Giáo trình Quản trị kinh doanh quốc tế

LỜI MỞ ĐẦU  
Tập bài giảng Quản trị kinh doanh quốc tế được xây dựng nhằm đáp ứng nhu  
cầu phục vụ công tác dạy và học học phần Quản trị kinh doanh quốc tế cho đối tượng  
là sinh viên đại học chuyên ngành quản trị kinh doanh thuộc Khoa Kinh tế của Trường  
Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định.  
Tập bài giảng được xây dựng với bố cục gồm 4 chương, được trình bày trên 150  
trang đánh máy, kết thúc mỗi chương có phần câu hỏi ôn tập.  
Cách tiếp cận khi xây dựng tập bài giảng Quản trị kinh doanh quốc tế theo  
hướng khái quát hóa nội dung, diễn đạt để phù hợp với đối tượng chính là sinh viên  
đại học thuộc Khoa Kinh tế của Trường Đại học SPKT Nam Định.  
Trong quá trình xây dựng tập bài giảng, nhóm tác giả đã tham khảo nhiều tài  
liệu trong và ngoài nước; đặc biệt có sử dụng trích dẫn hoặc phát triển ý tưởng, nội  
dung của nhiều tác giả (nêu trong phần danh mục tài liệu tham khảo). Tập thể nhóm  
tác giả xin phép được sử dụng tài liệu của quý vị với vai trò là nền tảng cơ bản xây  
dựng tập bài giảng này nhằm góp phần phát triển những kiến thức về quản trị kinh  
doanh quốc tế đến gần với người đọc, tăng cường tính phổ biến về các kiến thức quản  
trị kinh doanh quốc tế, đặc biệt là kiến thức này có ý nghĩa thực tiễn cũng như kinh  
nghiệm lớn đến các hoạt động kinh doanh quốc tế với nhiều doanh hiện nay.  
Cuối cùng, nhóm tác giả chúng tôi xin gửi những lời cám ơn trân trọng nhất tới  
các nhà nghiên cứu, các học giả, bạn bè, đồng nghiệp... đã cung cấp cho chúng tôi  
những tư liệu, những lời góp ý quý giá để chúng tôi hoàn thành tập bài giảng này.  
Tập bài giảng Quản trị kinh doanh quốc tế có thể còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi  
mong nhận được sự góp ý của bạn đọc.  
NHÓM TÁC GIẢ  
i
MỤC LỤC  
ii  
iii  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Bảng 2.1: Thuận lợi và bất lợi của các chiến lƣợc kinh doanh quốc tế  
Bảng 3.1: So sánh hợp đồng chuyển nhƣợng và hợp đồng sử dụng giấy phép  
Bảng 4.1 Chuyển lợi nhuận bằng chuyển giá  
65  
96  
144  
145  
Bảng 4.2 Chuyển giá thông qua tránh thuế  
iv  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
Hình 2.1: Mô hình chi tiết quản trị chiến lƣợc  
53  
55  
Hình 2.2 : Mô hình các bƣớc công việc trong giai đoạn hoạch định chiến  
lƣợc kinh doanh quốc tế  
Hình 2.3: Cấu trúc phân nhánh quốc tế  
74  
75  
Hình 2.4: Cấu trúc khu vực địa lý  
Hình 2.5: Cấu trúc sản phẩm toàn cầu  
75  
Hình 2.6: Cấu trúc ma trận toàn cầu  
76  
Hình 2.7: Các cơ chế phối hợp chính thức  
79  
Hình 3.1 : Các hình thức thâm nhập thị trƣờng quốc tế thông qua xuất khẩu  
Hình 3.2: Các hình thức buôn bán đối lƣu  
88  
90  
Hình 3.3: Hình thức thâm nhập thị trƣờng thông qua hợp đồng  
Hình 3.4: Các hình thức thâm nhập thông qua đầu tƣ  
Hình 3.5: Phân loại phƣơng thức thâm nhập thị trƣờng nƣớc ngoài dựa trên  
mức độ kiểm soát của công ty mẹ  
96  
106  
107  
Hình 4.1: Dòng chuyển tiền giữa các công ty con của công ty đa quốc gia  
Hình 4.2: Mô hình dòng chuyển tiền giữa các công ty con của công ty đa  
quốc gia  
145  
146  
v
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ  
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  
1.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh quốc tế  
1.1.1. Khái niệm, động cơ tham gia hoạt động và đặc trƣng của động kinh  
doanh quốc tế  
- Khái niệm hoạt động kinh doanh quốc tế:  
Hoạt động kinh doanh quốc tế bao gồm mọi giao dịch kinh tế liên quan từ hai  
quốc gia trở lên với từ cách tư nhân hoặc của chính phủ. Nếu hoạt động của công ty  
tƣ nhân diễn ra nhằm tìm kiếm lợi nhuận thì hoạt động của chính phủ bảo trợ trong  
kinh doanh quốc tế có thể vì mục đích lợi nhuận hoặc không. Để đạt đƣợc mục tiêu  
quốc tế, công ty phải thiết lập các hình thức hoạt động quốc tế và chúng có thể khác  
nhiều so với hoạt động trong nƣớc.  
Việc tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế tùy thuộc vào các mục tiêu  
cũng nhƣ các phƣơng tiện mà công ty sử dụng, sẽ tác động và bị tác động bởi môi  
trƣờng cạnh tranh của quốc gia mà công ty hƣớng đến.  
- Động cơ tham gia kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp:  
+ Gia tăng doanh số bán hàng:  
Doanh số bán hàng bị hạn chế do số ngƣời lƣu ý đến sản phẩm hay dịch vụ của  
công ty và khả năng tiêu thụ của ngƣời tiêu dùng. Các công ty có thể tăng tiềm năng  
doanh số bán hàng của họ bằng cách xác định thị trƣờng tiêu thụ trên phạm vi quốc  
tế, vì số lƣợng ngƣời tiêu dùng và sức mua của họ đối với sản phẩm của công ty sẽ  
cao hơn ở phạm vi toàn thế giới nếu so với chỉ tiêu thụ trên phạm vi quốc gia riêng lẻ.  
Thông thƣờng, lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm bán đƣợc sẽ tăng lên khi  
doanh số bán hàng tăng lên. Nhiều công ty hàng đầu trên thế giới đã thu đƣợc hơn  
một nửa doanh số bán hàng của họ từ nƣớc ngoài.  
+ Tiếp cận các nguồn lực nước ngoài:  
Các nhà sản xuất và phân phối tìm thấy các sản phẩm, dịch vụ cũng nhƣ các bộ  
phận cấu thành sản phẩm đƣợc sản xuất từ ngoại quốc có thể giảm chi phí cho họ.  
Điều này có thể làm cho doanh thu biên tăng lên hoặc việc tiết kiệm chi phí có thể  
chuyển sang ngƣời tiêu thụ, nhƣ thế sẽ cho phép công ty cải tiến chất lƣợng sản  
phẩm, hay ít ra cũng làm tăng tính khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, từ đó tạo điều  
kiện gia tăng thị phần và lợi nhuận của công ty.  
+ Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh:  
Các công ty thƣờng tìm cách tránh sự biến động bất thƣờng của doanh số bán  
và lợi nhuận qua việc tiêu thụ hàng hóa ra thị trƣờng nƣớc ngoài. Nhiều công ty khác  
lợi dụng thực tế để điều chỉnh thời gian của chu kỳ kinh doanh không giống nhau  
giữa các quốc gia khác nhau mà giữ vững doanh số bán. Trong khi doanh số bán sẽ  
1
     
giảm đi ở một quốc gia đang bị suy thoái kinh tế thì sẽ lại tăng lên ở một quốc gia  
khác đang trong thời kỳ phục hồi.  
