Chính sách huy động, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính - tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG, PHÂN PHỐI VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC
TÀI CHÍNH - TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI VIỆT NAM33
Ngô Xuân Thanh,
Viện Chiến lược và Chính sách tài chính
Tóm tắt:
Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã và đang trở thành một bộ phận quan
trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Với số lượng lớn, chiếm 98,1% tổng số doanh nghiệp trên cả
nước [Tổng cục Thống kê, 2018], các DNNVV đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân,
tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong nước cho hoạt động sản xuất - kinh doanh,
giải quyết các vấn đề xã hội. Ch nh vì có vai trò to lớn, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành khá
nhiều ch nh sách đối với DNNVV, trong đó có ch nh sách tài ch nh - t n dụng, tạo điều kiện cho
DNNVV huy động, phân phối và sử dụng nguồn vốn được hiệu quả. ài viết này nhằm ch ra hệ
thống, đánh giá thực trạng ch nh sách huy động, phân phối và sử dụng nguồn vốn tài ch nh - tín
dụng đối với DNNVV, từ đó đề đưa ra các giải pháp hoàn thiện ch nh sách huy động, phân phối
và sử dụng nguồn vốn tài ch nh - t n dụng đối với DNNVV để giúp DNNVV phát triển ổn định,
bền vững. Theo đó, DNNVV tiếp tục có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
Từ khóa: Tài ch nh DNNVV, huy động nguồn lực cho DNNVV, hỗ trợ tài ch nh doanh
nghiệp.
THE POLICIES OF MOBILIZING, DISTRIBUTING AND UTILIZING FIANANCE -
CREDIT RESOURCES FOR SMALL AND MEDIUM - SIZED ENTERPRISES IN
VIETNAM
Abstract:
In Vietnam, small and medium - sized enterprises (SMEs) have played an important part
of Vietnam's economy. Accounting for 98.1% of the total number of businesses across the
country (GSO, 2018), SMEs contribute significantly to gross national income (GNI), created
jobs, mobilized capital resources for operating activities and dealt with social issues. Therefore,
the Communist Party of Vietnam and the Government have issued many policies for SMEs,
including financial and credit policies that support SMEs to mobilize, distribute and utilize
33
Toàn bộ nội dung bài viết là quan điểm riêng của tác giả, không đại diện cho Viện Chiến lược và Chính sách tài
chính.
575
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
capital resources effectively. This paper aims to identify the system, assess the current situation
of mobilization, distribution and utilization of financing resources for SMEs, thereby proposing
solutions to complete policies related to the mobilization, distribution and utilization of
financing resources for SMEs. Thanks to completed policies, SMEs are able to develop
sustainably and make great contributions to Vietnam‟s socio-economic development.
Keywords: Finance of SMEs, mobilizing resources for SMEs, corporate finance support.
I. Giới thiệu
Để triển khai về phát triển DNNVV cả về số lượng và chất lượng, giúp DNNVV có
những đóng góp cho nền kinh tế, thì chính sách tài chính - tín dụng có vai trò như là ―bà đỡ‖
giúp cho DNNVV huy động được nguồn lực, trong đó có nguồn vốn tài chính - tín dụng. Thông
qua các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), Quỹ bảo lãnh tín dụng,
Quỹ phát triển DNNVV… cũng như các chính sách tài chính hỗ trợ miễn, giảm, giãn, gia hạn
cho DNNVV, đã giúp DNNVV đa dạng hóa được kênh huy động vốn, tận dụng được nguồn vốn
tài trợ để phân phối và sử dụng được hiệu quả. Tuy nhiên, các chính sách huy động, phân phối và
sử dụng nguồn vốn đối với DNNVV vẫn còn những hạn chế, bất cập, cần phải có những giải
pháp tháo gỡ trong thời gian tới.
II. Thực trạng chính sách huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính - tín
dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
2.1. Chính sách huy động về tín dụng
a. Huy động vốn qua tổ chức tín dụng
Đây là kênh huy động vốn khá phổ biến của các DNNVV Việt Nam. Trước đây, việc cho
tổ chức, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng (TCTD) được thực hiện theo Quy chế cho vay của
TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001 của NHNN và một số văn bản khác liên quan đến hoạt động cho vay.
Tuy nhiên, để điều chỉnh khung pháp lý chung điều chỉnh hoạt động cho vay của TCTD,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (khách hàng không phải là TCTD) phù hợp
với quy định tại Luật Các TCTD năm 2010, Bộ Luật Dân sự năm 2015... ngày 30/12/2016,
NHNN đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động
cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng để thay thế cho Quyết
định số 1627/2001/QĐ-NHNN, quy định cho vay ngày đối với khách hàng nói chung và
DNNVV nói riêng vẫn đang được áp dụng. Đáng chú ý, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN cũng
quy định về cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên.
Thông qua việc triển khai chính sách cho vay đối với các doanh nghiệp (chủ yếu là
DNNVV) cho thấy, giai đoạn 2011 - 2018, tín dụng cho vay đối với DNVV tăng trưởng khá, đạt
798.543 tỷ đồng (năm 2011), tăng lên 1,3 triệu tỷ đồng (năm 2018), tương ứng tăng 62,79%
(trung bình tăng 8,97%/năm). Mức tăng này được đánh giá là thấp so với mức tăng trưởng tín
dụng bình quân chung cả nước cho thấy, DNNVV là đối tượng nhận được ít khoản vay hơn các
đối tượng khác từ các TCTD, có thể dẫn đến tình trạng thiếu vốn cho sản xuất - kinh doanh.
