Đạo đức kinh doanh qua cách nhìn của doanh nghiệp may mặc Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
47  
ĐẠO ĐỨC KINH DOANH QUA CÁCH NHÌN  
CỦA DOANH NGHIỆP MAY MẶC VIỆT NAM  
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO*  
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU**  
Kết quả nghiên cứu về đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp may mặc ở  
Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai (năm 2018) trên cở sở tiếp  
cận thuyết vị lợi và quyền lợi đạo đức cho thấy, vấn đề đạo đức được doanh  
nghiệp quan tâm, chủ động và tích cực xây dựng; và đặc điểm kinh doanh của  
doanh nghiệp có ảnh hưởng đến đạo đức kinh doanh. Song nếu so sánh đối  
chiếu quá trình phát triển thương hiệu dài hạn của doanh nghiệp với 17 thuộc  
tính đạo đức trong và ngoài thì nhận thức đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp  
còn nhiều lỗ hổng, đặc biệt là nhận thức về thực hiện quyền lợi đạo đức cho  
người lao động ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ.  
Từ khóa: đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp, người lao động, khách hàng, người  
tiêu dùng  
Nhận bài ngày: 16/6/2021; đưa vào biên tập: 17/6/2021; phản biện: 24/6/2021;  
duyệt đăng: 10/8/2021  
1. DẪN NHẬP  
tiêu dùng có trách nhiệm, mà đã trở  
thành một hiện tượng về lối sống (Mai,  
2014).  
Đạo đức kinh doanh là cách một  
doanh nghiệp đưa các giá trị cốt lõi  
như trung thực, tin tưởng, tôn trọng và  
công bằng vào các chính sách, thực  
hành và việc ra quyết định của doanh  
nghiệp (Hellriegel và cộng sự, 2008).  
Kinh doanh có đạo đức là một xu  
hướng đang diễn ra mạnh mẽ trên thế  
giới, với động lực thúc đẩy chính đến  
từ người tiêu dùng bởi các cân nhắc  
đạo đức đang ngày càng đóng vai trò  
quan trọng trong quyết định mua hàng  
(Creyer và Ross, 1997). Chủ nghĩa  
tiêu dùng đạo đức không còn chỉ giới  
hạn trong một nhóm nhỏ những người  
Các nghiên cứu về đạo đức kinh  
doanh, văn hóa tổ chức và lãnh đạo  
doanh nghiệp cho thấy các hành vi phi  
đạo đức được thể hiện là do yếu tố cá  
nhân và môi trường tạo ra. Trong các  
yếu tố môi trường thì văn hóa doanh  
nghiệp là một trong những yếu tố  
quan trọng nhất (Meyers, 2004). Theo  
D. Cohen (1993) thì văn hóa doanh  
nghiệp là tập hợp của những hệ  
thống, tiến trình và tương tác chính  
thức và phi chính thức. Các cấu phần  
chính thức bao gồm sự lãnh đạo  
(leadership), cấu trúc (structure),  
chính sách (policies), hệ thống thưởng  
(reward systems), các cơ chế xã hội  
*, ** Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
48 NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – ĐẠO ĐỨC KINH DOANH…  
hóa (socialization mechanisms) và quá Tân Hiệp Phát (an toàn thực phẩm và  
trình ra quyết định (decision process). đối xử với người tiêu dùng) và Ogilvy  
Các cấu phần phi chính thức bao gồm  
các chuẩn mực hành vi (behavioural  
norms), thần tượng (role models),  
nghi lễ (rituals), giai thoại lịch sử  
(historical anecdotes) và ngôn ngữ  
(language). Như vậy các tiến trình về  
văn hóa sẽ duy trì giá trị, tục lệ, thực  
hành và mong đợi các hành vi chuẩn  
mực trong công ty.  
(truyền thông bẩn về nước mắm có  
Arsen). Mặc dù những sự việc trên  
vẫn gặp phải sự phản ứng/tẩy chay  
của người tiêu dùng và có những hậu  
quả đáng kể cho các doanh nghiệp  
liên quan, nhưng các vấn đề đạo đức  
kinh doanh chưa được bàn luận sâu  
rộng trong hoạt động kinh tế ở Việt  
Nam, đặc biệt trong lĩnh vực may mặc.  
Các vấn đề cốt lõi của đạo đức kinh  
doanh như tôn trọng quyền của người  
lao động, không phân biệt đối xử (với  
phụ nữ, cộng đồng LGBT và người  
khuyết tật); liêm chính và lợi ích công  
chưa được thảo luận và coi là một  
phần cơ bản trong văn hóa doanh nghiệp.  
Văn hóa doanh nghiệp là một chủ đề  
được quan tâm trong thời gian gần  
đây do quá trình toàn cầu hóa dẫn  
đến sự giao thoa giữa các tập đoàn  
đa quốc gia với đối tác địa phương và  
văn hóa bản địa. Trong lịch sử, những  
khủng hoảng lớn liên quan đến gian  
lận tài chính (như vụ Enron), lạm dụng  
lao động trẻ em (như vụ Nike), an  
toàn lao động (như vụ Bhopal, ở Ấn  
Độ), phá hủy môi trường và sức khỏe  
(như bệnh minamata ở Nhật Bản)  
quấy rối tình dục (như ở Uber) đã  
khiến công chúng bức xúc và gây sức  
ép để các chính phủ đưa ra những  
điều luật điều chỉnh hành vi của công  
ty và bản thân các công ty phải điều  
chỉnh văn hóa của mình thông qua kiểm  
soát nội bộ cũng như những chuẩn  
mực ngành. Năm 2011, Liên Hợp quốc  
cũng đưa ra bộ nguyên tắc về nhân  
quyền và kinh doanh nhằm hạn chế vi  
phạm các chuẩn mực nhân quyền  
trong hoạt động của các doanh nghiệp.  
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy  
văn hóa kinh doanh có đạo đức và  
trách nhiệm xã hội là điều kiện quan  
trọng giúp doanh nghiệp phát triển  
bền vững, có được nhiều lợi ích.  
Doanh nghiệp có văn hóa kinh doanh  
tốt sẽ giúp họ tuyển dụng và giữ nhân  
viên tốt hơn, nhân viên vui vẻ trong  
công việc thì sẽ giúp cho việc phục vụ  
khách hàng và sản xuất tốt hơn, từ đó  
tăng năng suất và lợi nhuận cho công  
ty (Sahah và cộng sự, 2014). Tuy  
nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn coi  
việc tuân thủ các nguyên tắc nhân  
quyền, đạo đức kinh doanh như là  
một chi phí, một rào cản. Việc nghiên  
cứu nhằm xây dựng nền tảng cho việc  
thúc đẩy các doanh nghiệp xây dựng  
văn hóa kinh doanh có đạo đức, đưa  
ra chính sách, nội quy và cơ chế thực  
thi đạo đức kinh doanh có thể giúp  
doanh nghiệp không những tránh rủi  
Ở Việt Nam, gần đây vấn đề đạo đức  
kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp  
cũng được nhắc đến, thông qua  
những vụ như Khaisilk (bán hàng giả),  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
49  
ro pháp lý, rủi ro trong kinh doanh mà người nhất sẽ được xem là một quyết  
còn giúp họ có được các lợi ích về tài  
chính và phát triển bền vững. Đây là  
một hướng đi mềm, có tính chất win-  
win cho doanh nghiệp, người lao động  
và cộng đồng.  
