Giáo trình Marketing căn bản (Phần 2) - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp

Chương 6  
CÁC QUYẾT ĐỊNH VỀ SẢN PHẨM  
MỤC ĐÍCH CHƯƠNG  
Sau khi nghiên cứu và học tập chương này, sinh viên cần nắm được:  
- Quan niệm về sản phẩm trong Marketing, các cấp độ cấu thành sản phẩm, các  
cách phân loại sản phẩm.  
- Nội dung các quyết định liên quan đến sản phẩm về nhãn hiệu, bao bì, chủng loại  
danh mục sản phẩm và dịch vụ khách hàng  
- Khái niệm, phân loại và các bước phát triển một sản phẩm mới trên thị trường  
- Đặc điểm các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm và sự tác động của chúng  
tới các quyết định Marketing của doanh nghiệp  
NỘI DUNG CHƯƠNG  
6.1. SẢN PHẨM THEO QUAN ĐIỂM MARKETING  
6.1.1. Khái niệm sản phẩm  
Hiểu và mô tả đúng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp đưa ra bán trên thị  
trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống marketing hỗn hợp của  
doanh nghiệp.  
Việc xác định đúng sản phẩm, hàng hoá có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu thụ  
và khai thác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường khi nói về sản phẩm  
hàng hoá các doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến “hàng hoá hiện vật” hay “hàng hoá  
cứng” mà doanh nghiệp đang chế tạo hay kinh doanh, tức là nó chỉ bao hàm những thành  
phần hoặc yếu tố có thể quan sát được. Quan điểm này đã dẫn đến những hạn chế về khả  
năng tiêu thụ cũng như hạn chế về khả năng phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.  
Tiếp cận và mô tả sản phẩm, hàng hoá theo quan điểm của marketing là một quan  
điểm hoàn thiện hơn trong việc mô tả sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp khi doanh  
nghiệp muốn tăng cường khả năng cạnh tranh và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm trong điều  
kiện của nền kinh tế thị trường hiện đại.  
Chúng ta đều biết rằng, mục tiêu mua một sản phẩm nào đó của khách hàng là  
nhằm thoả mãn nhu cầu của họ, để thoả mãn nhu cầu khách hàng luôn quan tâm đến tất  
cả các khía cạnh khác nhau xoay quanh sản phẩm cơ bản mà người bán đưa ra cho họ  
trước, trong và sau khi mua hàng. khách hàng luôn muốn sự thoả mãn toàn bộ nhu cầu  
chứ không chỉ quan tâm đến một bộ phận đơn lẻ. Trong trường hợp này thì theo khách  
hàng sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm tất cả các yếu tố vật chất (hiện vật) và phi vật  
chất (dịch vụ) và các yếu tố khác có liên quan mà doanh nghiệp đã đưa ra để thoả mãn  
nhu cầu cụ thể của họ.  
91  
Như vậy theo quan điểm của marketing, sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp có  
thể được định nghĩa như sau:  
Sản phẩm, hàng hoá là bất cứ những cái gì có thể thoả mãn được nhu cầu hay  
mong muốn của khách hàng và được chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự  
chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.  
Theo quan niệm này, hàng hóa bao hàm cả những vật thể hữu hình và vô hình (các  
dịch vụ), bao hàm cả những yếu tố vật chất và phi vật chất. Ngay cả những sản phẩm hữu  
hình thì cũng bao hàm cả những yếu tố vô hình. Có thể liệt kê thế giới sản phẩm, bao  
gồm: các sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành trong nền kinh tế quốc dân tạo ra, sự  
kiện, con người, địa điểm, tổ chức, ý tưởng và tổng hợp. Như vậy, sản phẩm có thể hoàn  
toàn hữu hình, chủ yếu là vô hình (dịch vụ) hoặc kết hợp cả hai. Hình thức cuối cùng là  
phổ biến.  
Như vậy sản phẩm có thể là:  
-
-
-
-
-
Một chiếc xe máy: đáp ứng nhu cầu đi lại  
Một kiểu tóc mới: đáp ứng nhu cầu làm đẹp  
Chuyến đi du lịch: đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi  
Biểu diễn của các ngôi sao ca nhạc: đáp ứng nhu cầu giải trí  
Dịch vụ giải đáp điện thoại: đáp ứng nhu cầu thông tin  
Như vậy, sản phẩm cho dù được thiết kế, cải tiến và hoàn thiện như thế nào bao  
giờ cũng là sản phẩm cho người tiêu dùng, vì người tiêu dùng, để đảm bảo rằng thông  
qua việc tiêu dùng sản phẩm khách hàng sẽ nhận được những giá trị sử dụng, những lợi  
ích mà người ta mong đợi.  
6.1.2. Cấp độ các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm  
Trong thực tế hàng hóa được được xác định bằng đơn vị hàng hoá: Đơn vị hàng  
hoá là một đại lượng được đặc trưng bằng đơn vị, độ lớn, giá cả, vẻ bề ngoài và các thuộc  
tính khác.  
Đơn vị sản phẩm vốn là một chỉnh thể hoàn chỉnh chứa đựng những yếu tố, đặc  
tính và các thông tin khác nhau về sản phẩm. Những yếu tố, đặc tính và thông tin đó có  
thể có những chức năng Marketing khác nhau. Khi tạo ra một mặt hàng người ta thường  
xếp các yếu tố đặc tính và thông tin đó theo ba cấp độ có những chức năng Marketing  
khác nhau (sơ đồ 6.1)  
92  
Phong cách  
Giao hàng  
Đặc  
điểm  
Kiểu dáng  
Tư  
vấn  
Lắp đặt  
Lợi ích  
cốt lõi  
Bao bì  
Thương  
hiệu  
Sửa  
chữa  
Thanh  
toán  
Chất lượng  
Bảo  
hành  
Hình 6.1. Ba cấp độ cấu thành sản phẩm  
Các cấp độ sản phẩm  
Sản phẩm cốt lõi: Sản phẩm cốt lõi có chức năng cơ bản là trả lời câu hỏi: Về  
thực chất, sản phẩm này thỏa mãn những điểm lợi ích căn bản nhất mà khách hàng sẽ  
theo đuổi là gì? Đó chính là những giá trị quan trọng nhất mà nhà kinh doanh bán cho  
khách hàng. Những lợi ích cơ bản tiềm ẩn đó có thể thay đổi tùy những yếu tố hoàn cảnh  
của môi trường và mục tiêu cá nhân của khách hàng, nhóm khách hàng trong bối cảnh  
nhất định. Điều quan trọng sống còn đối với các doanh nghiệp là nhà quản trị Marketing  
phải nghiên cứu tìm hiều khách hàng để phát hiện ra những đòi hỏi về các khía cạnh lợi  
ích cốt yếu khác nhau tiềm ẩn trong nhu cầu của họ. Chỉ có như vậy doanh nghiệp mới  
tạo ra những sản phẩm có khả năng thỏa mãn đúng và tốt những lợi ích mà khách hàng  
mong đợi.  
Việc phụ nữ mua mỹ phẩm không phải họ mua những hoá chất dùng để bôi mặt  
mà thực ra họ mua niềm hy vọng. Nhiều công ty mỹ phẩm nắm bắt được điều này nên họ  
đã thiết kế những quảng cáo rất hấp dẫn như: Với Pond’s mọi phụ nữ đều đẹp hơn …  
Giám đốc của hãng mỹ phẩm hàng đầu thế giới Revlon đã phát biểu: ở xưởng chúng tôi  
sản xuất sản phẩm còn các cửa hàng chúng tôi bán những niềm hy vọng.  