Cuối cùng, bằng cách cung cấp cùng chủng loại sản phẩm hoặc các bộ phận  
cấu thành trên các quốc gia khác nhau, công ty cũng có thể tránh đƣợc hoàn toàn ảnh  
hƣởng của sự biến động giá cả thất thƣờng và sự thiếu hụt ở bất kỳ quốc gia nào.  
- Đặc trưng của kinh doanh quốc tế  
Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia và đƣợc thực  
hiện trong môi trƣờng kinh doanh mới và xa lạ. Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh  
không thể lấy kinh nghiệm kinh doanh nội địa để áp đặt hoàn toàn cho kinh doanh với  
nƣớc ngoài. Các doanh nghiệp muốn kinh doanh ở môi trƣờng nƣớc ngoài một cách  
hiệu quả, trƣớc hết phải nghiên cứu, đánh giá môi trƣờng kinh doanh nơi mà doanh  
nghiệp muốn thâm nhập hoạt động. Sự khác nhau giữa kinh doanh quốc tế và kinh  
doanh trong nƣớc (kinh doanh nội địa) thể hiện ở một số điểm sau:  
+ Thứ nhất, kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh diễn ra giữa các nƣớc,  
còn kinh doanh trong nƣớc là hoạt động kinh doanh chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia  
và giữa các tế bào kinh tế của quốc gia đó.  
+ Thứ hai, kinh doanh quốc tế đƣợc thực hiện ở nƣớc ngoài, vì vậy các doanh  
nghiệp hoạt động trong môi trƣờng này thƣờng gặp phải nhiều rủi ro hơn là kinh  
doanh nội địa.  
+ Thứ ba, kinh doanh quốc tế buộc phải diễn ra trong môi trƣờng kinh doanh  
mới và xa lạ, do đó các doanh nghiệp phải thích ứng để hoạt động có hiệu quả.  
+ Thứ tư, kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia tăng lợi  
nhuận bằng cách mở rộng phạm vi thị trƣờng. Điều này khó có thể đạt đƣợc nếu  
doanh nghiệp chỉ thực hiện kinh doanh trong nƣớc.  
1.1.2. Các hình thức của kinh doanh quốc tế  
1.1.2.1. Thương mại quốc tế  
- Khái niệm:  
Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các doanh nghiệp  
của các quốc gia thông qua hành vi mua, bán. Các doanh nghiệp kinh doanh thương  
mại quốc tế phải hoạt động trong môi trường có tính quốc tế và phải thường xuyên  
đối phó với những tác động của môi trường này. Việc tiến hành các hoạt động thương  
mại quốc tế sẽ tùy thuộc vào các mục tiêu của công ty và các phương tiện mà công ty  
lựa chọn thực hiện.  
- Vai trò của kinh doanh thương mại quốc tế:  
+ Đối với doanh nghiệp: Thƣơng mại quốc tế là một bộ phận của nền kinh tế  
liên quan đến quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ với các nƣớc khác, cho nên trƣớc  
hết nó thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông qua thƣơng mại quốc tế,  
2
   
các doanh nghiệp có thể tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mở rộng quy mô và đa  
dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm tạo cho doanh nghiệp đạt đƣợc sự tăng  
trƣởng bền vững. Kinh doanh thƣơng mại quốc tế nâng cao vị thế của doanh nghiệp,  
tạo thế và lực cho doanh nghiệp không những ở thị trƣờng quốc tế, mà cả thị trƣờng  
trong nƣớc thông qua việc mua bán hàng hóa ở thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, cũng  
nhƣ việc mở rộng các quan hệ bạn hàng. Ngoài ra, kinh doanh thƣơng mại quốc tế có  
vai trò điều tiết, hƣớng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  
+ Đối với nền kinh tế quốc dân: Kinh doanh thƣơng mại quốc tế phục vụ đắc  
lực cho công cuộc đổi mới kinh tế thông qua việc sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động  
và tài nguyên của đất nƣớc, tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân,  
tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nƣớc  
kích thích sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, làm nảy sinh các nhu cầu tiềm tàng  
của ngƣời tiêu dùng... Kinh doanh thƣơng mại quốc tế còn góp phần mở rộng các  
quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao vị thế và uy tín của quốc gia trên trƣờng quốc tế.  
1.1.2.2. Kinh doanh tài chính - tiền tệ quốc tế  
- Khái niệm:  
Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên phạm vi quốc tế. Đó là sự  
di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia gắn liền với quan hệ kinh tế về kinh tế,  
chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao,… giữa các chủ thể của các quốc gia và  
các tổ chức quốc tế thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi chủ thể nhằm  
đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể đó trong các quan hệ quốc tế.  
- Cơ sở hình thành tài chính quốc tế:  
+ Các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị,  
quân sự, ngoại giao,… đòi hỏi phải có và làm xuất hiện quan hệ tài chính quốc tế.  
+ Cùng với sự xuất hiện của tiền tệ nhƣ một vật trao đổi trung gian, tiền tệ dần  
có đầy đủ các chức năng trong trao đổi, thanh toán, trong dự trữ và chức năng tiền tệ  
thế giới. Chính chức năng trao đổi, thanh toán quốc tế của tiền đã là cơ sở cho việc  
hình thành và thực hiện các quan hệ tài chính quốc tế.  
+ Thƣơng mại quốc tế ra đời và phát triển làm thúc đẩy các khoản thanh toán  
và tín dụng giữa các quốc gia trong lĩnh vực đầu tƣ quốc tế và nhiều lĩnh vực khác.  
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ và xu thế hội nhập kinh tế, phƣơng  
tiện giao thông ngày càng phát triển, nảy sinh quan hệ đầu tƣ quốc tế, hợp tác lao  
động, hoạt động du lịch quốc tế giữa các quốc gia làm cho các hoạt động tài chính  
quốc tế trong lĩnh vực này ngày càng sôi động.  
- Quá trình phát triển của tài chính quốc tế:  
Trong thời kì chiếm hữu nô lệ gắn liền với Nhà nƣớc chủ nô, những hình thức  
sơ khai của quan hệ tài chính quốc tế nhƣ việc trao đổi, buôn bán hàng hóa giữa các  
3
 
quốc gia, cống nộp vàng bạc, châu báu giữa nƣớc này với nƣớc khác đã xuất hiện.  
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế, thuế xuất nhập khẩu ra đời để  
điều chỉnh các quan hệ buôn bán giữa các quốc gia và tín dụng quốc tế đã xuất hiện do  
có các quan hệ vay nợ giữa các nƣớc.  
Với sự xuất hiện của Chủ nghĩa tƣ bản, những hình thức cổ truyền của quan hệ  
tài chính quốc tế nhƣ thuế xuất nhập khẩu, tín dụng quốc tế vẫn tiếp tục tồn tại và ngày  
càng phát triển đa dạng thích ứng với những bƣớc phát triển mới của các quan hệ kinh  
tế quốc tế và thái độ chính trị của các nhà nƣớc. Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế  
hàng hóa - tiền tệ, kinh tế thị trƣờng, những diễn biến phức tạp của cục diện chính trị  
thế giới, cũng nhƣ cách tiếp cận của chính phủ các nƣớc trong quan hệ quốc tế, bên  
cạnh các hình thức cổ truyền, đã xuất hiện những hình thức mới của quan hệ tài chính  
quốc tế nhƣ đầu tƣ quốc tế trực tiếp, đầu tƣ quốc tế gián tiếp với các loại hình đa dạng,  
viện trợ quốc tế không hoàn lại, hợp tác quốc tế tài chính – tiền tệ thông qua việc thiết  
lập các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế.  