định hợp lý nhất. Việc nhấn mạnh quan  
điểm tạo ra nhiều giá trị tốt nhất cho  
nhiều người nhất làm cho thuyết vị lợi  
trở thành một triết lý xã hội ủng hộ  
mạnh mẽ các thể chế cũng như chính  
sách dân chủ. Vị lợi ở đây gần như  
đồng nghĩa với công bằng dân chủ, vì  
cái tốt chung cho tất cả mọi người  
nhưng cũng phải cân nhắc đến lợi ích  
của mỗi cá nhân và mọi cá nhân bị  
hành động này tác động đến. Thuyết vị  
lợi rõ ràng đã phục vụ cho mục tiêu  
đạo đức tối ưu nhất đó là: ai ai cũng  
hưởng được hạnh phúc như nhau.  
Chẳng hạn, nếu một doanh nghiệp  
may mặc chẳng may bị hỏa hoạn dẫn  
đến việc công ty phá sản thì hành động  
của họ đối với nhân viên và công nhân  
như thế nào thì gọi là có đạo đức. Thứ  
nhất, tuyên bố phá sản và đền bù theo  
như hợp đồng lao động. Thứ hai, tiếp  
tục duy trì và vượt lên lại. Hành động  
cuối cùng không chỉ ảnh hưởng đến  
Ở Việt Nam, ngoài “tín” là một trong  
những mức đo đạo đức truyền thống  
giữa người bán và người mua, thì các  
doanh nghiệp phải có trách nhiệm xã  
hội đối với người lao động và khách  
hàng.  
Bài viết tìm hiểu quan điểm của doanh  
nghiệp về đạo đức kinh doanh và thực  
trạng thực hiện đạo đức kinh doanh ở  
các doanh nghiệp may mặc Việt Nam  
hiện nay.  
2. CÁCH TIẾP CẬN, NGUỒN DỮ  
LIỆU VÀ MẪU KHẢO SÁT  
Bài viết sử dụng hai cách tiếp cận là  
cách tiếp cận vị lợi (thuyết vị lợi  
“utilitarianism”) và quyền lợi đạo đức  
dựa theo cuốn sách Tài sản quốc gia  
(Wealth of Nations) của Adam Smith  
(Laura P. Hartman và cộng sự, 2008: công việc kinh doanh của công ty đó,  
78-89).  
đến công ty cung ứng và nhân viên  
trong công ty cung ứng mà còn ảnh  
hưởng đến cả các công nhân lao động  
và gia đình người thân của họ. Đạo  
đức theo thuyết vị lợi áp dụng trong  
tình huống này giúp Ban giám đốc  
doanh nghiệp đưa ra những quyết định  
có trách nhiệm.  
Cách tiếp cận vị lợi bắt đầu với niềm  
tin rằng chúng ta nên quyết định những  
gì nên làm bằng cách xem xét các hậu  
quả mà hành động đó mang lại. Theo  
thuyết vị lợi, nên hành động theo  
những cách mang lại kết quả toàn diện  
tốt hơn những cách khác. Kết quả toàn  
diện tốt là những kết quả mang lại  
niềm hạnh phúc, sức khỏe, lòng tự  
trọng, quyền tự do, sự tôn trọng cho tất  
Tuy nhiên, lập luận vị lợi cần có một  
quá trình nghiêm ngặt để tính toán tất  
cả những kết quả có lợi và có hại do  
cả mọi người. Như vậy, dưới góc độ hành động mang lại, đây là nhược  
điểm của lập luận vị lợi, không bao  
quát hết tất cả các khía cạnh của đạo  
đạo đức, một quyết định mang lại  
nhiều giá trị hạnh phúc nhất cho nhiều  
50 NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – ĐẠO ĐỨC KINH DOANH…  
đức. Kết quả tạo ra từ đạo đức có ngành dệt may - Trường hợp doanh  
trách nhiệm còn phải bao hàm cả yếu nghiệp vừa và nhỏ ngành may mặc  
tố trách nhiệm, yếu tố nguyên tắc và Việt Nam” của Trung tâm Tư vấn phát  
yếu tố chủ thể. Trong bối cảnh kinh triển thuộc Viện Khoa học xã hội vùng  
doanh, việc ra quyết định sẽ xảy ra rất Nam Bộ thực hiện và Oxfam chủ quản,  
nhiều tình huống buộc phải tuân theo năm 2018.  
các quy tắc luật pháp ngay cả khi điều  
Mẫu khảo sát là 11 doanh nghiệp,  
này mang lại kết quả không mong  
trong đó 3 doanh nghiệp ở TPHCM,  
muốn về mặt kinh tế hay những mặt  
và 8 doanh nghiệp ở Bình Dương và  
khác. Mọi doanh nghiệp đều đặt ra  
Đồng Nai; trong đó có 4 doanh nghiệp  
một hệ thống các quy tắc mà nhân  
cổ phần, 7 doanh nghiệp trách nhiệm  
viên phải tuân theo. Các nguyên tắc  
hữu hạn. Loại phương thức sản xuất  
đạo đức thường được lồng ghép trong  
kinh doanh: (i) doanh nghiệp may mặc  
quy tắc, nguyên tắc ứng xử của công  
theo phương thức sản xuất CMT (Cut  
ty.  
Make Trim - Gia công thuần túy)(11  
Cách tiếp cận từ quyền lợi đạo đức doanh nghiệp); (ii) doanh nghiệp may  
cho rằng, trong doanh nghiệp nhân mặc theo phương thức sản xuất FOB  
(Free on Board - mua nguyên liệu,  
bán thành phẩm) (2 doanh nghiệp); (iii)  
doanh nghiệp may mặc theo phương  
thức sản xuất OBM (Original Design  
Manufacturing - chủ động từ nguyên  
liệu, thiết kế, sản xuất thành phẩm) (2  
doanh nghiệp); (iv) doanh nghiệp vệ  
tinh (là doanh nghiệp TNHH nhận phụ  
đơn hàng các cho doanh nghiệp lớn,  
hoặc nhận trực tiếp các doanh nghiệp  
trung gian). Một doanh nghiệp có thể  
có nhiều phương thức sản xuất, và  
trong mẫu khảo sát này phần lớn là  
doanh nghiệp vệ tinh, phương thức  
sản xuất CMT.  
viên có các quyền lợi cơ bản: thứ nhất,  
là quyền lợi pháp lý dựa trên quy định  
của pháp luật (như quyền được nhận  
lương tối thiểu, quyền có cơ hội  
ngang nhau, quyền thương lượng tập  
thể…); thứ hai, quyền lợi của nhân  
viên sẽ còn tùy thuộc vào những điều  
khoản cơ bản mà nhân viên đã ký với  
giám đốc trong hợp đồng lao động  
(như có quyền được chăm sóc sức  
khỏe, có thời gian nghỉ phép năm…);  
cuối cùng, quyền lợi của nhân viên  
bao gồm những quyền lợi đạo đức mà  
nhân viên được hưởng ngoài những  
quyền lợi do luật pháp hay hợp đồng  
quy định. Những quyền lợi này xuất  
phát từ việc tôn trọng nhân viên với tư  
cách là con người.  