Sản phẩm hiện thực: Đó là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của  
sản phẩm. Những yếu tố đó bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, các đặc tính, bố  
cục bề ngoài, đặc thù, nhãn hiệu và bao gói. Trong thực tế, khi mua những lợi ích cơ bản,  
khách hàng dựa vào những yếu tố này. Và cũng nhờ các yếu tố này nhà sản xuất khẳng  
định sự hiện diện của mình trên thị trường, đó cũng là những chỉ dẫn để người mua tìm  
đến doanh nghiệp, họ phân biệt hàng hóa của hãng này so với hãng khác.  
93  
Sản phẩm bổ sung hay còn gọi là sản phẩm hoàn chỉnh: Đó là những yếu tố  
như: bảo hành, lắp đặt, vận hành, giao hàng, tín dụng, ...Chính những yếu tố này đã tạo ra  
sự đánh giá mức độ hoàn chỉnh khác nhau trong sự nhận thức của người tiêu dùng đối với  
một mặt hàng hay nhãn hiệu cụ thể. Khi mua những lợi ích cơ bản của một hàng hóa bất  
kỳ khách hàng nào cũng thích mua nó ở mức độ hoàn chỉnh nhất. Đến lượt mình, chính  
mức độ hoàn chỉnh về lợi ích cơ bản mà khách hàng mong đợi lại phụ thuộc vào những  
yếu tố bổ sung mà nhà kinh doanh sẽ cung cấp cho họ. Vì vậy, từ góc độ nhà kinh doanh,  
các yếu tố bổ sung trở thành một trong những vũ khí cạnh tranh của các nhãn hiệu hàng  
hóa.  
6.1.3. Phân loại sản phẩm  
Chiến lược Marketing của một doanh nghiệp khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm  
của sản phẩm. Để có chiến lược Marketing đúng cần phân loại sản phẩm. Trong hoạt  
động Marketing các cách phân loại có ý nghĩa đáng chú ý là:  
6.1.3.1. Phân loại hàng hóa theo thời hạn sử dụng và hình thái tồn tại  
Theo cách phân loại này, hàng hóa được phân loại thành:  
- Hàng hóa lâu bền: là những vật phẩm thường được sử dụng nhiều lần  
- Hàng hóa sử dụng ngắn hạn: Là những vật phẩm được sử dụng một lần hay một  
vài lần  
- Dịch vụ: Là những đối tượng được bán dưới dạng hoạt động, ích lợi hay sự thỏa  
mãn.  
6.1.3.2. Phân loại hàng tiêu dùng theo thói quen mua hàng  
Thói quen mua hàng là yếu tố rất cơ bản ảnh hưởng đến cách thức hoạt động  
Marketing. Theo đặc điểm này hàng tiêu dùng được phân loại thành các loại sau:  
- Hàng hóa sử dụng thường ngày: Đó là hàng hóa mà người tiêu dùng mua cho việc  
sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt. Đối với loại hàng hóa này, vì được sử dụng và  
mua sắm thường xuyên nên nó là nhu cầu thiết yếu, khách hàng hiểu biết hàng hóa và thị  
trường của chúng.  
- Hàng hóa mua ngẫu hứng: Đó là những hàng hóa được mua không có kế hoạch  
trước và khách hàng cũng không chủ ý tìm mua. Đối với những hàng hóa này khi gặp  
cộng với khả năng thuyết phục của người bán khách hàng mới nảy ra ý định mua.  
- Hàng hóa mua khẩn cấp: Đó là những hàng hóa được mua khi xuất hiện nhu cầu  
cấp bách vì một lý do bất thường nào đó. Việc mua những hàng hóa này không suy tính  
nhiều.  
- Hàng hóa mua có lựa chọn: Đó là những hàng hóa mà việc mua diễn ra lâu hơn,  
đồng thời khi mua khách hàng thường lựa chọn, so sánh, cân nhắc về công dụng, kiểu  
dáng, chất lượng, giá cả của chúng.  
94  
- Hàng hóa cho các nhu cầu đặc thù: Đó là những hàng hóa có những tính chất đặc  
biệt hay hàng hóa đặc biệt mà khi mua người ta sẵn sàng bỏ thêm sức lực, thời gian để  
tìm kiếm và lựa chọn chúng.  
- Hàng hóa cho các nhu cầu thụ động: Đó là những hàng hóa mà người tiêu dùng  
không hay biết và thường cũng không nghĩ đến việc mua chúng. Trường hợp này thường  
là những hàng hóa không có liên quan trực tiếp, tích cực đến nhu cầu cuộc sống hàng  
ngày. Ví dụ như: Bảo hiểm...  
6.1.3.3. Phân loại hàng tư liệu sản xuất  
Tư liệu sản xuất là những hàng hóa được mua bởi các doanh nghiệp hay các tổ  
chức. Chúng cũng bao gồm nhiều thứ, loại có vai trò và mức độ tham gia khác nhau vào  
quá trình hoạt động của doanh nghiệp và tổ chức đó. Người ta chia chúng thành các loại  
như:  
- Vật tư và chi tiết: Đó là những hàng hóa được sử dụng thường xuyên và toàn bộ  
vào cấu thành sản phẩm được sản xuất ra bởi nhà sản xuất. Thuộc nhóm này có rất nhiều  
mặt hàng khác nhau: có loại có nguồn nguồn gốc từ nông nghiệp, từ trong thiên nhiên  
hoặc vật liệu đã qua chế biến.  
- Tài sản cố định: Đó là những hàng hóa tham gia toàn bộ, nhiều lần vào quá trình  
sản xuất và giá trị của chúng được dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm do doanh nghiệp  
sử dụng chúng tạo ra.  
- Vật tư phụ và dịch vụ: Đó là những hàng hóa dùng để hỗ trợ cho quá trình kinh  
doanh hay hoạt động của các tổ chức và doanh nghiệp.  
6.2. NỘI DUNG CÁC QUYẾT ĐỊNH VỀ SẢN PHẨM  
6.2.1. Quyết định về đặc tính của sản phẩm  
Quyết định quan trọng nhất liên quan đến sản phẩm là quyết định về những lợi ích  
mà sản phẩm sẽ cống hiến cho khách hàng. Mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng,  
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ tùy thuộc vào mức độ cống hiến lợi ích cho  
khách hàng của sản phẩm. Về phần mình, lợi ích của sản phẩm lại được thể hiện thông  
qua các đặc tính của nó như: chất lượng, tính năng, kiểu dáng... Đây chính là những yếu  
tố quyết định thái độ và hành vi của khách hàng đối với việc mua sắm và tiêu dùng sản  
phẩm.  
6.2.1.1. Quyết định về chất lượng sản phẩm  
Tùy vào từng loại sản phẩm mà tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm được phản ánh  
bằng các thông số khác nhau. Tư tưởng chung của Marketing là: chất lượng phải tuân  
theo quan niệm của khách hàng. Song quan điểm phổ biến về chất lượng sản phẩm là:  
Khả năng mà một sản phẩm liên quan đến việc thực hiện các công năng của mình thông  
qua độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, mức độ dễ sử dụng – vận hành, sửa chữa và các đặc  
95  
tính khác tùy thuộc vào sản phẩm và khách hàng. Quyết định liên quan trực tiếp đến chất  
lượng là quyết định về cấp chất lượng. Cấp chất lượng cũng là yếu tố của định vị. Do đó,  
khi quyết định về cấp chất lượng cho sản phẩm của mình, các nhà quản trị Marketing ở  
các doanh nghiệp phải căn cứ vào nhu cầu của khách hàng trên thị trường mục tiêu và  
cấp chất lượng của các sản phẩm cạnh tranh.  
