Tư tưởng khoan dung trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới đất nước

1
CHUYÊN MỤC  
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC  
TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG  
TRONG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH  
VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC  
ĐINH NGỌC THẠCH*  
LÊ THỊ MINH THY**  
Khoan dung là một trong những yếu tố phổ biến trong hệ giá trị đạo đức, chính  
trị của dân tộc Việt Nam, có cội nguồn sâu xa từ lịch sử hàng ngàn năm dựng  
nước và giữ nước. Triết lý ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành sợi  
chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng nhân văn của Người.  
Thấm nhuần tư tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp  
đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước tiếp tục thực hiện chủ trương và chính  
sách “an dân”, đại đoàn kết dân tộc, dung hòa các mặt đối lập vì mục tiêu lớn,  
đồng thời tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, chủ động và tích cực hội nhập  
quốc tế, thêm bạn bớt thù, tiếp thu tinh hoa nhân loại vì sự phát triển bền vững  
của đất nước. Văn hóa khoan dung trở thành một trong những kích thích tố,  
động lực của sự nghiệp đổi mới.  
Từ khóa: văn hóa chính trị, khoan dung, Hồ Chí Minh, đổi mới, hội nhập quốc tế  
Nhận bài ngày: 15/8/2021; đưa vào biên tập: 17/8/2021; phản biện: 27/8/2021;  
duyệt đăng: 9/9/2021  
1. “KHOAN DUNG” TỪ CÁCH TIẾP cộng đồng chính trị - xã hội nhất định,  
CẬN CỦA VĂN HÓA CHÍNH TRỊ  
gắn liền với những quan niệm về lĩnh  
vực chính trị, các quy luật và nguyên  
tắc vận hành của nó nhằm hoàn thiện  
con người. Các giá trị chính trị truyền  
thống, các chuẩn mực, định hướng và  
lý tưởng, các học thuyết và chính kiến,  
mối quan hệ liên kết giữa các tổ chức  
và lực lượng chính trị… là những  
Văn hóa chính trị là tổng thể những  
giá trị của cộng đồng dân tộc hay  
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
** Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại.  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG…  
2
thành tố của văn hóa chính trị, tạo nên Chí Minh, 2000, tập 3: 431). Một số  
toàn bộ không gian chính trị rộng lớn, nhà nghiên cứu xem đây là một định  
nơi con người thể hiện mình như chủ  
thể lịch sử, có khả năng nhận thức và  
xử lý các vấn đề chính trị phù hợp với  
quy luật khách quan.  
nghĩa, song chúng tôi cho rằng,  
những dòng ấy, như Hồ Chí Minh đã  
viết, chỉ nhằm lột tả “ý nghĩa của văn  
hóa” mà thôi. Ý nghĩa ấy mang tính  
định hướng chính trị rất rõ ràng, đúng  
hơn chính trị đã thẩm thấu trong cách  
hiểu của Người về văn hóa, bởi lẽ  
ngay sau đoạn trên Hồ Chí Minh nêu  
ra 5 điểm lớn xây dựng văn hóa dân  
tộc, mà 4 ý cơ bản đều hướng đến  
mục tiêu chính trị: tinh thần độc lập tự  
cường, luân lý biết hy sinh, làm lợi  
cho quần chúng, vì phúc lợi của nhân  
dân, nền chính trị dân quyền (Hồ Chí  
Minh, 2000, tập 3: 431).  
Văn hóa chính trị là một phần của văn  
hóa chung, bao gồm kinh nghiệm lịch  
sử, ký ức về các sự biến chính trị - xã  
hội, các giá trị chính trị, định hướng và  
thói quen tác động trực tiếp đến hành  
vi chính trị. Văn hóa chính trị còn đóng  
vai trò hòa giải giữa các tầng lớp xã  
hội và các đảng phái chính trị trong  
phạm vi một quốc gia, một cộng đồng  
dân tộc, đồng thời làm cầu nối chính  
trị trong quan hệ giữa các quốc gia.  
Chức năng hòa giải này thể hiện đặc  
biệt rõ nét trong thời đại hiện nay.  
Chức năng hòa giải của văn hóa,  
trong đó có văn hóa chính trị, đã đưa  
các dân tộc đến gần nhau hơn trong  
việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.  
