Xu hướng biến đổi văn hóa của tu sĩ Phật giáo Nam Tông Khmer hiện nay (nghiên cứu tại tỉnh Kiên Giang, Trà Binh và thành phố Cần Thơ)
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
TRENDS OF CULTURAL CHANGE OF KHMER THERAVADA
BUDDHIST MONKS TODAY
(RESEARCH IN KIEN GIANG PROVINCE, TRA VINH PROVINCE AND CAN THO CITY)
Danh Ut
PhD student, Tra Vinh University
Email: [email protected]
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
14/10/2021
06/11/2021
18/11/2021
25/11/2021
30/11/2021
DOI:
ultural change is a process, thereby, changing the patterns, community activities to adapt to current
life. When the material conditions are increasingly rich and diverse, as science and technology
become more and more modern, cultural change in general is inevitable. The article focuses on the study of
changes in material culture of Khmer Theravada Buddhist monks (referred to as monks) in the following
aspects: “Food, clothing, travel and residence”.
C
Keywords: Cultural change; Khmer Theravada Buddhist; Monks; Material culture; Southwest.
1. Đặt vấn đề
2. Tổng quan nghiên cứu
Phật giáo Nam tông là một thực thể tôn giáo tồn
Trên cơ sở kế thừa các công trình có liên quan
tại và gắn liền với cộng đồng người Khmer từ rất như: “Phật giáo Khmer Nam Bộ - Những vấn đề
lâu đời trên vùng đất Nam Bộ nên được gọi là Phật nhìn lại”, tác giả Nguyễn Mạnh Cường (2008) đã
giáo Nam tông Khmer (PGNTK). Tu sĩ Phật giáo đánh giá vai trò quan trọng của PGNTK đối với
Nam tông Khmer (tu sĩ) và phật tử Khmer có nhiều đời sống của cộng đồng người Khmer, khai thác
đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống thực ở nhiều góc độ nhằm nhìn nhận đúng vai trò của
dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong công cuộc tộc người Khmer trong lịch sử và đề cao vị thế của
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với những đặc điểm PGNTK trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong
tình hình vùng Tây Nam Bộ trong những năm qua, quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Cùng hướng
Đảng và Nhà nước đã có chủ trương, chính sách phân tích đời sống của tu sĩ, trong công trình nghiên
cụ thể đối với cộng đồng dân tộc thiểu số, trong đó cứu “Phật giáo Nam tông với đời sống tinh thần của
có dân tộc Khmer. Theo đó, đời sống vật chất, tinh người Khmer Nam Bộ trong bối cảnh toàn cầu hoá
thần của đồng bào ngày càng được nâng cao và đã hiện nay”, tác giả Nguyễn Tiến Dũng (2014) đánh
tác động đến điều kiện sống của tu sĩ.
giá khá toàn diện về đời sống của tu sĩ nhưng chủ
yếu làm rõ các vấn đề tích cực. Song song đó, qua
công trình nghiên cứu “Ngôi chùa trong đời sống
văn hoá của người Khmer vùng Tây Nam Bộ”, tác
giả Phùng Thị An Na (2015) có thực hiện cuộc khảo
sát các hoạt động văn hóa tại một số chùa Khmer;
trong đó, có một phần nói đến đời sống văn hoá của
tu sĩ. Ngoài ra, công trình nghiên cứu “Đạo Phật
trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ - Việt Nam
(từ thế kỷ XVII đến 1975)”, tác giả Trần Hồng Liên
(2000) làm rõ vai trò của đạo Phật trong đời sống
văn hóa - xã hội của người Kinh; đồng thời, có so
Bài viết tập trung phân tích những biến đổi văn
hóa vật chất, bao gồm: Ẩm thực, trang phục, đi lại,
cư trú trong đời sống của tu sĩ tại 03 tỉnh, thành
phố (Trà Vinh, Kiên Giang và Cần Thơ). Tác giả
chọn 03 địa phương này bởi các lý do: (1) Tỉnh Trà
Vinh là địa phương còn bảo lưu những yếu tố truyền
thống của PGNTK; (2) Thành phố Cần Thơ là địa
phương chịu nhiều tác động biến đổi của quá trình
đô thị hoá và hiện đại hóa; (3) Tỉnh Kiên Giang
là địa phương có sự dung hòa giữa giá trị văn hoá
truyền thống và hiện đại.