Bên cạnh cấp độ, chất lượng còn được đo lường bằng tính đồng đều hay nhất quán  
của các đặc tính, tức là sản phẩm không bị bất kỳ một khuyết tật nào liên quan đến các  
đặc tính. Để đảm bảo tính đồng đều của chất lượng, nhiều doanh nghiệp từ lâu đã áp  
dụng hệ thống quản lý tổng chất lượng (TQM – Total Quality Management). Hệ thống  
quản lý tổng chất lượng hướng vào việc tập trung mọi nỗ lực để cải tiến chất lượng và  
giám sát nghiêm ngặt quy trình và từng công đoạn sản xuất và cung ứng nhằm đảm bảo  
tính nhất quán và chuẩn xác về chất lượng sản phẩm. Quyết định về chất lượng là quyết  
định mang tầm chiến lược của doanh nghiệp để giành lợi thế cạnh tranh.  
6.2.1.2. Quyết định về lựa chọn các tính năng của sản phẩm  
Một sản phẩm có thể có nhiều tính năng khác nhau. Tính năng của một sản phẩm  
phản ánh các công năng – công dụng của nó. Ban đầu, doanh nghiệp phải ra quyết định  
sản phẩm được tạo ra để nó có thể thực hiện được một số tính năng khởi điểm. Cùng với  
thời gian, sản phẩm được tạo ra để thực hiện nhiều tính năng mới. Chẳng hạn, máy điện  
thoại di động được thiết kế ban đầu cũng chỉ là dùng để nghe điện thoại ở mọi lúc, mọi  
nơi trong vùng phủ sóng mà không cần dây, giờ đây nó có thể được dùng để chụp ảnh,  
nghe nhạc, gửi tin nhắn, xem truyền hình, lướt website... Để quyết định về các tính năng  
mới doanh nghiệp phải theo dõi, điều tra, tham vấn ý kiến khách hàng và nghiên cứu các  
tính năng trong sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Nguồn dữ liệu này sẽ cung cấp cho  
doanh nghiệp nhiều ý tưởng về các tính năng mới của sản phẩm. Khi đó công ty phải lựa  
chọn để tìm ra những tính năng mới của sản phẩm, nhưng với điều kiện, tính năng đó  
phải thực sự có giá trị đối với khách hàng và chi phí để tạo ra nó không quá tốn kém.  
6.2.1.3. Quyết định về thiết kế sản phẩm  
Để làm gia tăng được sự cảm nhận giá trị của khách hàng, doanh nghiệp phải tìm  
cách thiết kế sản phẩm thật độc đáo. Làm được điều đó doanh nghiệp cũng sẽ tạo được  
lợi thế cạnh tranh. Quyết định về thiết kế sản phẩm liên quan đến hai phương diện: lựa  
chọn kiểu dáng và khả năng thực hiện các công năng. Nhà thiết kế sản phẩm phải xử lý  
hài hòa hai phương diện này. Kiểu dáng khác biệt, độc đáo và hấp dẫn phải đảm bảo thực  
hiện tốt các công năng như: dễ sử dụng, an toàn, tiết kiệm chi phí vận hành và bảo dưỡng,  
việc sản xuất và phân phối cũng phải đơn giản, tiết kiệm... Trong điều kiện cạnh tranh  
ngày càng gay gắt, thiết kế sẽ trở thành công cụ hữu ích của sự khác biệt và định vị. Thiết  
kế tốt sẽ làm tăng khả năng thu hút sự chú ý và cũng là một trong những yếu tố quyết  
96  
định mua của khách hàng, nâng cao hiệu quả thực hiện các công năng của sản phẩm, tiết  
kiệm chi phí sản xuất và phân phối...từ đó tạo cho sản phẩm lợi thế cạnh tranh.  
6.2.2. Quyết định về nhãn hiệu  
6.2.2.1. Nhãn hiệu và các bộ phận cấu thành nhãn hiệu  
Nhãn hiệu là tên gọi, thuật ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc một sự kết hợp giữa  
những yếu tố đó nhằm xác định hàng hoá hay dịch vụ của một người bán hay một nhóm  
người bán và để phân biệt chúng với những hàng hoá hay dịch vụ của đối thủ cạnh tranh  
Nhãn hiệu có các bộ phận cơ bản sau:  
- Tên hiệu: (Brand Name) là tên gọi nhằm xác định hàng hoá hay dịch vụ của  
người bán và phân biệt với hàng hoá của những doanh nghiệp khác. Tên hiệu là phần đọc  
lên được. Ví dụ: Pepsi, Apple  
- Dấu hiệu của nhãn hiệu:(Brand Mark) Bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu sắc  
hay kiểu chữ đặc thù…đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà chúng ta có thể nhận biết  
được nhưng không thể đọc được. (Apple hình quả táo, Toyota, ...)  
Việc đặt tên nhãn hiệu ngày nay phát triển mạnh đến nỗi khó mà có sản phẩm nào  
không có tên hiệu. Muối cũng được đóng vào gói riêng của nhà sản xuất, Bưởi da xanh,  
Bưởi Năm roi...  
Nhãn hiệu là sự hứa hẹn của người bán bảo đảm cung cấp cho người mua một tập  
hợp nhất định những tính chất lợi ích và dịch vụ. Những nhãn hiệu danh tiếng bao hàm  
một sự đảm bảo về chất lượng.  
Những người làm marketing đưa ra 6 cấp độ ý nghĩa của nhãn hiệu:  
- Thuộc tính: Ví dụ Medcedes gợi những thuộc tính rất đặc trưng như đắt tiền,  
sang trọng, uy tín, thiết kết hoàn hảo và dùng lâu bền  
- Lợi ích: thuộc tính lâu bền cho ta ý nghĩa về tiết kiệm, thiết kế hoàn hảo cho ta  
cảm nhận sự an toàn  
- Giá trị: Medcedes nói lên những giá trị mà nhiều người mua tìm kiếm đó là sự  
hoàn hảo, an toàn, uy tín  
- Văn hoá: Nhãn hiệu của nhà sản xuất thể hiện một nền văn hóa nhất định, ví dụ:  
Medcedes đại diện cho văn hóa Đức: có tổ chức, hiệu quả và chất lượng cao.  
- Tính cách: Medcedes cho ta hình ảnh một người chủ không phải là kém cỏi  
- Người sử dụng: Nhãn hiệu còn thể hiện khách hàng mua hay sử dụng một sản  
phẩm nếu ngưnời sử dụng biết tôn trọng giá trị, văn hoá và phong cách mà sản phẩm đó  
thể hiện.  
97  
6.2.2.2. Các quyết định liên quan đến nhãn hiệu  
a) Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không?  
Việc gắn nhãn hiệu cho hàng hóa phải cân nhắc trên nhiều khía cạnh; ai sẽ được  
hưởng lợi ích từ việc gắn nhãn hiệu sản phẩm? Lợi ích đó như thế nào? Phí tốn cho việc  
đặt nhãn hiệu là bao nhiêu?  