Như vậy, khi bàn về văn hóa chính trị,  
chúng ta có thể phân tích các “lớp” giá  
trị trong đời sống chính trị, đó là, thứ  
nhất, các yếu tố mang tính biểu tượng  
dân tộc, quốc gia, gắn với chiều dài  
phát triển lịch sử, từ truyền thống đến  
hiện đại; thứ hai, các chuẩn mực và lý  
tưởng chính trị; thứ ba, lựa chọn và  
định hướng giá trị vì sự phát triển; thứ  
tư, trong văn hóa chính trị luôn hàm  
chứa các quan hệ đa diện, đa chiều,  
các khía cạnh giai cấp, dân tộc lẫn  
nhân loại, có sự tác động qua lại và  
sự chế ước lẫn nhau. Với ý nghĩa thứ  
tư này, chúng ta hướng đến phạm trù  
“khoan dung”, với nội hàm khá rộng,  
bao chứa nhiều lĩnh vực của đời sống  
xã hội, từ kinh tế đến chính trị, đạo  
đức, văn hóa, tôn giáo… Ở bình diện  
chính trị, “khoan dung” thể hiện như  
Năm 1943, khi đang thực hiện cuốn  
Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh đã bàn  
về văn hóa, trong đó có đoạn: “Vì lẽ  
sinh tồn cũng như mục đích của cuộc  
sống, loài người mới sáng tạo và phát  
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,  
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,  
nghệ thuật, những công cụ cho sinh  
hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các  
phương thức sử dụng. Toàn bộ những  
sáng tạo và phát minh đó tức là văn  
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi  
phương thức sinh hoạt cùng với biểu  
hiện của nó mà loài người đã sản sinh  
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời phần sống động của thang giá trị trong  
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ mối quan hệ giữa các nhóm, cộng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
3
đồng, dân tộc, các quốc gia với chế tôi, vượt qua cả thuật ngữ “tolerance”  
đã dẫn ở trên, bởi lẽ nó còn mang cả  
ý nghĩa sâu xa của sự cố kết dân tộc  
qua hình ảnh “đồng bào”, của sự kiên  
nhẫn, khát vọng hòa hợp, và cả sự ăn  
năn, tha thứ và bảo bọc. Không có thứ  
văn hóa này, thật khó mà đứng vững  
trước sự xâm thực của các yếu tố  
ngoại lai. Triết lý tự chủ tự cường theo  
tinh thần “Nam quốc sơn hà nam đế  
cư” gắn kết với quan điểm sống cởi  
mở qua hiện tượng “tam giáo đồng  
nguyên” (tam giáo hòa hợp) thời Lý -  
Trần. Sức mạnh của khoan dung cũng  
là một trong những biểu hiện của sức  
mạnh đoàn kết, thống nhất quốc gia,  
tạo môi trường an lành, yên vui cho  
mọi thành viên xã hội. Những người  
mở đường cho nền độc lập dân tộc  
luôn trung thành với nguyên tắc “chính  
sự thân dân, cốt khoan dung và giản  
dị”, để dân an cư lạc nghiệp, giữ yên  
bờ cõi. Ngược lại, xao nhãng quan  
điểm ấy đất nước sẽ rơi vào tình trạng  
chia cắt, bất hòa, dẫn đến những xung  
đột huynh đệ tương tàn.  
độ chính trị khác nhau.  
Thuật ngữ “khoan dung” xuất hiện  
tương đối sớm trong lịch sử tư tưởng  
nhân loại. Ở các nước phương Tây  
thuật ngữ khoan dung (tiếng Latinh:  
tolerantia, tiếng Anh: tolerance, tiếng  
Pháp: tolérance, tiếng Đức: Toleránz…)  
được hiểu như sự chấp nhận, nhẫn  
nại, dung nạp, và cả sự tha thứ. Ở  
các nước phương Đông yếu tố khoan  
dung hiện diện từ rất sớm trong các  
triết thuyết như tư tưởng giải thoát  
tâm linh tại Ấn Độ cổ đại, “nhân”,  
“kiêm ái”, “vô vi” tại Trung Quốc cổ  
đại. Trong Hán - Việt từ điển của Đào  
Duy Anh (1992: 909), “khoan dung” và  
“bao dung” được sử dụng theo cùng  
một nghĩa, trong đó “khoan” là rộng  
rãi, “dung” là tiếp nhận, bao chứa.  
Trong Đại từ điển tiếng Việt, “khoan  
dung” cũng được giải thích không xa  
với những ý nghĩa đã nêu trên.  
Trong không gian văn hóa Việt, yếu tố  
chân thực lịch sử đôi khi đan xen với  
yếu tố huyền sử, nhất là thời kỳ lập  
quốc. Càng về sau, yếu tố huyền sử  
càng giảm bớt, một phần do trình độ  
nhận thức, phần khác do điều kiện  
kinh tế - xã hội chi phối. Hầu hết  
những huyền thoại do các thế hệ tạo  
dựng, từ huyền thoại về Lạc Long  
Quân và Âu Cơ, Thánh Gióng đến câu  
chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, Nỏ Thần  
và bi kịch Mỵ Châu - Trọng Thủy, đều  
chứa đựng nét văn hóa mà ông cha ta  
kiên trì trong suốt chiều dài lịch sử –  
văn hóa khoan dung. Ý nghĩa “khoan  
Ở khía cạnh ứng xử văn hóa với các  
nước trong khu vực, nhìn chung văn  
hóa khoan dung được ông cha ta đặc  
biệt chú trọng, xem nó như phần quan  
trọng của chiến lược, hay kế sách giữ  
yên bờ cõi, thể hiện sự khát khao hòa  
bình, sống thân thiện với các dân tộc  
khác. Chẳng hạn, dù đã hình thành  
một triều đại phong kiến với thế đứng  
hiên ngang, từng khiến kẻ thù khiếp  
sợ, vua Lê Đại Hành vẫn chủ trương  
đường lối đối ngoại mềm dẻo, thậm  
dung” của văn hóa Việt, theo chúng chí tạm hòa hoãn đối với phương Bắc,  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG…  
4
theo kiểu “nép trông Hoàng đế bệ hạ nhất là dưới triều Lê Thánh Tông. Nhà  
Lê, qua hình ảnh vua Lê Thánh Tông,  
dù còn đề cao ý thức Tống Nho, vẫn  
cố gắng thoát ra khỏi tinh thần Trung  
Hoa để đi tới hợp nhất các giá trị căn  
bản đã được bản địa hóa. Lê Thánh  
Tông xây dựng Bộ luật Hồng Đức xuất  
phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam, từ  
sự nhận biết bản chất con người Việt  
Nam, chứ không sao chép máy móc  
những mô hình có sẵn (Đinh Ngọc  
Thạch, Trần Quang Thái, 2016: 353-  
355).  
ban cho sắc lệnh vào hạng phiên  
bang để tỏ ơn rộng lượng của Thánh  
triều” (Nguyễn Đăng Thục, 1998: 33).  