3. QUAN ĐIỂM VÀ THỰC TRẠNG  
THỰC HIỆN ĐẠO ĐỨC KINH  
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP  
MAY MẶC VIỆT NAM  
Nguồn dữ liệu chính của bài viết được  
lấy từ kết quả khảo sát dự án “Quan  
3.1. Tổng quan ngành may mặc Việt  
điểm, chính sách và thực hành đạo Nam trong chuỗi cung ứng may  
mặc Việt Nam  
đức kinh doanh của doanh nghiệp  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
Sơ đồ 1: Chuỗi cung ứng may mặc Việt Nam  
51  
Nhà cung ứng nguyên liệu (hầu  
hết không có ở VN)  
Nhà cung ứng  
cấp 2 (SMEs VN)  
Nhà phân phối  
(ĐNA)  
CMT/FOB cấp 1  
CMT/FOB cấp 1  
FOB  
Nhãn hàng  
Nhà cung ứng  
Nhà cung ứng  
cấp 1 (phần lớn ở  
ĐNA)  
cấp 2 (SMEs VN)  
Nhà cung ứng nguyên liệu (hầu  
hết không có ở VN)  
Nguồn: Đỗ Quỳnh Chi, 2017.  
Các doanh nghiệp may mặc Việt Nam  
thường có quy mô trung bình nhỏ,  
Enterprises - SMEs). Mỗi nhóm doanh  
nghiệp trong chuỗi cung ứng có  
khoảng 180 công nhân/doanh nghiệp; những đặc điểm phương thức sản  
chỉ có khoảng 30 doanh nghiệp có quy xuất khác nhau nên có những quan  
điểm khác nhau về đạo đức kinh  
mô lớn trên 5.000 công nhân (Đỗ  
Quỳnh Chi, 2019). Theo số liệu thống  
kê năm 2018, ngành may mặc Việt  
Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn  
cầu chủ yếu theo phương thức CMT  
(65%), FOB (25%), ODM (Original  
Designed Manufacturer - Sản xuất  
thiết kế gốc) (9%) và OBM (1%) (Công  
ty Cổ phần Chứng khoán Asean,  
2019).  
doanh.  
3.2. Quan điểm về đạo đức kinh  
doanh của các doanh nghiệp may  
mặc Việt Nam  
Kết quả khảo sát cho thấy vấn đề đạo  
đức kinh doanh đã được doanh  
nghiệp may mặc quan tâm, chủ động  
và tích cực trong việc xây dựng. Trong  
đó, gắn liền với 3 chủ thể liên quan  
trực tiếp của doanh nghiệp (DN) là  
khách hàng (KH), người lao động  
(NLĐ) và người tiêu dùng.  
Ngành may mặc Việt Nam dừng ở  
khâu giá trị gia tăng thấp nhất trong  
chuỗi cung ứng và theo mô hình như  
Sơ đồ 1.  
Xuất phát từ quan điểm chủ đạo về 3  
trụ cột chính góp phần cho sự tồn tại  
và phát triển của DN, nên hầu hết lãnh  
đạo, điều hành của các DN cho rằng  
Phần lớn các doanh nghiệp vừa và  
nhỏ Việt Nam thuộc nhà cung ứng –  
sản xuất cấp 2 (Small and Medium  
52 NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – ĐẠO ĐỨC KINH DOANH…  
đạo đức kinh doanh xoay quanh việc hàng/thương hiệu và người tiêu dùng  
ứng xử với khách hàng, người lao (cuối cùng) là yếu tố đầu tiên được  
động và người tiêu dùng.  
nhắc đến trong quan điểm về đạo đức  
kinh doanh; kế đến là NLĐ trong DN.  
Ngược lại, các DN theo phương thức  
CMT thì yếu tố NLĐ được đặt lên  
hàng đầu, sau đó đến KH.  
Đối với khách hàng, các nhãn  
hàng/thương hiệu mà doanh nghiệp  
hợp đồng gia công thì việc thực hiện  
đúng hợp đồng gia công, bao gồm  
đảm bảo chất lượng hàng hóa và Quan điểm đạo đức kinh doanh của  
đúng tiến độ giao hàng là sự thể hiện DN may mặc có phương thức sản  
xuất FOB, OBM và CMT (với đơn  
hàng lớn ở các công ty cổ phần): yếu  
tố KH là nhóm đối tượng hướng đến  
đầu tiên. Việc phát triển mối quan hệ  
tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng  
nhau với KH là chìa khóa mở cánh  
cửa thành công cho DN.  
đạo đức kinh doanh. Ngoài ra, là sự  
trung thành, chia sẻ khó khăn cùng  
KH.  
Đối với người lao động, cách đối xử  
tôn trọng NLĐ, chăm lo đời sống NLĐ  
là sự thể hiện đạo đức kinh doanh của  
doanh nghiệp.  
KH chính là mục tiêu, là đối tượng, là  
động cơ kinh doanh của DN, vì KH là  
người thể hiện nhu cầu, làm phát sinh  
nhu cầu; cũng là người đánh giá chất  
lượng sản phẩm, là nguồn tái tạo và  
phát triển khả năng tài chính cho DN.  
Do đó, mọi hoạt động của DN đều  
phải định hướng vào KH, lấy KH làm  
trọng tâm. Nói đến đạo đức kinh  
doanh của DN tức là nói đến hành vi  
ứng xử có đạo đức đối với KH; đạo  
Đối với người tiêu dùng, chất lượng  
sản phẩm là ưu tiên hàng đầu, vì chất  
lượng ảnh hưởng đến sức khỏe  
người tiêu dùng.  
Tuy nhiên, tùy vào phương thức sản  
xuất mà quan điểm về đạo đức kinh  
doanh ở mỗi đối tượng khác nhau về  
thứ tự quan tâm.  
Ở các DN theo phương thức FOB và  
OBM, khách hàng bao gồm cả nhãn  
Hình 1. Các yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp bền vững  
Khách hàng:  
nguồn sống của  
doanh nghiệp  
Người tiêu  
dùng: mấu chốt  
tạo nên thương  
hiệu bền vững  
Người lao động:  
quyết định sự  
thành bại của  
doanh nghiệp  
Doanh nghiệp  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tư liệu khảo sát của dự án, 2018  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
53  
đức thể hiện qua việc đảm bảo uy tín NLĐ: không phân biệt đối xử; không  
chất lượng hàng hóa và thời gian giao quấy rối và lạm dụng; không sử dụng  
hàng đúng tiến độ hợp đồng gia công.  
lao động trẻ em; tự do hiệp hội và  
thương lượng tập thể; tiền lương và  
phúc lợi; thời gian làm việc; sức khỏe,  
an toàn lao động; môi trường; khác  
(kỷ luật, đạo đức kinh doanh, quản lý  
thầu phụ, giải quyết khiếu nại…). Các  
DN này thường được KH nhãn hàng  
kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ các bộ  
quy tắc ứng xử, các tiêu chuẩn lao  
động nêu trên, với các hình thức như:  
(i) kiểm tra trực tiếp; (ii) thuê dịch vụ;  
hoặc (iii) các tổ chức đánh giá lao  
động như Fair Wear Foundation;  
Better Work Viet Nam,… mà DN tham  
gia. Do đó, DN cho rằng, khi ký kết  
các đơn hàng buộc DN phải thực hiện  
trách nhiệm đối với NLĐ; điều này có  
thể lý giải quan điểm đặt KH nhãn  
hàng lên đầu tiên của các DN thuộc  
loại hình này.  