Quyết định gắn nhãn hiệu hay không cho sản phẩm được xem xét từ góc độ người  
mua, người bán và cả xã hội:  
- Quan điểm người mua: Tên hiệu giúp người ta biết ít nhiều về chất lượng:  
Iphone, Honda, Sony… Nếu hàng tiêu dùng không nhãn hiệu thì phải sờ, ngửi… khá mất  
thời gian. Nếu nhờ người khác mua hộ sẽ rất khó khăn.  
- Quan điểm người bán:  
Tên hiệu sẽ giúp doanh nghiệp dễ thực hiện đơn đặt hàng.  
Tên hiệu giúp quảng cáo, thu hút được khách hàng  
Tên hiệu tạo điều kiện chống cạnh tranh, được pháp luật bảo vệ.  
Tên hiệu làm tăng uy tín của doanh nghiệp.  
- Quan điểm xã hội:  
Đặt tên hiệu đưa tới chất lượng sản phẩm cao hơn.  
Có nhiều mặt hàng, dễ lựa chọn  
b) Ai là người chủ của nhãn hiệu sản phẩm? Có 3 cách:  
- Tung sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của chính nhà sản xuất.  
- Tung sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của trung gian.  
- Tung sản phẩm ra thị trường vừa là nhãn hiệu của trung gian và nhà sản xuất.  
c) Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào?  
Có 4 cách đặt tên cho nhãn hiệu  
- Lựa chọn một nhãn hiệu duy nhất cho tất cả các sản phẩm  
Nhãn hiệu được dùng cho nhiều loại sản phẩm được gọi chung là nhãn hiệu chung  
(Samsung, Adidas ...). Nhãn hiệu chung thường được gắn cho các sản phẩm tương tự về  
kiểu dáng và chất lượng.  
Lựa chọn một nhãn hiệu duy nhất cho tất cả các sản phẩm làm giảm được chi phí  
quảng cáo khi tung một sản phẩm mới ra thị trường. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp sản  
xuất những sản phẩm hoàn toàn khác nhau thì việc có chung một nhãn hiệu sẽ có thể gây  
nhầm lẫn cho khách hàng.  
Thực hiện chiến lược này có lợi ích là có thể tạo uy tín cho các sản phẩm nhờ vào  
một vài sản phẩm nổi tiếng nhưng lại có nguy cơ trong trường hợp thất bại sẽ làm hại đến  
tất cả các sản phẩm.  
98  
- Phân biệt hoá các nhãn hiệu cho từng nhóm sản phẩm.  
Khi một doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm hoàn toàn khác nhau thì không  
nên sử dụng một nhãn hiệu chung. Trong trường hợp này, tên nhãn hiệu tập thể cho từng  
nhóm sản phẩm có chất lượng khác nhau sẽ thích hợp hơn nhằm tạo sự lựa chọn dễ dàng  
cho người mua hàng.  
- Phân biệt hoá các nhãn hiệu cho tất cả sản phẩm  
Thực hiện chiến lược này cho phép sản phẩm thâm nhập vào những phân khúc thị  
trường mạnh hơn, nhưng khi đưa sản phẩm vào thị trường cần phải tăng thêm chi phí cho  
quảng cáo.  
Việc gắn cho hàng hoá nhãn hiệu riêng biệt có ưu điểm là doanh nghiệp không ràng  
buộc uy tín của mình với việc mặt hàng cụ thể có được thị trường chấp nhận hay không  
chấp nhận. Nếu hàng hoá bị thất bại thì điều đó không hề gây tổn hại đến thanh danh của  
doanh nghiệp hoặc gây ảnh hưởng đến sản phẩm khác của doanh nghiệp.  
- Kết hợp thương hiệu của doanh nghiệp với tên riêng của từng sản phẩm  
Thực hiện chiến lược này vừa đem lại sức mạnh hợp pháp cho sản phẩm, vừa cung  
cấp thông tin riêng về tính khác biệt của sản phẩm  
d) Các yêu cầu với nhãn hiệu hàng hóa:  
- Nói lên được về lợi ích và chất lượng sản phẩm  
- Ngắn gọn, đơn giản, dễ đọc dễ nhớ  
- Có ý nghĩa  
- Độc đáo  
- Có thể đăng ký và được pháp luật bảo vệ  
6.2.3. Quyết định về bao bì sản phẩm  
Bao bì có vai trò rất quan trọng. Một số nhà marketing đã coi bao bì là chữ P  
thứ năm cùng với 4 chữ P trong marketing mix (Package). Tuy nhiên hầu hết giới  
marketing đều cho rằng bao bì là một yếu tố trong chiến lược sản phẩm.  
Việc thiết kế bao bì (Packaging) là những hoạt động nhằm vẽ kiểu và sản phẩm đồ  
chứa hay đồ bao gói cho một sản phẩm. Bao bì gồm 3 lớp:  
- Bao bì lớp đầu là cái trực tiếp chứa sản phẩm. Ví dụ chai đựng nước hoa là bao bì  
lớp đầu.  
- Bao bì lớp nhì là bao bì bảo vệ bao bì lớp đầu và sẽ bỏ đi khi ta sắp dùng sản phẩm  
đó. Hộp đựng chai nước hoa là bao bì lớp nhì. Nó có tác dụng bảo vệ bổ sung, vừa là chỗ  
để quảng cáo thêm.  
- Bao bì vận chuyển là lớp bao bì cần thiết cho việc lưu kho và vận chuyển. Một số  
hộp cứng đựng 7 tá chai nước hoa nói trên là bao bì vận chuyển.  
99  
Bao bì là một công cụ marketing quan trọng  
Ngày nay bao gói trở thành công cụ đắc lực của hoạt động Marketing, bởi vì:  
(1) Sự phát triển của hệ thống cửa hàng tự phục vụ, tự chọn ngày càng tăng.  
(2) Mức giàu sang và khả năng mua sắm của người tiêu dùng càng tăng.  
(3) Bao bì góp phần tạo ra hình ảnh về doanh nghiệp và nhãn hiệu.  
(4) Tạo ra khả năng và ý niệm về sự cải tiến sản phẩm.  
Các quyết định bao gói  
Để tạo ra bao gói có hiệu quả cho một sản phẩm, nhà quản trị Marketing phải  
thông qua hàng loạt quyết định kế tiếp nhau như sau:  
- Xây dựng quan niệm về bao gói: Bao bì phải tuân thủ nguyên tắc nào? Nó  
đóng vai trò như thế nào đối với một mặt hàng cụ thể? Nó phải cung cấp những thông tin  
gì về sản phẩm?...  
- Quyết định về các khía cạnh: Kích thước, hình dáng, vật liệu, màu sắc, nội dung  
trình bày và có gắn nhãn hiệu hay không? Khi thông qua các quyết định này phải gắn với  
các công cụ khác của Marketing  
- Quyết định về thử nghiệm bao gói bao gồm: thử nghiệm về kỹ thuật, thử nghiệm  
về hình thức, thử nghiệm về kinh doanh, thử nghiệm về khả năng chấp nhận của người  
tiêu dùng.  
- Cân nhắc các khía cạnh lợi ích xã hội, lợi ích người tiêu dùng và lợi ích của bản  
thân doanh nghiệp.  
- Quyết định về các thông tin trên bao gói: Tùy vào những điều kiện cụ thể mà các  
nhà sản xuất bao gói quyết định đưa thông tin gì lên bao gói và đưa chúng như thế nào?  