576
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Đơn vị: Tỷ đồng
1400000
1300000
1202142
1124859
1200000
1000000
800000
600000
400000
200000
0
923455
919293
870344
830744
798543
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018
Hình 1. Tổng dư nợ tín dụng DNNVV, 2011 - 2018
Nguồn: Tổng hợp từ NHNN
Tăng trưởng dư nợ tín dụng năm sau so với năm trước cho vay đối với doanh nghiệp biến
động mạnh theo xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2013 - 2018. Cụ thể, năm 2013, tỷ lệ tăng
trưởng này là 6,1%, nhưng đến năm 2018 là 54,48%. Đáng chú ý, tăng trưởng dư nợ tín dụng
năm 2014 so với năm 2013 là -0,45%, phản ánh đây là thời điểm có nhiều điểm nghẽn về chính
sách đối với DNNVV cần được tháo gỡ, hoặc môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro Đây
cũng có thể do tác động của bất ổn của môi trường kinh doanh trong nước trước các tác động của
sự phục hồi yếu trong khu vực EU cũng như Nhật Bản và Nga.
Việc tăng trưởng tín dụng âm trong năm 2014 cũng cho thấy, mặc dù chính sách tiền tệ
được điều hành theo hướng nới lỏng thận trọng để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, song việc hấp
thụ vốn còn thấp, đặc biệt đối với ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản (chỉ chiếm 10,6% tổng dự
nợ trong năm).
Đơn vị: %
70
60
58.48
Tăng trưꢀng tín
dụng cả nước
50
40
30.84
17.29
30
20
10
0
Tăng trưꢀng dư nợ
đꢁi với DNNVV (năm
sau/so với năm
trước)
18.71
6.42
18.17
15.57
14.16
-0.45
14
12.51
6.1
2013 2014 2015 2016 2017 2018
-10
Hình 2. Tăng trƣởng tín dụng cả nƣớc, dƣ nợ cho vay đối với DNNVV năm sau
so với năm trƣớc liền kề
Nguồn: NHNN
577
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
Nghiên cứu khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV qua hệ thống các ngân hàng thương
mại rất hạn chế. Báo cáo của Hiệp hội DNNVV Việt Nam cho thấy, năm 2011 chỉ có khoảng
30% DNNVV được vay vốn ngân hàng, 70% DNNVV sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nguồn
khác34. Trong các năm 2011 - 2013, có hơn 1/3 DNNVV (gần 36%) trong số các DNNVV đang
hoạt động có tiếp cận vốn ngân hàng. Đến năm 2018, số DNNVV tiếp cận được vốn ngân hàng,
tổ chức tín dụng lại giảm xuống, có 70% DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân
hàng, trong đó có hơn 30% là DNNVV không thể tiếp cận nguồn vốn ngân hàng và 30% doanh
nghiệp khác cho biết rất khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Gần 70% DNNVV còn lại
phải tiếp tục sử dụng nguồn vốn tự có hoặc vay từ nguồn vốn khác với chi phí rất cao, nhiều rủi
ro. Tỷ lệ dư nợ cho DNNVV chiếm trung bình khoảng 22 - 25% tổng dư nợ cho vay toàn bộ nền
kinh tế trong giai đoạn 2012 - 2017…[VCCI, 2018]. Điều này phản ánh các DNNVV đang phải
tìm kiếm (khoảng 2/3) các nguồn vốn bên ngoài để phục vụ cho hoạt động của mình, trong khi
khả năng tiếp cận nguồn vốn của DNNVV lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố rất nhiều đặc tính của
doanh nghiệp như quy mô, số năm hoạt động, ngành nghề kinh doanh, mức độ phát triển của
quốc gia, vòng đời kinh doanh và loại hình doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đặc điểm của chủ doanh
nghiệp như kinh nghiệm quản lý, khả năng tài chính, quản lý nhiều hơn một công ty cũng quyết
định khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp [Harvie et al., 2013].
Việc DNNVV tiếp cận vốn của các TCTD khó khó khăn còn thể hiện qua quy mô, tốc độ
và tỷ lệ gia tăng dự nợ cho vay qua các năm so với tốc tăng trưởng số lượng DNNVV. Mặc dù
các DNNVV hoạt động ở cả 3 ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp và thương mại) tăng lên
hằng năm, tính riêng giai đoạn 2012 - 2017, số lượng DNNVV tăng nhanh nhất 1,53 lần, chiếm
98,1% tổng số doanh nghiệp, trong khi đó doanh nghiệp lớn chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn với 1,9%
(năm 2012: Cả nước có 338.916 doanh nghiệp; năm 2013: 365.181 doanh nghiệp; năm 2014:
393.915 doanh nghiệp; năm 2015: 433.453 doanh nghiệp; năm 2016: 495.010 doanh nghiệp;
năm 2017: 517.900 doanh nghiệp... ), tuy nhiên điều nghịch lý là tỷ trọng tăng trưởng dư nợ tín
dụng cho vay ngân hằng năm sau so với năm trước lại cao hơn nhưng tổng dư nợ cho vay
DNNVV giai đoạn 2012 - 2017 chỉ tăng 1,35 lần (dư nợ cho vay DNNVV năm 2012: 830.744 tỷ
đồng; năm 2013: 870.344 tỷ đồng; năm 2014: 923.455 tỷ đồng; năm 2015: 919.293 tỷ đồng; năm
2016: 1.202.142 tỷ đồng; năm 2017: 1.124.859 tỷ đồng; năm 2018: 1,3 triệu tỷ đồng), làm cho tỷ
lệ dư nợ bình quân cho vay đối với từng DNNVV ngày giảm giảm.