Volume 10, Issue 4
109
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
sánh một số nét cơ bản của Phật giáo Nam tông của uống.
người Kinh và người Khmer nhằm làm nổi bật lên
Cũng qua kết quả khảo sát cho thấy: Đa số tu sĩ
dùng nước lọc hoặc sữa sau giờ Ngọ cho đến hết
đêm; có dùng những vật phẩm khác như sinh tố, bột
ngũ cốc, kẹo, trà, trái cây, nhưng số lượng người
dùng không nhiều. Qua đó, cho thấy việc giữ gìn
giới luật của các tu sĩ vẫn rất chặt chẽ; các tu sĩ có
ý thức rất cao trong việc giữ nghiêm giới luật. Mặc
khác, trong quá trình khảo sát tại chùa Sóc Xoài
(tỉnh Kiên Giang) có quy định khá chi tiết trong việc
dùng vật lỏng: Nếu uống nước dừa, nước mía phải
lọc kỹ, không còn xác và không được dùng kẹo,
bánh, trái cây hoặc tại chùa Kompong (chùa Ông
Mẹt, tỉnh Trà Vinh) và chùa Phnokombut (Chùa Ô,
tỉnh Trà Vinh) thì tu sĩ có thể dùng kẹo nhưng lại
không được nhai.
giá trị văn hoá trong đời sống của tu sĩ Khmer so
với tu sĩ phật giáo Nam tông của người Kinh… Đây
là nguồn tài liệu quý giúp bài viết nắm cơ bản đời
sống sinh hoạt của nhà tu hành trong quá trình lịch
sử; đồng thời, làm cơ sở tiếp tục nghiên cứu vấn đề
biến đổi đời sống văn hóa của tu sĩ hiện nay. Trong
những khoảng trống mà các tác giả chưa đề cập, bài
viết sẽ tập trung nghiên cứu về thực trạng văn hóa
vật chất của tu sĩ trên các phương diện ẩm thực,
trang phục, đi lại và cư trú.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá kết quả nghiên cứu, tác giả sử dụng
phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi và phương
pháp phỏng vấn sâu. Nguồn dữ liệu chính được sử
dụng từ kết quả khảo sát thực tế qua bảng hỏi gồm
Riêng ở những vùng nông thôn, hình thức khất
15 câu, với số lượng 100 phiếu/100 vị tu sĩ tại 16 thực đã có nhiều thay đổi về mặt tổ chức. Một số
chùa Khmer thuộc 03 tỉnh, thành phố gồm Kiên gia đình phật tử sống quanh chùa sẽ phân công luân
Giang, Trà Vinh và Cần Thơ. Kết quả phiếu khảo phiên để nấu vật thực cúng dường cho các tu sĩ theo
sát được tổng hợp, thống kê; đồng thời, so sánh giữa thời gian quy định; tổ hợp các hộ gia đình này được
các nội dung có liên quan với nhau; các câu hỏi gọi là Wên; một chùa gồm nhiều Wên cứ thế thay
mở trong bảng hỏi cũng được mã hóa và xử lý như phiên nhau xoay vòng thực hiện việc nấu vật thực
thông tin định lượng để chứng minh cho các nhận cho các tu sĩ. Trong quá trình khảo sát tại tỉnh Kiên
định trong bài viết.