Thông thường những thông tin chủ yếu được thể hiện qua bao gói là:  
Thông tin về sản phẩm, chỉ rõ đó là hàng gì?  
Thông tin về phẩm chất sản phẩm  
Thông tin về ngày, người, nơi sản xuất và các đặc tính về sản phẩm  
Thông tin về kỹ thuật an toàn khi sử dụng  
Thông tin về nhãn hiệu thương mại và các hình thức hấp dẫn để kích thích  
tiêu thụ  
Mã số, mã vạch  
Các thông tin theo quy định của pháp luật  
Các thông tin trên bao gói có rất nhiều thông tin tương tự như yêu cầu trong quy  
chế nhãn hàng hóa, nhưng cũng có những thông tin khác. Các thông tin được đưa ra có  
thể bằng cách in trực tiếp lên bao bì hoặc in rời rồi dán lên bao bì. Gần đây cách thứ nhất  
được sử dụng phổ biến hơn.  
100  
6.2.4. Quyết định về dịch vụ khách hàng  
Một yếu tố khác cấu thành sản phẩm hoàn chỉnh là dịch vụ khách hàng. Tùy vào  
từng loại hàng mà tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng sẽ khác nhau. Các nhà quản trị  
Marketing phải quyết định bốn vấn đề liên quan đến việc cung cấp dịch vụ cho khách  
hàng:  
- Nội dung hay các yếu tố dịch vụ mà khách hàng đòi hỏi và khả năng doanh nghiệp  
có thể cung cấp là gì? Tầm quan trọng tương đối của từng yếu tố dịch vụ đó  
- Chất lượng dịch vụ và doanh nghiệp phải đảm bảo chất lượng dịch vụ cho khách  
hàng đến mức độ nào so với các đối thủ cạnh tranh  
- Chi phí dịch vụ, tức khách hàng được cung cấp dịch vụ miễn phí hay theo mức giá  
cả nào?  
- Lựa chọn hình thức cung cấp dịch vụ: Doanh nghiệp tự tổ chức lực lượng cung  
cấp dịch vụ, dịch vụ được cung cấp bởi các trung gian buôn bán, dịch vụ do tổ chức độc  
lập bên ngoài doanh nghiệp cung cấp.  
Khi quyết định về dịch vụ, doanh nghiệp phải căn cứ vào bốn yếu tố chính là: đặc  
điểm sản phẩm, đòi hỏi của khách hàng, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh dành cho khách  
hàng và khả năng của doanh nghiệp.  
6.2.5. Quyết định về chủng loại và danh mục sản phẩm  
6.2.5.1. Quyết định về bề rộng của chủng loại sản phẩm  
Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau do  
giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một nhóm khách hàng hay thông  
qua cùng những kiểu tổ chức thương mại, hay trong khuôn khổ cùng một dãy giá  
Bề rộng của chủng loại sản phẩm là sự phân giải về số lượng các mặt hàng thành  
phần theo một tiêu thức nhất định, ví dụ như theo kích cỡ, theo công suất,...  
Mỗi doanh nghiệp thường có cách thức lựa chọn bề rộng chủng loại sản phẩm  
khác nhau. Những lựa chọn này tùy thuộc vào mục đích mầ doanh nghiệp theo đuổi  
Các doanh nghiệp thiên về theo đuổi mục tiêu cung cấp một chủng loại đầy đủ hay  
phấn đấu để chiếm lĩnh phần lớn thị trường hoặc mở rộng thị trường thường có chủng  
loại sản phẩm rộng. Trong trường hợp này họ sản xuất cả những sản phẩm sinh lời ít.  
Ngược lại có những doanh nghiệp quan tâm trước hết đến sinh lời cao của sản phẩm.  
Nhưng dù quyết định ban đầu của doanh nghiệp như thế nào, thì hiện tại doanh nghiệp  
cũng vẫn gặp phải vấn đề đặt ra là mở rông và duy trì bề rộng của chủng loại sản phẩm  
bằng cách nào? Giải quyết vấn đề này doanh nghiệp có hai hướng lựa chọn.  
Một là, phát triển chủng loại. Phát triển chủng loại có thể được thực hiện bằng các  
cách thức sau:  
-
Phát triển hướng xuống dưới  
101  
-
-
Phát triển hướng lên trên  
Phát triển theo cả hai hướng trên  
Hai là, bổ sung mặt hàng cho chủng loại sản phẩm. Cách làm này có nghĩa là theo  
bề rộng mà doanh nghiệp đã lựa chọn, doanh nghiệp cố gắng đưa thêm những mặt hàng  
mới trong khuôn khổ đó. Việc bổ sung sản phẩm được đặt ra xuất phát từ các mục đích  
sau:  
- Mong muốn có thêm lợi nhuận  
- Để lấp chỗ trống trong chủng loại hiện có  
- Tận dụng năng lực sản xuất dịch vụ dư thừa  
- Mưu toan trở thành doanh nghiệp chủ chốt với chủng loại đầy đủ  
Khi bổ sung những sản phẩm mới trong cùng một chủng loại doanh nghiệp phải  
tính đến khả năng giảm mức tiêu thụ của sản phẩm khác. Để làm giảm bớt ảnh hưởng này  
doanh nghiệp phải đảm bảo chắc chắn rằng sản phẩm mới khác hẳn so với sản phẩm đã  
có.  
6.2.5.2. Quyết định về danh mục sản phẩm  
Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các chủng loại sản phẩm và các đơn vị sản  
phẩm do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua. Danh mục sản phẩm được  
phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú, bề sâu và mức độ hài hòa của nó  
Bề rộng của danh mục sản phẩm là tổng thể số các chủng loại sản phẩm do doanh  
nghiệp sản xuất  
Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm là tổng số những mặt hàng thành  
phần của nó  
Bề sâu của danh mục sản phẩm là tổng số các đơn vị sản phẩm cụ thể được chào  
bán trong từng mặt hàng riêng của một chủng loại. Ví dụ thuốc đánh răng Crest là một  
mặt hàng thuộc chủng loại thuốc đánh răng. Thuốc đánh răng Crest được chào bán trong  
ba kiểu đóng gói với hai loai hương vị (loại thường và bạc hà). Khi đó bề sâu của danh  
mục sản phẩm có sáu sản phẩm cụ thể  
Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm phản ánh mức độ gần gũi của sản phẩm  
thuộc các nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sử dụng cuối cùng, hoặc  
những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào đó.  
Bốn thông số đặc trưng cho danh mục sản phẩm mở ra cho doanh nghiệp bốn  
hướng chiến lược mở rộng danh mục sản phẩm.  
6.2.6. Quyết định về phát triển sản phẩm mới  
6.2.6.1. Khái quát về sản phẩm mới  
Do những thay đổi nhanh chóng về thị hiếu, công nghệ, tình hình cạnh tranh  
doanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào những sản phẩm hiện có. Vì  
102  
vậy, mỗi doanh nghiệp đều phải quan tâm đến chương trình phát triển sản phẩm mới nếu  
muốn tồn tại và phát triển với uy tín ngày càng tăng.  
Để có được sản phẩm mới, doanh nghiệp có thể có hai cách: Mua toàn bộ doanh  
nghiệp nào đó, mua bằng sáng chế hay giấy phép sản xuất sản phẩm của người khác,  
hoặc tự thành lập bộ phận nghiên cứu Marketing và thiết kế sản phẩm mới. Ta sẽ tập  
trung nghiên cứu hướng thứ hai.  