Việc khó tiếp cận nguồn vốn dẫn đến DNNVV thường có quy mô nhỏ về vốn và gặp một
số khó khăn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh như hạn chế về khả năng
mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường; hạn chế khả năng tiếp cận
thông tin; hạn chế về khả năng tiếp cận đất đai, các nguồn vốn. Những hạn dẫn tới hiệu quả sản
xuất - kinh doanh của DNNVV chưa cao, lợi nhuận thấp.
34 Báo cáo tình hình trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 2012, Cục Phát triển doanh nghiệp.
578
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Bảng 1. Kết quả sản xuất - kinh doanh của DNNVV
Doanh nghiệp có lãi
Lãi bình
Doanh nghiệp lỗ
Lãi bình
Số doanh
nghiệp
quân 1
doanh
nghiệp
(Triệu
đồng)
Số doanh
nghiệp
quân 1
doanh
nghiệp
(Triệu
đồng)
-10723
-9889
-32675
-46600
-615
Tổng
mức lãi
Tổng
mức lãi
Năm
(doanh
(doanh
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
nghiệp)
nghiệp)
2491
3901
44617
112747
315325
579827
6907
17911
587
980
-6295
-9691
2000
2005
2010
2015
2000
2005
2010
2015
Doanh
nghiệp
lớn
28902
54263
82644
247
5811
1210
-39536
-92176
-4476
7016
1978
27944
61644
173306
201330
7274
21316
346
29517
69015
189823
-8564
-290
DNNVV
132161
208761
763
-51648
-143666
-748
1037
-757
Nguồn: Doanh nghiệp Việt Nam 15 năm đầu thế kỷ
Về quy mô vốn của doanh DNNVV: Theo Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2007 -
2015, quy mô tổng nguồn vốn doanh nghiệp Việt Nam tăng lên gấp 5 lần, từ 4.801 nghìn tỷ đồng
lên đến 23.882 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó quy mô doanh nghiệp tăng gấp 3 lần và quy mô lao
động trong doanh nghiệp có tăng, nhưng dừng lại ở con số 1,7 lần. Điều này cho thấy quy mô
vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong đó có khu vực DNNVV đang có dấu hiệu mở rộng,
giúp cho DNNVV có thêm tiềm lực để đầu tư vào hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Đơn vị: %
60
50
40
30
20
10
0
Tăng trưꢀng vꢁn
Tăng trưꢀng lao
đꢂng
Tăng trưꢀng sꢁ
lượng
2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Hình 3. Tốc độ tăng trƣởng vốn, lao động và số lƣợng
Nguồn: Sách trắng DNNVV năm 2017
579
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
Giai đoạn 2007 - 2011 cũng chứng kiến sự tăng lên mạnh mẽ của cả tổng nguồn vốn và
lao động, đến giai đoạn 2011 - 2015, mức tăng trưởng này có phần chững lại. Cụ thể, bình quân
giai đoạn 2007 - 2011 tổng nguồn vốn tăng trung bình khoảng 40%/năm, số lao động bình quân
cũng tăng khoảng 20%/năm. Giai đoạn 2011 - 2015, vốn vẫn tăng trưởng, song với tốc độ nhỏ
hơn, chỉ khoảng 15%/năm và tốc độ tăng trưởng lao động khoảng 4,1% mỗi năm.
So sánh sự tăng trưởng của số lượng doanh nghiệp, lao động và nguồn vốn của các doanh
nghiệp Việt Nam, dễ dàng nhận thấy nguồn vốn luôn tăng với tốc độ vượt trội hơn hẳn so với tốc
độ tăng của số lượng doanh nghiệp hay lực lượng lao động, xu hướng này cho thấy doanh nghiệp
Việt Nam đang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào đồng vốn hơn là lao động, dẫn đến năng suất của
DNNVV Việt Nam không được tăng nhanh qua các năm so với các nước trong khu vực.
b. Thông qua bảo lãnh tín dụng
Ngày 30/6/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển
DNNVV (thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP), quy định 8 nhóm hỗ trợ phát triển DNNVV.
Nghị định quy định 8 nhóm chính sách trợ giúp DNNVV, trong đó có quy định trợ giúp về tài
chính. Theo đó, Nhà nước khuyến khích thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV; xây dựng cơ
chế thành lập và hoạt động của các Quỹ bảo lãnh tín dụng trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
và hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV. Tiếp đó, ngày 15/10/2013,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg về Quy chế thành lập, tổ
chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV.
Để triển khai Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
34/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng
cho DNNVV đã bước đầu giải quyết vấn đề khó khăn tài chính của các Quỹ.