Nhà Trần ba lần đại thắng quân  
Nguyên, nhưng sau mỗi lần đuổi quân  
xâm lược, vua nước Đại Việt vẫn phải  
sai sứ sang trần trình tạ lỗi. Tên gọi  
Đại Việt, bắt đầu từ năm 1054, cho  
thấy triết lý tự chủ tự cường của ông  
cha ta. Triết lý đó thôi thúc các thế hệ  
người Việt sẵn sàng hy sinh vì đất  
nước. Chẳng phải ngẫu nhiên mà từ  
thời Lý đến thời Trần triều đình thường  
Quá trình tạo dựng bản sắc dân tộc,  
xuyên tiến hành lễ minh thệ trước kết hợp với tiếp thu, tiếp biến các yếu  
tố bên ngoài để làm phong phú giá trị  
hiện có đã trở thành tính quy luật  
không riêng gì đối với Việt Nam, đúng  
như cố GS. Trần Quốc Vượng (2006:  
27) từng nhận định: “Không một nền  
văn hóa nào dù lớn dù nhỏ mà không  
có sự vay mượn một số nhân tố của  
các nền văn hóa khác”.  
Trống Đồng như biểu tượng thiêng  
liêng của đất nước ngàn năm văn hiến.  
Càng yêu nước, người Việt càng mong  
muốn có môi trường yên vui, thanh  
bình, đồng thuận trên dưới và giữ mối  
quan hệ giao hảo với láng giềng, tranh  
thủ dù nhỏ nhất cơ hội cho hòa bình,  
ổn định, chấn hưng dân tộc.  
Trong thời đại ngày nay các quốc gia,  
các dân tộc đều mong muốn hướng  
đến tinh thần khoan dung, trong đó có  
khoan dung văn hóa như một xu thế  
tất yếu trên con đường hội nhập, cùng  
phát triển. Khái niệm “khoan dung” từ  
những năm 90 của thế kỷ XX đến nay  
được bàn đến không kém gì những  
vấn đề phổ biến như dân chủ, dân  
quyền, tự do. Chẳng phải ngẫu nhiên  
mà Liên Hợp quốc đã từng khởi  
xướng Năm quốc tế về khoan dung.  
Tuyên ngôn của UNESCO ngày  
16/11/1995 về Các nguyên tắc khoan  
dung bao gồm 6 điều, trong đó 4 điều  
đầu tiên đề cập khái niệm khoan dung,  
Hiện tượng tam giáo hòa hợp Nho -  
Phật - Lão thời Lý - Trần là phần sống  
động, nhưng không phải là duy nhất  
trong biểu hiện văn hóa khoan dung  
của người Việt. Khí phách dân tộc và  
đạo lý khoan dung truyền thống được  
tiếp tục kế thừa, phát huy ở các thời  
đại sau, mặc dù vào đầu thời Lê đã  
từng diễn ra khúc quanh đầy bi kịch  
trong văn hóa. Dưới ảnh hưởng của  
Nho gia, nhà Lê tỏ thái độ xem  
thường văn hóa dân gian, cấm trình  
diễn chèo, múa rối trong cung đình,  
xúc phạm nhân cách những nghệ sĩ  
thuộc dòng văn hóa này. May thay, sự  
việc đã được điều chỉnh phần nào,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
5
cấp độ nhà nước của khoan dung, niềm tin; thực hiện “văn hóa hòa bình”  
thay cho “văn hóa chiến tranh” trên  
bình diện toàn cầu; thừa nhận các  
quyền của con người, trước hết là  
quyền sống, quyền tự do, chống mọi  
sự áp đặt hệ giá trị của mình lên  
người khác; hình thành cơ chế  
khuyến khích cá nhân sáng tạo, bác  
bỏ chủ nghĩa giáo điều và chuyên chế  
trong hoạt động của con người; sự  
cộng hưởng và chấp nhận nhau để  
các dân tộc cùng chung sống và  
hướng đến tương lai tốt đẹp (Tạp chí  
Người đưa tin, 1996: 34).  
khía cạnh xã hội của khoan dung và  
nền giáo dục khoan dung. Tại điểm  
1.1 (Điều 1: Khái niệm khoan dung) có  
đoạn: “Khoan dung nghĩa là sự tôn  
trọng, sự tiếp nhận và sự hiểu biết  
đúng đắn tính đa dạng phong phú của  
các nền văn hóa trên thế giới, các  
hình thức tự thể hiện và các phương  
thức biểu hiện cá thể tính con người.  
Nó được thúc đẩy bởi tri thức, sự cởi  
mở giao tiếp và tự do tư tưởng, lương  
tâm và chính kiến. Khoan dung – đó là  
sự hài hòa trong tính đa dạng. Đó  
không chỉ là nghĩa vụ đạo đức, mà 2. VĂN HÓA KHOAN DUNG HỒ CHÍ  
MINH - GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI  
còn là nhu cầu chính trị và pháp lý.  
Khoan dung – đó là phẩm hạnh, cái  
đảm bảo cho hòa bình và tạo điều  
Trong cuốn Bàn về khoan dung trong  
văn hóa, với tiêu đề “Tư tưởng và đạo  
kiện thay thế văn hóa chiến tranh đức khoan dung Việt Nam - Hồ Chí  
bằng văn hóa hòa bình”(1). Tại điểm  
Minh”, các tác giả cho rằng, Hồ Chí  
Minh đã “thực hành và nêu gương  
sáng về tư tưởng, đạo đức, hành vi  
ứng xử khoan dung”, “đã kiến lập  
được mối giao hòa khăng khít giữa  
lương tâm con người, lương tri dân  
tộc với lương tri thời đại” (Huỳnh Khái  
Vinh, Nguyễn Thanh Tuấn, 1997: 292,  
296-297).  
