công nghệ và Giáo  
dục - Đào tạo giữa Việt Nam và Ba Lan, PGS.TS.KTS. Lê  
Quân - Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội ghi  
nhận những công trình mà chuyên gia Ba Lan đã giúp Việt  
Nam từ sau ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm  
1950 đến nay… Trong những năm trở lại đây, chương trình  
hợp tác Ba Lan - Việt Nam trong lĩnh vực bảo tồn di sản kiến  
trúc nổi bật trên các tạp chí khoa học Quốc tế có uy tín và hội  
thảo chuyên đề. Nhiều nhà khoa học Ba Lan sang Việt Nam  
đi thực địa và các nhà khoa học Việt Nam sang Ba Lan trao  
đổi khoa học. Bên cạnh đó là rất nhiều dự án hợp tác nghiên  
cứu khoa học và đào tạo đang được xúc tiến với mục tiêu sẽ  
là một thế hệ nhà khoa học với đẳng cấp EU và Quốc tế cho  
Việt Nam.Mỗi cá nhân đều cố gắng đem khoa học Ba Lan về  
Việt Nam và đem sinh viên Việt Nam sang Ba Lan để bước  
vào ngôi nhà khoa học Châu Âu và thế giới.  
Với kết quả 07/07 phiếu tán thành, Hội đồng đã thông  
qua Nghị quyết và đề nghị Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội  
cấp văn bằng học vị Tiến sĩ cho Nghiên cứu sinh Nguyễn  
Dư Minh.  
Báo cáo triển khai thực hiện đề tài  
“Nghiên cứu cải tạo các vườn hoa công  
viên trong khu vực nội đô lịch sử có sự  
tham gia của cộng đồng”  
Ngày 02/7/2021 tại Hội trường Trung tâm Văn hóa Thể  
thao phường Yên Phụ, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội phối  
hợp cùng UBND phường Yên Phụ tổ chức lấy ý kiến đóng  
góp của cộng đồng cho nội dung: “Đề xuất giải pháp tổ chức  
S¬ 42 - 2021  
95  
TIN T¸C & S¼ KIªN  
kiến trúc cảnh quan vườn hoa Thanh niên có sự tham gia  
của cộng đồng”. Đây là buổi báo cáo giữa kỳ triển khai thực  
hiện đề tài “Nghiên cứu cải tạo các vườn hoa công viên trong  
khu vực nội đô lịch sử có sự tham gia của cộng đồng”.  
mô 31/33 vườn hoa công cộng thuộc 05 Quận (Tây Hồ, Ba  
Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa). Các vườn hoa  
này thuộc khu vực nội đô lịch sử (ranh giới được quy định tại  
Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng  
Chính phủ về phê duyệt quy hoạch chung xây dựng Thủ đô  
Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn 2050).  
Đại diện các nhóm nghiên cứu trình bày giải pháp tổ  
chức kiến trúc cảnh quan vườn hoa Thanh niên  
Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng của các vườn  
hoa công cộng trong nội đô lịch sử; Đề xuất các giải pháp tổ  
chức kiến trúc cảnh quan vườn hoa công cộng trong nội đô  
lịch sử có sự tham gia của cộng đồng.  
Tham dự buổi báo cáo, về phía Ủy ban nhân dân phường  
Yên Phụ có bà Phạm Thị Oanh - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận  
Tổ Quốc.  
Về phía Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội có: TS.TKS.  
Nguyễn Hoàng Minh - Phó trưởng Khoa Sau Đại học;  
TS.KTS. Nguyễn Thái Huyền - Phó Viện trưởng Viện Đào  
tạo và Hợp tác Quốc tế.  
Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật thực hiện: Chia  
5 nhóm, mỗi nhóm 4-5 thành viên thiết kế (phương án) đối  
với các hoạt động chính: điều tra, khảo sát, thí nghiệm, thực  
nghiệm; Rà soát tài liệu, bản vẽ, vẽ ghi trên thực địa, kiểm  
đếm, xác định hệ thống cây xanh đặc trưng của từng công  
viên, đánh giá ghi chép số liệu, chụp ảnh…  
Dự buổi báo cáo còn có một số cán bộ phường Yên  
Phụ, các tổ trưởng tổ dân phố của 14 tổ dân phố trực thuộc  
phường Yên Phụ, thành viên thuộc các nhóm báo cáo của  
trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.  
Giờ đây, chúng ta đang phải đối phó và thích ứng trước  
những tác hại của thời tiết do biến đổi khí hậu cùng với đại  
dịch Covid-19. Vì thế, hơn lúc nào hết, các không gian công  
cộng trong thành phố như cây xanh, công viên, vườn hoa,  
sông hồ mặt nước... rất cần được đầu tư chăm sóc, không  
chỉ để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện sức khỏe  
của người dân, nâng cao chất lượng sống mà còn là để phát  
triển đô thị theo hướng xanh, bền vững. Những nghiên cứu  
này cũng tạo tiền đề biến Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội  
trở thành cơ sở đào tạo Kiến trúc hiện đại mang tầm cỡ khu  
vực và Quốc tế.  