Bên cạnh KH là nhãn hàng, các DN là  
nhà cung ứng – sản xuất cấp 1 còn  
cho rằng, đạo đức kinh doanh của DN  
là việc đảm bảo chất lượng hàng hóa  
đến người tiêu dùng; đó là sự đảm  
bảo về sức khỏe người tiêu dùng từ  
nguyên phụ liệu sản xuất; hướng đến  
đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng,  
sản phẩm không vi phạm tiêu chuẩn  
lao động trong quá trình sản xuất.  
“Đạo đức kinh doanh theo DN chất  
lượng sản phẩm là ưu tiên hàng đầu,  
vì chất lượng sản phẩm ảnh hưởng  
đến sức khỏe người tiêu dùng, hướng  
đến chất lượng cho người tiêu dùng,  
người tiêu dùng là mấu chốt của công  
đoạn tạo nên thương hiệu bền vững  
hay không trên thị trường của công ty,  
mẫu mã được và chất lượng tốt thì họ  
sẽ tiếp tục sử dụng trong tương lai”  
(PVS, DN cổ phần, OBM, TPHCM,  
2018).  
“DN bị sức ép về việc điều chỉnh cho  
đúng chế độ cho NLĐ; các chính sách  
tính lương tăng ca; chính sách môi  
trường như bảo hộ lao động, chính  
sách khám sức khỏe cho NLĐ đảm  
bảo 2 lần/năm và khám có chất lượng;  
chính sách an toàn lao động: trang bị  
phòng cháy chữa cháy; chính sách  
dinh dưỡng của NLĐ để chứng minh  
rằng NLĐ đủ sức làm việc trong 8 giờ.  
Có nhiều KH chi tiết như vậy, nghĩa là  
không có hiện tượng bóc lột sức lao  
động, ví dụ DN muốn làm ngày chủ  
nhật thì cũng phải tìm một ngày khác  
trong tuần bố trí cho công nhân nghỉ  
ngơi, NLĐ tăng ca không quá 300  
giờ/1 năm. Nói chung là KH bảo vệ  
Quan điểm đạo đức đối với NLĐ hầu  
như được các DN này mặc định khi ký  
kết và thực hiện đơn hàng. Phương  
thức gia công giữa DN với KH nhãn  
hàng là ký hợp đồng gia công thông  
qua các nhà phân phối (vendors) với  
những đơn hàng lớn và họ làm gia  
công cho nhiều nhãn hàng có thương  
hiệu khác nhau trên thế giới với điều  
kiện bắt buộc ban đầu là DN phải có  
những tiêu chuẩn về trách nhiệm xã  
hội (WRAP, SA8000, BSCI), tuân thủ  
bộ quy tắc ứng xứ riêng của từng  
nhãn hàng về đảm bảo quyền của  
54 NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – ĐẠO ĐỨC KINH DOANH…  
người lao động tối đa” (PVS, DN cổ Khác DN cổ phần, doanh nghiệp CMT  
phần, FOB, CMT, 2018).  
với những đơn hàng thương hiệu lớn,  
sự kiểm tra chặt chẽ về tiêu chuẩn lao  
động, KH không đặt nặng vấn đề kiểm  
tra xưởng hoặc những điều kiện khác  
liên quan đến NLĐ, nếu có kiểm tra thì  
cũng kiểm tra về chất lượng may ở  
những đơn đặt hàng lần đầu, DN cố  
gắng thể hiện tốt để tạo uy tín về chất  
lượng và đảm bảo tiến độ giao hàng  
thì mức độ lan tỏa trong mạng lưới  
ngành cũng giúp DN tiếp tục có những  
KH mới.  
Ngoài ra, trong bối cảnh cạnh tranh  
của thị trường lao động ngành dệt  
may, các DN cho rằng cần phải thực  
hiện tốt chính sách chăm lo NLĐ như  
là một giải pháp để giữ chân họ “NLĐ  
là người quyết định sự thành bại của  
DN. Do đó mà DN cần có những  
chính sách tốt cho NLĐ. Nếu không  
chăm sóc tốt thì NLĐ bỏ mình, thì lúc  
đó DN cũng không thể hoạt động  
được nữa, không tồn tại nữa” (PVS,  
DN cổ phần, CMT, FOB, OBM, 2018).  
Qua thông tin thu thập được, sự khác  
nhau về quan điểm đạo đức kinh  
doanh ở hai loại hình DN nêu trên, có  
thể được giải thích như sau: (i) điều  
này tùy vào loại hình DN có quy mô  
như thế nào, khách hàng nhãn hàng  
của họ là ai (ii) ở các DN có phương  
thức sản xuất FOB, OBM phải chịu  
nhiều áp lực từ phía KH, chủ yếu là  
thực hiện quyền và môi trường làm  
việc của NLĐ, vì vậy đáp ứng mọi  
điều kiện của KH nghĩa là đã thu hút  
và giữ chân NLĐ; (iii) riêng ở các DN  
vừa và nhỏ với phương thức sản xuất  
CMT (trong mẫu khảo sát), chất lượng  
may rất quan trọng để DN có cơ hội  
nhận càng nhiều đơn đặt hàng trong  
tương lai, và họ nghĩ rằng chất lượng  
may phụ thuộc nhiều vào người lao  
động nên NLĐ là ưu tiên số một trong  
vấn đề thực hiện đạo đức kinh doanh.  
Tuy nhiên, trong số này có những  
doanh nghiệp siêu nhỏ, gia công vệ  
tinh, chưa chú trọng nhiều đến đạo  
đức kinh doanh, chỉ làm theo những  
đơn hàng gia công với đơn giá thấp,  
Tóm lại, các DN cổ phần may gia  
công, hay FOB, OBM cho rằng, đáp  
ứng đủ điều kiện, quy định của KH  
nhãn hàng như tiêu chuẩn lao động,  
chất lượng sản phẩm, đảm bảo uy tín  
với KH, bao gồm cả việc thực hiện đủ  
quy tắc ứng xử tại nơi làm việc liên  
quan đến NLĐ chính là thực hiện đạo  
đức kinh doanh của DN.  
Trong khi đó, các DN vừa và nhỏ tư  
nhân, chủ yếu may gia công, lấy NLĐ  
làm trọng tâm thể hiện đạo đức kinh  
doanh của DN.  
