Đề kiểm tra 45 phút môn Ngữ văn Lớp 10 - Bài viết số 7 - Năm học 2016-2017 - Trường THPT Lê Quý Đôn (Có đáp án)
BÀI VIẾT SỐ 7 LỚP 10 VĂN
NĂM HỌC: 2016 – 2017
Môn: Ngữ văn Chương trình Chuyên
Thời gian làm bài 45 phút
TRƯỜNG THPT CHUYÊN
LÊ QUÝ ĐÔN
TỔ NGỮ VĂN
I. MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA
- Kiểm tra về kiến thức lí luận văn học, đặc biệt là nội dung và hình thức của bài
văn, các kiểu văn bản.
- Ôn lại những kiến thức đã học: lập dàn ý, đặc trưng thi pháp văn học trung đại.
- Thực hành phân tích tác phẩm cụ thể theo đặc trưng thi pháp văn học trung đại
Việt Nam.
- Đánh giá việc vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học để viết một bài văn nghị
luận văn học.
- Biết vận dụng kiến thức lí luận văn học để hoàn chỉnh một bài văn NLVH
II. HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA: Tự luận.
III. THIẾT LẬP MA TRẬN
Mức
độ
Nhận biết Thông hiểu Vận
dụng Vận
dụng Cộng
thấp
cao
Chủ đề
Hiểu
được
Tích
hợp
Làm văn:
- Những
vấn đề cần
nghị luận
kiến thức lí
luận văn học,
kĩ năng đã
học để làm
một bài văn
nghị luận văn
học.
vấn
đề
chung về
văn bản
và tạo lập
văn bản.
- Kiểu bài
văn nghị
luận văn
học.
Số câu: 1
Số điểm:2
Tỉ lệ: 20%
Số điểm: 8
Tỉ lệ: 80%
Số câu: 1
Tỉ lệ:
Tỉ
lệ:
100%
100% = 10
điểm
IV. ĐỀ KIỂM TRA
Cảm nhận của em về giá trị nhân văn trong trích sau:
“Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải,
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ.
Hoa này bướm nỡ thờ ơ,
Để gầy bông thắm để xơ nhụy vàng!
Đêm năm canh lần nương vách quế,
Cái buồn này ai dễ giết nhau.
Giết nhau chẳng cái lưu cầu,
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa!
Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ,
Xe thế này có dở dang không?
Đang tay muốn rứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu phòngmà ra!”
(Nỗi sầu oán của người cung nữ, Trích Cung oán ngâm, Nguyễn Gia
Thiều, Ngữ văn 10 Nâng cao, Tập II, Nxb Giáo dục, 2006, trang 122)
V. Đáp án :
1. Về kĩ năng:
- Nắm vững phương pháp làm văn nghị luận, hiểu đúng yêu cầu của đề, biết vận
dụng kiến thức lí luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề.
- Hình thức diễn đạt: bố cục chặt chẽ, hành văn lưu loát, có cảm xúc, vận dụng
một cách hiệu quả các thao tác nghị luận.
2. Về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần thể hiện
được các ý sau:
a. Giải thích:
- “Nhân văn” là những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của con người, là lấy con
người làm trung tâm.
- “Giá trị nhân văn” là sự khẳng định, ngợi ca những giá trị, phẩm chất tốt đẹp
của con người.
- “Giá trị nhân văn” là sự thấu hiểu, đồng cảm với nỗi bất hạnh của con người.
- “Giá trị nhân văn” là sự lên án những thế lực trà đạp lên nhân phẩm, cướp đi
hạnh phúc của con người.
b. Phân tích, chứng minh:
- “Giá trị nhân văn” là sự thấu hiểu, đồng cảm với nỗi bất hạnh của con người:
+ Tâm trạng của người cung nữ còn được thể hiện trong nỗi khao khát hạnh
phúc, niềm ước ao cuộc sống chăn gối nhưng tất cả đều trở nên bẽ bàng, chua
chát.
+ Tâm trạng người cung nữ còn được miêu tả ở đỉnh cao sự uất ức, trở nên quằn
quại, tức tối ("Hoa này bướm nỡ thờ ơ/ Để gầy bông thắm, để xơ nhuỵ vàng”) và
nảy sinh ý nghĩ nổi loạn: ("Muốn dứt tơ hồng”; "muốn đạp tiêu phòng mà ra”).