1.1.2.3. Kinh doanh các dịch vụ quốc tế  
- Khái niệm:  
Dịch vụ là hình thức lấy lao động sống để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc  
sống và sản xuất, thông qua phương thức nào đó để nâng cao các hoạt động kinh tế  
và mức sống con người. Đồng thời dịch vụ cũng là sản phẩm của sức sản xuất và  
trình độ khoa học kỹ thuật của con người đã đạt đến một trình độ nhất định.  
Trong kinh tế học hiện đại, dịch vụ đƣợc hiểu là bao gồm những hoạt động của  
các ngành, các lĩnh vực tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc  
dân (GNP), trừ các ngành sản xuất các sản phẩm vật chất nhƣ công nghiệp, lâm  
nghiệp, nông nghiệp và ngƣ nghiệp.  
Nhƣ vậy, có thể hiểu dịch vụ quốc tế là toàn bộ các hoạt động diễn ra giữa hai  
hay nhiều quốc gia trên các lĩnh vực nhƣ vận tải (gồm vận tải đƣờng sắt, hàng không  
đƣờng biển...), thông tin, bƣu chính viễn thông, và các lĩnh vực hoạt động khác nhƣ  
ngân hàng, tín dụng bảo hiểm tƣ vấn... Giữa dịch vụ và sản phẩm có sự khác nhau cơ  
bản, do đó hoạt động kinh doanh dịch vụ cũng khác với hoạt động kinh doanh của các  
ngành sản xuất vật chất (hay kinh doanh sản phẩm). Sự khác nhau đó đƣợc thể hiện ở  
những điểm chủ yếu sau đây:  
+ Hoạt động của những ngành sản xuất vật chất tạo ra các sản phẩm vật chất.  
Các sản phẩm này có tính chất cơ, lý, hoá học với tiêu chuẩn kỹ thuật đã đƣợc tiêu  
chuẩn hoá. Còn hoạt động dịch vụ thì không thể xác định hoặc khó có thể xác định cụ  
thể bằng tiêu chuẩn kỹ thuật, bằng các chỉ tiêu chất lƣợng đƣợc lƣợng hoá cụ thể và rõ  
ràng. Nói một cách tổng quát là sản phẩm thì dễ đo, dễ đánh giá bằng các tiêu chuẩn  
kỹ thuật; còn dịch vụ và buôn bán dịch vụ không thể đo lƣờng bằng các tiêu chuẩn  
4
 
định mức kỹ thuật.  
+ Hoạt động sản xuất vật chất chế tạo ra sản phẩm vật chất, các sản phẩm này  
có thể cất trữ dự trữ đƣợc hoặc có thể đem bán bằng cách vận chuyển đến các thị  
trƣờng khác nhau để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng thông qua điều tiết của cung  
cầu trên thị trƣờng. Còn hoạt động dịch vụ tạo ra "sản phẩm vô hình" và tiêu dùng  
dịch vụ diễn ra đồng thời (đi liền) với nhau. "Sản phẩm" dịch vụ không thể dự trữ  
đƣợc vì nó là "sản phẩm vô hình".  
+ Hoạt động sản xuất ra sản phẩm vật chất có chất lƣợng cao, tạo ra uy tín cho  
hãng sản xuất kinh doanh. Khách hàng có thể dựa vào nhãn mác, mẫu mã, ký hiệu sản  
phẩm của hãng để lựa chọn sản phẩm và không cần biết đến ngƣời sản xuất và chủ  
hãng. Còn "sản phẩm" của hoạt động dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào chất lƣợng tiếp  
xúc, uy tín và sự tƣơng tác qua lại giữa những ngƣời làm dịch vụ và những ngƣời  
đƣợc phục vụ.  
Buôn bán dịch vụ không loại trừ phƣơng tiện của hoạt động dịch vụ, những  
điều kiện sản phẩm kèm theo và các dịch vụ bổ sung khác. Những kết quả đọng lại ở  
những ngƣời đƣợc phục vụ, chủ yếu vẫn là quan hệ giao tiếp, sự đáp ứng kịp thời các  
nhu cầu, yêu cầu và lòng mong muốn của khách hàng đối với những dịch vụ và ngƣời  
làm dịch vụ trực tiếp phục vụ cho khách hàng.  
- Phân loại các hoạt động kinh doanh dịch vụ quốc tế:  
Trong kinh doanh quốc tế có nhiều loại hình dịch vụ quốc tế khác nhau. Tùy  
thuộc vào từng góc độ tiếp cận khác nhau, ngƣời ta chia dịch vụ quốc tế thành các  
hoạt động dịch vụ cụ thể khác nhau.  
Theo cách phân loại của Liên hợp quốc, các lĩnh vực dịch vụ đƣợc phân thành  
các dịch vụ vận tải các dịch vụ du lịch; các dịch vụ kinh doanh …Ngoại trừ các  
ngành dịch vụ vận tải, dịch vụ đi lại (dịch vụ thu đƣợc do sự di chuyển của dân chúng  
từ địa điểm này sang địa điểm khác, nhƣ đi du lịch, đi công tác...), dịch vụ xây dựng,  
phần lớn các dịch vụ khác đƣợc coi là "không mua bán đƣợc" và khi tính đến thƣơng  
mại của một quốc gia và các nhân tố khác liên quan, nhƣ cán cân thanh toán, ngƣời ta  
chỉ tính đến thƣơng mại hàng hóa hữu hình. Các năm trở lại đây, ngày càng nhiều các  
hàng hóa dịch vụ đƣợc xem nhƣ "mua bán đƣợc". Các hàng hóa này tham gia vào  
thƣơng mại quốc tế với số lƣợng ngày càng tăng và kích thích sự quan tâm của các  
nhà kinh tế học vĩ mô.  
Nhiều dịch vụ trong số các dịch vụ kể trên đƣợc phân loại thành "các dịch vụ  
kinh doanh". Các dịch vụ kinh doanh là một nhóm phức tạp các hoạt động, bao gồm:  
viễn thông, các dịch vụ tài chính, quyền sử dụng các thông tin hay các kiểu dáng thiết  
kế, các dịch vụ kế toán, xây dựng và cơ khí, quảng cáo, các dịch vụ luật pháp, tƣ vấn  
kỹ thuật và quản lý. Cùng với sự bùng nổ của thông tin và sự lan rộng của chính sách  
5
tự do hoá thƣơng mại, hiệu lực của các ngành dịch vụ vƣợt khỏi biên giới của các  
quốc gia và một số trở nên mang tính toàn cầu. Có thể nói, sự phát triển của các ngành  
dịch vụ kinh doanh gắn liền với sự phát triển của "kỷ nguyên thông tin".  
Nếu đứng trên góc độ hình thức hoạt động, có thể chia dịch vụ quốc tế thành:  
dịch vụ xuất, nhập khẩu; dịch vụ đầu tƣ; dịch vụ ngân hàng; dịch vụ thanh toán; dịch  
vụ vận tải; dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ tƣ vấn...  