Chủ thể DN của loại hình này có cái  
nhìn khác với chủ thể DN trên đối với  
hai nhân tố KH và NLĐ, họ đặt NLĐ  
lên hàng đầu, thể hiện rõ cần thực  
hiện đạo đức kinh doanh đối với NLĐ,  
tôn trọng sự đóng góp của NLĐ, tạo  
chỗ dựa vững chắc cho họ cả vật chất  
và tinh thần để thu hút họ gắn bó, làm  
việc lâu dài với DN, với quan niệm  
NLĐ quyết định sự thành công của  
DN “con người là nhân tố quan trọng  
ở mỗi DN”.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
55  
nhằm xây dựng thị trường và mở rộng Đối chiếu với 17 thuộc tính đạo đức  
thị trường.  
kinh doanh của doanh nghiệp (Bảng  
1), các DN trong mẫu khảo sát còn  
một số giới hạn trong quan niệm về  
đạo đức kinh doanh, đó là chỉ dừng lại  
ở NLĐ và KH. Các doanh nghiệp mới  
chỉ thực hiện được các thuộc tính như:  
trả lương công bằng cho NLĐ, thực  
hành các biện pháp phòng chống  
quấy rối tình dục nơi làm việc, đảm  
bảo an toàn cho NLĐ, không sử dụng  
lao động trẻ em; đối với KH, với đặc  
thù của ngành may mặc chủ yếu là  
may gia công nên đạo đức kinh doanh  
mang thuộc tính bên ngoài phần lớn là  
đảm bảo hàng hóa đúng chất lượng,  
đảm bảo uy tín với khách hàng.  
Nhìn chung, theo các tiếp cận vị lợi và  
quyền lợi đạo đức thì phần lớn các  
DN khảo sát (không phân biệt loại  
hình DN), đều cố gắng thực hành đạo  
đức kinh doanh và mong muốn KH  
cũng như NLĐ cùng hợp tác và DN là  
chủ thể quyết định thực hiện, kết nối  
các nhân tố để cùng nhau có lợi.  
Về mặt lý luận, đạo đức kinh doanh là  
tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực  
định hướng hành vi trong mối quan hệ  
công việc với đồng nghiệp, khách  
hàng, chủ sở hữu, đối tác, cộng đồng  
và chính phủ, được chia thành 2  
nhóm thuộc tính: đạo đức nội bộ  
(những quy định hành vi ứng xử bên  
trong DN) và đạo đức bên ngoài  
(những quy định hành vi ứng xử bên  
ngoài DN) (Bảng 1).  
Cuối cùng, quan điểm đạo đức kinh  
doanh của các doanh nghiệp khảo sát  
phù hợp với giả thuyết ban đầu là đặc  
điểm kinh doanh của DN có ảnh  
Bảng 1. 17 thuộc tính đạo đức kinh doanh của Doanh nghiệp  
Thuộc tính đạo đức nội bộ  
Thuộc tính đạo đức bên ngoài  
DN nghiêm cấm hành vi miệt thị và bạo lực với DN minh bạch về nguồn gốc sản phẩm,  
NLĐ  
nguyên vật liệu sản xuất  
DN trả lương công bằng cho NLĐ  
DN bảo mật dữ liệu của KH  
DN thực hành các biện pháp phòng chống quấy DN sản xuất hàng hóa an toàn, không gây  
rối tình dục ở nơi làm việc  
hại sức khỏe cho người tiêu dùng  
DN quảng cáo trung thực về sản phẩm  
DN có trách nhiệm với môi trường  
DN thực hành liêm chính, không tham nhũng,  
hối lộ  
DN đảm bảo an toàn lao động cho NLĐ  
DN không phân biệt đối xử với người khuyết tật DN đóng đủ thuế cho nhà nước  
DN không phân biệt đối xử với người đồng tính,  
DN đóng đủ bảo hiểm cho NLĐ  
song tính và chuyển giới  
DN không sử dụng lao động trẻ em  
ND không phân biệt đối xử với phụ nữ  
DN có hoạt động từ thiện, xã hội  
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ Werther và Chandler 2010; El Akremi và cộng sự  
2015, năm 2018.  
56 NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – ĐẠO ĐỨC KINH DOANH…  
hưởng đến quan điểm đạo đức kinh Thời gian giao hàng: với tính chất của  
doanh của họ. Cụ thể là: i) đối với DN  
có quy mô vừa và lớn, được thành lập  
lâu năm và có thương hiệu, KH là  
những công ty thương mại lớn thì đa  
phần họ nhấn mạnh đến KH nhiều  
hơn khi nói về đạo đức kinh doanh,  
đạo đức kinh doanh thể hiện ở việc  
đảm bảo uy tín với KH; ii) đối với  
những DN nhỏ, gia công trực tiếp cho  
KH thương hiệu hoặc những hợp  
đồng gia công qua trung gian thì họ  
chú trọng đầu tiên đến những thuộc  
tính đạo đức bên trong, cụ thể là đến  
NLĐ; iii) đối với những doanh nghiệp  
siêu nhỏ, gia công vệ tinh thì họ chưa  
chú trọng nhiều đến đạo đức kinh  
doanh; họ làm theo những đơn hàng  
gia công với đơn giá thấp, nhằm xây  
dựng thị trường và mở rộng thị trường.  
ngành may mặc hiện nay ở Việt Nam  
chủ yếu là gia công, giá gia công thấp,  
phụ thuộc nhiều vào việc cung cấp  
nguyên phụ liệu, việc giao hàng đúng  
thời hạn đặt ra áp lực lớn đối với DN.  
Họ phải cố gắng để thực hiện đơn  
hàng đúng tiến độ trong điều kiện tuân  
thủ bộ quy tắc ứng xử, tiêu chuẩn lao  
động đối với NLĐ. Nhiều DN có thể  
sẵn sàng chi trả thêm một số khoản  
phí phát sinh, phí chuyển đổi phương  
tiện giao hàng từ tàu thuyền sang máy  
bay để kịp thời hạn giao hàng.  
Đảm bảo chất lượng hàng hóa: DN  
cho rằng, sự lựa chọn của người tiêu  
dùng ngày càng chuyển sang mặt giá  
trị văn hóa, người tiêu dùng mua  
thương hiệu của sản phẩm chứ không  
đơn thuần mua sản phẩm. Do đó,  
“Quảng cáo trung thực về chất lượng  
sản phẩm là chiến lược của DN, ví dụ  
ở thị trường nội địa, KH tiêu dùng đến  
cửa hàng mua, nếu không đúng như  
quảng cáo thì cửa hàng sẽ không bán  
được lần thứ hai cho KH đó; ở thị  
trường nước ngoài nếu không tạo ra  
chất lượng sản phẩm tốt thì sẽ không  
nhận được đơn đặt hàng” (PVS, DN  
cổ phần, CMT, FOB, OBM, 2018).  
3.3. Thực trạng thực hiện đạo đức  
kinh doanh ở doanh nghiệp may  
mặc Việt Nam  
3.3.1. Thực hiện đạo đức kinh  
doanh đối với KH nhãn hàng và  
người tiêu dùng  
Xuất phát từ những quan điểm nêu  
trên; cùng với các đặc điểm của DN  
và hệ thống khung pháp lý và các tiêu  
chuẩn, quy định của KH; các DN đã  
có những thực hành nhằm thúc đẩy  
mối quan hệ hợp tác dài lâu với KH  
nhãn hàng. Trong đó, tập trung vào:  
chất lượng, đúng tiến độ, trung thực  
và chia sẻ.  