2.1 (Điều 2: Cấp độ nhà nước của  
khoan dung) Tuyên ngôn nêu rõ: “Ở  
cấp độ nhà nước khoan dung đòi hỏi  
nguyên tắc bình đẳng và vô tư, sự  
tuân thủ trật tự luật pháp và các chuẩn  
mực pháp lý, hành chính. Khoan dung  
cũng đòi hỏi dành cho mỗi cá nhân  
những khả năng phát triển về mặt kinh  
tế và xã hội mà không có sự phân biệt  
đối xử nào. Sự tha hóa và biệt lập hóa  
có thể trở thành nguyên nhân của tình  
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và  
phát huy các giá trị trường tồn của  
dân tộc, trong đó có khoan dung, xem  
trạng đàn áp, thù địch và chủ nghĩa nó như hành trang đi theo Người suốt  
cuồng tín”(2).  
cuộc đời vì nước vì dân. Trong tư  
tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ  
Chí Minh nổi lên những điểm nhấn cơ  
bản.  
Một cách cô đọng, có thể rút ra từ văn  
kiện cơ bản của UNESCO 5 luận điểm  
cơ bản của khoan dung, đó là: sự tôn  
trọng và đánh giá tính đa dạng và Thứ nhất, văn hóa khoan dung là  
phong phú của các nền văn hóa, sự phần sống động trong hệ giá trị văn  
cởi mở, giao tiếp, tự do tư tưởng và hóa chính trị của Hồ Chí Minh, trở  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG…  
6
thành tấm gương sáng cho các thế hệ cho phép, để “giữ hòa khí” mà không  
người Việt noi theo. Chất khoan dung  
ấy của Hồ Chí Minh thể hiện ở các  
cấp độ, các phương diện và hoàn  
cảnh, các lĩnh vực khác nhau, góp  
phần làm nên phong cách Hồ Chí  
Minh. Trong tư tưởng khoan dung Hồ  
Chí Minh đã kết tinh truyền thống dân  
tộc, nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin  
và tinh thần của thời đại.  
làm tổn hại đến phẩm giá con người.  
Chủ tịch Hồ Chí Minh, với phong cách  
của một lãnh tụ - hiền triết, đã đưa cái  
hồn ấy vào quá trình lãnh đạo cách  
mạng Việt Nam, vượt qua những thử  
thách khắc nghiệt nhất, trong tình thế  
ngàn cân treo sợi tóc.  
Thứ hai, khoan dung gắn với đại đoàn  
kết, thống nhất các mặt đối lập vì mục  
tiêu chung của dân tộc. Là một trong  
những nội dung cơ bản của chủ nghĩa  
nhân văn, tư tưởng khoan dung Hồ  
Chí Minh thể hiện trước hết ở tinh  
thần đại đoàn kết toàn dân, sự quan  
tâm đến lợi ích của nhân dân, “khoan  
thư sức dân” vì môi trường ổn định và  
đồng thuận, vì sự nghiệp cách mạng  
lâu dài. Khi câu hỏi “tôi nói, đồng bào  
có nghe rõ không?” vang lên giữa  
Quảng trường Ba Đình lịch sử vào  
ngày 2/9/1945, thì triệu người Việt đều  
Một dân tộc thường xuyên phải đối  
phó với giặc ngoại xâm để giữ vững  
độc lập dân tộc và tạo thế đứng trong  
quan hệ với các quốc gia trên thế giới,  
thì cùng với lòng yêu nước, ý chí tự  
lực tự cường, trọng nghĩa tình, cần cù,  
dũng cảm, khoan dung là một trong  
những yếu tố mang tính bản sắc, có  
độ dài lịch sử cả ngàn năm. Văn hóa  
khoan dung là sự lựa chọn hợp lý  
trong bối cảnh địa chính trị đặc thù  
của đất nước. Với những trải nghiệm  
bi hùng trong xuyên suốt lịch sử dựng cảm nhận sự dung dị đầy thiêng liêng  
của một lối ứng xử văn hóa đậm chất  
Hồ Chí Minh.  
nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam  
đã chọn cho mình thứ triết lý phù hợp,  
thứ biện chứng cái phổ biến - cái đặc  
thù hết sức biến hóa, linh hoạt. Một  
mặt, đó là niềm kiêu hãnh của một  
dân tộc không bao giờ xa rời lý tưởng  
độc lập, tự chủ, tự cường. Mặt khác,  
chúng ta luôn kiên trì đạo lý khoan  
dung, với hàm nghĩa “chấp nhận và  
chia sẻ, đối thoại và cùng tồn tại”  
trong quan hệ với bên ngoài. Đối với  
cách thức ứng xử trong nội bộ người  
Việt Nam, tinh thần đó trở nên phổ  
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm cách  
tập hợp các lực lượng yêu nước, lấy  
tấm gương xưa về sự đoàn kết để  
làm nền tảng cho những quyết sách  
chính trị lâu dài, từ truyền thống con  
Rồng cháu Tiên đến sự kỳ vọng vào  
năng lực chiến đấu của đảng cầm  
quyền, biết tự chỉnh đốn để trưởng  
thành, như trong Di chúc đã viết:  
“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ  
quý báu của Đảng và của dân ta. Các  
biến, với đầy ắp sự đồng cảm, rộng đồng chí từ Trung ương đến các chi  
bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất  
trí của Đảng như giữ gìn con ngươi  
lượng, nghĩa hiệp, tha thứ, kể cả sự  
“kiên nhẫn, chịu đựng” trong giới hạn  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
7
của mắt mình” (Hồ Chí Minh, 2000, sách của nhân dân An Nam Nguyễn  
tập 12: 497).  
