Dịch vụ logistics theo quy định của luật thương mại
DỊCH VỤ LOGISTICS THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI
LS Trương Nhật Quang1
Luật Thương mại có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 đến nay hơn
15 năm, không có sửa đổi, bổ sung, trong khi hầu hết các luật quan trọng khác chỉ có hiệu
lực khoảng 10 năm hoặc thậm chí ngắn hơn (như Bộ luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật
Đầu tư, Luật Đất đai…). Điều đó chứng tỏ những quy định của Luật Thương mại vẫn thích
ứng được với những thay đổi của hoạt động thương mại đang diễn ra sôi động tại Việt
Nam. Trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều thay đổi, Luật Thương mại trở
thành một trong số rất ít luật có tuổi thọ trên 15 năm mà không có sự sửa đổi, bổ sung.
Tuy nhiên, Luật Thương mại ra đời trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO), một số cam kết về dịch vụ của Việt Nam được thực hiện trên cơ sở
những quy định vào thời điểm gia nhập năm 2006, đến nay pháp luật Việt Nam đã có sự
thay đổi dẫn đến một số quy định trong Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ không còn tương
thích với quy định mới. Hiến pháp năm 2013 xác định rõ “nền kinh tế Việt Nam là nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” (Điều 51) và “Nhà nước xây dựng và
hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường”
(Điều 52). Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) đã quy định theo hướng tăng cường tính ổn
định của quan hệ hợp đồng như một yêu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường thì những
quy định của Luật Thương mại cần được sửa đổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh có hiệu
quả các quan hệ pháp luật thương mại đa dạng như hiện nay.
Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế, đóng
vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa
phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và được điều chỉnh bởi rất
nhiều luật khác nhau, đặc biệt là các luật về giao thông, vận tải đường bộ, đường sắt, hàng
hải, hàng không, bảo hiểm, hải quan, dân sự... Bên cạnh đó, dịch vụ logistics còn có những
quy định đặc thù được Luật Thương mại điều chỉnh như phạm vi dịch vụ, các trường hợp
1 Phó Chủ nhiệm ĐLS tỉnh Bình Dương, Trưởng VPLS Ánh Sáng Luật
119
miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại và định đoạt tài sản cầm giữ.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics, trong đó có bổ sung, sửa đổi nội dung
về dịch vụ logistics trong Luật Thương mại là một trong giải pháp để nâng cao năng lực
của ngành logistics theo Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14 tháng 02 năm 2017 của Thủ
tướng Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 221/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02
năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng
lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. Dưới đây, chúng tôi
trao đổi những vấn đề liên quan của dịch vụ logistics được Luật Thương mại điều chỉnh.
1. Về phạm vi dịch vụ logistics
Điều 233 Luật Thương mại quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương
mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận
hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư
vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có
liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Như vậy,
logistics là một nhóm ngành dịch vụ mà không phải là một dịch vụ riêng lẻ.
Cụ thể hóa Điều 233, dịch vụ logistics được quy định chi tiết tại Nghị định
140/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2007 và hiện nay là Nghị định 163/2017/NĐ-
CP ngày 30 tháng 12 năm 2017. Nghị định 163/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm
2017 phân loại dịch vụ logistics gồm 17 dịch vụ: Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch
vụ cung cấp tại các sân bay; dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải
biển; dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải; dịch vụ chuyển
phát; dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa; dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm
cả dịch vụ thông quan); dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn,
dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định
trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải;
dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho,
thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng; dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc
dịch vụ vận tải biển; dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội
địa; dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt; dịch vụ vận tải hàng
hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ; dịch vụ vận tải hàng không; dịch vụ vận tải đa
phương thức; dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật; các dịch vụ hỗ trợ vận tải
khác và các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng
120
thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại. Như vậy, so với Nghị
định 140/2007/NĐ-CP thì Nghị định 163/2017/NĐ-CP đã bổ sung dịch vụ vận tải đa
phương thức và các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách
hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật Thương mại, đồng thời không
còn quy định dịch vụ bưu chính mà chỉ còn dịch vụ chuyển phát.