Quỹ Bảo lãnh tín dụng là quỹ tài chính ngoài ngân sách do ủy ban nhân dân tỉnh thành lập,
với vai trò cấp bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, hoạt động độc lập theo mô hình Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn. Các DNNVV được xem xét cấp
bảo lãnh tối đa bằng 100% giá trị khoản vay (bao gồm cả vốn lưu động và vốn trung, dài hạn) tại
tổ chức cho vay với điều kiện: Doanh nghiệp có dự án đầu tư, phương án sản xuất - kinh doanh
hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay; dự án đầu tư, phương án sản xuất - kinh doanh được Quỹ
bảo lãnh tín dụng thẩm định và quyết định bảo lãnh; có phương án về chủ sở hữu tối thiểu 20%
tham gia dự án đầu tư, phương án kinh doanh; không có các khoản nợ thuế từ 01 năm trở lên.
Tính đến cuối tháng 5/2019, dư nợ cho vay DNNVV trên cơ sở bảo lãnh của Quỹ bảo
lãnh tín dụng phát sinh tại 11 địa phương đạt khoảng 500 tỷ đồng, giảm 22% so với dư nợ
thời điểm tháng 12/2018 [Ngân hàng Nhà nước, 2019]. Việc ra đời và hoạt động của Quỹ bảo
lãnh tín dụng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV trong việc tiếp cận nguồn vốn vay
của các tổ chức tín dụng; giúp doanh nghiệp có vốn để duy trì, mở rộng, phát triển hoạt động
sản xuất - kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Quỹ Phát triển
DNNVV được thành lập để hỗ trợ cho các DNNVV có dự án, phương án sản xuất - kinh
doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước, phù hợp với mục đích
hoạt động của Quỹ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần làm
tăng thu nhập, tạo việc làm cho người lao động.
580
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Tuy nhiên, nguồn vốn của những Quỹ này chủ yếu do ngân sách địa phương góp, tổ chức
tín dụng có tham gia góp vốn nhưng ở mức khiêm tốn. Tổ chức bộ máy và năng lực điều hành
của Quỹ còn nhiều hạn chế. Việc huy động nguồn vốn cho Quỹ gặp nhiều khó khăn.
2.2. Chính sách huy động về tài chính
a. Thông qua Quỹ phát triển DNNVV
của Chính phủ, Quỹ Phát triển DNNVV theo Quyết định số 601/QĐ-TTg đã được thành lập
ngày 17/4/2013. Từ tháng 9/2014, Quỹ đã hình thành bộ máy tổ chức và đi vào hoạt động ổn
định. Tiếp đó, ngày 12/8/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 119/2015/TT-BTC hướng
dẫn cơ chế quản lý tài chính của Quỹ, theo đó Bộ Tài chính công bố lãi suất cho vay của Quỹ
trong từng thời kỳ phù hợp với diễn biến lãi suất của thị trường theo quy định lãi suất cho vay
của Quỹ không vượt quá 90% lãi suất cho vay thương mại, áp dụng từ ngày 01/10/2015.
Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển DNNVV, tại Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016,
Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, sửa đổi và bổ sung chức năng, nhiệm vụ của
Quỹ Phát triển DNNVV để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Nhờ đó, Quỹ
Phát triển DNNVV đã được bổ sung chức năng và nhiệm vụ về cho vay, đầu tư, tài trợ để hỗ trợ
doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, DNNVV tham gia chuỗi giá trị bền vững, hình
thành cụm liên kết ngành (Điều 20, Luật Hỗ trợ DNNVV). Trên cơ sở đó, ngày 10/5/2019,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2019/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát
triển DNNVV (Thay thế cho Quyết định số 601/QĐ-TTg).
Quỹ phát triển DNNVV (theo Quyết định số 601/QĐ-TTg) thành lập theo mô hình Công
ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, với vốn tối thiểu là 2 nghìn tỷ đồng.
Đối tượng quan tâm của Quỹ là DNNVV khởi nghiệp sáng tạo và DNNVV tham gia cụm liên
kết ngành được vay vốn tối đa 80% tổng vốn đầu tư để thực hiện dự án, phương án sản xuất -
kinh doanh với lãi suất cho vay trực tiếp bằng 80% mức thấp nhất lãi suất cho vay thương mại,
thời hạn cho vay không quá 7 năm. Quỹ chủ yếu hoạt động thông qua hình thức ủy thác vốn cho
Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại (NHTM) đáp ứng điều kiện hoặc
cho vay trực tiếp.
Tính đến tháng 5/2018, cả nước đã có trên 1.600 DNNVV tiếp cận trực tiếp với Quỹ và
được hỗ trợ tư vấn về điều kiện, tiêu chí, hồ sơ, thủ tục vay vốn của Quỹ. Hiện tổng số vốn Quỹ
đã chấp thuận ủy thác cho ngân hàng để giải ngân cho DNNVV là 149,8 tỷ đồng. Như vậy, so
với tổng số DNNVV ở thời điểm năm 2017 là 508 nghìn doanh nghiệp, thì số DNNVV tiếp cận
tài chính từ quỹ chỉ đạt con số rất nhỏ là 0,31%, phản ánh việc tài trợ vốn cho DNNVV từ quỹ
chưa có hỗ trợ nhiều cho DNNVV.
