Đào tạo nguồn nhân lực theo xu hướng hội nhập toàn cầu

HUFLIT International Conference On Ensuring A High-Quality Human Resource In The Modern Age - Oct 16, 2020  
doi: 10.15625/vap.2020.0073  
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THEO XU HƯỚNG HỘI NHẬP TOÀN CẦU  
Bùi Duy Hoàng1, Đặng Thị Ánh Nguyệt2  
1Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Miền Nam, Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Việt Nam  
2Trường Tiểu học Châu Văn Liêm, Hậu Nghĩa, Đức Hòa, tỉnh Long An  
TÓM TẮT: Việt Nam đã hội nhập sâu rộng và là thành viên chủ động tích cực của hầu hết các tổ chức quan trọng trong khu vực và quốc tế  
(ASEAN; BTA; WTO; FTA; CPTPP; EVFTA; EVIPA; RCEP…). Nhiều hiệp định hợp tác tự do chuyển dịch lao động và cung ứng lao  
động có tính song phương, đa phương đã được ký kết. Việt Nam là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm  
kỳ 2020-2021. Từ đó nhu cầu phát triển nhân lực hội nhập toàn cầu là tâm điểm kết nối văn hóa và kinh tế và sớm có đủ tố chất “công dân  
toàn cầu” trong xu thế hiện nay, là nhu cầu cấp bách và thiết thực để thúc đẩy phát triển đất nước và tiến bộ xã hội. Nghiên cứu khái quát về  
lý thuyết, sơ lược chiến lược phát triển nhân lực và nhận định về quá trình phát triển nhân lực của Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất  
giải pháp chiến lược về phát triển nhân lực theo xu hướng hội nhập toàn cầu một cách bền vững khẳng định vị trí vai trò cầu nối quan trọng  
giữa Việt Nam - ASEAN và Liên Hợp Quốc, trên mọi lĩnh vực từ kinh tế đến văn hóa xã hội, đóng góp chủ động, tích cực vào sự nghiệp  
thúc đẩy hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.  
Từ khóa: Đào tạo, nguồn nhân lực, hội nhập toàn cầu.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với trên 180 nước thuộc tất cả các châu lục và 70 vùng lãnh thổ, là thành viên của hầu hết  
các tổ chức quan trọng trong khu vực và quốc tế, với vị thế và vai trò ngày càng được khẳng định. Hiện nay, có trên 220 nước  
và vùng lãnh thổ trên thế giới có quan hệ buôn bán với Việt Nam, trong đó có hầu hết những nền kinh tế phát triển, Việt Nam  
là nước có độ mở khá rộng, nằm trong tốp 5 nước trên thế giới.  
Hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện và quan hệ đa phương, song phương sâu rộng, Việt Nam đã gia nhập ASEAN (1995), ký  
kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA, 2000), gia nhập WTO (2007) và tham gia 8 Hiệp định  
thương mại tự do  FTA) khu vực và song phương. Hiệp định thương mại tự do giữa khối ASEAN với các đối tác: Trung Quốc  
(2004), Hàn Quốc (2006), Nhật Bản (2008), Ôt-xtrây-lia và Niu Di-lân (2009),  n Độ (2009). Ngoài ra, Việt Nam đã ký 2  
FTA song phương là FTA Việt Nam - Nhật Bản (2008) và FTA Việt Nam - Chi-lê (2011). Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến  
bộ xuyên Thái Bình Dương  CPTPP) đã hoàn thành vào năm 2019. Việt Nam đã chính thức ký với Liên minh Châu Âu Hiệp  
định Thương mại tự do  EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư  EVIPA), kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện  
khu vực  RCEP). Năm 2019, Việt Nam đón 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế, Việt Nam nằm trong Top 20 nền kinh tế đóng  
góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019 (IMF)(1).  
Bên cạnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng tăng cường hội nhập trong lĩnh vực chính trị-ngoại giao, quốc phòng-an  
ninh, văn hóa - xã hội đều được thúc đẩy mạnh mẽ. Việt Nam đã tham gia diễn tập hàng hải chung trong khuôn khổ ASEAN  
với Mỹ; ký Hiệp định khung về tham gia các hoạt động quản lý khủng hoảng của EU  FPA); gia nhập Công ước số 98 của Tổ  
chức Lao động quốc tế, cử bệnh viện dã chiến cấp tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan. Việt  
Nam đã được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021 với chủ đề “Gắn kết và chủ động  
thích ứng” cho năm Chủ tịch ASEAN 2020 và “Việt Nam: Đối tác tin cậy vì hòa bình bền vững” cho vai trò Ủy viên không  
thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam xác định rõ, hai trọng trách đa phương nói trên gắn kết với nhau và  
phải góp phần thúc đẩy lợi ích chung giữa Việt Nam với cộng đồng khu vực và quốc tế. Với diễn biến đó, đòi hỏi công dân  
Việt Nam cần phải nỗ lực phấn đấu khẳng định vai trò cầu nối quan trọng giữa Việt Nam - ASEAN và Liên hợp quốc, trên mọi  
lĩnh vực từ kinh tế đến văn hóa xã hội, đóng góp chủ động, tích cực vào sự nghiệp thúc đẩy hòa bình, hợp tác và phát triển ở  
khu vực và trên thế giới như vậy nhu cầu thúc đẩy tăng tốc hơn nữa đào tạo phát triển nhân lực Việt Nam thích ứng nhanh và  
hội nhập toàn cầu là tâm điểm kết nối văn hóa và kinh tế và sớm có đủ tố chất “quốc tế” tính toàn cầu trong xu thế hiện nay là  
nhu cầu cấp bách và thiết thực để thúc đẩy phát triển đất nước và tiến bộ xã hội.  
II. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN  
Khái niệm đào tạo  
Luật dạy nghề  Luật số: 76/2006/QH11 - Ngày 29/11/2006) khái niệm: “Dạy  đào tạo) nghề là hoạt động dạy và học nhằm  
trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc  
làm sau khi hoàn thành khóa học”.  
(1) http://baochinhphu.vn/Du-lich/Du-lich-Viet-Nam-tang-truong-than-ky-don-18-trieu-luot-khach-quoc-te/383674.vgp  
Bùi Duy Hoàng, Đặng Thị Ánh Nguyệt  
139  
Theo Khoản 1 Điều 3 Quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bộ Tư pháp ban hành kèm theo Quyết định 273/QĐ-  
BTP năm 2018 thì: “Đào tạo” là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp  
học, bậc học.  
Như vậy, đào tạo đơn giản được hiểu là quá trình truyền thụ kiến thức đến đối tượng tiếp thu kiến thức.  
Khái niệm nguồn nhân lực  
Nick Moore, (1980)(2). Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức  
khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động.  
WB. World Development Indicators, (2000)(3). Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ  
cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng.  
Nguyễn Tiệp,  2008)(4). Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được  
phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội.  
Từ các khái niệm nêu trên, tuy có các diễn giải khác nhau, nhưng đơn giản có thể hiểu nguồn nhân lực là toàn bộ công dân có  
khả năng tham gia lao động trong một điều kiện hiện tại nhất định nào đó thì coi đó là nguồn nhân lực.  
Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực  
Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân,  2007)(5). Đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp  
người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người  
lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao  
động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn.  
Đặc điểm của nhân lực theo xu hướng hội nhập toàn cầu (toàn cầu hóa)  
Hiện nay chưa có khái niệm về đào tạo nhân lực toàn cầu, tuy nhiên hội nhập toàn cầu hay toàn cầu hóa được mô tả từ góc độ  
kinh tế, thương mại đó là tự do trao đổi, dịch chuyển hàng hóa xuyên biên giới giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực với nhau.  
Taso G. Lagos (2019)(6), đưa ra khái niệm công dân toàn cầu trong giáo dục nhằm mục đích nuôi dưỡng những sinh viên nắm  
bắt các nền văn hóa vượt ra ngoài chính họ, những sinh viên nhận thức được sự thiên vị của chính họ và có thể phản ánh hành  
động tích cực cho cả cộng đồng địa phương và hơn thế nữa. Điều này được thể hiện trong cả cách tiếp cận của họ đối với sự đa  
dạng về vai trò của họ trong đó. Công dân toàn cầu nuôi dưỡng sự tôn trọng và tôn trọng cá nhân đối với người khác, bất cứ  
nơi nào họ sống và bất kể nguồn gốc của họ. Đó là một cách sống làm cho chúng ta nhận thức được những lựa chọn và hành  
động của chúng ta có thể có tác động như thế nào đối với người dân và cộng đồng địa phương, quốc gia hoặc quốc tế. Công  
dân toàn cầu tích cực có nghĩa là xây dựng một thế giới công bằng và bền vững hơn.  
Với cách nêu khái niệm của Lagos chủ yếu nêu lên giá trị hội nhập cộng đồng và thích ứng cũng như biết tôn trọng các giá trị  
văn hóa khác nhau một cách bình đẳng như những giá trị văn hóa mà họ đang có. Ở góc độ này, Lagos chưa tập trung vào yếu  
tố đào tạo năng lực lao động của đội ngũ lao động sau khi ra trường.  
Như vậy, có thể tổng hợp các khái niệm khác nhau từ khái niệm đào tạo và khái niệm công dân, công dân toàn cầu ta có thể rút  
ra đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực định hướng hội nhập toàn cầu là đào tạo nguồn nhân lực hội đủ hai yếu tố cơ bản sau:  
-
Về văn hóa và ứng xử hội nhập cộng đồng: Đào tạo người lao động có khả năng sử dụng ngoại ngữ, có đủ kiến thức, am  
hiểu về văn hóa dân tộc biết tôn vinh văn hóa dân tộc cũng phải hiểu biết văn hóa của các dân tộc khác và cùng tôn vinh  
văn hóa của mọi dân tộc khác nhau. Xem các yếu tố văn hóa của các dân tộc khác nhau là thành quả trí tuệ của nhân loại  
mà bản thân mỗi người phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo tồn cùng thụ hưởng thành quả văn hóa đó. Loại bỏ tư duy cực  
đoan, phân biệt đối xử hoặc tự tôn một cách thái quá trong tư duy cũng như hành động ứng xử. Người lao động sau khi  
được đào tạo bất kỳ chuyên môn gì, lĩnh vực gì thì người lao động cũng đều phải có ý thức tốt về việc tìm hiểu luật pháp  
và chấp hành luật pháp trong bất kỳ môi trường nào cũng như bất kỳ quốc gia nào đây là yếu tố cơ bản để người lao động  
hội nhập lao động, sinh sống, vui chơi và phát triển bản thân cũng như đóng góp hữu ích cho xã hội tại nơi họ lao động và  
sinh sống.  