Giang, tác giả nhận thấy có những quy định khác
hơn so với các tỉnh như Trà Vinh hoặc Cần Thơ. Tại
tỉnh Kiên Giang, đã từ lâu phật tử không để các tu sĩ
đi khất thực, vì họ xét thấy địa bàn có địa hình sông
nước, giao thông đường bộ đi lại khó khăn gây cản
trở trong việc đi khất thực nên phật tử đã quyên góp
gạo mang đến chùa. Để giữ gìn giới luật theo luật
tạng, trong một năm các tu sĩ ở Kiên Giang sẽ đi
khất thực một lần khoảng nửa tháng vào đầu tháng
11 âm lịch, người dân gọi đó là “prossatva” (cứu độ
chúng sinh) để hóa duyên cho những bá tánh có cơ
hội gầy dựng phước báu. Tuy nhiên, hiện nay, việc
tổ chức đi khất thực trong chùa cũng có chiều hướng
biến đổi. Theo kết quả khảo sát, chỉ có 49% số chùa
còn tổ chức đi khất thực, 34% chùa thì không, còn lại
17% là sử dụng hình thức khác. Ngoài ra, việc khất
thực hầu hết các tu sĩ trẻ tuổi sẽ được phân công đảm
nhiệm, các tu sĩ lớn tuổi hoặc tu sĩ nhỏ tuổi lo những
công việc khác trong chùa. Việc đề cử các tu sĩ đi
nhận cơm từ các hộ gia đình thuộc các Wên trong
phum, sóc ngày càng trở nên phổ biến.
Song song đó, tác giả thực hiện 12 cuộc phỏng
vấn sâu với thành phần gồm: Lãnh đạo Ban Trị sự
Phật giáo, các vị trong Ban Chấp hành Hội Đoàn
kết Sư sãi yêu nước cấp tỉnh; trụ trì, phó trụ trì và
tu sĩ tại các chùa Khmer tại 03 tỉnh, thành phố được
khảo sát. Khi tiến hành phỏng vấn sâu, bài viết liệt
kê những nội dung chính và tập trung từng chi tiết
mà phạm vi giới hạn của bài viết quan tâm. Trong
quá trình phỏng vấn, người thực hiện phỏng vấn có
thay đổi trật tự câu hỏi sao cho phù hợp với từng đối
tượng phỏng vấn, cũng có khi người phỏng vấn mở
rộng câu hỏi để khai thác thêm thông tin cần biết.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Về ẩm thực
PGNTK thực hành theo giới luật Phật giáo
nguyên thủy, tu sĩ sống bằng sự dâng cúng thức ăn từ
phật tử. Việc khất thực chỉ được thực hiện duy nhất
01 lần trong ngày; hầu hết các tu sĩ phải tự đi khất
thực trong phum, sóc và phải trở về chùa trước giờ
ngọ để thọ thực. Tuy nhiên, trong thực tế các tu sĩ
có thể ăn 02 bữa trong ngày (vào buổi sáng sớm và
buổi trưa nhưng phải trước 12 giờ trưa). Sau 12 giờ
trưa (giờ ngọ) cho đến hết đêm ngày hôm đó, các tu
sĩ chỉ có thể dùng vật lỏng để uống (Trà, sữa, cà phê,
nước…). Theo đó, cách trì bình khất thực của tu sĩ đã
có sự thay đổi lớn.
Qua kết quả khảo sát cho thấy số lần độ thực
trong một ngày của tu sĩ đa số là 2 bữa. Hầu hết, các
chùa thường nấu cháo trắng vào buổi sáng, có thể
dùng với nước mắm hoặc tương, chao... Buổi trưa,
thì dùng thức ăn khi đi khất thực mang về; sau giờ
Ngọ cho đến hết đêm, chỉ có thể dùng vật lỏng để
Sự thay đổi phương cách khất thực này tùy
thuộc từng tỉnh, từng vùng mà có sự khác biệt
về thời gian và cách thực hiện. Đa số các chùa có
phân công đi khất thực được phân bổ rất rõ ràng
theo hình thức chia tổ.
4.2. Về trang phục
Sau ba tháng hạ (từ 15 tháng 6 đến 15 tháng 9 âm
lịch), các chùa Khmer sẽ tổ chức lễ dâng y Kathina.