Thứ hai, sự trung thành và chia sẻ với  
KH của DN. Các DN tư nhân gia công  
trực tiếp cho các nhãn hàng thương  
hiệu, thường xuyên gắn kết và có sự  
chia sẻ khó khăn với KH nhiều hơn  
“Trung thành với KH rất quan trọng.  
Có những lúc đơn hàng giảm, có  
những lúc không có đơn hàng, công  
nhân phải nghỉ việc; DN phải chi trả  
Trước tiên, sự đảm bảo uy tín của DN,  
tuân thủ hợp đồng kinh tế ký kết: đảm  
bảo chất lượng hàng hóa và thời gian  
giao hàng.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
57  
lương nghỉ việc tạm thời; chi trả các luật định (lương, thưởng, phúc lợi xã  
khoản chi phí khác nhưng lúc đó hội, tôn trọng, ứng xử hài hòa).  
nhiều nhãn hàng khác đến đặt hàng  
Nhà nước đã ban hành rất nhiều quy  
nhưng DN không nhận; vẫn trung  
định pháp luật điều chỉnh quy định về  
thành với công ty này. Và DN đã gắn  
tiền lương tối thiểu, chế độ trợ cấp,  
kết với KH này 21 năm” (PVS, DN  
phụ cấp, hay hệ số phụ cấp các công  
TNHH, CMT, 2018).  
việc nặng nhọc và độc hại cho NLĐ.  
Từ đó, các DN có thể dựa vào các  
văn bản quy định pháp luật mới nhất  
của nhà nước để tự điều chỉnh mối  
quan hệ của mình với NLĐ.  
Trong khi đó các DN lớn, ký kết hợp  
đồng gia công qua các bên trung gian  
(vendors), thì hầu như chỉ chú trọng  
việc thực thi đơn hàng đảm bảo theo  
chất lượng và tiến độ. Mối quan hệ  
đạo đức kinh doanh giữa DN và KH  
chỉ thể hiện trên hợp đồng kinh tế và  
sự kiểm tra giám sát đơn hàng. “Để có  
được đơn hàng thường xuyên như  
hiện nay, DN đã tạo được uy tín đối  
với họ. DN nhận hàng thường là dựa  
trên uy tín mà công ty đã xây dựng  
như chất lượng sản phẩm và tiến độ  
giao hàng” (PVS, DN TNHH, CMT,  
2018).  
Theo kết quả khảo sát, về vấn đề bảo  
hiểm và lương thưởng, các DN quy  
mô lớn, DN xuất khẩu hàng hóa trực  
tiếp đến các thị trường Mỹ, EU hay  
Nhật… đều chấp hành nghiêm chỉnh  
các quy định pháp luật liên quan. Việc  
thực hiện lương tối thiểu theo đúng  
quy định là bắt buộc, không thể thay  
đổi, NLĐ tất nhiên sẽ được hưởng thù  
lao tương đương với công sức lao  
động. Tuy nhiên, chính sách phúc lợi  
là tùy chiến lược của mỗi DN, đó là  
điểm sáng để thu hút, hấp dẫn và giữ  
chân NLĐ còn đối với NLĐ đó là điểm  
thưởng để họ lựa chọn, quyết định  
gắn bó ngắn hạn hay lâu dài.  
3.3.2. Thực hiện đạo đức kinh doanh  
đối với người lao động  
Đạo đức kinh doanh của DN đối với  
NLĐ được thể hiện qua việc đáp ứng  
quyền và lợi ích cơ bản của NLĐ theo  
Các DN thừa nhận,  
Hình 2. Đạo đức của doanh nghiệp đối với người lao động  
mức lương của ngành  
may mặc luôn thấp  
hơn so với các ngành  
công nghiệp khác, do  
tính chất ngành; tuy  
nhiên, các DN cố gắng  
đảm bảo đáp ứng cao  
hơn mức lương tối  
thiểu quy định, tăng  
các khoản khen thưởng  
theo năng suất và các  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tư liệu khảo sát dự án, 2018.  
58 NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – ĐẠO ĐỨC KINH DOANH…  
khoản phúc lợi xã hội. Chẳng hạn: NLĐ” (PVS, DN cổ phần, CMT, FOB,  
“Chính sách tiền lương NLĐ trong DN  
là ăn theo sản phẩm: họ làm nhiều  
hưởng nhiều, họ làm ít hưởng ít, vì  
cũng có những lúc có đơn hàng khác  
nhau – kỹ thuật may khác nhau, cũng  
tùy vào các mùa trong năm, nhiều lúc  
công nhân may không đạt năng suất,  
nên không được mức thu nhập tối  
thiểu – DN phải hỗ trợ thêm, và nếu  
theo mức lương tối thiểu vùng của  
Chính phủ thì quá thấp, công ty hiện  
cho công nhân cao hơn 30% mức  
lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy  
định, ví dụ trong điều kiện khó khăn về  
hàng hóa, hoặc không có việc làm,  
hoặc không đủ năng suất thì DN phải  
trả thu nhập cho họ ít nhất là đủ sống  
OBM, 2018).  
Bên cạnh lương thưởng, các DN còn  
chăm lo sức khỏe NLĐ, tạo môi  
trường lao động an toàn, cân đối giữa  
đơn hàng và sức khỏe; không ép tăng  
ca, không vượt quá số giờ quy định  
làm việc ngoài giờ. Một số DN cho  
rằng trong trường hợp đơn hàng lớn  
trong khi nguồn nhân lực sản xuất của  
DN thiếu thì DN sẵn sàng từ chối ký  
kết hợp đồng; hoặc trong trường hợp  
nguyên phụ liệu giao trễ, họ chấp  
nhận chi trả chi phí phát sinh giao  
hàng trễ chứ không ép NLĐ làm việc  
ngoài giờ quá sức. “Ở ngành may thì  
80% là phải tăng ca, DN cũng không  
ép buộc hoặc cưỡng chế tăng ca.  
tối thiểu. Hiện nay, công nhân nhận Tăng ca mang tính chất khuyến khích,  
mức thu nhập thấp bình quân khoảng nếu cố gắng tăng ca thì thu nhập công  
nhân sẽ tăng và kéo theo lương  
thưởng cuối năm cũng tăng theo, chỉ  
khuyến khích như vậy chứ không  
cưỡng chế. DN luôn luôn hiểu và  
thông cảm những trường hợp phụ nữ  
có gia đình phải chăm sóc con cái”  
(PVS, DN TNHH, CMT, 2018).  