-
Về chuyên môn nghiệp vụ của người lao động: Đối với đào tạo chuyên môn nghiệp vụ các chuyên ngành cụ thể thì người  
được đào tạo sau khi tốt nghiệp ra trường phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động tương đồng hoặc cao hơn các cơ  
(2) Nick Moore, (2000). Manpower planning in libraries. London, Library Association.  
(3) WB, (2000). World Development Indicators. London: Oxford.  
(4) Nguyễn Tiệp,  2008). Giáo trình Nguồn nhân lực. Lao động xã hội.  
(5) Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm,  2007). Giáo trình Quản trị nhân lực. NXB Lao động.  
140  
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THEO XU HƯỚNG HỘI NHẬP TOÀN CẦU  
sở đào tạo cùng ngành ghề của các nước khác  trong môi trường hội nhập) hoặc lấy chuẩn mực đáp ứng tốt được mục tiêu  
tuyển dụng của doanh nghiệp ở nhiều quốc gia khác nhau làm thang chuẩn trong đào tạo.  
Như vậy tóm gọn lại là: Ở góc độ hội nhập về nhân lực, nhân lực hội nhập toàn cầu là nhân lực không chịu sự giới hạn làm  
việc bởi không gian lãnh thổ quốc qua hay đơn vị hành chính nhất định. Điều này có nghĩa là người lao động sau khi được đào  
tạo họ có khả năng làm việc ở những vùng lãnh thổ khác nhau, những quốc gia khác nhau mà họ vẫn được doanh nghiệp, chính  
quyền địa phương của nơi họ lao động chấp nhận. Ở đây ngoại trừ những nhà hoạt động xã hội toàn cầu, hay các tổ chức quốc  
tế trên góc độ toàn cầu hoặc các doanh nhân toàn cầu, họ được phép hoạt động theo luật pháp quốc tế và các chuẩn mực riêng  
theo thông lệ quốc tế.  
III. KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐỊNH HƯỚNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2011-2020  
Việt Nam từ lâu đã rất chú trọng đến đào tạo và phát triển nhân lực, đặc biệt giai đoạn 2010-2020 Chính phủ đã phê duyệt  
chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 (Quyết định số: 579/QĐ-TTg, ngày 19 tháng 04 năm 2011), nhắm  
đến mục tiêu nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta nhằm mục tiêu tăng khả năng theo kịp với sự phát triển  
tiến bộ của khoa học công nghệ trên thế giới trong nhu cầu về ứng dụng cộng nghệ phục vụ sản xuất và kinh doanh đạt mức  
tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận được trình độ các nước phát triển trên thế giới.  
Chiến lược trên chỉ là chủ trương đẩy mạnh khả năng để tự làm chủ về công nghệ, tự lực trong sản xuất quản lý trong nước là  
chính. Do đó, phương hướng đào tạo lao động để đáp ứng mục tiêu cung ứng lao động ra thị trường nước ngoài thì chưa được  
xây dựng cụ thể và chưa có mục tiêu, chiến lược rõ ràng.  
Trong thực tế đào tạo, hiện nay ở bậc phổ thông tiếng Anh đã đưa vào vào giảng dạy từ bậc học tiểu học được áp dụng khá phổ  
biến ở Việt Nam. Đặc biệt tại các thành phố lớn hầu như môn học tiếng Anh và tin học đã phổ quát. Bên cạnh đó có nhiều  
trường đã áp dụng phương pháp STEM  Science  khoa học), Techology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Maths (toán  
học)) là phương pháp cho phép học sinh tham gia giải quyết các vấn đề thực tế thông qua các kiến thức tổng hợp lồng ghép  
giữa 4 môn khoa học ứng dụng trên một cách tích hợp. Còn việc đào tạo công dân toàn cầu theo quan điểm của Taso G. Lagos  
(2019), thì hiện này vẫn còn là vấn đề mở đang được tiếp tục nghiên cứu và chưa có giải pháp cụ thể đối với định hướng này.  
Đồng thời hệ thống sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy cũng được cập nhật và đổi mới liên tục. Tuy nhiên, phương pháp  
đổi mới trong giáo dục vẫn còn nhiều bất cập quẩn quanh ở dạng thay vì đọc chữ A ở đầu bảng chữ cái thì cải cách đảo chữ E  
lên đầu luyện phát âm trước trong bảng chữ cái. Còn hướng đi nào để tăng hiệu quả ứng dụng kiến thức học được vào trong  
đời sống thực tiễn và tiến bộ văn minh xã hội nhằm giảm chi phí xã hội, tăng tính hữu ích thu được từ kết quả học phổ thông,  
đào tạo chuyên ngành thì hiện vẫn là vấn đề đang bàn.  