Ái Quốc viết: “… nhân dân An Nam  
biết rằng nhân dân Pháp đại biểu cho  
tự do và công lý, và không bao giờ từ  
bỏ lý tưởng cao cả của mình là tình  
bác ái toàn thế giới” (Hồ Chí Minh,  
2000, tập 1: 436).  
Trong các bức thư gửi đồng bào theo  
đạo nhân các ngày lễ tôn giáo lớn,  
trong đó có đồng bào theo Phật giáo,  
Công giáo, đạo Cao Đài, Chủ tịch Hồ  
Chí Minh luôn nhấn mạnh yếu tố đoàn  
kết và hòa giải, tình thương và khoan  
dung. Chẳng hạn, Người vận dụng  
tinh thần khoan dung của Chúa Jesus  
để kêu gọi đồng bào Công giáo cùng  
với đồng bào lương đấu tranh giữ gìn  
hòa bình như bài hát “Sáng danh  
Thiên Chúa trên các tầng trời, hòa  
bình cho mọi người lành dưới thế”, và  
phối hợp “để sửa chữa những sai  
lầm”, như thế là đã làm theo lời phán  
của Chúa: “Hỡi anh em, khi có ai mắc  
sai lầm, anh em hãy dịu dàng giúp  
anh em ấy sửa chữa” (dẫn theo Hồ  
Chí Minh, 2000, tập 8: 285-286).  
Đối với phong trào cộng sản và công  
nhân quốc tế, Hồ Chí Minh nêu gương  
sáng về tinh thần thu hẹp cách biệt,  
hướng đến mục tiêu thống nhất, như  
lời phát biểu của Người trong Diễn  
văn khai mạc Đại hội Đảng lần thứ III  
(5/9/1960): “Quan san muôn dặm một  
nhà; bốn phương vô sản đều là anh  
em” (Hồ Chí Minh, 2000, tập 10: 495).  
Người tỏ ra đau lòng trước tình trạng  
bất hòa trong phong trào cộng sản và  
công nhân, và bày tỏ sứ mạng hòa  
giải của Đảng ta, lấy sự công tâm, tha  
thiết vì lý tưởng làm điều kiện cho sự  
liên kết sức mạnh của những người  
cộng sản trên toàn thế giới, qua đó  
hướng đến mục tiêu lớn, tạm đặt sang  
bên những bất đồng. Người viết trong  
Di chúc: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra  
sức hoạt động, góp phần đắc lực vào  
việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa  
các đảng anh em trên nền tảng chủ  
nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc  
tế vô sản, có lý, có tình” (Hồ Chí Minh,  
2011, tập 15: 623).  
Thương dân, Hồ Chí Minh chủ trương  
“khoan thư sức dân”, hiểu được tâm lý  
của dân để có những quyết sách hợp  
lòng dân. Cho đến những ngày tháng  
cuối cùng Người vẫn nghĩ đến lợi ích  
của dân. Người mong muốn, sau khi  
kết thúc chiến tranh, “miễn thuế nông  
nghiệp 1 năm … để cho đồng bào hỉ  
hả, mát dạ, thêm niềm phấn khởi…”  
(Hồ Chí Minh, 2000, tập 12: 504).  
Thứ ba, văn hóa khoan dung Hồ Chí  
Minh là văn hóa của hòa bình, của  
tinh thần đoàn kết, hữu nghị trong  
quan hệ với các dân tộc, các quốc gia  
trên thế giới. Sự đánh thức lương tri  
nhân loại được thể hiện ngay từ khi  
Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) đang  
Thứ tư, tính mở trong việc tiếp thu các  
giá trị văn hóa của nhân loại. Hồ Chí  
Minh sử dụng ý tưởng và văn phong  
Nho gia để chuyển tải nhiều nội dung  
của chủ nghĩa Mác, quan điểm,  
đường lối của Đảng, đạo đức cách  
còn bôn ba hải ngoại. Trong bài Yêu mạng. Người sử dụng văn phong Nho  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG…  
8
gia, nhất là tư tưởng của Khổng Tử để giá trị ấy thể hiện ở tư tưởng khoan  
nói đến hàng loạt vấn đề về đạo đức thư sức dân và tin dân, đại đoàn kết,  
cách mạng, sức mạnh của khoan  
dung trong ứng xử, tinh thần vị tha,  
không phân biệt đối xử, tinh thần quốc  
tế vô sản, và nhiều nội dung khác.  
Người đánh giá các học thuyết ngoài  
mácxít không chỉ từ lập trường của  
một nhà tư tưởng mácxít, mà còn từ  
cách tiếp cận văn hóa chính trị. Chẳng  
hạn, Bertrand Russell và Jean Paul  
Sartre là những đại diện tiêu biểu của  
triết học phương Tây ngoài mácxít thế  
kỷ XX, song họ lại là những nhà hoạt  
động xã hội kiệt xuất, những biểu  
tượng của “văn hóa hòa bình” (cách  
diễn đạt của Liên Hợp quốc khi định  
nghĩa về khoan dung), những người  
đồng sáng lập Tòa án Quốc tế, xét xử  
tội ác chiến tranh xâm lược, kêu gọi  
vãn hồi hòa bình ở Việt Nam. Chính vì  
thế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân  
trọng viết thư cảm ơn họ, tri ân những  
đóng góp của họ cho sự nghiệp chính  
nghĩa của nhân dân Việt Nam (Hồ Chí  
Minh, 2011, tập 15: 200, 338-339).  
thêm bạn bớt thù, dung hòa các mặt  
đối lập vì mục tiêu lớn của dân tộc,  
rộng lượng và tha thứ, hòa giải và  
kiên trì trong giáo hóa cá nhân, mở  
rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên  
tinh thần cùng tồn tại hòa bình, tôn  
trọng quyền tự quyết của mỗi dân tộc  
và cộng hưởng lợi ích.  