Nếu đứng trên góc độ bản chất của hoạt động dịch vụ, có thể chia dịch vụ quốc  
tế thành dịch vụ hoạt động hữu hình (nhƣ dịch vụ vận tải hành khách và hàng hóa,  
dịch vụ sửa chữa, bảo dƣỡng các thiết bị công nghiệp, dịch vụ du lịch...) và dịch vụ  
hoạt động vô hình (dịch vụ ngân hàng, dịch vụ pháp luật, kế toán, bảo hiểm...).  
- Vai trò của dịch vụ quốc tế:  
+ Dịch vụ quốc tế đã và đang có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế  
quốc gia và nền kinh tế thế giới.  
Dịch vụ quốc tế là những hoạt động không thể thiếu đƣợc trong nền kinh tế của  
mỗi quốc gia.  
Nếu chúng ta xem xét nền kinh tế của mỗi quốc gia là một bộ phận không thể  
tách rời trong một chỉnh thể thống nhất, thì mỗi nền kinh tế đó gồm hai bộ phận chủ  
yếu hợp thành, đó là các ngành sản xuất vật chất và các ngành dịch vụ. Với sự biến  
đổi sâu sắc và phát triển với tốc độ ngày càng cao của nền kinh tế, các dịch vụ đang  
chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Số lƣợng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ  
ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng lao động xã hội. Phần tổng sản phẩm quốc  
nội (GDP) và phần tổng sản phẩm quốc dân (GNP) do các ngành dịch vụ tạo ra cũng  
đang có xu hƣớng gia tăng.  
Chính vì vậy, trong những điều kiện mới của nền kinh tế thế giới, mỗi quốc gia  
không chỉ tập chung phát triển mạnh mẽ các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất, mà  
còn đặc biệt quan tâm đến phát triển các lĩnh vực, các hoạt động dịch vụ.  
Theo đà phát triển của lực lƣợng sản xuất, với sự phát triển nhƣ vũ bão của  
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cùng với nhu cầu của con ngƣời ngày càng  
cao và đa dạng, lĩnh vực dịch vụ cũng có sự chuyển dịch cơ cấu đáng kể. Tuỳ thuộc  
tính đặc thù về tiềm năng, về trình độ kinh tế hiện đại mà mỗi nƣớc đang cố gắng tạo  
cho mình những nhóm dịch vụ mũi nhọn khác nhau. Theo kinh nghiệm của các nƣớc  
phát triển nhanh chóng trong khu vực và thế giới, thì các dịch vụ về tài chính, ngân  
hàng, dịch vụ về vận tải, bƣu điện, các dịch vụ về du lịch, thông tin đang là những loại  
hình mang lại hiệu quả kinh tế lớn và đã hình thành thị trƣờng trên phạm vi quốc tế.  
+ Hoạt động dịch vụ là lĩnh vực đầu tƣ kinh doanh có hiệu quả nhanh  
So với đầu tƣ vào kinh doanh ở các lĩnh vực sản xuất ra sản phẩm vật chất, thì  
đầu tƣ cho kinh doanh các hoạt động dịch vụ về cơ bản cần lƣợng vốn không lớn,  
6
nhƣng có doanh thu cao. Nhìn chung dịch vụ là lĩnh vực kinh doanh rất năng động và  
rộng rãi vì đối tƣợng dịch vụ rộng (lĩnh vực sản xuất vật chất, tiêu dùng cá nhân).  
Thời gian, không gian phục vụ và tính đa dạng phong phú của nhu cầu khách hàng, về  
hoạt động dịch vụ đòi hỏi hoạt động kinh doanh này cũng đa dạng và phức tạp.  
+ Tác dụng của hoạt động dịch vụ quốc tế trong nền kinh tế thế giới  
Kinh doanh các dịch vụ quốc tế đang nhanh chóng trở thành một bộ phận cơ  
bản trong các hoạt động kinh doanh quốc tế. Ở những nƣớc có nền kinh tế phát triển,  
lực lƣợng lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ chiếm khoảng 80%, khu vực dịch  
vụ đã tạo ra khoảng 2/3 tổng sản phẩm quốc nội hay 3/4 tổng sản phẩm quốc dân.  
Hiện tại, việc kinh doanh dịch vụ chủ yếu diễn ra giữa các nƣớc công nghiệp đã  
phát triển. Còn các nƣớc đang phát triển, theo truyền thống, họ đang tập trung hình  
thành và phát triển trƣớc hết là ngành nông nghiệp và tiếp theo là các ngành công  
nghiệp chế biến để đáp ứng những nhu cầu cơ bản, trƣớc khi tiến hành đầu tƣ vào lĩnh  
vực dịch vụ.  
Tiến bộ công nghệ là nhân tố thứ hai thúc đẩy dịch vụ quốc tế gia tăng. Tiến bộ  
công nghệ ban đầu đang dần dần tạo ra những phƣơng thức kinh doanh mới và cho  
phép hoạt động kinh doanh ngày càng mở rộng theo chiều ngang trên bình diện quốc  
tế. Tiến bộ công nghệ đang đặt ra một yêu cầu rất lớn đối với việc phát triển các dịch  
vụ xuất nhập khẩu sức lao động, dịch vụ chuyển giao công nghệ... Sự phát triển nhanh  
chóng của nền kinh tế thế giới đã thúc đẩy mạnh mẽ sự ra đời và phát triển của các  
hoạt động buôn bán dịch vụ quốc tế. Việc gia tăng các hoạt động dịch vụ quốc tế có  
tác dụng to lớn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, cũng nhƣ hiệu quả kinh doanh  
của các công ty khi tham gia vào môi trƣờng kinh doanh quốc tế.  
Hoạt động dịch vụ phát triển thúc đẩy lĩnh vực sản xuất ra sản phẩm vật chất  
phát triển và đảm bảo cho lĩnh vực đời sống xã hội về vật chất, tinh thần đƣợc thuận  
tiện, phong phú và văn minh. Dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động quốc  
tế, thúc đẩy chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất kinh doanh. Dịch vụ quốc tế phát  
triển kéo theo nền kinh tế mỗi quốc gia phát triển. Sự phát triển mạnh của các dịch vụ  
quốc tế sẽ đảm bảo tốc độ gia tăng tổng sản phẩm quốc dân, giảm tỷ lệ thất nghiệp,  
tạo lập cán cân thƣơng mại và cán cân thanh toán...  
1.1.2.4. Đầu tư quốc tế  
- Khái niệm và phân loại đầu tư quốc tế  
Đầu tư quốc tế là quá trình kinh tế trong đó các nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức  
hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước tiếp nhận đầu tư để  
thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ nhằm thu lợi nhuận  
hoặc để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Bản chất của đầu tư nước ngoài  
là xuất khẩu tư bản, hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Xuất khẩu tư bản là  
7
 
quá trình thực hiện giá trị thặng dư ở nước ngoài, còn xuất khẩu hàng hoá là quá  
trình thực hiện giá trị thặng dư ở trong nước.  
Xuất khẩu hàng hoá và xuất khẩu tƣ bản luôn luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau.  