Đối với đào tạo ở bậc nghề, cao đẳng, đại học, cả nước có 412 trường Đại học, Cao đẳng, trung bình mỗi tỉnh, thành phố có  
khoảng 6,6 trường Đại học, Cao đẳng. Khoảng trên 2,2 triệu sinh viên trong tổng dân số 97 triệu dân, cao hơn cả các quốc gia  
phát triển(7). Hiện đã có nhiều trường chuyển hướng tăng cường chương trình đào tạo theo hướng tăng khả năng ngoại ngữ  
giúp sinh viên tự tin giao tiếp với thế giới, đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ Internet phục vụ cho công việc, học tập, nghiên  
cứu và hướng cho học sinh, sinh viên khả năng làm việc chủ động, khả năng tự lập trong cuộc sống, khả năng tư duy độc lập  
cũng như có kỹ năng trình bày, tranh luận và làm việc tập thể (hoạt động nhóm). Tuy nội dung đã được cải tiến và có hướng  
tích cực, nhưng hiện nay sinh viên ra trường vẫn chưa thỏa mãn yêu cầu của các nhà tuyển dụng, các nhà tuyển dụng thường  
có xu hướng tuyển người có kinh nghiệm và có ngoại ngữ tốt. Theo các nhà tuyển dụng có đến 80-90 % các tân cử nhân hầu  
như thiếu kỹ năng mềm(8). Điều này cũng phản ánh qua kết quả quá trình hội nhập và dịch chuyển lao động trong và ngoài  
nước cho thấy lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam đến từ hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong  
khi đó Việt Nam có đội ngũ lao động làm việc ở nước ngoài cũng đạt 132.802 người, (thời điểm tháng 11/2019)(9), tuy nhiên  
phạm vi lan tỏa thấp chỉ tập trung nhiều nhất ở khu vực Đông Bắc Á tỷ trọng 96,90 % và phạm vi chỉ ở khoảng 20 vùng lãnh  
thổ, khả năng dịch chuyển lao động của Việt Nam sang các thị trường Châu Âu, Mỹ vẫn còn ít ỏi. Lao động Việt xuất khẩu đi  
nước ngoài vẫn là lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao, đây là vấn đề cần phải nghiên cứu cải thiện trong đào tạo trong giai  
đoạn hội nhập hiện nay.  
Song song đó, điều khó khăn đầu tiên là đội ngũ giảng viên đào tạo, ngay đội ngũ khoa học của Việt Nam, nếu so trong khu  
vực Đông Nam Á số lượng tiến sĩ của Việt Nam (kể cả giáo sư và phó giáo sư) không ít hơn, thậm chí còn cao hơn cả Thái  
Lan, Philippines, nhưng số lượng công trình khoa học hàng năm được công bố trên các tạp chí đạt chuẩn ISI/Scopus của Việt  
(7) http://truong1bqp.edu.vn/cu-nhan-thac-si-that-nghiep/  
(8) https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/tim-loi-giai-cho-bai-toan-tang-nang-luc-lao-dong-trong-linh-vuc-stem-  
29144.html  
(9) https://phapluat.tuoitrethudo.com.vn/viet-nam-co-132802-nguoi-lao-dong-dang-lam-viec-tai-nuoc-ngoai-37881.html  
Bùi Duy Hoàng, Đặng Thị Ánh Nguyệt  
141  
Nam còn rất thấp.(10) Số bài báo khoa học của năm 2018, Việt Nam đứng thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á trong khi đó Việt  
Nam là quốc gia đông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á  sau Indonesia và Philippines). Malaysia là nước có dân số đứng  
thứ 5 trong khu vực với gần 31 triệu dân  vào đầu năm 2019), nhưng đạt số công bố khoa học thuộc Scopus nhiều nhất  
ASEAN - xấp xỉ 24.700 bài/năm. Tiếp theo là Singapore (19.000 bài), Thái Lan (12.850 bài), Indonesia (9.450), Việt Nam  
(4.220 bài) và Philippines  2.300 bài) và các nước còn lại của ASEAN chỉ đạt bình quân 200-300 bài/năm. Năm học 2017 –  
2018, tổng số giảng viên là 74.991 người, trong đó có: 719 giáo sư, 4.533 phó giáo sư, 20.198 tiến sĩ, 44.434 thạc sĩ. Nhưng có  
đến 37,5 % giảng viên trong 30 trường khảo sát chưa có công bố quốc tế ISI/SCPUS; 55 % cho rằng kinh phí và nguồn lực cho  
đề tài còn thấp và cấp chậm; 2,2 % trả lời không có nhu cầu tham gia nhóm nghiên cứu, 15,7 % chưa rõ lợi ích tham gia  
nghiên cứu(11), như vậy rõ ràng đội ngũ đào tạo cũng ở trong tình trạng đông nhưng chất không cao, ít vận động sáng tạo.  