Yếu tố động lực trước tiên, xuất phát  
từ việc nhận thức và vận dụng tư  
tưởng khoan dung của Chủ tịch Hồ  
Chí Minh, trước hết là “khoan thư sức  
dân”, an dân và “tin dân, để dân tin”,  
và đồng thời biết “rộng lượng và tha  
thứ”, thu hút các nguồn lực cho sự  
phát triển, giải quyết các mâu thuẫn,  
xung đột trong xã hội. Chỗ dựa vững  
chắc của cuộc đấu tranh chống tham  
nhũng, vì sự lành mạnh hóa môi  
trường xã hội hiện nay, là các tổ chức  
đoàn thể xã hội của nhân dân, một  
thành tố của hệ thống chính trị, là lòng  
dân và sức dân.  
Vận dụng tư tưởng khoan dung của  
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan điểm  
phát triển trước hết là xóa bỏ những  
rào cản không đáng có, đề cao sự  
bình đẳng, không phân biệt đối xử  
trong sáng tạo và hưởng thụ các giá  
trị. Người dân chỉ tin vào Đảng, vào  
Nhà nước một khi được trao cho cơ  
hội ngang nhau để phát triển, loại bỏ  
những vùng cấm, nhưng điểm nghẽn  
bởi “chủ nghĩa lý lịch” và “thành phần  
giai cấp”, hoặc phân biệt đối xử, nạn  
cửa quyền, tham nhũng và “lợi ích  
nhóm”.  
Đó là những minh chứng của phong  
cách tư duy trong văn hóa khoan dung,  
phần sống động của văn hóa chính trị  
Hồ Chí Minh.  
3. VĂN HÓA KHOAN DUNG CỦA  
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – YẾU TỐ  
ĐỘNG LỰC CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI  
MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN  
NAY  
Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh tiếp  
tục đóng vai trò là nguồn cổ vũ lớn lao,  
là một trong những yếu tố động lực  
đối với quá trình đổi mới đất nước. Hệ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
9
Vận dụng tư tưởng khoan dung Hồ Với tinh thần chủ động và tích cực hội  
Chí Minh trong chính sách ngoại giao,  
trong quá trình hội nhập là xóa bỏ  
những định kiến lịch sử, lấy lợi ích  
dân tộc làm mục tiêu cơ bản trong  
quan hệ song phương, đa phương,  
nghĩa là lựa chọn và định hướng phát  
triển một cách biện chứng. Ngay từ  
khi đất nước vừa giành được độc lập,  
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện  
chính sách ngoại giao mềm mỏng, linh  
hoạt, để tranh thủ cơ hội cho sự phát  
triển hòa bình. Cách ứng xử thấm  
đượm tinh thần văn hóa khoan dung  
với những cường quốc, từng một thời  
gieo rắc đau thương cho dân tộc ta,  
như Nhật Bản, Pháp cho thấy cái tâm  
và cái tầm của một nhà văn hóa lớn.  
Ngay cả với Mỹ, giữa khói lửa chiến  
tranh, Người cũng tìm cách tăng  
cường đối thoại hòa bình, và xem đó  
là sự đáp ứng lợi ích của hai quốc gia,  
hai dân tộc.  
nhập, chúng ta đã đưa ra nhiều sáng  
kiến chiến lược, được quốc tế đánh  
giá cao. Những sáng kiến chính trị đó  
cũng thể hiện trách nhiệm của chúng  
ta đối với quá trình hòa bình, hợp tác,  
cùng phát triển giữa các dân tộc.  
Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn  
mạnh việc tiếp thu, tiếp biến các giá trị  
bên ngoài, đồng thời quảng bá hình  
ảnh Việt Nam ra thế giới: “Chủ động,  
tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa,  
xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp  
dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế”,  
“Thực hiện nhất quán đường lối đối  
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu  
nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng  
hóa, đa phương hóa đường lối đối  
ngoại.” (Đảng Cộng sản Việt Nam,  
2021: 147, 161).  
Đối với dân tộc ta văn hóa khoan  
dung không tách rời chủ nghĩa yêu  
nước. Càng yêu nước, càng hy sinh vì  
nền độc lập, chúng ta càng thiết tha  
với hòa bình, càng yêu thương con  
người, càng ý thức sâu sắc về sự  
đoàn kết, tương thân tương ái, chia sẻ,  
nghĩa tình, và càng không nhượng bộ  
với kẻ thù, không bao giờ chấp nhận  
những thế lực gây bất ổn định, làm  
tổn hại đến vị thế của đất nước. Vì lẽ  
đó suốt 52 năm qua, thực hiện Di  
chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng  
ta phấn đấu không ngừng để biến  
mong muốn cuối cùng của Người  
Ngày nay, từng bước một, Đảng Cộng  
sản Việt Nam đã hiện thực hóa văn  
hóa khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí  
Minh với phương châm đa phương  
hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ,  
nắm vững và thực hiện biện chứng cái  
phổ biến và cái đặc thù, đồng thời phê  
phán cả “tha hóa” lẫn “cố chấp” bản  
sắc, vọng ngoại lẫn bảo thủ chính trị.  