Đây được xem là một trong những lễ lớn nhất và
quan trọng nhất của PGNTK. Theo quy định, các tu
sĩ không được giữ nhiều y nên những y được phật
tử dâng lên sẽ được trụ trì chùa tổng kết và cất giữ
110
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
trong kho; chỉ khi nào có y bị rách hư, cũ… thì lấy 2km - 3km, đa số các phật tử cử người mang xe đến
ra cho hoặc những người mới xuất gia, mới tu, chưa chùa đón Tu sĩ đến nhà phật tử nhận thức ăn. Tuy
có y thì được phân phối kịp thời.
nhiên, khi gần đến nhà phật tử, tu sĩ xuống đi bộ
chân đất, tay ôm bình bát trang nghiêm đúng như
giới luật quy định về khất thực, tiêu biểu như ở chùa
Kompong (tỉnh Trà Vinh).
Mặt khác, trước đây, chỉ có phật tử trong phum,
sóc mới dâng cúng y cho chùa nơi mình cư trú
nhưng hiện nay phật tử từ các địa phương khác đến
dâng y rất nhiều bộ; có chùa có đến hàng trăm bộ y.
Bảng 1. Phương tiện di chuyển
chủ yếu khi đi khất thực
Y phục được quy định trong Luật tạng Pāli dựa
trên thiết kế như thửa ruộng; có sắc không phải là
màu: xanh, đen, hoa sen. Y phục có định: y 05 điều,
y 07 điều, y 09 điều, y 11 điều. Giáo hội Phật giáo
Việt Nam có thống nhất hệ phái Nam tông vấn y
màu cam nhưng Thượng tọa Danh B cho biết: “Sư
cả có quy định cho các sư trong chùa chỉ mặc thống
nhất một màu y. Ở chùa khác thì có sư mặc màu
này, màu kia theo sở thích, nhưng ở chùa này thì
chỉ quy định y màu cam”. Qua khảo sát tại chùa
Kompong và chùa Kompong San (tỉnh Trà Vinh):
Đa số tu sĩ vấn y 05 điều nhưng màu sắc của y là
màu vàng nghệ hoặc màu cam.
Theo phong tục tập quán truyền thống (đầu đội
trời, chân đạp đất) nên khi ra ngoài các tu sĩ không
được đội nón, không mang dù. Tuy nhiên, đa số tu sĩ
đều sử dụng dù khi đi khất thực và mang dép. Hiện
nay, trong luật Phật giáo đã cho tu sĩ sử dụng dù khi
đi ra đường nhưng không được sử dụng những màu
sắc quá rực rỡ mà giới luật cấm kỵ.
Phương tiện
Xe máy
Số phiếu
Tỷ lệ %
75,0
7,0
75
7
Xe hơi
Xe đạp
1
1,0
Đi xuồng
Phật tử đến chùa chở
Tổng
6
6,0
11
100
11,0
100,0
Nguồn. Kết quả khảo sát năm 2020
Ngày nay, vì nhiều lý do khác nhau, nên việc
kết hợp các phương tiện đi lại với quy định đi khất
thực truyền thống đã trở thành một biến đổi tất yếu
trong quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh
mẽ. Một điều đáng lưu ý là, dù dùng phương tiện
nào thì quý sư đều không trực tiếp cầm lái mà luôn
được phật tử hoặc người khác chở đi.
4.3. Về đi lại
Cũng có một số chùa tổ chức đi khất thực bằng
đò, như trường hợp tại chùa Thôn Dôn (tỉnh Kiên
Giang), các tu sĩ tự lái đò sang sông để đi khất
thực, vì đò của nhà chùa vừa là phương tiện để di
chuyển, giúp bà con trong vùng qua sông thuận lợi.