Đối với kết quả đào tạo người lao động như hiện nay còn nhiều vấn đề lạc hậu, tình trạng vừa thừa vừa thiếu diễn ra khá phổ  
biến. Việc thừa về số lượng người được đào tạo nhưng thiếu chuyên môn, kỹ năng đáp ứng được yêu cầu làm việc trong môi  
trường hội nhập quốc tế. Có thể lấy ví dụ việc đào tạo sinh viên ngành kế toán tài chính hiện nay (một trong những ngành được  
công nhận tự do dịch chuyển lao động trong khối ASEAN), Việt Nam đang đứng trước thực trạng thừa cử nhân kế toán nhưng  
thiếu về chất lượng(12). Ở Việt Nam rất đa dạng về các phần mềm kế toán, có thể kể đến trên 22 phần mềm kế toán Smart Pro  
thịnh hành như: Phần mềm kế toán OMEGA, SIMBA, GAMA, MISA… Nhưng hầu như sinh viên không được thực tập phần  
mềm vì phần kiến thức ở giai đoạn thực tập tốt nghiệp đối với sinh viên kế toán tài chính tối đa là 13 tín chỉ, chiếm khoảng 1/5  
trên tổng tín chỉ cần đạt trong khối kiến thức ngành (chiếm 10 % tổng tín chỉ trong khung đào tạo) là thời gian thực hành thực  
tiễn quá ít trong bối cảnh ngày càng áp dụng phổ biến các phần mềm kế toán – tài chính ứng dụng công nghệ số như hiện nay.  
Bên cạnh đó ngay cả khối kiến thức ngành có 61/135 tín chỉ chiếm 45 % tổng số tín chỉ trong khung đào tạo cũng chưa đủ để  
sinh viên có thể hiểu và vận dụng tốt các mối quan hệ bổ trợ giữa các môn học trong khối kiến thức ngành với nhau. Điều này  
rõ ràng khả năng sử dụng, ứng dụng các phần mềm kế toán, các thao tác nghiệp vụ tin học ứng dụng chuyên ngành là quá  
khiêm tốn về thực hành và va chạm thực tế của sinh viên khi tốt nghiệp ra trường đây cũng là thực trạng phổ biến với hầu hết  
các lĩnh vực khác, dẫn đến sinh viên ra trường thiếu kỹ năng thực tế trong lao động.  
Việt Nam đang nỗ lực cung ứng lao động ra thị trường thế giới theo dạng hợp tác, xuất khẩu lao động cũng như đội ngũ lao  
động trong nước trực tiếp làm việc tại các công ty FDI. Đây đang là mục tiêu phấn đấu đào tạo nhân lực hội nhập toàn cầu của  
Việt Nam nhằm giúp cho mọi thành phần lao động có khả năng thích ứng được với nhiều môi trường xã hội khác nhau trong  
khu vực cũng như cộng đồng quốc tế. Tăng khả năng hội nhập và có khả phát triển bản thân cũng như đóng góp lợi ích lao  
động sáng tạo cho đất nước, cho cộng đồng quốc tế như một nhân tố tích cực của cộng đồng xã hội loài người mà không bị  
giới hạn bởi phạm vi quốc gia dân tộc. Hội nhập và dịch chuyển dòng lao động là xu thế tất yếu trong thời đại giao thương,  
phát triển sản xuất toàn cầu, tuy nhiên để hội nhập và dịch chuyển lao động tự do cũng đòi hỏi rất nhiều yếu tố mà người lao  
động phải đạt được kiến thức nền cũng như hành vi ứng xử với môi trường xung quanh  môi trường tự nhiên và môi trường xã  
hội) được đông đảo cộng đồng xã hội, luật pháp các nước chấp nhận. Ngoài chuyên môn lao động của nghề nghiệp đòi hỏi  
người lao động phải có các khả năng cơ bản như: Kiến thức cơ bản về pháp luật của nước sở tại  nơi mình tham gia lao động  
và sinh sống), kiến thức văn hóa  lối sống) của địa phương và có khả năng về ngôn ngữ giao tiếp (có khả năng, tố chất của  
công dân toàn cầu). Tuy nhiên kết quả phát triển nguồn nhân lực, giáo dục đào tạo trong thời gian qua chưa đủ về số lượng và  
chất lượng để Việt Nam có thể vươn xa trong lĩnh vực này.  
IV. NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
Nhận xét  
Chính phủ Việt Nam đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác trong khu vực cũng như các hiệp định song phương đa phương trong  
vấn đề chuyển dịch lao động như trong khuôn khổ AEC có thỏa thuận công nhận lẫn nhau (Mutual Recognition Arrangements  
– MRAs) và các quốc gia đối tác như các bản ký thỏa thuận hợp tác lao động với Nhật Bản, Hàn Quốc… Tuy nhiên, năng lực  
hội nhập của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế còn ít và còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục như:  
Thứ nhất, năng suất lao động còn thấp, theo đánh giá của Tổ chức Lao động thế giới  ILO), năng suất lao động của VN thấp  
hơn 15 lần so với Singapore, bằng 1/5 năng suất lao động của Thái Lan và Malaysia. Điều đó hiển nhiên là thua xa năng suất  
lao động của Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia,  n Độ, Newzealand mà những đối tác này đã có các hiệp định quan trọng với  
ASEAN và khả năng mở rộng thị trường lao động sang các nước này là không tránh khỏi. Đây là yếu tố làm giảm khả năng  
hấp dẫn lao động Việt Nam trước các nhà tuyển dụng nước ngoài, thậm chí là khía cạnh để các nhà tuyển dụng tăng tính khắt  
(10)  
(11) http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/nghien-cuu-va-chuyen-giao-khoa-hoc-cong-nghe-tu-truong-dai-hoc-den-  
doanh-nghiep-318250.html  
(12)  
giai-phap-cho-thoi-gian-toi-26685.htm  
142  
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THEO XU HƯỚNG HỘI NHẬP TOÀN CẦU  
khe trong yêu cầu đối với lao động Việt Nam. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động Việt chưa đồng đều, trong đó tỷ  
trọng của trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp dưới 50 % tổng số lao động cùng với chỉ số phát triển con người  HDI) khá  
thấp so với các nước ASEAN 6 và không cao hơn đáng kể so với nhóm CLM  Campuchia, Lào, Myanmar). Chỉ số HDI của  
Việt Nam là 0,638 trong khi của Singapore là 0,901 và Myanmar là 0,524(13)  
.