Chúng ta chủ trương huy động mọi  
nguồn lực, gạt bỏ quá khứ, hướng  
đến tương lai. Những người Việt một  
thời lầm lỗi, chống dân tộc, nay đã trở thành hiện thực, đồng thời ra sức bảo  
vệ thành quả đã đạt được, đấu tranh  
chống các quan điểm sai trái. Khoan  
dung nhưng không khoan nhượng,  
về phục vụ đất nước, với niềm tin về  
chính sách đại đoàn kết, hòa giải và  
hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước.  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG…  
10  
hòa hợp và đối thoại nhưng không là lệch lạc. Hướng dẫn dư luận, hình  
chấp nhận mọi âm mưu lợi dụng  
đường lối đổi mới để chia rẽ khối đại  
đoàn kết dân tộc, đi ngược lợi ích dân  
tộc – đó là nguyên tắc bất di bất dịch  
trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ  
đất nước. Tuy nhiên, để sự nghiệp đổi  
mới tiếp tục được tiếp thêm nguồn  
sinh lực mới, chúng ta cần vận dụng  
sâu sắc hơn nữa tư tưởng Hồ Chí  
Minh về đối ngoại, loại dần những  
định kiến, những rào cản ý thức hệ, tự  
tin tham gia vào đời sống chính trị  
toàn cầu theo tinh thần “nhẫn nại” và  
“cùng tồn tại” như ý nghĩa của khái  
niệm khoan dung (tolerance) mà Liên  
Hợp quốc đã nêu ra vào năm Quốc tế  
về Khoan dung cách đây hơn 26 năm.  
thành cơ chế phản biện xã hội một  
cách tích cực, chú trọng yếu tố hòa  
giải văn hóa và khuyến khích cái độc  
đáo, sáng tạo của cá nhân là điều kiện  
cần thiết cho quá trình vừa bảo vệ các  
giá trị truyền thống, vừa tiếp nhận tích  
cực những nhân tố mới làm giàu cho  
truyền thống, đồng thời giới thiệu diện  
mạo văn hóa dân tộc ra thế giới.  
Trong điều kiện hội nhập, tính thích  
ứng cao và khả năng xử lý tình huống  
cần được đặt ra đối với công tác quản  
lý văn hóa, để những biểu hiện “xé  
rào”, “phá cách” được phân tích và  
đánh giá khách quan và nhân văn.  
Để sự nghiệp đổi mới tiếp tục mở ra  
khả năng cho sự phát triển và ổn định  
cần chú trọng hơn nữa nhân tố con  
người. Chúng ta đã có hẳn “chiến  
lược con người”, thực hiện nhiều  
chính sách an sinh xã hội phục vụ  
cộng đồng, được các tầng lớp nhân  
dân ủng hộ, chia sẻ. Chính sách quan  
tâm đến người nghèo trong suốt mấy  
thập kỷ qua đã đơm hoa kết trái, được  
cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy  
nhiên tính tích cực chính trị của con  
người Việt Nam, vì những nguyên  
nhân khác nhau, đang bị đặt thành  
vấn đề. Thực tế cho thấy, chủ nghĩa  
yêu nước, tinh thần độc lập, ý chí tự  
cường của nhân dân ta đã trở thành  
máu thịt, thành lẽ sống từ ngàn xưa  
đến hôm nay. Song, làm sao để  
những giá trị thiêng liêng ấy tiếp tục  
góp lửa cho sự nghiệp đổi mới, lại  
cần đến hàng loạt chính sách đòn  
bẩy, nhằm nâng cao hơn nữa khả  
Quá trình hội nhập, toàn cầu hóa tác  
động đa chiều lên các lĩnh vực của  
đời sống xã hội, làm thay đổi nhận  
thức của con người, trong đó có sự  
thay đổi quan điểm về giá trị. Thang  
giá trị không phải là cái thước đo bất  
biến, mà cũng cần được thẩm định,  
làm mới. Chúng tôi cho rằng trong  
điều kiện hội nhập, toàn cầu hóa,  
“khoan dung” cần được chú trọng  
trong việc đánh giá các hiện tượng  
phong phú, đa dạng của cuộc sống,  
bởi lẽ “sự va chạm các làn sóng” là  
một hiện tượng phổ biến, khó tránh  
khỏi. Ngay cả các quan điểm chưa  
thực sự phù hợp với chuẩn mực xã  
hội truyền thống cũng cần được xem  
xét trên quan điểm toàn diện và quan  
điểm lịch sử - cụ thể, tránh thái độ  
chụp mũ, áp đặt, hình sự hóa một  
cách máy móc những biểu hiện bị coi  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
11  
năng sáng tạo của con người, sự tự Việt trước thách thức của cơn sóng  
do và đột phá, hiến kế cho Đảng, Nhà triều toàn cầu hóa và quá trình hội  
nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ nhập.  
quốc, tích cực và chủ động hội nhập  
4. THAY LỜI KẾT  
quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa,  
Trong thời đại ngày nay, văn hóa hàm  
hiện đại hóa vì mục tiêu lớn của dân  
nghĩa “nhu cầu mở mang tầm nhận  
tộc. Làm sao để sự chuẩn hóa tư  
thức của mỗi dân tộc vượt qua sự tự  
tưởng không đi đến mâu thuẫn với  
quan tâm của chính mình để đến với  
quyền tự do của công dân, quyền tự  
giới hạn tự do của những dân tộc  
do của công dân không đi đến mâu  
khác” (McLean, Phạm Minh Hạc, 2007:  
thuẫn với các chuẩn mực, giá trị và lý  
329). Cách tiếp cận như thế là minh  
tưởng chung.  
chứng về một thế giới mở, thế giới  
của sự cộng hưởng giá trị trong quan  
hệ giữa các dân tộc. Chủ động và tích  
cực hội nhập, tự tin vươn ra biển lớn  
văn hóa - văn minh nhân loại, tham  
gia có trách nhiệm vào sinh hoạt quốc  
tế, đó là thông điệp của thời đại mới,  
được tiếp lửa bởi truyền thống dân tộc,  
tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nổi  
bật tư tưởng khoan dung như một  
phần không tách rời của văn hóa  
chính trị Hồ Chí Minh.  