Tuy nhiên, với Nghị định số 39/2019/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển
DNNVV (Thay thế cho Quyết định số 601/QĐ-TTg). Quỹ được đánh giá là tăng cơ hội tiếp cận
vốn cho DNNVV. Bởi đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục
tiêu lợi nhuận. Lãi suất cho vay trực tiếp bằng 80% mức thấp nhất lãi suất cho vay thương mại,
đây là mức lãi suất ưu đãi hơn so với lãi suất cho vay theo Quyết định số 601/QĐ-TTg. Hơn thế,
mức cho vay đối với mỗi dự án, phương án sản xuất - kinh doanh tối đa không quá 80% tổng
581
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
mức vốn đầu tư của từng dự án, phương án. Tổng mức cho vay của quỹ đối với một DNVVN
không được vượt quá 15% vốn điều lệ thực có của quỹ. Với những điều kiện cởi mở này, tạo
điều kiện DNNVV tiếp cận với quỹ được tốt hơn, song vấn đề gặp phải cũng như quỹ Bảo lãnh
là nguồn vốn của quỹ thường không nhiều so với nhu cầu của DNNVV, dẫn đến khả năng phục
vụ khách hàng bị hạn chế.
b. Thông qua chính sách hỗ trợ miễn, giảm, giãn thuế
Kể từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 - 2009, nền kinh tế Việt Nam gặp không ít
thách thức, khó khăn, trong đó có DNNVV. Theo đó, Nhà nước đã ban hành các chính sách tháo
gỡ khó khăn cho thị trường nhằm hỗ trợ sản xuất - kinh doanh như Nghị quyết số
08/2011/QH13, Nghị quyết số 29/2012/QH13, Nghị quyết số 13/2012/NQ-CP và Nghị quyết số
02/2013/NQ-CP. Trong đó đã hỗ trợ miễn, giảm, giãn nhiều loại thuế, phí cho DNNVV như:
Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp năm 2011 đối với: DNNVV và
doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông sản, lâm
sản, thủy sản, dệt may, da giầy, linh kiện điện tử, xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã
hội; giảm 50% số thuế TNCN phải nộp từ ngày 01/8/2011 đến hết ngày 31/12/2012 đối với hoạt
động chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân...
Bên cạnh đó, Luật thuế TNDN đã đặt ra lộ trình mà Chiến lược cải cách thuế giai đoạn
2011 - 2020 đã đặt ra. Từ ngày 01/01/2009 giảm từ 28% xuống 25% và từ 01/01/2014 giảm từ
mức 25% xuống 22%, riêng doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa được áp dụng mức 20% ngay từ
1/7/2013. Từ ngày 01/01/2016, mức thuế suất phổ thông là 20% [Vụ Chính sách Thuế, 2019].
Để tiếp tục khuyến khích DNNVV phát triển theo Nghị quyết số 35/NQ-CP, cụ thể hóa
quy định tại Luật Hỗ trợ DNNVV, tháng 3/2019, Bộ Tài chính trình Chính phủ trình Quốc hội
cho doanh nghiệp trong nhóm DNNVV được giảm thuế suất thuế TNDN xuống còn 15 - 17%.
Việc giảm thuế suất thuế TNDN xuống mức 15 - 17% đảm bảo sự khuyến khích đối với
DNNVV (mức này bằng với mức thuế suất ưu đãi áp dụng cho các dự án đầu tư mới tại địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, lĩnh vực chế biến nông sản, thủy sản và theo mức thuế
suất này thì mức độ khuyến khích đối với DNNVV thậm chí còn cao hơn giai đoạn 2014 -
201535)36.
Theo đánh giá, các giải pháp hỗ trợ DNNVV miễn, giảm thuế 2011 - 2013 theo Nghị
quyết số 08/2011/QH13, Nghị quyết số 29/2012/QH13, Nghị quyết số 13/2012/NQ-CP và Nghị
quyết số 02/2013/NQ-CP đã hỗ trợ cho các doanh nghiệp năm 2012 là 2.468 tỷ đồng tiền thuế
TNDN (trong đó có 197.719 DNNVV được giảm thuế với tổng số tiền là 1.827 tỷ đồng và 892
doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động được giảm thuế với tổng tiền là 640 tỷ đồng); miễn 62,4 tỷ
đồng tiền thuế TNDN và thuế GTGT (1,4 tỷ đồng từ thuế TNDN và 61 tỷ đồng tiền thuế GTGT)
cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia ổn định sản xuất - kinh doanh và khoảng 1.388 tỷ
đồng thuế TNCN trong 6 tháng cuối năm 2012 cho cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương,
35
Giai đoạn 2014 - 2015, DNNVV áp dụng mức thuế suất 20%, tức là được giảm 2% so với mức thuế suất phổ
thông (22%). Hiện nay, mức thuế suất phổ thông là 20% nên đề xuất mức thuế suất 15%, 17% thì DNNVV được
giảm 3% - 5% so với mức thuế suất phổ thông.
36 Dự thảo Tờ trình Chính phủ của Bộ Tài chính về việc xây dựng dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số chính
sách thuế thu nhập doanh nghiệp hỗ trợ, phát triển DNNVV.
582
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
tiền công và từ kinh doanh. Theo đại diện của một số DNNVV hưởng thụ chính sách, thì những
ưu đãi trên giúp cho DNNVV tiết kiệm được chi phí sản xuất - kinh doanh (do Nhà nước gia hạn
thuế tức doanh nghiệp được sử dụng vốn của nhà nước thêm 1 thời gian mà không phát sinh chi
phí), quay vòng nhanh sản xuất - kinh doanh… Tuy nhiên, DNNVV vẫn phải thực hiện nhiều
nghĩa vụ thuế khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ, dẫn đến tình trạng không đảm bảo dòng tiền để
thanh toán các nghĩa vụ thuế. Bên cạnh đó, hiện tượng lợi dụng chính sách hoàn thuế để chiếm
đoạt tiền có thể xảy ra nếu việc thanh, kiểm tra thiết chặt chẽ đối với DNNVV.