Thứ hai vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa, vấn đề ngôn ngữ, lao động Việt Nam chắc chắn sẽ gặp nhiều bất lợi hơn so với các  
nước trong khối ASEAN, vì người Indonesia và Malaysia... sử dụng ngôn ngữ chung; Lào, Thái Lan, Campuchia có ngôn ngữ  
nhiều điểm tương đồng, nên họ có thể hiểu tiếng của nhau. Chỉ có lao động Việt Nam là bất lợi nếu không có ngoại ngữ  
khác. Rất ít lao động Việt Nam học các thứ tiếng Thái Lan, Lào, Campuchia hoặc tiếng của các nước ASEAN khác. Cho nên,  
khả năng thích nghi với môi trường làm việc của khu vực này gặp nhiều khó khăn. Lao động Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất  
sang thị trường Nhật Bản, tuy nhiên do văn hóa hội nhập kém, kiến thức pháp luật về nước sở tại thiếu, ý thức bản thân và  
cộng đồng thấp dẫn đến nhiều vấn đề gây phản cảm và bị xem thường như tại “Công viên Thể thao Iwase, Nhật Bản” họ hạn  
chế người Việt Nam do tình trạng xả rác khiến người dân xung quanh phàn nàn. Ban quản lý công viên đã “treo biển cảnh báo  
về việc xả rác”, rồi đến treo biển “hạn chế người Việt” và ra lệnh cấm người Việt sử dụng sân bóng của công viên trong ba  
tháng… Hoặc thực tập sinh người Việt đã bị bắt vì giết 2 con vịt hoang dã tại công viên ở Tokyo(14)  
…
Về vấn đề kiến thức luật pháp và chấp hành luật pháp, trước hết do vấn đề không có trình độ ngôn ngữ của nước sở tại dẫn đến  
khả năng hiểu biết về văn hóa, tập tục và kiến thức pháp luật sẽ vô cùng hạn hẹp. Có những người ứng xử theo thói quen, quán  
tính nơi mình sinh trưởng và thiếu cái nhìn khái quát linh hoạt khi tham gia hoạt động học tập, làm việc, sinh sống ở nơi mới  
một cách tinh tế và hội nhập với cư dân bản địa một cái hài hòa và thân thiện. Tính ý thức, tôn chỉ, tìm hiểu về pháp luật và tôn  
trọng các quy định của luật pháp, tôn trọng tính tự tôn dân tộc, lòng tự hào … vẫn còn đáng phải quan tâm. Lao động Việt còn  
gặp phải những lỗi phạt rất “ngớ ngẩn” như bị bắt kết án tù và phạt tiền vì giết chó ăn thịt ở Đài Loan, lao động trái phép bị  
bắt, lao động bỏ trốn … vẫn là những vấn đề được quan tâm và cần có giải pháp cụ thể.  
Từ những vấn đề trên nghiên cứu đề xuất các giải pháp chiến lược sau:  
Thứ nhất đối với chính sách của Chính phủ, trong ngắn hạn, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ đào tạo cho đối tượng xuất  
khẩu lao động về ý thức chấp hành luật pháp, kiến thức căn bản về văn hóa của quốc gia (dân tộc) nơi lao động Việt đến làm  
việc. Kiểm tra kỹ khả năng, kỹ năng sống của người lao động khi hội nhập môi trường mới tránh tình trạng khi tham gia lao  
động người lao động để lại tiếng xấu dẫn đến dư luận xã hội quốc tế lên án và kỳ thị làm ảnh hưởng đến Quốc gia, dân tộc  
cũng như ảnh hưởng đến uy tín của những người Việt lao động chân chính khác. Quản lý chặt chẽ các công ty xuất khẩu lao  
động, tránh tình trạng xuất khẩu lao động trái phép cũng như nhập khẩu lao động trái phép tạo nhiều tổn thương cho xã hội  
cũng như những người tham gia lao động. Đồng thời hỗ trợ các công ty xuất nhập khẩu lao động đào tạo phổ biến kiến thức  
pháp luật và văn hóa cho lực lượng lao động tham gia vào thị trường xuất khẩu cũng như lao động nhập khẩu vào Việt Nam.  