Các nhà tƣ bản thực hiện việc xuất khẩu hàng hoá để thâm nhập tìm hiểu thị trƣờng,  
luật lệ, quyết định đầu tƣ tƣ bản (xuất khẩu tƣ bản). Đồng thời với xuất khẩu tƣ bản là  
việc thành lập các doanh nghiệp đầu tƣ, liên doanh để nhằm xuất khẩu máy móc thiết  
bị, vật tƣ sang nƣớc tiếp nhận đầu tƣ và khai thác nhân lực, lao động ở nƣớc chủ nhà.  
Cùng với thƣơng mại quốc tế, hoạt động đầu tƣ quốc tế là dòng chính trong trào lƣu có  
tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu. Phân loại đầu tƣ quốc tế (theo hình thức  
đầu tƣ) gồm có:  
+ Đầu tư trực tiếp (FDI)  
Trong hình thức đầu tƣ trực tiếp, chủ đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ toàn bộ hay một  
phần vốn đầu tƣ đủ lớn của dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều  
hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thƣơng mại. Do đầu tƣ bằng  
vốn sở hữu của tƣ nhân nên họ tự quyết định sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm về  
lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có ràng buộc về  
mặt chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế. Chủ đầu tƣ tham gia  
điều hành nếu góp nhỏ hơn 100% vốn và trực tiếp tham gia điều hành mọi hoạt động  
nếu góp 100% vốn (công ty 100 % vốn đầu tƣ nƣớc ngoài). Thông qua FDI, nƣớc chủ  
nhà tiếp thu đƣợc công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, mục tiêu mà các  
hình thức đầu tƣ khác không giải quyết đƣợc. Về nguồn vốn: ngoài vốn pháp định, còn  
bao gồm cả vốn vay trong quá trình triển khai hoạt động, hoặc tái đầu tƣ từ lợi nhuận  
thu đƣợc.  
+ Đầu tư gián tiếp (FDI)  
Là hình thức đầu tƣ vốn quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu tƣ nƣớc ngoài đầu  
tƣ bằng hình thức mua cổ phần của các công ty nƣớc sở tại (ở mức khống chế nhất  
định) để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tƣợng mà họ bỏ vốn  
đầu tƣ. Đặc điểm của loại đầu tƣ này là phạm vi đầu tƣ có giới hạn (Chủ đầu tƣ chỉ  
quyết định mua cổ phần của các doanh nghiệp có lãi và có triển vọng trong tƣơng lai.  
Số lƣợng cổ phần bị khống chế ở mức độ nhất định để không có cổ phần nào chi phối  
doanh nghiệp (từ 10 - 25% vốn pháp định). Đồng thời, chủ đầu tƣ không tham gia điều  
hành, nƣớc nhận đầu tƣ có quyền chủ động hoàn toàn trong sản xuất và kinh doanh.  
Chủ đầu tƣ thu lợi nhuận qua lãi suất cổ phiếu không cố định phụ thuộc kết quả kinh  
doanh. Mặc dù đầu tƣ gián tiếp không có cơ hội nhƣ FDI nhƣng có cơ hội phân tích rủi  
ro kinh doanh trong những ngƣời mua cổ phiếu.  
- Nguyên nhân chính của việc tăng trưởng đầu tư quốc tế  
+ Xu hƣớng toàn cầu hoá, khu vực hoá, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hoá  
8
thƣơng mại và đầu tƣ. Quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới hình thành thị trƣờng  
toàn cầu. Quá trình phân công chuyên môn hóa trên quy mô quốc tế dẫn đến sự phụ  
thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân tộc. Các nƣớc phát triển kinh tế thị trƣờng  
thực hiện chính sách mở cửa (phần lớn gia nhập WTO) và chấp nhận xu hƣớng tự do  
hoá thƣơng mại và đầu tƣ. Nguồn vốn đầu tƣ quốc tế - hàng hoá đặc biệt - sẽ tuân theo  
quy luật của thị trƣờng chảy từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn.  
+ Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng công  
nghệ và thông tin đã thúc đẩy việc đổi mới cơ cấu kinh tế của các nƣớc, tạo nên sự  
dịch chuyển vốn giữa các quốc gia. Cách mạng khoa học kỹ thuật rút ngắn thời gian  
từ khi nghiên cứu sản phẩm dẫn đến thời gian sản xuất, vòng đời sản phẩm ngắn, hàng  
hoá đa dạng và phong phú. Vấn đề nghiên cứu, phát triển, đổi mới thiết bị có ý nghĩa  
sống còn, dẫn đến hai xu hƣớng chính:  
Thứ nhất, với những ngành khoa học, công nghệ có nhu cầu vốn lớn, một số ít  
các tập đoàn tƣ bản lớn hơn liên kết, hợp tác đầu tƣ thay vì cạnh tranh để cùng chiếm  
lĩnh vị trí độc tôn trên thị trƣờng  
Thứ hai, chuyển dịch đầu tƣ sang nƣớc khác đối với các sản phẩm đã lão hoá,  
cần nhiều nhân lực lao động hoặc gây ô nhiễm môi trƣờng.  
Cách mạng thông tin giúp các nhà đầu tƣ xử lý nhanh các tình huống, đƣa ra các  
quyết định đầu tƣ kịp thời tạo điều kiện cho việc tăng quy mô luân chuyển vốn. Sự  
thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nƣớc sở hữu vốn tạo nên "lực đẩy" với  
các nhà đầu tƣ quốc tế. Nguyên nhân là do trình độ phát triển kinh tế cao của công  
nghiệp phát triển dẫn đến hiện tƣợng "thừa tƣơng đối" vốn. Chi phí tiền lƣơng tăng, tài  
nguyên giảm dẫn đến chi phí khai thác tăng.  
Đó chính là nguyên nhân cơ bản, tạo động lực thúc đẩy các nhà đầu tƣ tìm kiếm  
cơ hội đầu tƣ , giảm chi phí sản xuất, kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm ở các thị  
trƣờng tiềm năng mới. Nhu cầu vốn để phát triển các nƣớc công nghiệp hoá của các  
nƣớc đang phát triển cũng tạo ra sức hút đối với các nhà đầu tƣ. Phía các nƣớc tƣ bản  
phát triển coi các nƣớc đang phát triển là thị trƣờng tiềm năng để tiêu thụ sản phẩm.  
Sự thịnh vƣợng của các nƣớc đang phát triển tạo điều kiện mở rộng thị trƣờng tiêu thụ  
sản phẩm.  
1.1.3. Các định chế và chủ thể trong kinh doanh quốc tế  
1.1.3.1. Các định chế trong kinh doanh quốc tế  
Các định chế kinh tế quốc tế là các tổ chức kinh tế quốc tế gồm nhiều quốc gia  
thành viên đƣợc hình thành nhằm tăng cƣờng phối hợp và điều chỉnh lợi ích giữa các  
bên tham gia, giảm bớt sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các bên và thúc đẩy  
các quan hệ kinh tế quốc tế trong các lĩnh vực thƣơng mại, đầu tƣ... Dƣới đây, chúng  
ta xem xét một số định chế kinh tế khu vực và toàn cầu.  