7 triệu đồng/tháng, cao nhất là 12-13  
triệu/tháng. Bình quân chung công  
nhân ở công ty là khoảng 8 triệu  
đồng/tháng. Ngoài ra, có chính sách  
phúc lợi là có bữa ăn trưa (18.000  
đồng/suất); chính sách cho con em  
NLĐ là có nhà giữ trẻ trong khuôn  
viên công ty; siêu thị hàng hóa giá rẻ  
cho NLĐ; hàng năm vào cuối năm thì  
công ty thuê xe phát vé miễn phí cho  
NLĐ về quê ăn tết; du lịch 1 năm 1 lần  
giá trị khoảng 1,3 – 1,4 triệu đồng/1  
người; có chung cư giải quyết cho  
NLĐ độc thân. Xuất phát từ đâu mà  
công ty có những chính sách phúc lợi  
cho người lao động: xuất phát thực tế  
từ NLĐ, thấy được những gì công  
Tuy nhiên, cũng có trường hợp tăng  
ca vượt quá quy định là do đơn hàng  
gấp; nguyên vật liệu cung cấp trễ,  
nhưng điều này là không thường  
xuyên: “Nếu thường xuyên như vậy thì  
công ty cũng không dám nhận những  
đơn hàng như vậy vì người lao động  
trực tiếp sẽ cảm thấy mệt mỏi, không  
chịu nổi, công ty phải nghĩ đến sức  
khỏe của họ. Con người chứ không  
nhân cần và giải quyết việc đó theo phải cái máy” (PVS, DN TNHH, CMT,  
hướng đôi bên cùng có lợi, đặc biệt là 2018).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
59  
DN cũng lắng nghe và tạo điều kiện nhận rằng chưa thể chuyển từ nhận  
thuận lợi cho NLĐ: “Bởi một khi họ thức sang hành vi một cách hiệu quả  
như:  
thoải mái thì họ mới tận tâm, tập trung  
vào công việc làm” (PVS, DN TNHH,  
CMT, 2018), và đó là quyền lợi đạo  
đức. Tôn trọng đóng góp của người  
lao động, không sa thải lao động lớn  
tuổi: “Những NLĐ theo DN từ khi còn  
trẻ, DN phải trân trọng họ, trẻ họ sống  
với mình, bây giờ già lớn tuổi mắt mờ,  
sức khỏe yếu, năng suất thấp nhưng  
không thể vì thế mà cho nghỉ việc, DN  
vẫn giữ lại mặc dù năng suất thấp ảnh  
hưởng đến lợi nhuận của DN. DN  
quan tâm đến đời sống người phụ nữ,  
cho đi ra vào thoải mái, có thể đi về  
đón con; về nhà cho con bú. Chăm lo  
đời sống tinh thần. Nhà có người ốm,  
vẫn cho mang hàng về nhà làm. Đối  
xử với người lao động, tôn trọng, lắng  
nghe; tạo điều kiện tốt cho NLĐ, mỗi  
quý có 2 người đi Nhật làm 3 tháng về,  
vừa nâng cao tay nghề, kinh nghiệm,  
thu nhập (60 -70 triệu đồng/tháng); do  
đó thường ưu tiên cho những người  
có kinh tế khó khăn” (PVS, DN cổ  
phần, OBM, 2018).  
(i) Chưa đảm bảo hợp đồng lao động,  
bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo  
hiểm thất nghiệp, chưa xây dựng  
thang bảng lương. Điều này chủ yếu  
ở các DN vừa và nhỏ, công ty gia  
công vệ tinh trong chuỗi cung ứng.  
(ii) Các DN lớn, với sự kiểm tra giám  
sát chặt chẽ và những ràng buộc của  
bộ quy tắc ứng xử của nhãn hàng,  
phần nào thúc đẩy việc thực thi chính  
sách pháp luật chặt chẽ hơn; một số  
DN vừa và nhỏ chưa thực hiện  
nghiêm chỉnh chính sách lao động  
như ký kết hợp đồng lao động với tất  
cả NLĐ hoặc có ký hợp đồng lao động  
nhưng không thực hiện đúng nội dung,  
chưa xây dựng cụ thể thang bảng  
lương, tổ chức làm thêm giờ quá quy  
định, không minh bạch, không đóng  
bảo hiểm cho người lao động… quyền  
lợi của NLĐ chưa được đảm bảo,  
trong đó có sự đồng ý thỏa thuận của  
NLĐ.  
(iii) Chưa đảm bảo khám sức khỏe  
định kỳ đúng theo quy định cho NLĐ.  
Theo kết quả khảo sát của chúng tôi,  
DN làm việc trực tiếp KH nhãn hàng  
thì tuân thủ nghiêm ngặt việc khám  
sức khỏe cho NLĐ, nhưng các DN  
Việc tích cực tham gia các hoạt động  
từ thiện, thực hiện trách nhiệm cộng  
đồng cũng tạo hiệu ứng tốt trong suy  
nghĩ của NLĐ, NLĐ sẽ tin DN họ đang  
làm có một môi trường đạo đức tốt.  
DN cũng tự nhận thấy một số hạn còn lại chưa thật sự tuân thủ đúng luật  
chế chưa đảm bảo thực hành tốt đạo quy định. Có DN chưa thực sự quan  
đức kinh doanh đối với người lao tâm đến việc bảo vệ và chăm sóc  
động. Mặc dù nhận thức được tầm nguồn nhân lực như không tổ chức  
quan trọng của đạo đức kinh doanh khám sức khỏe định kỳ; hoặc tổ chức  
trong quá trình xây dựng và phát triển khám mang tính “ứng phó” không đảm  
DN; nhưng một số DN cũng thừa bảo đúng thực chất….  
60 NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – ĐẠO ĐỨC KINH DOANH…  
(iv) Tăng ca, làm việc ngoài giờ vượt KH là các nhãn hàng: đảm bảo uy tín  
quá quy định khá phổ biến ở ngành với KH; trong khi các DN lớn và theo  
may mặc. Các DN thừa nhận việc này  
đã từng xảy ra tại DN của mình. Họ  
cho rằng, theo quy định, thời gian làm  
thêm giờ của công nhân không quá  
300 giờ/năm, điều này ở ngành may  
mặc không thể tuân thủ nghiêm ngặt  
được với các lý do như: đơn hàng  
không có đều các tháng trong năm,  
mà chỉ tập trung theo mùa trong năm;  
phải nhận đúng số lượng sản phẩm  
khi khách hàng cần, trong khi số  
lượng công nhân của DN không đủ  
sức. DN không thể tuân thủ 100% luật  
lao động trừ trường hợp những DN có  
lượng hàng hóa ổn định. Họ thừa  
nhận như vậy là không có đạo đức  
trong vấn đề sử dụng lao động.  
phương thức FOB hoặc ODM, ngoài  
KH là nhãn hàng, người tiêu dùng  
cuối cùng cũng là đối tượng thực hiện  
đạo đức kinh doanh của DN qua việc  
đảm bảo chất lượng hàng hóa. Đối  
với NLĐ, phần lớn DN cho rằng đó là  
sự đảm bảo lương đủ sống và chăm  
lo sức khỏe, đảm bảo an toàn lao  
động.  
- Với quan điểm như trên, đạo đức  
kinh doanh ở phạm vi còn hẹp hơn  
khái niệm về trách nhiệm xã hội.  
Nhưng khác với trách nhiệm ở chỗ, họ  
đã xác định chính bản thân DN là tác  
nhân chính trong việc thực hiện đạo  
đức kinh doanh, nó không chỉ là sự  
tuân thủ theo quy định pháp luật, tuân  
thủ các quy định của KH mà còn xuất  
phát từ chính quan điểm của chủ DN,  
giá trị cốt lõi của DN. Bên cạnh những  
quy định cứng từ hệ thống pháp luật  
Việt Nam; bộ quy tắc ứng xử của KH;  
giá trị cốt lõi của DN cũng góp phần  
quan trọng trong việc xây dựng đạo  
đức kinh doanh của DN.  