Tuy nhiên, trường hợp các tu sĩ tự lái xe hoặc lái đò
không được khuyến khích, hay tại một số nơi là điều
cấm kỵ vì các tu sĩ cho rằng nếu tu sĩ trực tiếp cầm
lái sẽ có thể gây ra nghiệp sát sinh, vì trên đường
di chuyển sẽ làm chết nhiều côn trùng hoặc nếu có
gây ra tai nạn thì sẽ phát sinh nhiều việc phiền toái
không hay xảy ra, nên tu sĩ vẫn không tự cầm lái xe
hay lái đò là hay nhất. Đặc biệt, một sự chuyển đổi
có chiều hướng gia tăng hiện nay là tại một số chùa
trong quá trình khảo sát có xe hơi riêng.
Hiện nay, việc đi lại của tu sĩ cũng có nhiều
biến đổi so với trước đây. Nếu như giai đoạn đầu
mới du nhập PGNTK vào Việt Nam, tu sĩ chỉ được
phép đi bộ, nhất là khi đi khất thực phải “đầu đội
trời, chân đạp đất”, thì ngày nay, tại một số chùa đã
có sự chuyển biến trong việc tổ chức và cách thức
khi đi khất thực và việc tu sĩ dùng phương tiện giao
thông trong đi lại.
Đối với một số chùa nằm trong khu vực đô thị,
có số lượng tu sĩ đông, hoặc chùa cách quá xa nhà
phật tử, thì việc đi khất thực có thể đi bằng xe ôm
hoặc taxi để mỗi ngày có thể lấy lượng thức ăn lớn
về cho tu sĩ kịp thời gian dùng bữa trước giờ Ngọ.
Những chùa trong khu vực thành thị, vì đa số tu sĩ ở
các tỉnh xa về đây tu học, nên đa số phật tử thường
cúng dường tu sĩ bằng tiền mặt để thuận tiện trong
việc độ thực. Nếu không cúng dường tiền mặt thì
các phật tử trong khu vực tự phân công nhau mỗi
ngày đều đến dâng vật thực cho tu sĩ.
Tuy nhiên, việc chùa có xe hơi riêng cũng gặp
phải những ý kiến trái chiều vì theo truyền thống thì
các tu sĩ tu khổ hạnh, sống bằng việc đi khất thực.
Do vậy, tu sĩ cũng e dè trong việc sử dụng phương
tiện hiện đại để di chuyển.
Theo kết quả khảo sát, khi được hỏi tu sĩ đi khất
thực có đi bằng phương tiện khác mà không đi bộ
hay không? Kết quả có đến 75% ý kiến trả lời là có,
15% trả lời không và 10% cho ý kiến khác. Trong
đó, ý kiến khác cho rằng vì nhiều lý do khách quan
và chủ quan nên phật tử mang lương thực vào chùa
nấu. Một số chùa nằm ở vùng ven ngoại thành,
huyện, xã thì vẫn còn bảo lưu những yếu tố giới luật
truyền thống là đi khất thực bằng chân đất. Riêng
ở một số khu vực khá xa, nhà phật tử cách chùa từ
4.4. Về cư trú
Nếu như trước đây, chùa được hình thành giữa
phum sóc, các thanh thiếu niên Khmer đến tuổi đều
xuất gia trong thời gian 03 năm để báo hiếu ân cha
mẹ. Do đó, trong chùa ngoài sư trụ trì luôn có các
tu sĩ tu học là người thuộc phum sóc đó. Mọi sinh
hoạt đều diễn ra dưới mái chùa từ tu học, thực hành
các nghi lễ, tổ chức các lễ hội,… Ngôi chùa thực sự
là trung tâm văn hóa, nơi sinh hoạt và diễn ra mọi
Volume 10, Issue 4
111
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
hoạt động của cộng đồng người Khmer. Thế nhưng đi khất thực mỗi ngày vào buổi sáng quanh phum
hiện nay, một số chùa chỉ là nơi cư trú tạm thời, nơi sóc; sau đó, trở về chùa trước giờ Ngọ để thọ thực
lưu lại một thời gian ngắn trong thời gian tu học thì chỉ ăn một lần vào buổi trưa trong ngày. Thời
cho một số tu sĩ. Hiện nay, do nhu cầu học tập tập kỳ đổi mới, do nhu cầu phát triển của nguồn nhân
trung và để thuận tiện cho việc tu học, tu sĩ ở khắp lực, do nhu cầu tu học của tu sĩ nên các trường đào
các tỉnh miền Tây thường tập trung về các chùa ở tạo được mở ra ngày càng nhiều đã thu hút một
trung tâm thành phố, như thành phố Cần Thơ để số lượng lớn tu sĩ đến học tập; các cơ sở giáo dục
tham gia các chương trình học ở Học viện PGNTK thường tập trung ở khu đô thị hóa, các tu sĩ phải
hoặc tham gia các chương trình học tại các trường học tập trung không có thời gian đi khất thực nên
đại học khác. Ngoài ra, tại Cần Thơ còn có Học viện việc khất thực theo luật định xưa kia quanh phum
Phật giáo và nhiều trường đại học khác nên một số sóc không thực hiện được.