9
   
a. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)  
- Quá trình hình thành  
Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) đƣợc thành lập ngày 01 tháng 01 năm  
1995. Sự ra đời của WTO là hiện thân cho kết quả của vòng đàm phán U-ru-goay và là  
tổ chức kế thừa của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). GATT chính  
thức có hiệu lực vào tháng 01/1948. Trong gần 48 năm hoạt động, GATT đã có những  
thành công nhất định trong việc xúc tiến và bảo đảm sự tự do hóa thƣơng mại toàn  
cầu. Các danh mục thuế quan giảm liên tục là một nhân tố thúc đẩy sự tăng trƣởng của  
kim ngạch buôn bán quốc tế (trung bình khoảng 8% hằng năm tính cho những năm của  
thập niên 50 và 60). Đồng thời tỷ lệ tăng trƣởng thƣơng mại đã vƣợt quá mức tăng  
trƣởng sản xuất trên toàn thế giới trong kỷ nguyên của GATT. GATT chấp nhận việc  
các nƣớc tiếp tục có quyền duy trì thuế quan nhƣ công cụ chính thức và phổ biến để  
bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc. Qua các vòng đàm phán thuế quan trung bình đối với  
hàng công nghiệp của các nƣớc tham gia GATT trƣớc đây và nay là WTO đã giảm tới  
mức từ 40-50% xuống còn 3,3% vào thời điểm thành lập WTO. Chính những điều  
kiện mở cửa thị trƣờng thế giới quy mô đó đƣợc coi là nhân tố cơ bản để thƣơng mại  
thế giới có đƣợc những bƣớc nhảy vọt trong những thập kỷ qua.  
Tuy nhiên, do thƣơng mại quốc tế không ngừng phát triển nên GATT đã mở  
rộng diện hoạt động đàm phán không chỉ về thuế quan, mà còn tập trung xây dựng các  
hiệp định, hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng rào phi  
thuế quan, về thƣơng mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tƣ có liên  
quan đến thƣơng mại, về thƣơng mại hàng nông sản, hàng dệt may, cơ chế giải quyết  
tranh chấp. Với diện điều tiết của Hiệp định thƣơng mại đa biên đƣợc mở rộng, nên  
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) với tƣ cách là một sự thoả thuận  
có nhiều nội dung mang tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp. Do đó, ngày  
15/4/1994, tại Marrakesk (Ma-rốc), các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp  
định thành lập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục sự nghiệp của  
GATT. Theo đó, WTO chính thức đƣợc thành lập độc lập với hệ thống Liên hợp quốc.  
Về thương mại hàng hóa: Các nƣớc đang phát triển đặc biệt quan tâm đển mở  
cửa thị trƣờng hàng hóa. Nông sản, dệt may, sản phẩm nhiệt đới, giầy dép và nhiều  
loại hàng tiêu dùng không sử dụng quá nhiều vốn và công nghệ phức tạp, những lĩnh  
vực mà các nƣớc đang phát triển rất quan tâm.  
Về thương mại dịch vụ: Các ngành dịch vụ đã trở thành một bộ phận trọng yếu  
trong nền kinh tế mỗi quốc gia cũng nhƣ nền kinh tế thế giới. Hiệp định chung về  
thƣơng mại dịch vụ (GATS) lần đầu tiên đƣợc đƣa ra thƣơng thảo tại vòng đàm phán  
U-ru-goay và đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống pháp lý của  
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới. Mục đích chính của GATS là tạo ra một khuôn khổ  
10  
pháp lý cho tự do hoá thƣơng mại dịch vụ. Các nƣớc thành viên đƣa ra các cam kết về  
mở cửa thị trƣờng dịch vụ và không phân biệt đối xử trên cơ sở điều chỉnh luật trong  
nƣớc. Việc điều chỉnh luật sẽ đƣợc làm từng bƣớc, hƣớng tới xoá bỏ hoàn toàn mọi  
hạn chế đối với các sản phẩm dịch vụ nhập khẩu cũng nhƣ đối với nhà cung cấp dịch  
vụ nƣớc ngoài khi tiến hành cung cấp dịch vụ theo các phƣơng thức khác nhau (Đãi  
ngộ quốc gia - NT). Đồng thời mỗi thành viên phải dành cho nhà cung cấp dịch vụ  
hoặc dịch vụ của các thành viên khác đối xử không kém ƣu đãi hơn đối xử mà nƣớc  
này dành cho một nƣớc thứ ba (Đãi ngộ tối huệ quốc - MFN).  
Về quyền sở hữu trí tuệ: Hiệp định những vấn đề liên quan đến thƣơng mại của  
Quyền Sở hữu Trí tuệ (Hiệp định TRIPs) bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1995. Cho đến  
nay, đây là hiệp định đa phƣơng tổng thể nhất về lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Theo Hiệp  
định TRIPs, các thành viên có thể nhƣng không bắt buộc, áp dụng trong luật của mình  
mức bảo hộ cao hơn so với các yêu cầu của hiệp định, miễn là việc bảo hộ đó không  
trái với các điều khoản của hiệp định. Vấn đề này đƣợc các nƣớc thành viên hết sức  
quan tâm.  
Về đầu tư: Đầu tƣ đã trở thành một lĩnh vực kinh tế rộng lớn và đƣợc sự quan  
tâm của chính phủ các nƣớc. Vòng đàm phán U-ru-goay đã đề cập nội dung về đầu tƣ  
và bƣớc đầu đã chấp nhận một hiệp định nhằm điều chỉnh một số biện pháp về đầu tƣ  
có liên quan tới thƣơng mại (TRIMS).  
Vòng đàm phán U-ru-goay cũng đã đạt đƣợc một cơ chế giải quyết tranh chấp  
cho phép các mối quan hệ trong thƣơng mại quốc tế đƣợc giải quyết một cách công  
bằng hơn, cho phép nhanh chóng tháo gỡ những bế tắc thƣờng xảy ra và khó giải  
quyết... nhằm nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của hệ thống thƣơng mại đa  
quốc gia.  
- Nguyên tắc hoạt động  
+ Nguyên tắc không phân biệt đối xử: là mỗi nƣớc thành viên sẽ dành sự ƣu đãi  
của mình đối với sản phẩm của các nƣớc thành viên khác, không có nƣớc nào dành lợi  
thế thƣơng mại đặc biệt cho bất kỳ một nƣớc nào khác hay phân biệt đối xử chống lại  
nƣớc đó. Tất cả đều trên cơ sở bình đẳng và chia sẻ lợi ích về mậu dịch trong mọi lĩnh  
vực. Một hình thức chống phân biệt đối xử khác là đối xử quốc gia (NT). Các thành  
viên WTO cam kết dành cho nhau chế độ đãi ngộ quốc gia, tức là chế độ không phân  
biệt đối xử giữa hàng nhập và hàng sản xuất trong nƣớc. Các quốc gia có chính sách  
đối xử với hàng hoá sản xuất trong nƣớc mình nhƣ thế nào thì cũng đối xử với hàng  
nhập khẩu từ nƣớc thành viên khác của WTO nhƣ vậy.  
Chế độ tối huệ quốc (MFN) và Chế độ đãi ngộ quốc gia (NT) chủ yếu dành cho  
hàng hoá khi áp dụng các chính sách ở các lĩnh vực thuế quan, phi thuế quan, thanh  
toán, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm... cả trong thƣơng mại và đầu tƣ cũng nhƣ quyền  
11  
bảo vệ sở hữu trí tuệ... đều có những trƣờng hợp ngoại lệ. Mặc dù vậy, hiện nay cộng  
đồng quốc tế đang tích cực vận động để mở rộng chế độ đãi ngộ tối huệ quốc, không  
phân biệt đối xử với cả những thƣơng nhân và nhất là ở lĩnh vực đầu tƣ và dịch vụ  
thƣơng mại.  