Nàng gọi đích danh sự giam cầm tù hãm là:"Giết nhau chẳng cái lưu cầu- Giết
nhau bằng cái u sầu, độc chưa!”
+ Qua tâm trạng ai oán xót xa của người cung nữ, ta thấy thân phận của nàng là
một người đàn bà bất hạnh (cũng như những người cung nữ khác), bị giam cầm
tuổi thanh xuân, cho đến khi phải chết trong sự mỏi mòn chờ đợi. Đó cũng là
thân phận của những người bị áp bức nói chung; và từ góc độ cái đẹp, nàng là
hiện thân của cái đẹp bị giam cầm.
- “Giá trị nhân văn” là sự lên án những thế lực trà đạp lên nhân phẩm, cướp đi
hạnh phúc của con người: Các vị vua chúa ăn chơi sa đoạ, hưởng lạc trên nỗi
khổ của những con người nhỏ bé bất hạnh, bất chấp cả quyền tự do, hạnh phúc
của họ. Qua lời ca ai oán của người cung nữ, ta thấy vua chúa trở thành những
ác nhân, những kẻ giết người vì sự vô tâm và nhẫn tâm: "Khoảnh làm chi bầy
chúa xuân/ Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi”;
"Giết nhau chẳng cái lưu cầu- Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!”
- “Giá trị nhân văn” của đoạn trích được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật độc
đáo:
+ Trước hết, tác giả đã thành công xuất sắc trong việc xây dựng bối cảnh thời
gian, không gian để khắc hoạ tâm trạng: thời gian dằng dặc, triền miên hết ngày
sang đêm, hết sớm lại chiều, hết chiều lại đêm khuya, đặc biệt là thời gian "đêm
năm canh” cứ trở đi trở lại tạo nên sự nặng nề, mòn mỏi đến khủng khiếp; không
gian u tịch, tăm tối nơi cung cấm, không gian của sự mòn mỏi, tuyệt vọng, sầu
tủi khiến có lúc người cung nữ cũng muốn "đạp tiêu phòng mà ra”. Tác giả sử
dụng hệ thống từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị gợi tả, gợi cảm. Tính chất đối xứng
cũng là một yếu tố nghệ thuật đóng góp lớn vào việc khắc hoạ tâm trạng, tạo
nhạc điệu (đối giữa các câu thất với nhau và tiểu đối trong một câu). Nội dung
cảm xúc kết hợp với thể thơ và các yếu nghệ thuật khác đã tạo nên giọng réo rắt,
sầu khổ, oán hờn...
+ Với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tuyệt bút kết hợp với nghệ thuật miêu tả trực
tiếp tâm trạng vô cùng tinh tế, bằng ngôn ngữ đậm tính dân tộc, giàu chất trữ
tình, đoạn thơ miêu tả tình cảnh lẻ loi, cô đơn, nỗi nhớ, nỗi buồn, niềm đau và
những khao khát của người chinh phụ. Bằng niềm đồng cảm sâu sắc với số phận
và khát vọng của con người, đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung có giá
trị nhân đạo sâu sắc, lớn lao.
c. Đánh giá khái quát
3. Biểu điểm:
- Điểm 9-10 : Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, bài làm có sự sáng tạo.
- Điểm 7-8 : Đáp ứng ở mức độ khá các yêu cầu của bài. Có thể có một vài lỗi
nhỏ về diễn đạt, dùng từ, chính tả.
- Điểm 5-6 : Về cơ bản đáp ứng được yêu cầu của đề, nhưng bài làm chưa sâu,
còn mắc một số lỗi về diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp.
- Điểm dưới 5: Bài làm sơ sài, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra
Bạn đang xem tài liệu "Đề kiểm tra 45 phút môn Ngữ văn Lớp 10 - Bài viết số 7 - Năm học 2016-2017 - Trường THPT Lê Quý Đôn (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
de_kiem_tra_45_phut_mon_ngu_van_lop_10_bai_viet_so_7_nam_hoc.doc