Chúng tôi thấy rằng minh thị một dịch vụ được xem là dịch vụ logistics có ý
nghĩa rất quan trọng vì khi đó bên cung cấp dịch vụ sẽ được áp dụng những quy định
đặc thù của dịch vụ logistics mà các dịch vụ khác không có như: Các trường hợp miễn
trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, giới hạn trách nhiệm
bồi thường và định đoạt hàng hóa, chứng từ cầm giữ. Thế nhưng, nghị định hướng
dẫn thi hành luật vẫn chưa làm rõ hết được nội hàm của dịch vụ logistics. Quy định
“các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa
thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật Thương mại” có vẻ như tạo điều kiện
thuận lợi cho các bên tự do thỏa thuận nhưng khi có tranh chấp về bồi thường, các
bên không thống nhất được dịch vụ đó có phải dịch vụ logistics hay không, bên cung
cấp dịch vụ chứng minh dịch vụ được cung cấp là dịch vụ logistics để áp dụng quy
định miễn trách nhiệm, bên sử dụng dịch vụ cho rằng không phải là dịch vụ logistics
để buộc bên cung cấp dịch vụ phải bồi thường.
Dịch vụ chuyển phát là một trong những dịch vụ thiết yếu trong ngành logistics.
Trước đây, dịch vụ chuyển phát được xem thuộc ngành bưu chính và được quy định
bởi Nghị định số 128/2007/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2007, một nghị định hướng
dẫn thi hành Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 25 tháng 5 năm 2002. Tuy nhiên,
Nghị định số 47/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 6 năm 2011 quy định chi tiết thi hành
một số nội dung của Luật Bưu chính đã thay thế Nghị định số 128/2007/NĐ-CP ngày
02 tháng 8 năm 2007 và không điều chỉnh dịch vụ chuyển phát. Hiện nay, Luật Bưu
chính năm 2010 và văn bản hướng dẫn Luật Bưu chính không điều chỉnh dịch vụ
chuyển phát. Như vậy, có thể thấy rằng dịch vụ chuyển phát đã được tách ra khỏi
bưu chính và là một dịch vụ thuộc nhóm ngành dịch vụ logistics, không phải là dịch
vụ kinh doanh có điều kiện như dịch vụ bưu chính. Thế nhưng, việc đăng ký kinh
doanh dịch vụ chuyển phát vẫn còn gặp nhiều khó khăn do vẫn có quan niệm dịch vụ
chuyển phát là một phần của dịch vụ bưu chính và những quy định về đăng ký ngành,
nghề kinh doanh chưa tương thích.
121
Theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2018 về ban hành hệ
thống ngành kinh tế Việt Nam thì ngành chuyển phát (mã ngành 5320) luôn bị loại
trừ khỏi nhóm ngành hoạt động dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến vận tải (5229) –
một nhóm ngành logistics điển hình và được quy định chung trong nhóm ngành bưu
chính và chuyển phát, đồng thời Quyết định này chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa
bưu chính và chuyển phát, theo đó hai ngành này được giải thích gần giống nhau như
sau:
Bưu chính
Chuyển phát
Nhận, phân loại, vận chuyển và phân phối Nhận, phân loại, vận chuyển và phân
(trong nước hoặc quốc tế) thư, bưu phẩm, phối (trong nước hoặc quốc tế) thư, bưu
bưu kiện bằng dịch vụ bưu chính qua phẩm, bưu kiện của các doanh nghiệp
mạng lưới bưu điện được quy định bằng không hoạt động theo giao ước dịch vụ
các giao ước dịch vụ thống nhất. Hoạt động chung. Hoạt động này có thể sử dụng
này có thể sử dụng một hoặc nhiều phương một hoặc nhiều phương thức vận tải, có
thức vận tải, có thể sử dụng phương tiện vận thể sử dụng phương tiện vận tải của
tải thuộc sở hữu của bưu điện hoặc phương doanh nghiệp hoặc các phương tiện vận
tiện vận tải công cộng;
tải công cộng
Do vậy, doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn khi đăng ký ngành chuyển phát. Mặt
khác, dịch vụ chuyển phát trong Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập
WTO vẫn sử dụng các giải thích, định nghĩa được quy định tại Nghị định số 128/2007/NĐ-
CP ngày 02 tháng 8 năm 2007, trong khi Nghị định này đã bị thay thế bởi Nghị định số
47/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 6 năm 2011.