+ Tự do hoá mậu dịch: Tự do hoá mậu dịch luôn là mục tiêu hàng đầu cần phải  
nỗ lực của Tổ chức Thƣơng mại thế giới. Nội dung của nó là cắt giảm dần từng bƣớc  
hàng rào thuế quan và phi thuế quan, để đến một lúc nào đó trong tƣơng lai sẽ xoá bỏ  
hoàn toàn cho thƣơng mại phát triển. Song tự do hoá mậu dịch không bao giờ tách rời  
sự quản lý của nhà nƣớc và phải phù hợp với mọi luật pháp, thể lệ hiện hành của mỗi  
nƣớc. Tất cả các nƣớc trên thế giới đều hƣởng ứng chủ trƣơng này và họ đều chính  
thức tuyên bố chính sách tự do hóa mậu dịch của nƣớc mình để tranh thủ sự đồng tình  
của quốc tế.  
+ Bảo hộ bằng hàng rào thuế quan: Tuy chủ trƣơng tự do hoá mậu dịch nhƣng  
GATT/WTO vẫn thừa nhận sự cần thiết của bảo hộ mậu dịch vì sự chênh lệch về trình  
độ phát triển kinh tế thƣơng mại giữa các nƣớc thành viên. Tuy nhiên, nguyên tắc cơ  
bản về bảo hộ mà GATT/WTO chủ trƣơng là bảo hộ bằng hàng rào thuế quan, không  
ủng hộ bảo hộ mậu dịch bằng hàng rào phi thuế quan hoặc các biện pháp hành chính  
khác. Các nƣớc thành viên có nghĩa vụ phải công bố mức thuế trần tối đa, để rồi từ đó  
cùng với các nƣớc WTO khác thƣơng lƣợng giảm dần. Đồng thời mỗi nƣớc phải cam  
kết thời gian thực hiện tiến trình cắt giảm thuế để tiến tới mục tiêu xoá bỏ hàng rào  
thuế quan.  
+ Nguyên tắc ổn định trong thương mại: Các nƣớc thành viên phải thông qua  
đàm phán đƣa ra mức thuế trần với lịch trình cắt giảm, chỉ có giảm liên tục mà không  
đƣợc tăng quá mức thuế trần đã cam kết. Mọi chế độ chính sách thƣơng mại phải công  
bố công khai, rõ ràng, ổn định trong một thời gian dài. Nếu có thay đổi phải báo trƣớc  
cho các doanh nghiệp có đủ thời gian nghiên cứu, góp ý, phản ánh nguyện vọng trƣớc  
khi áp dụng.  
+ Nguyên tắc cạnh tranh công bằng: WTO làm chủ trƣơng cạnh tranh công  
bằng trong thƣơng mại quốc tế, để chất lƣợng, giá cả quyết định vận mệnh của hàng  
hoá trong cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế, không đƣợc dùng quyền lực của nhà nƣớc  
để áp đặt, bóp méo tính cạnh tranh công bằng trên thƣơng trƣờng quốc tế.  
+ Nguyên tắc không hạn chế số lượng hàng hoá nhập khẩu: WTO chủ trƣơng  
không đƣợc hạn chế số lƣợng hàng hoá nhập khẩu giữa các nƣớc thành viên. Tuy  
nhiên WTO cũng cho phép những trƣờng hợp miễn trừ, đƣợc phép áp dụng chế độ hạn  
chế số lƣợng hàng nhập khẩu (QR) khi nƣớc đó gặp những khó khăn về cán cân thanh  
toán hoặc trình độ phát triển thấp của nền kinh tế trong nƣớc, hoặc lý do môi trƣờng,  
về an ninh quốc gia nhất đối với các nƣớc đang phát triển, các nƣớc chậm phát triển và  
12  
các nƣớc đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng.  
Quyền đƣợc khƣớc từ và quyền tự vệ trong trong trƣờng hợp khẩn cấp: Theo  
Điều 25 của GATT năm 1994 quy định trong trƣờng hợp thật đặc biệt một nƣớc có thể  
khƣớc từ việc thực hiện một số các nghĩa vụ. Ngoài ra, Điều 19 của GATT còn quy  
định cho phép một nƣớc đƣợc quyền áp dụng những biện pháp tự vệ trong trƣờng hợp  
khẩn cấp, khi nền sản xuất trong nƣớc bị hàng hoá nhập khẩu đe dọa.  
Điều kiện đặc biệt dành cho các nƣớc đang phát triển: Thừa nhận sự khác nhau  
về trình độ phát triển của các nƣớc thành viên (trên 2/3 thành viên của GATT/WTO là  
các nƣớc đang và chậm phát triển). WTO nhấn mạnh sự giúp đỡ đặc biệt đối với các  
nƣớc chậm phát triển nhất và các nƣớc đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh  
tế thị trƣờng. Các nƣớc công nghiệp phát triển sẽ không yêu cầu nguyên tắc có đi có  
lại trong cam kết, giảm hoặc xoá bỏ hàng rào quan thuế hoặc phi quan thuế đối với các  
nƣớc đang phát triển và những ƣu đãi thƣơng mại đặc biệt dành cho các nƣớc chậm  
phát triển.  
- Cơ chế hoạt động của WTO  
Một là, giải quyết tranh chấp. Hệ thống giải quyết các tranh chấp của WTO là  
yếu tố trung tâm nhằm cung cấp đảm bảo và tính dự báo trƣớc cho hệ thống thƣơng  
mại đa biên. Các nƣớc thành viên WTO cam kết không tiến hành hành động đơn  
phƣơng chống lại các vi phạm nhìn thấy của các quy định thƣơng mại nhƣng có thể  
tìm kiếm tiếng nói chung trong hệ thống giải quyết tranh chấp đa biên và chấp nhận  
các quy định, phán quyết nó.  
Hai là, kiểm soát chính sách thƣơng mại quốc gia. Việc giám sát chính sách  
thƣơng mại quốc gia là hoạt động cơ bản xuyên suốt các hoạt động của WTO, mà  
trọng tâm chính là cơ chế đánh giá chính sách thƣơng mại (TPRM). Mục tiêu chính  
của TPRM là nâng cao tính rõ ràng và sự hiểu biết về các chính sách và thực tiễn  
thƣơng mại, cải thiện chất lƣợng của cuộc đàm phán chung và giữa các chính phủ, tạo  
điều kiện cho việc đánh giá đa phƣơng về các ảnh hƣởng của các chính sách đối với hệ  
thống thƣơng mại toàn cầu.  
b. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Khu vực thương mại tự do Đông Nam  
Á (Asean Free Trade Area - AFTA)  
- Quá trình hình thành ASEAN  
Hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á (The Association of Southeast Asian Nations-  
ASEAN) đƣợc thành lập vào năm 1967 sau khi Bộ trƣởng ngoại giao các nƣớc In-đô-  
nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Phi-lip- pin; Xin-ga-po và Thái Lan ký bản Tuyên bố ASEAN  
(Tuyên bố này còn gọi là Tuyên bố Băng Cốc).  
Trong 30 năm qua, từ 5 thành viên ASEAN đã phát triển lên 10 thành viên và  
đã thực hiện sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhiều hội nghị quan trọng đã  
13  
đƣợc tổ chức, nhiều văn kiện quan trọng, cơ bản gồm các hiệp ƣớc, hiệp định, tuyên  
bố đã đƣợc ký kết.  