tu sĩ chùa khác, tỉnh khác, đến lưu trú để học tập
trong một thời gian nhất định như chùa Pitu Khôsa
Răngsây (quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ). Lý
giải cho hai hiện tượng trên phải xét đến nhu cầu
thực tế và những thay đổi trong suy nghĩ của tu sĩ.
Ngoài tu học giáo lý cơ bản tại chùa ở địa phương,
nhu cầu học thêm Pāli, những kiến thức phổ thông,
ngành nghề chuyên môn của tu sĩ ngày càng cao.
Điều này không còn là nhu cầu mà trở thành yêu
cầu chung của xã hội đối với tu sĩ.
Hiện nay, các thanh thiếu niên người Khmer khi
xuất gia, ngoài tâm lý xuất gia để báo hiếu, còn luôn
ý thức thời gian xuất gia là thời gian học tập, rèn
luyện để có được ít nhất một nghề để tiếp tục cuộc
sống, tự lo cho mình và gia đình sau khi hết thời
hạn xuất gia. Còn vị nào muốn tiếp tục với lý tưởng
tìm cầu chân lý thì lại càng phải tinh tấn nghiên cứu
Phật học và cũng cố gắng học tập một bằng cấp ở
ngành nghề khác, thường là luật, văn hóa,... Chính
vì lý do này, mà đa số các tu sĩ bắt buộc phải di
chuyển đến các chùa khác, các chùa tại các trung
tâm thành phố lớn để tu tập và nghiên cứu.
Bên cạnh đó, Đại đức Kiên P.L cho biết: “Một
số nguyên nhân dẫn đến những biến đổi trên là do
cơ sở hạ tầng phát triển, hàng hóa tiêu dùng đa dạng
nên việc không mang dép ra ngoài đi không thể thực
hiện được vì đường nhựa rất nóng. Tuy nhiên, sự
thay đổi này chỉ về mặt hình thức, về phương tiện
di chuyển để tiếp nhận vật thực, còn về nội dung ý
nghĩa thì không thay đổi”.
Ngoài ra, theo kết quả khảo sát cho thấy: Nguyên
nhân chủ yếu hiện nay là do các tu sĩ cần nhiều thời
gian để đi học nên việc kết hợp phương tiện giao
thông vào trong việc khất thực sẽ giúp rút ngắn thời
gian hơn. Hay trong vấn đề trang phục, do xã hội
đang ngày càng phát triển, ngành dệt may đã đạt
đến trình độ tinh xảo, sản xuất ra nhiều loại vải khác
nhau, đã đẩy mạnh việc không đồng bộ về màu sắc
trong lễ phục Phật giáo, làm cho lễ phục không còn
một màu chính thống, chất liệu vải cũng khác nhau.