Trong dài hạn, Chính phủ cần xây dựng chiến lược giáo dục quốc gia mang tính hội nhập quốc tế. Để có lực lượng lao động  
toàn cầu, có nghĩa là lao động Việt Nam có thể “tự do” tham gia lao động và sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau đòi hỏi phải  
thỏa mãn hai điều kiện cơ bản. Điều kiện cần chính là việc tham gia ký kết các hiệp định (thỏa ước) giữa các nước, các khối  
… song phương và đa phương) của Việt Nam với các nước. Thứ 2, điều kiện đủ là chính khả năng bản thân của cá nhân về hội  
nhập lao động và sinh sống của người lao động trong điều kiện Việt Nam đã có ký kết thỏa thuận về tự do dịch chuyển lao  
động, sinh sống …  
Thứ hai, những vẫn đề cần đổi mới đối với các trường, cơ sở đào tạo. Để người lao động có chuyên môn lao động cao, khả  
năng sử dụng ngoại ngữ thông thạo, am hiểu văn hóa pháp luật của nơi mình tham gia lao động là cả một quá trình học tập có  
định hướng và mất thời gian dài. Vì thế chiến lược giáo dục bài bản để có nguồn nhân lực tương lai hội đủ những yếu tố này là  
rất quan trọng. Do đó việc định hướng giáo dục cần phải thay đổi tích cực và có hướng đi cụ thể, tránh tình trạng chi phí đầu tư  
của các bậc phụ huynh tốn kém, hao phí xã hội lớn, nhưng thành quả mang lại ít đối với chất lượng lao động, thu nhập của dân  
cư hoặc môi trường sống kém chất lượng … trong tương lai. Để thúc đẩy được vấn đề này ngành giáo dục cần sớm tìm hướng  
đổi mới như sau:  
(1) Nghiên cứu đưa tiếng anh vào giáo trình xem đây là ngôn ngữ thứ 2 mọi người đều có thể sử dụng thông dụng.  
(2) Giảm nhẹ đào tạo chuyên sâu “hàn lâm” ở bậc phổ thông và bổ sung nhiều về kiến thức văn hóa xã hội và các hoạt động  
sống  Ví dụ như: Môn toán không có ai dùng kiến thức, nguyên hàm, tích phân, lôgarit… trong cuộc sống phổ thông).  
Nhưng tất cả mọi người đều cần dùng trong đời sống thường ngày là kỹ năng giao tiếp, ý thức cập nhật kiến thức pháp luật  
và ý thức tự tuân thủ pháp luật, hoặc am hiểu cách ứng xử trong các vùng miền văn hóa khác nhau… Như vậy cụ thể là  
giảm tải những kiến thức chuyên sâu mà mọi người lao động phổ thông không áp dụng ở bậc phổ thông và tăng kiến thức  
(13) http://itdr.org.vn/nghien_cuu/dich-chuyen-lao-dong-trong-cong-dong-kinh-te-asean/  
(14) https://vnexpress.net/the-gioi/cong-vien-nhat-ban-treo-bien-han-che-nguoi-viet-4027831.html  
Bùi Duy Hoàng, Đặng Thị Ánh Nguyệt  
143  
văn hóa xã hội của các dân tộc để mọi người dễ thích nghi và hội nhập nhanh chóng khi tham gia các hoạt động lao động,  
sống và vui chơi.  
(3) Ở bậc đào tạo lao động trung cấp, cao đẳng, đại học … dựa vào nhóm ngành chuyên môn, cấp bậc để chuyên sâu kiến  
thức căn bản và nâng cao giúp cho trình độ chuyên môn sâu cả về lý thuyết lẫn thực hành giúp cho người lao động có khả  
năng thể hiện trình độ lao động chuyên nghiệp, cả về tay nghề lẫn kỹ năng xã hội. Tập trung đẩy mạnh đào tạo nhóm nhân  
lực theo xu thế của thời đại như công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo, tự động hóa về người máy, y tế, quản trị doanh  
nghiệp, tài chính ngân hàng thời công nghệ số. Điều này giúp cho lao động Việt Nam có thể tham gia vào nhiều thị trường  
lao động khác nhau tại các quốc gia phát triển và điều này sẽ thúc đẩy quá trình công dân toàn cầu hóa một cách hiệu quả  
và bền vững trong tương lai.  
Thứ ba, việc nỗ lực của mọi công dân trong quá trình học tập tiếp thu kiến thức để hội nhập toàn cầu. Hội nhập cộng đồng  
quốc tế là nghĩa vụ vươn lên của mọi người, tất cả cộng đồng cần phải có ý thức hội nhập và có hành động cụ thể trong học  
tập, vận dụng kiến thức đã học vào ứng dụng trong thực tiễn, từ tiếp thu kiến thức văn hóa nhân loại, bảo tồn văn hóa truyền  
thống, học tập kỹ thuật công nghệ, giao lưu khoa học, ứng dụng các thành quả phát triển của loài người vào trong đời sống  
thực tế cũng như làm chủ được công nghệ, có khả năng sử dụng cộng nghệ, sáng tạo công nghệ và góp sức mình vào sự phát  
triển khoa học kỹ thuật văn minh của thế giới ngày nay và trở thành lao động hội nhập quốc tế. Người học không chỉ tập chung  
vào chuyên môn nghề nghiệp thuần túy mà cần phải chủ động tiếp cận học tập giao lưu văn hóa và tìm hiểu văn hóa, lối sống,  
pháp luật của các quốc gia, các dân tộc trong khu vực cũng như những các quốc gia phát triển mà người học kỳ vọng tiếp cận  
trong tương lai. Để người học có tính chủ động tiếp cận nguồn kiến thức mở thì ngay từ khi học phổ thông, các em học sinh rất  
cần sự định hướng của nhà trường, cha mẹ và những người thân, do đó để có khởi điểm tốt, ý thức về học tập cần có sự chung  
tay của cả cộng đồng, đặc biệt là các bậc phụ huynh trong vấn đề hướng dẫn, cổ vũ và tìm các giải pháp thiết thực giúp cho  
học sinh sớm định hình mục tiêu và nhiệm vụ cần đạt đến trong học tập của thời kỳ đổi mới.  