Theo quan niệm Marketing, sản phẩm mới có thể là những sản phẩm mới về  
nguyên tắc, sản phẩm mới cải tiềm từ các sản phẩm mới hiện có hoặc những nhãn hiệu  
mới do kết quả nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm của doanh nghiệp. Nhưng dấu hiệu quan  
trọng nhất đánh giá sản phẩm đó là sản phẩm mới hay không phải là sự thừa nhận của  
khách hàng.  
Thiết kế, sản xuất sản phẩm mới là một việc làm cần thiết, nhưng có thể là mạo  
hiểm đối với doanh nghiệp. Bởi vì chúng có thể thất bại do những nguyên nhân khác  
nhau. Để hạn chế bớt rủi ro các chuyên gia – những người sáng tạo sản phẩm mới phải  
tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quá trình tạo ra sản phẩm mới và đưa nó vào thị  
trường.  
6.2.6.2. Các giai đoạn thiết kế và Marketing sản phẩm mới  
Giai đoạn 1: Hình thành ý tưởng  
Tìm kiếm những ý tưởng về sản phẩm mới là bước đầu tiên quan trọng để hình  
thành phương án sản xuất sản phẩm mới. Việc tìm kiếm này phải được tiến hành một  
cách có hệ thống và thường căn cứ vào các nguồn thông tin sau:  
- Từ phía khách hàng: qua thăm dò ý kiến của họ, trao đổi với họ, thư từ và đơn  
khiếu nại họ gửi đến, các thông tin họ phản ánh trên báo chí và phương tiện thông tin đại  
chúng...  
- Từ các nhà khoa học  
- Nghiên cứu những sản phẩm thành công/thất bại của đối thủ cạnh tranh  
- Nhân viên bán hàng và những người của doanh nghiệp thường tiếp xúc với  
khách hàng  
- Những người có bằng sáng chế phát minh, các trường đại học, các chuyên gia  
công nghệ và quản lý, các nhà nghiên cứu Marketing...  
Ý tưởng về sản phẩm mới thường hàm chứa những tư tưởng chiến lược trong hoạt  
động kinh doanh và hoạt động Marketing của doanh nghiệp, chẳng hạn như: tạo ra một  
ưu thế đặc biệt nào đó so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, cống hiến một sự hài lòng  
hay thỏa mãn nào đó cho khách hàng... Với mỗi ý tưởng đó thường có khả năng, điều  
kiện thực hiện và ưu thế khác nhau. Vì vậy phải chọn lọc ý tưởng tốt nhất.  
Giai đoạn 2: Lựa chọn ý tưởng  
103  
Mục đích của việc lựa chọn là để cố gắng phát hiện sàng lọc và thải loại những ý  
tưởng không phù hợp, kém hấp dẫn, nhằm chọn được những ý tưởng tốt nhất. Để làm  
được điều này mỗi ý tưởng về sản phẩm mới cần được trình bày bằng văn bản trong đó  
có những nội dung cốt yếu là: Mô tả sản phẩm, thị trường mục tiêu, các đối thủ cạnh  
tranh, ước tính sơ bộ quy mô thị trường, các chi phí có liên quan đến việc thiết kế, chi phí  
sản xuất sản phẩm, giá cả dự kiến và thời gian để sản xuất, mức độ phù hợp với doanh  
nghiệp về các phương diện công nghệ, tài chính, mục tiêu chiến lược... Đó cũng chính là  
các tiêu chuẩn để lựa chọn và thẩm định ý tưởng và phương án sản phẩm mới.  
Giai đoạn 3: Soạn thảo và thẩm định dự án sản phẩm mới  
Sau khi có những ý tưởng được chọn lọc, mỗi ý tưởng phải được xây dựng thành  
những dự án sản phẩm mới.  
Ý tưởng và dự án là những khái niệm khác nhau. Chỉ có dự án mới tạo thành hình  
ảnh thực sự về một sản phẩm mà doanh nghiệp dự định đưa ra thị trường và nó có ý  
nghĩa đối với khách hàng.  
Ý tưởng là những tư tưởng khái quát về sản phẩm, còn dự án là sự thể hiện tư  
tường khái quát đó thành các phương án sản phẩm mới với các tham số về đặc tính hay  
công dụng hoặc đối tượng sử dụng khác nhau của chúng.  
Sau khi đã có dự án về sản phẩm, cần phải thẩm định từng dự án này. Thẩm định  
dự án là thử nghiệm quan điểm và thái độ của nhóm khách hàng mục tiêu đối với các  
phương án sản phẩm đã được mô tả. Qua thẩm định dựa trên ý kiến của khách hàng tiềm  
năng kết hợp với các phân tích khác nữa doanh nghiệp sẽ lựa chọn được một dự án sản  
phẩm chính thức  
Giai đoạn 4: Soạn thảo chiến lược Marketing cho sản phẩm mới  
Sau khi dự án sản phẩm mới tốt nhất được thông qua, doanh nghiệp cần soạn thảo  
chiến lược Marketing cho nó. Chiến lược Marketing cho sản phẩm mới bao gồm 3 phần:  
Phần thứ nhất mô tả quy mô, cấu trúc thị trường và thái độ của khách hàng trên thị  
trường mục tiêu, dự kiến xác lập vị trí sản phẩm, chỉ tiêu về khối lượng bán, thị phần và  
lợi nhuận trong những năm trước mắt;  
Phần thứ hai trình bày quan điểm chung về phân phối sản phẩm và dự đoán chi  
phí Marketing cho năm đầu;  
Phần thứ ba trình bày những mục tiêu tương lai về các chỉ tiêu: tiêu thụ, lợi nhuận,  
quan điểm chiến lược lâu dài về các yếu tố Marketing mix.  
Trên cơ sở các tư liệu đã có trước khi quyết định cho thiết kế sản phẩm, ban lãnh  
đạo doanh nghiệp tiến hành duyệt lần cuối cùng về mức độ hấp dẫn của kinh doanh sản  
phẩm mới, phân tích và cân nhắc kỹ các chỉ tiêu dự kiến về: Mức bán, chi phí và lợi  
nhuận  
104  
Giai đoạn 5: Thiết kế sản phẩm mới  
Trong giai đoạn thiết kế các dự án sản phẩm phải được thể hiện thành những sản  
phẩm hiện thực, chứ không chỉ là những mô tả khái quát như các bước trên. Để làm việc  
này, bộ phận nghiên cứu thiết kế sẽ tạo ra một hay nhiều phương án hay mô hình sản  
phẩm. Theo dõi và kiểm tra các thông số kinh tế DTVuuukỹ thuật, các khả năng thực  
hiện vai trò của sản phẩm và từng bộ phận, chi tiết cấu thành nó. Tạo ra sản phẩm mẫu,  
thử nghiệm chức năng của nó trong vòng thử nghiệm, kiểm tra thông qua khách hàng hay  
người tiêu dùng để biết ý kiến của họ.  
Giai đoạn 6: Thử nghiệm trong điều kiện thị trường  
Nếu sản phẩm mới đã qua được giai đoạn thử nghiệm chức năng và sự kiểm tra  
của người tiêu dùng thì doanh nghiệp sẽ sản xuất một loạt nhỏ để thử nghiệm trong điều  
kiện thị trường. Ở bước này người ta vừa thử nghiệm sản phẩm vừa thử nghiệm các  
chương trình Marketing. Vì vậy, đối tượng được thử nghiệm có thể là: vừa khách hàng,  
vừa các nhà kinh doanh (buôn bán) và các chuyên gia có kinh nghiệm. Những mục tiêu  
theo đuổi trọng yếu trong bước này là để thăm dò khả năng mua và dự báo chung về mức  
tiêu thụ. Để đạt mục tiêu đó sản phẩm sẽ được bán thử ở trên thị trường.  