Chỉnh đốn và thống nhất về màu sắc trong lễ phục
trong PGNTK là điều hết sức khó khăn đối với các
ban ngành chức năng của Giáo hội. Những năm
gần đây, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có lời kêu
Một thay đổi nhỏ về cư trú của PGNTK ở Tây gọi các tu sĩ nên mặc pháp phục cùng một màu sắc
Nam Bộ hiện nay là bên cạnh các công trình như (màu cam); xét thấy, đây là việc làm rất có ý nghĩa.
chính điện, sala (giảng đường, trai đường), cổng,...
nhiều chùa còn xây dựng thêm nhà bếp. Vốn trước
đây chùa không có nhà bếp nhưng do việc khất
thực và ăn uống thay đổi, nhà chùa có thể nấu cháo
để dùng bữa sáng hay một số phật tử đến chùa nấu
ăn để tiện dâng vật thực nên chùa phải xây dựng
thêm nhà bếp. Việc thay đổi này không ảnh hưởng
nhiều đến đời sống tu tập của tu sĩ mà chỉ là biểu
hiện của sự thích nghi, thay đổi phù hợp với điều
kiện thực tế.
Có thể nói rằng, thời đại thay đổi là một trong
những nhân tố cho sự thay đổi của văn hóa vật
chất; đồng thời, kéo theo nhận thức con người cũng
thay đổi dưới sức ảnh hưởng mạnh mẽ của tiến bộ
khoa học.
Hai là, yếu tố ý thức và sự lựa chọn của con
người
Con người làm chủ cuộc sống của mình thông
qua sự chọn lựa những điều có lợi cho bản thân và
tránh những thứ gây hại để cuộc sống được tốt đẹp
hơn. Khi sự chọn lựa đó được cả cộng đồng chấp
thuận và duy trì lâu dài đến một mức độ nhất định
thì sẽ trở thành một yếu tố văn hóa của dân tộc. Bên
cạnh đó rất khó có thể giữ gìn một truyền thống
nguyên bản của một tổ chức tôn giáo trong bối cảnh
5. Thảo luận
Có thể nói, sự biến đổi văn hóa trong đời sống
của tu sĩ phần nào phản ánh tình trạng biến đổi
chung của những giá trị văn hóa PGNTK nói chung
khi bị tác động bởi các yếu tố.
Một là, yếu tố xã hội, hoàn cảnh sống mới, quá xã hội không ngừng phát triển như ở nước ta. Tôn
trình đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ.
giáo phải chuyển mình để thích nghi với môi trường
xã hội nhằm tồn tại phù hợp với quy luật chung,
PGNTK không nằm ngoài quy luật đó.
Nếu như giai đoạn đầu khi Phật giáo Nam
tông du nhập vào Nam Bộ thì hầu hết tu sĩ đều tự
112
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
Hình. Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về màu sắc trên vải quấn
Nguồn. Kết quả khảo sát năm 2020
nước cũng không nhỏ. Việc giữ nguyên bản của một
6. Kết luận
tổ chức tôn giáo là vấn đề trăn trở cho các nhà hoạt
động tôn giáo. Do vậy, biến đổi trong đời sống văn
hóa của tu sĩ để thích ứng với môi trường sống là
đều tất yếu, là sự lựa chọn duy lý. Biến đổi văn hóa
nói chung sẽ giúp tu sĩ có cơ hội hòa nhập với đời
sống tu hành của tu sĩ cùng hệ phái tại một số quốc
gia trên thế giới. Tuy nhiên, môi trường luôn biến
đổi, các tu sĩ cũng cần chú ý đến những mặt hạn
chế trong môi trường hòa nhập vì dễ dẫn đến mất
phương hướng, hòa tan; có thể dễ đánh mất giới luật
của Phật giáo Nam tông.
Tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức
tạp, quá trình toàn cầu hóa, công nghiệp hóa và sự
phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, khoa
học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đem
lại nhiều sự thay đổi trong quá trình hội nhập và
quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội cho
mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội, thì sự xâm nhập và ảnh hưởng tiêu cực của rất
nhiều luồng tư tưởng, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau tới đồng bào dân tộc và tôn giáo trong
Tai lieu tham khao
Cuong, N. M. (2008). Phat giao Khmer Nam
Bo - Nhung van de nhin lai. Ha Noi: Nxb.