4. MỘT SỐ NHẬN XÉT  
Từ chính cách nhìn của chủ DN  
ngành may mặc trong quan niệm về  
đạo đức kinh doanh và thực hiện đạo  
đức kinh doanh, chúng tôi có các  
nhận xét sau:  
- Quan điểm về đạo đức kinh doanh  
của DN được hiểu theo nghĩa hẹp, đó  
chỉ là cách ứng xử của DN với KH  
(tập trung vào KH nhãn hàng) và với  
NLĐ (chủ yếu là lao động sản xuất  
- Hầu hết các DN xác định đạo đức  
kinh doanh có vai trò quan trọng đối  
với sự phát triển bền vững của DN và  
trực tiếp). Tùy thuộc vào quy mô DN, có những thực hành tốt, thông qua sự  
loại hình cung ứng (tức phương thức gắn kết lâu dài với KH bằng sự uy tín  
sản xuất) mà có những quan điểm về chất lượng hàng hóa và thời gian  
giao hàng, sự trung thành và chia sẻ  
khó khăn với KH; với NLĐ bằng  
những chính sách lao động, phúc lợi  
xã hội chăm sóc đời sống NLĐ và cả  
gia đình NLĐ. Song, đó chỉ là những  
thuộc tính bên trong của đạo đức;  
khác nhau về đạo đức kinh doanh của  
DN đối với KH: KH nhãn hàng hay KH  
là người tiêu dùng cuối cùng. Đối với  
các DN vừa và nhỏ với phương thức  
sản xuất CMT, nhà cung ứng – sản  
xuất cấp 2, hầu như chỉ đề cập đến  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
61  
những thuộc tính bên ngoài như đối tắc ứng xử của nhãn hàng. Tuy nhiên,  
với Nhà nước, môi trường, xã hội và họ cũng chưa đảm bảo về mặt thực  
cộng đồng… hầu như các DN chưa tiễn; vẫn còn những hạn chế như tăng  
xem chúng là một phần của đạo đức ca vượt quá quy định; lương chưa  
kinh doanh của doanh nghiệp; mà đáp ứng mức sống tối thiểu cho người  
xem đó là trách nhiệm của doanh lao động và gia đình họ. Đặc biệt, các  
nghiệp, phải tuân thủ thực hiện theo DN vừa và nhỏ, chủ yếu là nhà cung  
yêu cầu (nếu có).  
ứng- sản xuất cấp 2 CMT, với những  
đơn hàng nhỏ và những nhãn hàng  
phổ thông thì chưa đảm bảo các  
thuộc tính cả bên trong và bên ngoài  
của đạo đức; vẫn còn tình trạng  
không đảm bảo việc trả lương công  
bằng, an toàn lao động, và đóng đủ  
bảo hiểm.  
- Thực tiễn, nhiều DN nhận thức rằng  
họ chưa thực hiện tốt vấn đề đạo đức  
kinh doanh của DN do nhiều yếu tố  
khách quan. Các DN, là nhà cung ứng  
sản xuất cấp 2 cho các nhãn hàng lớn  
hoặc là các doanh nghiệp ODM, hầu  
hết đáp ứng các tiêu chuẩn lao động  
và phải tuân thủ nghiêm ngặt bộ quy  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Công ty Cổ phần Chứng khoán Asean (ASEAN Securities). 2019. Báo cáo cập nhật  
ngành dệt may. “Triển vọng ngành dệt may 2019 được đánh giá ở mức tích cực”.  
Final_ASEANSC.pdf, truy cập ngày 01/8/2021  
2. Bolman, L.G. and T. Deal. 1997. Reframing Organizations: Artistry, Choice and  
Leadership, 2nd Edition.  
3. Cohen, D. 1993. “Creating and Maintaining Ethical Work Climates: A in the Workplace  
and Implications for Managing Change”. Business Ethics Quarterly, 3(4), pp. 343-358.  
4. Creyer, E.H. 1997. “The Influence of Firm Behavior on Purchase Intention: Do  
Consumers Really Care About Business Ethics?”. Journal of Consumer Marketing,  
5. Dennison, D.R. 1990. Corporate Culture and Organizational Effectiveness. New York:  
John Wiley &Sons. ISBN 0-471-80021-X.  
6. Đỗ Quỳnh Chi. 2017. The Missing lLink in the Chain? Trade Regimes and Labour  
Standards in the Garments, Footwear and Electronics Supply Chains in Vietnam.  
Friedrich Ebert Stiftung. Hanoi, p. 9.  
7. El Akremi, A., Gond, J.P., Swaen, V., De Roeck, K. and Igalens, J. 2015. “How Do  
Employees Perceive Corporate Responsibility? Development and Validation of a  
Multidimensional Corporate Stakeholder Responsibility Scale”. Journal of Management,  
doi: 10.1177/0149206315569311.  
8. Hartman, Laura P. - Joe DesJardins. 2008. Đạo đức kinh doanh – Business Etthics. Nhóm  
62 NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – ĐẠO ĐỨC KINH DOANH…  
dịch thuật DTU. TPHCM: Nxb. Tổng hợp TPHCM.  
9. Hellriegel, Don, John W. Slocum. 2008. Organizational Behavior. Cengage Learning.  
ISBN 0324578725, 9780324578720.  
10. Mai, L.W. 2014. “Consumers’ Willingness to Pay for Ethical Attributes”. Marketing  
cập ngày 01/8/2021.  
11. Meyers, C. 2004. “Institutional Culture and Individual Behavior: Creating an Ethical  
Environment”. Science and Engineering Ethics, 10(2), pp. 269-276.  
12. Sarah L. Simoneau and Chris L. Stroud. “A Strong Corporate Culture is Key to  
Success”. Journal of Pension Benefits. 22.1 (2014), pp. 51-53.  
13. Schein, E. H. 2004. Organizational Culture and Leadership, 3rd Edition.  
14. Vũ Thị Diệp. 2017. “Đặc điểm ngành dệt may Việt Nam ảnh hưởng đến phân tích  
nam-anh-huong-den-phan-tich-hieu-qua-hoat-dong-47890.htm, truy cập ngày 01/8/2021.  
15. Werther, William B., Jr., David Chandler. 2010. “Strategic Corporate Social  
Responsibility”. 415 pages.  
16. Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Đặng Minh Thảo. 2018. Dự án Quan điểm, chính  
sách và thực hành đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp ngành dệt may - Trường hợp  
doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành may mặc Việt Nam. Trung tâm Tư vấn phát triển thuộc  
Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ thực hiện và Oxfam chủ quản.  
17. Đỗ Quỳnh Chi. 2019. Báo cáo nghiên cứu: Kinh doanh và nhân quyền trong chuỗi  
cung ứng của các ngành may mặc, giày dép, điện tử tại Việt Nam. Trung tâm phát triển  
và hội nhập. Tài trợ bởi Liên minh Châu Âu và FES.  
pdf 16 trang Thùy Anh 15020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đạo đức kinh doanh qua cách nhìn của doanh nghiệp may mặc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdao_duc_kinh_doanh_qua_cach_nhin_cua_doanh_nghiep_may_mac_vi.pdf