Giai đoạn 7: Triển khai sản xuất hàng loạt và quyết định tung sản phẩm mới ra thị  
trường  
Sau khi thử nghiệm thị trường, doanh nghiệp đã có căn cứ rõ nét hơn để quyết  
định có sản xuất đại trà sản phẩm mới hay không. Nếu việc sản xuất đại trà hàng loạt  
được thông qua doanh nghiệp phải thực sự bắt tay vào triển khai phương án tổ chức sản  
xuất và Marketing sản phẩm mới. Trong giai đoạn này, những quyết định liên quan đến  
việc tung sản phẩm mới vào thị trường là cực kỳ quan trọng. Cụ thể là trong giai đoạn  
này, doanh nghiệp phải thông qua 4 quyết định:  
- Khi nào chính thức tung sản phẩm mới vào thị trường?  
- Sản phẩm mới sẽ được tung ra ở đâu?  
- Sản phẩm mới trước hết phải tập trung bán cho đối tượng khách hàng nào?  
- Sản phẩm mới được tung ra bán như thế nào? Với những hoạt động hỗ trợ nào  
để xúc tiến việc bán  
6.2.7. Chu kỳ sống của sản phẩm  
6.2.7.1. Khái niệm Chu kỳ sống của sản phẩm  
Chu kỳ sống của sản phẩm là thuật ngữ dùng để mô tả sự biến đổi của doanh số  
tiêu thụ kể từ khi sản phẩm được tung ra thị trường đến khi nó phải rút lui khỏi thị  
trường. Chu kỳ sống của sản phẩm có thể được xem xét cho từng mặt hàng cụ thể, từng  
nhóm chủng loại, thậm chí từng nhãn hiệu sản phẩm.  
105  
Sự tồn tại chu kỳ sống của sản phẩm là hiển nhiên, hy vọng về sự tồn tại lâu dài  
với doanh số cao đối với một sản phẩm, chủng loại sản phẩm hoặc nhãn hiệu sản phẩm là  
chính đáng. Nhưng hy vọng đó chỉ đạt được khi doanh nghiệp biết được sự diễn biến của  
chu kỳ sống, đặc điểm của nó, đồng thời có những điều chỉnh chiến lược Marketing thích  
hợp.  
6.2.7.2. Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm  
Đối với từng sản phẩm, nhóm chủng loại hoặc nhãn hiệu sản phẩm có thể có số  
lượng và độ dài từng giai đoạn khác nhau. Nhưng dạng khái quát về mặt lý thuyết thì chu  
kỳ sống sản phẩm có bốn giai đoạn. Đó là: giai đoạn tung sản phẩm vào thị trường; giai  
đoạn phát triển; giai đoạn chín muồi và giai đoạn suy thoái.  
Hình 6.2: Chu kỳ sống của sản phẩm  
Giai đoạn 1: Giai đoạn tung sản phẩm ra thị trường (giai đoạn giới thiệu)  
Đây là giai đoạn mở đầu của việc đưa sản phẩm ra bán chính thức trên thị trường.  
Bởi vậy nó đòi hỏi phải có thời gian và sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt. Mặc dù vậy  
mức tiêu thụ trong giai đoạn này thường tăng chậm chạp vì các lý do sau:  
- Doanh nghiệp mở rộng năng lực sản xuất;  
- Doanh nghiệp còn phải gặp phải những vướng mắc về kỹ thuật  
- Chậm triển khai một kênh phân phối hiệu quả  
- Khách hàng chưa từ bỏ thói quen tiêu dùng trước đây;  
- Khả năng mua sắm còn hạn chế  
Trong giai đoạn này, doanh nghiệp thường chịu lỗ hoặc lãi rất ít, mặc dù giá bán  
thường được quy định cao. Hướng chiến lược của hoạt động Marketing trong giai đoạn  
này là:  
- Tập trung nỗ lực bán vào nhóm khách hàng có điều kiện sẵn sàng mua nhất.  
- Động viên khuyến khích các trung gian Marketing  
- Tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán  
Giai đoạn 2: Giai đoạn phát triển  
106  
Trong giai đoạn này mức tiêu thụ bắt đầu tăng mạnh, trên thị trường xuất hiện  
nhiều đối thủ cạnh tranh mới, lợi nhuận trong giai đoạn này tăng. Để khai thác và kéo dài  
tối đa cơ hội này, doanh nghiệp có thể thực hiện các tư tưởng chiến lược sau:  
- Giữ nguyên mức giá hoặc giảm chút để thu hút khách hàng  
- Giữ nguyên hoặc tăng chi phí kích thích tiêu thụ  
- Tiếp tục thông tin mạnh mẽ về sản phẩm cho công chúng  
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo cho nó tính chất mới, sản xuất những mẫu mã  
mới  
- Xâm nhập vào những phần thị trường mới  
- Sử dụng kênh phân phối mới  
- Thay đổi đôi chút về thông điệp quảng cáo để kích thích khách hàng.  
Giai đoạn 3: Giai đoạn bão hòa (chín muồi)  
Khi nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu chững lại, việc tiêu thụ sản phẩm bước vào  
giai đoạn chín muồi. Về thời gian, giai đoạn này thường dài hơn các giai đoạn trước và  
đặt ra những nhiệm vụ phức tạp trong lĩnh vực quản trị Marketing  
Sản phẩm tiêu thụ chậm cũng có nghĩa là chúng tràn đầy trên các kênh lưu thông,  
điều đó hàm chứa một cuộc cạnh tranh gay gắt. Để cạnh tranh, các đối thủ dùng nhiều  
thuật ngữ khác nhau như: Bán hạ giá, bán theo giá thấp hơn giá niêm yết chính thức, tâng  
quảng cáo, kích thích các trung gian thương mại, tăng cường chi phí đầu tư cho việc  
nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm nhằm tạo ra các mẫu mã hàng mới... tình hình đó dẫn  
đến sự giảm sút của lợi nhuận. Để sản phẩm tiếp tục tồn tại trên thị trường, các nhà quản  
trị Marketing có thể có các phương án lựa chọn sau:  
- Cải biến thị trường, tức là tìm thị trường mới cho sản phẩm  
- Cải biến sản phẩm, thay đổi một số yếu tố, đặc tính của sản phẩm  
- Cải biến các công cụ Marketing Mix  
Giai đoạn 4: Giai đoạn suy thoái  
Giai đoạn suy thoái xuất hiện khi mức tiêu thụ các sản phẩm hoặc nhãn hiệu sản  
phẩm giảm sút. Việc giảm sút có thể diễn ra nhanh chóng, chậm chạp, thậm chí đến số  
không. Cũng có sản phẩm mức tiêu thụ chúng giảm xuống thấp rồi dừng lại ở đó trong  
nhiều năm.  
Mức tiêu thụ giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau như: thành tựu về công nghệ  
làm xuất hiện sản phẩm mới thay thế, thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, cạnh tranh  
gay gắt từ các đối thủ trong và ngoài nước.  