Hiệp định về chƣơng trình ƣu đãi thuế quan có hiệu lực chung Common  
Effective Preferential Tariff (CEPT). Hiệp định này quy định các biện pháp cũng nhƣ  
các giai đoạn cho việc từng bƣớc giảm thuế nhập khẩu, tiến tới thực hiện AFTA.  
Về cơ cấu, các nƣớc thành viên thống nhất quyết định tổ chức Hội nghị thƣợng  
đỉnh các nƣớc ASEAN 3 năm một lần, thành lập hội đồng AFTA cấp bộ trƣởng để  
theo dõi, thúc đẩy việc thực hiện CEPT và AFTA.  
- Nội dung hoạt động  
Ngoài các chƣơng trình hợp tác kinh tế, tài chính, trong các năm qua ASEAN  
đã thông qua các chƣơng trình kích thích hợp tác thƣơng mại và đầu tƣ giữa các thành  
viên, đƣợc thể hiện qua 5 chƣơng trình sau:  
Một là, xây dựng ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do bằng cách thực hiện kế  
hoạch thuế quan ƣu đãi có hiệu lực chung CEPT.  
Hai là, chƣơng trình hợp tác hàng hóa: Thành lập Ngân hàng dữ kiện ASEAN  
về hàng hóa (ASEAN Data Bank on Commodities - ADBC) và Dự án nghiên cứu thị  
trƣờng hàng hóa.  
Ba là, hội chợ thƣơng mại ASEAN: Thực hiện luân phiên hàng năm giữa các  
nƣớc với sự tham gia của nhiều nƣớc trong và ngoài khu vực.  
Bốn là, chƣơng trình tham khảo ý kiến khu vực tƣ nhân do Phòng Thƣơng mại  
và Công nghiệp ASEAN thực hiện.  
Năm là, phối hợp lập trƣờng giải quyết trong các vấn đề thƣơng mại quốc tế có  
ảnh hƣởng đến ASEAN.  
- Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)  
Tại cuộc gặp thƣợng đỉnh lần thứ tƣ tại Xin-ga-po tháng 01 năm 1992, nguyên  
thủ các nƣớc ASEAN đã cùng ký thỏa ƣớc AFTA thông qua kế hoạch CEFT. Mục  
đích chính của AFTA là nhằm tăng cƣờng tính cạnh tranh toàn cầu của các doanh  
nghiệp ASEAN bằng cách tạo ra một thị trƣờng khu vực rộng lớn hơn.  
+ Cơ chế hoạt động của AFTA  
AFTA/ASEAN sẽ thành hiện thực thông qua việc thực hiện kế hoạch ƣu đãi  
thuế quan có hiệu lực chung CEPT, cân đối và hài hòa các loại tiêu chuẩn giữa các  
nƣớc ASEAN, công nhận chéo qua lại về kiểm tra và chứng nhận hàng hóa. Ngoài ra,  
AFTA cũng sẽ hình thành nhờ dỡ bỏ rào cản cho đầu tƣ nƣớc ngoài, việc tham khảo ý  
kiến ở cấp kinh tế vĩ mô giữa các nƣớc ASEAN. Bên cạnh đó, AFTA còn đòi hỏi các  
thành viên phải cạnh tranh lành mạnh với nhau và thúc đẩy, khuyến khích việc chung  
vốn lập công ty liên doanh. Tuy nhiên, trong số các cơ chế trên, kế hoạch CEPT là  
quan trọng nhất và theo quyết định mới, các nƣớc thành viên sẽ giảm thuế đối với các  
14  
sản phẩm có xuất xứ từ ASEAN xuống còn từ 0% đến 5% vào năm 2003.  
+ Kế hoạch CEPT có 2 chƣơng trình giảm thuế nhập khẩu do các nƣớc thành  
viên tự đề nghị: một là các sản phẩm đƣợc cắt giảm thuế nằm trong chƣơng trình cắt  
giảm cấp tốc (fast track); hai là chƣơng trình cắt giảm bình thường (normal track).  
Chƣơng trình theo tốc độ bình thường cho phép các nƣớc ASEAN hạ thuế đối  
với các hàng hóa sản xuất trong khối ASEAN xuống còn từ 0% đến 5% vào năm 2000  
cho các sản phẩm đang chịu thuế suất 20%; còn các loại hàng bị đánh thuế cao hơn  
20% sẽ phải hạ trƣớc xuống bằng 20% vào năm 1998.  
Chƣơng trình theo tốc độ nhanh đòi hỏi thuế quan đối với 15 loại sản phẩm của  
ASEAN có tỷ trọng trao đổi lớn nhất trong khu vực, phải đƣợc hạ xuống còn từ 0%  
đến 5% vào năm 1998 đối với các loại chịu thuế 20% hoặc thấp hơn; và vào năm 2000  
đối với loại bị đánh thuế cao hơn 20% (bắt đầu từ tháng 0l/1993).  
c. Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)  
- Quá trình hình thành  
Trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh sắp đến hồi kết thúc, nền kinh tế quốc tế  
đang đƣơng đầu với những thách thức nghiệt ngã: chủ nghĩa toàn cầu đã triển mạnh  
sau chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu gặp phải những khó khăn nan giải với nhiền  
vấn đề bế tắc trong tiến trình đàm phán Uruguay/WTO; chủ nghĩa khu vực hình thành  
và phát triển mạnh, khủng hoảng kinh tế trong những năm 1980 đặt ra những đòi hỏi  
khách quan cần tập hợp lực lƣợng của những nền kinh tế trong khu vực châu Á - Thái  
Bình Dƣơng để đƣơng đầu với cạnh tranh quốc tế gay gắt.  
Trong bối cảnh quốc tế nói trên, tháng 01/1989, Thủ tƣớng Ô-xtrây-li-a đã kêu  
gọi thành lập một diễn đàn tƣ vấn kinh tế cấp bộ trƣởng ở châu Á - Thái Bình Dƣơng  
nhằm phối hợp hoạt động của các chính phủ để đẩy mạnh phát triển kinh tế toàn khu  
vực và thúc đẩy hệ thống thƣơng mại đa phƣơng toàn cầu. Đến tháng 11/1989, theo  
sáng kiến của Ô-trây-li-a, các Bộ trƣởng Kinh tế và Bộ trƣởng Ngoại giao của 12 nƣớc  
thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng là Mỹ, Ca-na-đa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bru-  
nây, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po, Ma-lay-xi-a, Phi-lip-pin, Thái Lan, Ô-xtrây-li-a, và Niu  
Di-lân họp tại thủ đô Can-bơ-rơ (Ô-xtrây-li-a) quyết định chính thức thành lập Diễn  
đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dƣơng (the Asia Pacific Economic  
Cooperation - APEC).  
- Mục tiêu hoạt động  
APEC chủ trƣơng mở rộng thƣơng mại để tạo sự tăng trƣởng kinh tế ngay từ  
bƣớc đầu đã xác định APEC không phải là một khối thƣơng mại co cụm mà hƣớng về  
"Chủ nghĩa khu vực mở" với các nƣớc ngoài khối, thực hiện tự do hoá thƣơng mại,  
đầu tƣ trên phạm vi toàn cầu; APEC sẽ chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề kinh tế  
trên cơ sở vì lợi ích chung, tƣơng đồng hỗ trợ lẫn nhau, không đề cập tới vấn đề chính  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 158 trang Thùy Anh 18400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Quản trị kinh doanh quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_quan_tri_kinh_doanh_quoc_te.pdf