Đối với Dự thảo Tờ trình Chính phủ việc xây dựng dự án Nghị quyết của Quốc hội về
một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp hỗ trợ, phát triển DNNVV (tháng 3/2019), theo
đánh giá của Bộ Tài chính, những giải pháp về thuế ở Dự thảo này có tác động lớn đến việc thúc
đẩy phát triển sản xuất - kinh doanh đối với khu vực DNNVV, tháo gỡ khó khăn cho doanh
nghiệp, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, minh bạch và cải cách thủ tục hành chính. Việc thực
hiện các giải pháp này có thể làm giảm thu NSNN khoảng 9.200 tỷ đồng/năm (trong đó giải
pháp giảm thuế suất cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ giảm khoảng 6.500 tỷ đồng và giải pháp
miễn thuế trong vòng 02 năm đối với doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh khoảng 2.722
tỷ đồng/năm). Mặc dù việc giảm nghĩa vụ này trong ngắn hạn có gây áp lực lên cân đối NSNN
nhưng về dài hạn sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tăng tích tụ, tích lũy, tái đầu
tư, phát triển sản xuất - kinh doanh, từ đó góp phần tăng thu từ thuế TNDN cho NSNN vào
những năm sau [Bộ Tài chính, 2019].
c. Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Huy động vốn của DNNVV thông qua kênh phát hành TPDN giai đoạn 2011 - 2018
được thực hiện theo Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 của Chính phủ. Trong quá
trình triển khai thực hiện Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, cùng với sự thay đổi của cơ chế chính
sách và tình hình thị trường có nhiều biến động, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP đã bộc lộ một số
tồn tại, hạn chế cần phải sửa đổi để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường tài
chính. Do đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2018/NĐ-CP. Nghị định số
163/2018/NĐ-CP được đánh giá tạo bước đột phá trong việc huy động vốn cho DNNVV trong
trung và dài hạn, tạo tiền đề cho DNNVV. Nghị định cũng đã tháo bỏ điều kiện doanh nghiệp
phát hành trái phiếu phải có kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của năm liên kề trước năm
phát hành có lãi; bổ sung quy định điều kiện phát hành trái phiếu chia thành nhiều đợt, không
quy định bắt buộc doanh nghiệp xây dựng phương án phát hành và đăng ký chương trình phát
hành trái phiếu trong năm tài chính... đã tạo điều kiện cho DNNVV huy động được nguồn vốn
ngoài kênh truyền thống là TCTD.
Để giúp doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, ngày 14/10/2011,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2011/NĐ-CP. Trong giai đoạn từ năm 2011 - 2018, thị
trường TPDN có sự tăng trưởng, phát triển so với giai đoạn trước cả về quy mô huy động vốn và
số lượng doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Từ khi Nghị định số 90/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi
hành đến cuối năm 2016, đã có 367 đợt đăng ký phát hành theo hình thức riêng lẻ tại thị trường
trong nước với khối lượng đăng ký phát hành là 183.550 tỷ đồng, trong đó có 359 đợt phát hành
với khối lượng phát hành thực tế là 129.636 tỷ đồng; năm 2018 có 107 thương vụ phát hành
583
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
TPDN của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán với khối lượng phát hành thành
công là 224.000 tỷ đồng, tăng 94,5% so với năm 2017. Dư nợ TPDN phát hành trong nước đến
cuối năm 2018, dư nợ thị trường TPDN đạt mức 474.500 tỷ đồng, bằng 8,6% GDP năm 2018 và
tăng 53% so với cuối năm 2017.
Cũng trong giai đoạn 2011 - 2018, giá trị phát hành trái phiếu năm 2018 tăng hơn 15 lần
so với năm 2011, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 39%. Tuy nhiên, dư nợ thị trường TPDN hiện
vẫn rất thấp. Cụ thể, thời điểm cuối năm 2018, dư nợ TPDN tăng 53% so với cuối năm 2017,
nhưng chỉ bằng 8,5% GDP, trong khi bình quân của các nước trong khu vực là 22%. Đáng chú ý,
nếu so sánh với các nước trong khu vực cho thấy thị trường TPDN Việt Nam còn khá nhỏ. Cụ
thể chỉ tính riêng năm 2016 thì giá trị phát hành TPDN của Indonesia, Malaysia, Philippines,
Singapore, Thái Lan lần lượt là 23; 118,97; 18; 97; 81,45 tỷ USD.
Trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng mức phát hành TPDN là 116.085 tỷ đồng, tăng 7,4%
so với cùng kỳ 2018. Ngân hàng thương mại phát hành 36.700 tỷ đồng (chiếm 36%), doanh
nghiệp bất động sản là 22.122 tỷ đồng (19%), lượng phát hành của công ty chứng khoán chiếm
3,5%, còn lại là các doanh nghiệp khác. Đến cuối tháng 6/2019, quy mô vốn hóa thị trường
TPDN bằng 10,22% GDP, tăng 21% so với cùng kỳ 2018, vượt mục tiêu đặt ra là 7% GDP vào
năm 2020. Cũng trong 6 tháng đầu năm 2019, khối lượng TPDN phát hành đạt 89.483 tỷ đồng,
bằng 134% so với cùng kỳ năm 2018. Tính đến ngày 24/6/2019, dư nợ thị trường TPDN đạt
10,2% GDP năm 2018, tăng 19,2% so với cuối năm 2018 (8,6% GDP), quy mô thị trường TPDN
đã vượt mục tiêu đề ra đến năm 2020 (tại Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/8/2017 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017 - 2020, trong
đó dư nợ thị trường TPDN đạt 7% GDP vào năm 2020).