Ton giao.
Dung, N. T. (2014). Phat giao Nam tong voi doi
song tinh than cua nguoi Khmer Nam Bo
trong boi canh toan cau hoa hien nay. Trong
Hoa thuong Danh Lung va cong su, Phat
giao Nam tong Khmer dong hanh cung dan
toc (chu bien, tr.293-305). Thanh pho Ho Chi
Minh: Nxb. Van hoa Van nghe.
Sang, B. T. (2017). Giao duc Phat giao Nam
tong Khmer tren buoc duong hoi nhap va
phat trien. Trong D. Lung & C. H. Thai, Phat
giao Nam tong Khmer dong hanh cung dan
toc (chu bien, tr.500-515). Thanh pho Ho Chi
Minh: Nxb. Van hoa Van nghe.
Tuyet, P. T. Y. (1992). Van hoa vat chat cua cac
dan toc o dong bang song Cuu Long. Luan
van Pho Tien si, Vien Khoa hoc Xa hoi tai
Thanh pho Ho Chi Minh.
Hanh, P. T. P. (2012). Van hoa Khmer Nam Bo -
Net dep trong ban sac van hoa Viet Nam. Ha
Noi: Nxb. Chinh tri quoc gia.
Lien, T. H. (2000). Dao Phat trong cong dong
nguoi Viet o Nam Bo, Viet Nam (tu the ky XVII
den 1975). Ha Noi: Nxb. Khoa hoc Xa hoi.
Na, P. T. A. (2015). Ngoi chua trong doi song
van hoa cua nguoi Khmer vung Tay Nam Bo.
Tap chi Khoa hoc Xa hoi Viet Nam, 11(96),
tr.102-107.
Tuyet, P. T. Y., & cong su. (2016). Van hoa.
Trong Khoa Nhan hoc truong Dai hoc Khoa
hoc Xa hoi Nhan van, Nhan hoc dai cuong
(tr.199). Thanh pho Ho Chi Minh: Nxb. Dai
hoc Quoc gia thanh pho Ho Chi Minh.
Ut, D. (2020). Cac bai phong van cua Danh Ut
tai tinh Kien Giang, Tra Vinh, thanh pho Can
Tho [Bang ghi am].
Volume 10, Issue 4
113
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CỦA TU SĨ
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER HIỆN NAY
(Nghiên cứu tại tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh và thành phố Cần Thơ)
Danh Út
Nghiên cứu sinh, Đại học Trà Vinh
Email: [email protected]
Ngày nhận bài:
14/10/2021
Ngày phản biện: 06/11/2021
Ngày tác giả sửa: 18/11/2021
Ngày duyệt đăng: 25/11/2021
Ngày phát hành: 30/11/2021
DOI:
iến đổi văn hóa là một quá trình, qua đó, làm thay đổi những khuôn mẫu, những hoạt động của
cộng đồng nhằm thích ứng với đời sống hiện tại. Khi các điều kiện về vật chất ngày càng phong
phú và đa dạng, khoa học - kỹ thuật ngày càng hiện đại thì sự biến đổi văn hóa nói chung là tất yếu. Bài
viết tập trung nghiên cứu về biến đổi văn hóa vật chất của Tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer trên một số
phương diện như ẩm thực, trang phục, đi lại và cư trú.
B
Từ khóa: Biến đổi văn hóa; Phật giáo Nam tông Khmer; Tu sĩ; Văn hóa vật chất; Tây Nam Bộ.
114
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
Bạn đang xem tài liệu "Xu hướng biến đổi văn hóa của tu sĩ Phật giáo Nam Tông Khmer hiện nay (nghiên cứu tại tỉnh Kiên Giang, Trà Binh và thành phố Cần Thơ)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
xu_huong_bien_doi_van_hoa_cua_tu_si_phat_giao_nam_tong_khmer.pdf