Khi mức tiêu thụ giảm sút dẫn đến lợi nhuận giảm sút, một số doanh nghiệp có thể  
rút khỏi thị trường, số còn lại có thể thu hẹp chủng loại sản phẩm chào bán, từ bỏ phần  
thị trường nhỏ, những kênh thương mại ít hiệu quả nhất, cắt giảm chi phí khuyến khích  
và hạ giá nhiều hơn. Nhưng việc giữ lại những sản phẩm đã suy thoái có thể gây nhiều  
107  
khó khăn cho doanh nghiệp, thậm chí làm giảm uy tín cho toàn doanh nghiệp vì những  
sản phẩm đó. Vì vậy, để hạn chế bớt ảnh hưởng xấu của hiện tượng này doanh nghiệp  
cần quan tâm các khía cạnh sau:  
- Luôn theo dõi để phát hiện những sản phẩm bước vào giai đoạn suy thoái  
- Đối với từng mặt hàng phải nhanh chóng thông qua quyết định tiếp tục lưu giữ  
hay thải loại chúng ra khỏi danh mục sản phẩm của doanh nghiệp. Việc lưu giữ mặt hàng  
đôi khi cũng đem lại mối lợi lớn cho doanh nghiệp, nếu như các đối thủ cạnh tranh rút lui  
khỏi việc kinh doanh mặt hàng đó nhiều.  
CÂU HỎI THẢO LUẬN  
Câu 1: Định nghĩa về sản phẩm và phân loại sản phẩm, dịch vụ. Chọn một sản  
phẩm bất kỳ, chỉ rõ các yếu tố cấu thành của mỗi cấp độ sảm phẩm đó?  
Câu 2: Trình bày khái niệm và yêu cầu đối với nhãn hiệu sản phẩm?  
Câu 3: Trình bày các quyết định liên quan đến bao gói và dịch vụ khách hàng liên  
quan đến một sản phẩm cụ thể  
Câu 4: Chu kỳ sống sản phẩm là gì? Mô tả đặc điểm các giai đoạn của chu kỳ  
sống của sản phẩm và sự thay đổi của chiến lược Marketing qua các giai đoạn trong chu  
kỳ sống của sản phẩm.  
Câu 5: Thế nào là sản phẩm mới? Phân tích các bước doanh nghiệp cần thực hiện  
khi phát triển sản phẩm mới?  
BÀI TẬP ỨNG DỤNG  
Câu 1: Lựa chọn một sản phẩm cụ thể và cho biết sản phẩm đó đang ở giai đoạn  
nào của chu kỳ sống? Vì sao? Hướng chiến lược Marketing doanh nghiệp đang sử dụng  
với sản phẩm đó  
Câu 2: Tình huống Điện Quang với hướng đi mới  
Là doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam về sản xuất bóng đèn và các thiết bị chiếu  
sáng. Công ty bóng đèn Điện Quang không chỉ dừng lại ở nỗ lực tìm kiếm, phát triển  
những công nghệ tốt nhất để cho ra đời những sản phẩm đạt chất lượng cao ngang tầm  
quốc tế mà luôn quan tâm tới việc phục vụ người tiêu dùng một cách có hiệu quả nhất.  
Những nỗ lực đáng ghi nhận của Điện Quang trong thời gian qua như ứng dụng  
công nghệ hoạt hóa Tricolor phosphor vào bóng đèn huỳnh quang thông thường, nên sản  
phẩm của Điện Quang có tính năng vượt trội giúp bảo vệ tốt thị lực, đặc biệt với đôi mắt  
trẻ em, do chất lượng ánh sang tốt hơn, hiệu suất ánh sang và truyền màu cao hơn so với  
các sản phẩm huỳnh quang thông thường nhờ tăng tăng thêm độ sang 25-35%. Các  
chương trình phúc lợi công cộng do điện quang thực hiện đã nói lên điều này. Đặc biệt là  
chương trình “Ánh sáng học đường” nhằm chăm sóc sức khỏe về mắt cho các em học  
sinh.  
108  
Điện Quang cũng đẩy mạnh việc tự nghiên cứ các công nghệ tiên tiến để sản xuất  
ra sản phẩm mới nhằm duy trì vị trí dẫn đầu thị trường, đồng thời cam kết chính sách chất  
lượng luôn được đảm bảo tạo sự tin dùng về sản phẩm và góp phần bảo vệ sức khỏe  
người tiêu dùng với các tiêu chí như độ bền cao, tiết kiệm điện có hiệu quả, sản phẩm có  
sức cạnh tranh và dich vụ tốt nhất.  
Đến với Điện Quang, khách hàng hoàn toàn yên tâm về chất lượng sản phẩm, hoạt  
động tư vấn chu đáo hoàn hảo.  
Câu hỏi:  
1. Điện Quang đã làm gì để phục vụ người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất?  
2. Tại sao trong hướng phát triển sản phẩm mới. Điện Quang tập trung vào việc  
nâng cao chất lượng sản phẩm?  
3. Hãy đánh giá hướng đi mới của Điện Quang?  
109  
Chương 7  
QUYẾT ĐỊNH VỀ GIÁ BÁN  
MỤC ĐÍCH CHƯƠNG  
Sau khi nghiên cứu và học tập chương này, sinh viên cần nắm được:  
- Khái niệm giá theo quan điểm marketing, vai trò và những tác động của giá đối  
với kinh doanh của các doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hiện nay  
- Những yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến mức giá bán hàng của doanh  
nghiệp, tầm quan trọng của mỗi nhân tố  
- Tiến trình định giá bán hàng của doanh nghiệp, ưu nhược điểm của mỗi một  
phương pháp định giá  
- Bản chất và điều kiện ứng dụng của các chiến lược giá đối với sản phẩm mới.  
NỘI DUNG CHƯƠNG  
7.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁ  
7.1.1. Khái niệm giá  
Giá mang nhiều tên gọi khác nhau và được tiếp cận trên nhiều góc độ. Giá là tên  
gọi chung có liên quan đến lượng đơn vị tiền tệ dùng để mua hoặc bán của hầu hết sản  
phẩm vật chất. Nhưng đối với các dịch vụ thì tên gọi của giá được biến tướng thành nhiều  
dạng, chẳng hạn, học phí – giá của các khóa học; cước – giá của dịch vụ vận chuyển, giá  
của thông tin… Có một số góc độ tiếp cận về giá cả chúng ta cần quan tâm  
Với hoạt động trao đổi, giá cả được định nghĩa: “Giá là mối tương quan trao  
đổi trên thị trường”. Định nghĩa này chỉ rõ:  
Giá là biểu tượng giá trị của sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động trao đổi. Vì vậy,  
không thể thiếu vắng giá cả ở bất kỳ một hoạt động trao đổi nào.  
Trao đổi qua giá là trao đổi dựa trên giá trị của những thứ đem trao đổi. Vì vậy,  
khi thực hiện trao đổi qua giá, trước hết phải đánh giá được giá trị của các thứ đem trao  
đổi. Nếu tiêu chuẩn của giá trị là lợi ích kinh tế thì sự chấp nhận một mức giá phụ thuộc  
rất lớn vào sự xét đoán lợi ích mà các thành viên tham gia trao đổi đánh giá về mức giá  
đó  
Với người mua: “Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khoản tiền mà người  
mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó”.  
Với người bán: “Giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập người bán nhận  
được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó”  
110  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 82 trang Thùy Anh 15720 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Marketing căn bản (Phần 2) - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_marketing_can_ban_phan_2_truong_dai_hoc_kinh_te_k.pdf