Do vậy, pháp luật thương mại cần định danh rõ những dịch vụ nào được xem là dịch
vụ logistics và cần có sự tương thích giữa những dịch vụ logistics cụ thể với mô tả dịch vụ
đó trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam nhằm giúp doanh nghiệp dễ dàng đăng ký các
ngành nghề tương ứng, tạo điều kiện để doanh nghiệp cung cấp một chuỗi các dịch vụ từ
khâu vận tải, lưu kho, thủ tục hải quan, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu đến giao hàng.
122
Ngoài ra, cần rà soát các cam kết quốc tế về dịch vụ logistics tại WTO và các hiệp định
thương mại tự do (FTA) để tránh xung đột giữa cam kết quốc tế về logistics với pháp luật
trong nước.
2. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Khoản 1 Điều 237 quy định: ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại
Điều 294 của Luật này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách
nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sau đây: Tổn thất
là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền; tổn thất phát sinh do
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng
hoặc của người được khách hàng uỷ quyền; tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá; tổn thất
phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập
quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải; thương nhân
kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười
bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận
và sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông
báo về việc bị kiện tại trọng tài hoặc toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.
Khoản 2 quy định: Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm
về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc thực hiện
dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình.
Nội dung Điều 237 cho thấy, ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm áp dụng
chung cho các hoạt động thương mại khác thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
còn được miễn trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá trong 06 trường hợp đặc
thù và không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách
hàng. Tuy nhiên, đoạn cuối của Khoản 2 thì không rõ nghĩa, theo đó thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ
logistics sai địa điểm không do lỗi của mình, nhưng đó là trách nhiệm gì và với ai thì luật
không quy định rõ.
Giá trị bồi thường thiệt hại theo quy định tại Khoản 2 Điều 302 bao gồm giá trị tổn
thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực
tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Quy định tại
123
Điều 237 cho thấy rằng đối với giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải
chịu (tổn thất hàng hóa), bên cung cấp dịch vụ logistics chỉ được miễn bồi thường trong 06
trường hợp nhất định nhưng đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng thì bên cung cấp dịch
vụ logistics luôn luôn được miễn trách nhiệm mà không cần điều kiện gì, ngay cả khi bên
cung cấp dịch vụ phải bồi thường đối với tổn thất hàng hóa thì cũng không phải bồi thường
khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng. Điều này có vẻ phù hợp với
quy định về giới hạn trách nhiệm tại Khoản 1 Điều 238, theo đó “trừ trường hợp có thoả
thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt
quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hoá”. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 238
lại có một vế đính kèm “trừ trường hợp có thoả thuận khác”, vấn đề đặt ra là trong hợp
đồng dịch vụ logistics, các bên có thỏa thuận giới hạn trách nhiệm bồi thường bao gồm tổn
thất toàn bộ hàng hoá và lợi nhuận đáng lẽ được hưởng thì khi xảy ra tranh chấp, quy định
tại Khoản 2 Điều 237 hay Khoản 1 Điều 238 được áp dụng để giải quyết khoản lợi nhuận
đáng lẽ được hưởng? Cùng một vấn đề nhưng có hai quy phạm khác nhau để giải quyết sẽ
nảy sinh mâu thuẫn và khi đó việc áp dụng quy phạm nào cũng sẽ không được thuyết phục.
Ngoài ra, việc gom cả những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294
vào khoản 1 Điều 237 là không hợp lý vì những trường hợp được miễn trách nhiệm quy
định Điều 294 bao gồm cả miễn bồi thường tổn thất thực tế và khoản lợi được hưởng, trong
khi quy định tại khoản 1 Điều 237 chỉ miễn bồi thường tổn thất thực tế.