Đơn vị: Tỷ đồng
500000
436773
450000
400000
350000
300000
250000
200000
150000
100000
50000
0
Giá trị TPDN
phát hành mới
trong năm
310017
238474
156544
146038
142138
127980
Giá trị TPDN
hiꢃn hành
115416
97413
81715
48047
42769
34412
28707
2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Hình 4. Kết quả phát hành TPDN, 2011 - 2018
Nguồn: T nh toán của tác giả từ số liệu của ộ Tài ch nh
Về lãi suất phát hành, lãi suất TPDN bình quân là bằng và cao hơn khoảng 0,5% so với
mức cho vay phổ biến của các thương mại. Trong đó lãi suất một số đợt phát hành TPDN cao
584
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
trong thời gian gần đây, từ 12 - 14%. Cá biệt, có doanh nghiệp bất động sản phát hành tới 14 -
15%, cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác
[Chinhphu.vn, 2019], dẫn tới tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro cao khi hầu như tất cả trái phiếu phát
hành này chưa được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm. Lãi suất TPDN cao cũng cao có thể ảnh
hưởng đến việc kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Về cơ cấu doanh nghiệp phát hành, các ngân hàng (chiếm trên 26%), công ty bất động
sản (khoảng 22%) là những trái chủ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu phát hành trái phiếu
của doanh nghiệp do có tiềm lực về vốn, khả năng tiếp cận thông tin nhanh cũng như năng lực
phân tích đầu tư chuyên nghiệp. Trong khi đó, lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, xây dựng hạ tầng
cần khuyến khích lại có tỷ trong phát hành thấp chỉ khoảng 13%/lĩnh vực.
Tuy nhiên, thị trường TPDN đối tượng phát hành chủ yếu là các tập đoàn tư nhân lớn
(thuộc khối doanh nghiệp vừa) và chủ yếu phát hành riêng lẻ cho đối tác, không phải phát hành
ra công chúng, trong khi các doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ ít thực hiện huy động
vốn qua hình thức phát hành trái phiếu. Đáng chú ý, tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp
hầu như chưa được xếp hạng tín nhiệm nên tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư cá
nhân không đủ thông tin phân tích rủi ro. 70% doanh nghiệp phát hành trái phiếu sử dụng tài sản
và tài sản hình thành từ nguồn hình thành trái phiếu nhưng chưa được định giá bởi tổ chức định
giá độc lập và khó xác minh các tranh chấp pháp lý. 98% các đợt phát hành là riêng lẻ.
d. Huy động vốn tài chính thông qua vốn tự có, vốn góp
Trong các nguồn vốn của DNNVV, nguồn vốn tự có, vốn góp hay vốn chủ sở hữu có vai
trò khá quan trọng. Trong vốn chủ sở hữu có vốn điều lệ, việc huy động nguồn vốn này được
thực hiện theo quy định về thành lập theo Luật Doanh nghiệp 2014, Bộ Luật Dân sự (chủ yếu
thông qua quy định về hợp đồng kinh tế về góp vốn) và các quy định liên quan.
Giai đoạn 2000 - 2015, nguồn vốn chủ sở hữu của các DNNVV để thực hiện hoạt động
sản xuất - kinh doanh đạt khoảng 38 - 43% tổng số vốn của DNNVV, trong đó trong giai đoạn từ
năm 2010 - 2015, tỷ lệ này có xu hướng giảm từ 40,3% xuống còn 38,4%, phản ánh năng lực tài
chính thực có của DNNVV ngày càng giảm xuống; đồng thời DNNVV ngày càng dựa nhiều vào
nguồn vốn bên ngoài, dẫn đến DNNVV phải trả chi phí vốn ngày càng cao. Tuy nhiên, so với
khối doanh nghiệp lớn, nguồn vốn chủ sở hữu của DNNVV lại cao hơn khoảng gần 2 lần, cho
thấy khối DNNVV có năng lực tài chính tự có hơn đối với các doanh nghiệp lớn. Nếu xét về giá
trị nguồn vốn chủ sở hữu để thực hiện hoạt động sản xuất - kinh doanh thì lại đáng ngạc nhiên
khi giá trị này của khối doanh nghiệp lớn tương đồng, thậm chí còn cao hơn so với khối
DNNVV, khẳng định việc chiếm đa số về số lượng doanh nghiệp của DNNVV nhưng không
chiếm lợi thế về giá trị vốn chủ sở hữu.