Như vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển nhân lực hội nhập toàn cầu là có tính hệ thống của một chiến lược giáo dục quốc  
gia ngay từ nền tảng giáo dục phổ thông, các trường đại học cao đẳng chỉ thực hiện cụ thể hóa chiến lược này bằng các giải  
pháp cụ thể về các chuyên ngành mang tính chuyên môn ngành nghề nhất định nhằm giúp cho người lao động có trình độ lao  
động cao, kỹ năng tay nghề cao, chuyên môn phù hợp và có kiến thức để hội nhập với thị trường lao động của nước nào đó  
hoặc khu vực nào đó một cách tốt nhất (tránh vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết và xung đột văn hóa ngôn ngữ trong giao  
tiếp). Người lao động không chỉ có trình độ lao động và kỹ năng giao tiếp còn phải thể hiện ý thức trách nhiệm về môi trường  
(cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội). Hội nhập nhưng không xem nhẹ văn hóa dân tộc và đồng thời còn phải là sứ  
giả phổ biến văn hóa của dân tộc mình đến cộng đồng nơi mình tham gia lao động và sinh sống giúp cho thế giới văn minh  
xích lại gần nhau hơn đó là chất lượng sống được nâng cao cả về vật chất (thu nhập) và tinh thần (xã hội an lành) không xung  
đột văn hóa, tôn giáo, dân tộc … đó chính là đích đến của quá trình phát triển đào tạo công dân toàn cầu./.  
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nhật Nam,  2019). Du lịch Việt Nam tăng trưởng thần kỳ, đón 18 triệu lượt khách quốc tế. http://baochinhphu.vn/Du-  
[2] Nick Moore, (2000). Manpower planning in libraries. London, Library Association.  
[3] WB, (2000). World Development Indicators. London: Oxford.  
[4] Nguyễn Tiệp,  2008). Giáo trình Nguồn nhân lực. Lao động xã hội.  
[5] Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm,  2007). Giáo trình Quản trị nhân lực. NXB Lao động.  
[7] Hồng Hạnh  ghi nguồn: dantri.com.vn),  2020). http://truong1bqp.edu.vn/cu-nhan-thac-si-that-nghiep/.  
[8] ictnews.vietnamnet.vn,  2019). Tìm lời giải cho bài toán tăng năng lực lao động trong lĩnh vực STEM.  
29144.html.  
[9] Vi Hải,  2019). Việt Nam có 132802 người lao động đang làm việc ở nước ngoài.  
[10] Nguyễn Khôi,  2018). Nghịch lý giáo sư, tiến sỹ nhiều nhưng ít công trình công bố quốc tế. http://cand.com.vn/giao-  
duc/Nghich-ly-giao-su-tien-sy-nhieu-nhung-it-cong-trinh-cong-bo-quoc-te-480433/.  
[11] Đặng Thị Tố Tâm,  2019). Nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ từ trường đại học đến doanh nghiệp.  
doanh-nghiep-318250.html.  
[12] Trần Ngọc Thúy,  2017). Thực trạng nguồn nhân lực ngành kế toán nước ta hiện nay và đề xuất một số giải pháp cho thời  
xuat-mot-so-giai-phap-cho-thoi-gian-toi-26685.htm.  
144  
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THEO XU HƯỚNG HỘI NHẬP TOÀN CẦU  
[13] Đỗ Thị Thanh Hoa,  2018). Dịch chuyển lao động trong cộng đồng kinh tế Asean. http://itdr.org.vn/nghien_cuu/dich-  
[14] Anh Ngọc (Theo Yahoo Japan),  2019). Công viên Nhật Bản treo biển hạn chế người Việt. https://vnexpress.net/the-  
HUMAN RESOURCE TRAINING  
FOLLOW THE TREND OF GLOBAL INTEGRATION  
Bui Duy Hoang, Dang Thi Anh Nguyet  
ABSTRACT: Vietnam has been deeply integrated and is an active member of most important regional and international organizations such  
as: ASEAN; BTA; WTO; FTA; CPTPP; EVFTA; EVIPA; RCEP,... Many bilateral and multilateral labor transfer and labor supply  
cooperation agreements have been signed. Vietnam has been elected as a non-permanent member of the United Nations Security Council for  
the term 2020-2021. Since then, developing human resources for global integration is the core point of cultural and economical connection  
and soon has the "global citizen" in the current trend, is also an urgent and practical need to promote national development and social  
progress. General research on the theory and outline of human resources development strategies and comments on Vietnam's human  
resources development process over the past time and propose strategic solutions for human resource development following the trend of  
sustainable global integration, affirming the position of an important bridge between Vietnam - ASEAN and the United Nations, in all fields  
from economy to socio-culture, contributing actively and positively to the cause of promoting peace, cooperation and development in the  
region and in the world.  
pdf 7 trang Thùy Anh 19200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đào tạo nguồn nhân lực theo xu hướng hội nhập toàn cầu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdao_tao_nguon_nhan_luc_theo_xu_huong_hoi_nhap_toan_cau.pdf