3. Về quyền cầm giữ và định đoạt hàng hoá
Điều 239 Luật Thương mại quy định: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
có quyền cầm giữ một số lượng hàng hoá nhất định và các chứng từ liên quan đến số lượng
hàng hoá đó để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng nhưng phải thông báo ngay bằng
văn bản cho khách hàng. Sau thời hạn bốn mươi lăm ngày kể từ ngày thông báo cầm giữ
hàng hoá hoặc chứng từ liên quan đến hàng hoá, nếu khách hàng không trả tiền nợ thì
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có quyền định đoạt hàng hoá hoặc chứng từ đó
theo quy định của pháp luật; trong trường hợp hàng hoá có dấu hiệu bị hư hỏng thì thương
nhân kinh doanh dịch vụ logistics có quyền định đoạt hàng hoá ngay khi có bất kỳ khoản
nợ đến hạn nào của khách hàng”.
124
BLDS quy định cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Khoản
9 Điều 292, Điều 346 đến Điều 350). Tuy nhiên, quy định về cầm giữ của Luật Thương
mại có điểm khác biệt là được cầm giữ cả chứng từ bên cạnh việc cầm giữ hàng hóa và
được định đoạt hàng hóa, chứng từ cầm giữ. Đây là điểm khác biệt lớn giữa quy định của
luật thương mại và luật dân sự. Chúng tôi thấy rằng quy định tại Điều 239 Luật Thương
mại tạo điều kiện để giải quyết triệt để tranh chấp vì nếu chỉ được cầm giữ tài sản mà không
được định đoạt tài sản cầm giữ như BLDS quy định thì sẽ không giải quyết được dứt điểm
tranh chấp. Khi đó, bên cầm giữ phải giữ gìn, bảo quản tài sản trong một thời gian dài, làm
phát sinh chi phí cầm giữ, gây thiệt hại cho cả hai bên. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận
lợi cho các bên liên quan nhanh chóng giải quyết vụ việc, chúng tôi thấy rằng Luật Thương
mại cần bổ sung thêm trường hợp “định đoạt hàng hoá hoặc chứng từ theo sự thỏa thuận
của các bên”. Sự thỏa thuận đó có thể được thiết lập trước trong hợp đồng hoặc sau khi
phát sinh việc cầm giữ hàng hóa và chứng từ. Khi đó, các bên có thể chủ động thỏa thuận
các phương thức định đoạt hàng hóa và chứng từ đang bị cầm giữ một cách linh hoạt nhằm
giảm thiểu thời gian và chi phí.
Xét về mặt thủ tục thì quy định về cầm giữ và định đoạt hàng hoá của Luật Thương
mại mang tính chặt chẽ, theo đó, bên cầm giữ phải thông báo ngay bằng văn bản cho khách
hàng khi tiến hành cầm giữ và tiếp tục thông báo trước khi định đoạt hàng hoá. Trong khi
đó, quy định về cầm giữ tài sản của BLDS chưa có những quy định này. Luật Thương mại
yêu cầu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải định đoạt hàng hoá hoặc chứng từ
đó theo quy định của pháp luật nhưng hiện nay, chúng tôi không tìm thấy bất cứ một quy
định, hướng dẫn nào về việc định đoạt hàng hóa, chứng từ sau khi cầm giữ. Tuy vậy, căn
cứ vào quy định tại Điều 239 và Điều 240, bên cầm giữ vẫn có thể tiến hành định đoạt hàng
hóa và chứng từ cầm giữ để thu hồi nợ. Như vậy, đánh giá một cách tổng thể thì những quy
định của Luật Thương mại về cầm giữ và định đoạt hàng hoá, chứng từ tương đối toàn
diện, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên giải quyết dứt điểm tranh chấp./.
125
Bạn đang xem tài liệu "Dịch vụ logistics theo quy định của luật thương mại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dich_vu_logistics_theo_quy_dinh_cua_luat_thuong_mai.pdf