Cuối cùng, chúng tôi cho rằng, cần  
tiếp tục vận dụng tư tưởng khoan  
dung Hồ Chí Minh vào quá trình đổi  
mới tư duy, vượt qua lối mòn, khuyến  
khích cái độc đáo, sáng tạo, mạnh  
dạn từ bỏ những gì lỗi thời, không còn  
phù hợp với nhu cầu phát triển đất  
nước trong điều kiện toàn cầu hóa và  
hội nhập quốc tế. C. Mác (Karl Marx)  
từng viết trong Ngày 18 tháng Sương  
mù của Lui Bônapáctơ: “Truyền thống  
của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng Thấm nhuần tư tưởng khoan dung Hồ  
Chí Minh, chúng ta cảm nhận ở đó  
một trong những yếu tố động lực của  
quá trình đổi mới đất nước, mà Đại  
hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục làm  
sâu sắc thêm, với những đột phá mới,  
mở ra triển vọng phát triển nhanh và  
bền vững, hoàn thiện hơn nữa nhà  
nước pháp quyền “của dân, do dân, vì  
dân”, như Hồ Chí Minh từng nhấn  
mạnh từ rất sớm: “Trăm điều phải có  
thần linh pháp quyền” (Hồ Chí Minh,  
2000, tập 1: 438).  
như quả núi lên đầu óc những người  
đang sống” (C. Mác và Ph. Ăngghen,  
2005: 145). Thái độ có văn hóa đối với  
truyền thống đòi hỏi thực hiện sự “lọc  
bỏ” biện chứng các yếu tố truyền  
thống để tiếp cận một cách thành  
công những vấn đề mới của thời đại  
mà không làm mất đi nguồn cội. Cho  
nên sự thích ứng, tính kiên định và  
tính mở (khả năng nhạy bén nắm bắt  
cái mới, không chỉ thích nghi, mà còn  
phát triển sáng tạo) trong suy nghĩ và  
hành động, trong định hướng chiến  
Lẽ đương nhiên, không tồn tại một thứ  
lược và giải pháp là đòi hỏi quan trọng “chất”, hay bản sắc Việt Nam “thuần  
đối với chúng ta trong việc giữ lấy hồn túy”, độc nhất vô nhị, bởi lẽ bản sắc,  
ĐINH NGỌC THẠCH - LÊ THỊ MINH THY – TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG…  
12  
nghĩa là yếu tố được chắt lọc, được ngừng làm cho cái “nguyên chất” luôn  
rút ra qua kinh nghiệm lịch sử để làm luôn xứng đáng là yếu tố nội sinh tích  
nên đặc trưng của một dân tộc hay cực trong suy nghĩ và hành động. Quá  
một địa phương không phải là cái trình tự tạo dựng và quảng bá các giá  
ngưng đọng, khép kín, mà luôn luôn trị Việt Nam, kết hợp với tiếp thu, tiếp  
chịu sự thẩm định khắt khe của thực biến các yếu tố bên ngoài để làm  
tiễn, được “làm mới” cho phù hợp với phong phú giá trị hiện có đã trở thành  
yêu cầu của thời đại, nhưng vẫn giữ tính quy luật không riêng gì đối với  
được hạt nhân cơ bản. Điều đáng lo Việt Nam. Sự vay mượn từ bên ngoài  
ngại về sự đánh mất “nguyên chất” có thể làm lệch phần nào yếu tố  
không chỉ bởi sự mất gốc, sự lai căng, “nguyên mẫu”, song đó lại là biện  
mà cả sự bảo thủ và cố chấp, không chứng của sự tích hợp và tiếp biến giá  
biết tiếp thu và tiếp biến những yếu tố  
tác động từ bên ngoài để không  
trị.  
CHÚ THÍCH  
(1), (2) http://portal.unesco.org/en/ev.php-URL_ID=13175&URL_DO=DO_TOPIC&URL_SECTI  
ON= 201.html, 16 November 1995.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà  
Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.  
2. Đào Phan. 1996. Đạo Khổng trong văn Bác Hồ. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Thông tin.  
3. Đinh Ngọc Thạch, Trần Quang Thái. 2016. Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị.  
TPHCM: Nxb. Tổng hợp TPHCM.  
4. Hồ Chí Minh. 2000. Toàn tập – Tập 1, 8, 10, 12. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
5. Hồ Chí Minh. 2011. Toàn tập – Tập 15. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
6. Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Thanh Tuấn. 1997. Bàn về khoan dung trong văn hóa. Hà  
Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
7. C. Mác và Ph. Ăngghen. 2005. Toàn tập – Tập 8. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
8. Nguyễn Đăng Thục. 1998. Lịch sử tư tưởng Việt Nam – Tập 2. TPHCM: Nxb. TPHCM.  
9. Trần Quốc Vượng. 2006. Thăng Long Hà Nội tìm tòi và suy ngẫm. Hà Nội: Nxb. Văn  
hóa Thông tin và Viện Văn hóa.  
10. UNESCO. 1996. Tạp chí “Người đưa tin”, tháng 3/1996, bản tiếng Việt.  
11. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Con người. 2007. Con người, dân  
tộc và các nền văn hóa: Chung sống trong thời đại toàn cầu hóa. George F. McLean,  
Phạm Minh Hạc (chủ biên). Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
pdf 12 trang Thùy Anh 21920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng khoan dung trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới đất nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_tuong_khoan_dung_trong_van_hoa_chinh_tri_ho_chi_minh_voi.pdf