Với mục đích nâng cao chất lượng các vườn hoa và đáp  
ứng nhu cầu vui chơi, nghỉ ngơi giải trí của nhân dân thành  
phố Hà Nội, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã triển khai  
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp  
tổ chức kiến trúc cảnh quan các vườn hoa công cộng khu  
vực nội đô lịch sử Hà Nội có sự tham gia của cộng đồng”.  
Trong khuôn khổ thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã lựa  
chọn Vườn hoa Thanh niên làm thí điểm để đề xuất ý tưởng  
và giải pháp tổ chức kiến trúc cảnh quan có sự tham gia của  
cộng đồng.  
Sau thời gian làm việc hiệu quả với sự giúp đỡ của các  
chuyên gia, các nhà khoa học, UBND phường Yên Phụ,  
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cùng các cơ quan, sở ban  
ngành, kết quả nghiên cứu của học viên được tổ chức báo  
cáo tại Hội trường Trung tâm Văn hóa Thể thao phường Yên  
Phụ đã thành công tốt đẹp với những kết quả hứa hẹn được  
áp dụng vào thực tế trong thời gian tới./.  
Theo TS.KTS. Nguyễn Thái Huyền - Phó Viện trưởng  
Viện Đào tạo và Hợp tác Quốc tế Trường Đại học Kiến trúc  
Hà Nội, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện đã phân  
công nhiệm vụ nghiên cứu, chuyên gia phối hợp bao gồm:  
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Sở Quy hoạch - Kiến trúc  
Hà Nội, Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội, UBND Quận Hoàn  
Kiếm. Địa điểm thực hiện các nội dung đã tiến hành với quy  
THỂ LỆ VIẾT VÀ GỬI BÀI  
CHO TẠP CHÍ KHOA HỌC KIẾN TRÚC – XÂY DỰNG  
1. Bài gửi đăng tạp chí phải là công trình nghiên cứu  
của tác giả, chưa đăng và chưa gửi đăng ở bất kỳ tạp  
chí nào khác.  
6. Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị, nơi làm việc, số điện  
thoại, e-mail của tác giả kèm theo một file chứa nội  
dung bài báo.  
2. Bài gửi đăng bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh, được  
đánh máy tính, in trên 1 mặt giấy khổ A4 thành 2 bản  
(phông chữ Arial (Unicode), cỡ chữ 11; lề trên và lề  
dưới 3cm; lề phải và lề trái 3cm).  
7. Bài viết phải có tên bằng tiếng Việt và tiếng Anh, các  
từ khóa tìm kiếm. Mỗi bài cần kèm theo phần tóm tắt  
bằng tiếng Việt và tiếng Anh (cỡ chữ 10, tối đa là 150  
từ) cung cấp những nội dung chính của bài viết.  
3. Các hình vẽ phải rõ ràng, chuẩn xác. Nếu bài có ảnh  
thì phải gửi kèm ảnh gốc độ phân giải 200dpi. Hình vẽ  
và ảnh phải được chú thích đầy đủ.  
8. Cấu trúc bài báo gồm các phần: dẫn nhập, nội dung  
khoa học và kết luận (viết thành mục riêng). Bài báo  
phải đưa ra được các kết quả nghiên cứu mới hoặc  
các ứng dụng mới hay phải nêu được hiện trạng,  
những hướng phát triển cơ bản của vấn đề được đề  
cập, khả năng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng  
tại Việt Nam. Bài giới thiệu tổng quan không quá 10  
trang; công trình nghiên cứu và triển khai ứng dụng  
không quá 8 trang.  
4. Các công thức và các thông số có liên quan phải  
được chế bản bằng phần mềm Mathtype (kể cả công  
thức hoặc các thành phần của công thức có trên các  
dòng văn bản).  
5. Tài liệu tham khảo chính, trích dẫn phải có đủ các  
thông tin theo trình tự sau: Họ tên tác giả (hoặc chủ  
biên), tên sách (tên bài báo/tạp chí, tên báo cáo khoa  
học), nơi xuất bản, nhà xuất bản, năm xuất bản, trang  
trích dẫn (tối đa 10 tài liệu tham khảo chính).  
9. Với bài thông tin khoa học, tin ngắn: Là các bài dịch  
tổng thuật, tổng quan về các vấn đề khoa học công  
nghệ xây dựng kiến trúc có tính thời sự.  
10.Không trả lại bản thảo cho những bài không đăng./.  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
96  
pdf 8 trang Thùy Anh 16860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo tồn không gian làng nghề nón lá truyền thống thôn Tri Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ton_khong_gian_lang_nghe_non_la_truyen_thong_thon_tri_le.pdf