Đáng chú ý, khối DNNVV và doanh nghiệp lớn đều nằm trong tình trạng là nguồn vốn
chủ sở hữu lại thấp hơn nợ phải trả qua các năm, đơn cử đối với DNNVV: Năm 2010, vốn chủ
sở hữu là 1.878.866, nợ phải trả là 2.824.296; năm 2015 vốn chủ sở hữu và nợ phải trả tương
ứng là 3.656.908, 5.972.790. Điều này cho thấy, nguồn vốn huy động thông qua vốn điều lệ nói
riêng và các nguồn vốn chủ sở hữu nói chung không đủ bù đắp cho những khoản doanh nghiệp
nợ, trong đó có những khoản nợ vay ngân hàng, nợ tiền hàng…
585
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
e. Thông qua nguồn huy động khác: Nguồn vốn này có thể là nguồn vốn từ các doanh
nghiệp đối tác thông qua hình thức triết khấu, trả chậm mà doanh nghiệp đối tác tạo điều kiện
cho bên mua. Việc huy động các nguồn vốn này chủ yếu thông qua những cam kết của DNNVV
với đối tác thông qua các điều khoản hợp đồng, phù hợp với quy định hiện hành, đặc biệt là Bộ
Luật Dân sự 2015. Trong đó các chủ thể quy định các quyền và nghĩa vụ tương ứng. Tuy nhiên,
nguồn vốn này chỉ mang tính tạm thời, không đem lại nhiều lợi ích cho DNNVV bởi nếu
DNNVV nhận triết khấu khi mua hàng hay trả chậm cho đối tác bán hàng, thì khi doanh nghiệp
này là đơn vị bán hàng hóa lại phải chịu khoản thiệt thòi cho đối tác mua khác.
2.3. Chính sách phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính - tín dụng
Việc phân phối nguồn vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh được thực hiện theo các
pháp luật chuyên ngành, tùy từng mục đích của DNNVV đầu tư vào lĩnh vực nào thì chịu sự điều
chỉnh về pháp luật liên quan đến lĩnh vực đó. Chẳng hạn, DNNVV phân phối và sử dụng nguồn
lực vào lĩnh vực xây dựng cầu đường thì chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng, Luật Đầu tư…;
sử dụng vốn vào mục đích sản xuất nông nghiệp thì chịu sự quản lý trong lĩnh vực quản lý
chuyên ngành về nông nghiệp…
Thông qua việc sử dụng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp cho thấy, giai đoạn
2010 - 2017: Về giá trị, doanh nghiệp ngoài nhà nước có giá trị vốn dành cho sản xuất - kinh
doaonh nhiều nhất, đạt 5451,8 (năm 2010) tăng lên 16115,7 nghìn tỷ đồng (năm 2017), cao gấp
hơn gần 2 lần khối DNNN và hơn 3 lần đối với doanh nghiệp FDI, điều này phản ánh mong
muốn mở rộng của khối doanh nghiệp ngoài nhà nước ngày càng cao. Xét theo cơ cấu vốn, trong
cùng giai đoạn, doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ trọng vốn phân phối vốn cho sản xuất - kinh
doanh chiếm 50,81% trong tổng vốn của các doanh nghiệp (chủ yếu là DNNVV) đầu tư cho sản
xuất - kinh doanh; tiếp đến là DNNN chiếm 31,21%, doanh nghiệp FDI chiếm 17,98%.
Bình quân giai đoạn 2016 - 2017, mỗi năm doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản
xuất - kinh doanh thu hút 30,55 triệu tỷ đồng vốn cho sản xuất - kinh doanh, tăng 62,3% so với
vốn bình quân giai đoạn 2011 - 2015 [Sách trắng doanh nghiệp 2019]. Mặc dù vốn sản xuất -
kinh doanh của các doanh nghiêp tăng đều qua các năm, nguyên nhân chủ yếu là do đóng góp
của doanh nghiệp ngoài nhà nước, còn khối DNNN và FDI lại có xu hướng giảm trong những
năm gần đây, cho thấy nguồn vốn phân phối chưa được hiệu quả của hai khối doanh nghiệp này.
Phân theo nhóm ngành, thì các các nhóm nhận được nhiều vốn đầu tư nhất gồm có hoạt
động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; công nghiệp chế biến, chế tạo; hoạt động kinh doanh bất
động sản; bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; xây dựng.
Còn những ngành nhận được ít vốn đầu tư của DNNVV gồm: Cung cấp nước; hoạt động quản
lý và xử lý rác thải, nước thải; nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản; hoạt động hành chính và
dịch vụ hỗ trợ… cho thấy việc đầu tư của các DNNVV còn tập trung nhiều vào ngành mang tính
thương mại, còn những ngành ít thu được lợi nhuận ít được chú trọng đến, đặc biệt là ngành
nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Về kết quả sử dụng nguồn vốn đầu tư cho sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp
nhìn chung là đem lại hiệu quả rõ rệt. Mặc dù vậy, hiệu quả ở các khối doanh nghiệp lại tương
đối khác nhau, cụ thể: Giai đoạn 2010 - 2017, doanh thu thuần hoạt động sản xuất - kinh doanh
586
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
của doanh nghiệp đã tăng 2,76 lần, từ 7487,7 tỷ đồng (năm 2010) lên 20664,3 tỷ đồng (năm
2017). Trong đó khối doanh nghiệp FDI tăng cao nhất (4,18 lần), tiếp đến là doanh nghiệp ngoài
nhà nước tăng 2,89 lần, DNNN (chủ yếu là doanh nghiệp lớn) tăng 1,54 lần. Chứng tỏ tính hiệu
quả trong việc sử dụng đồng vốn của ngoài nhà nước và doanh nghiệp nhà nước là chưa cao.
Theo Tổng cục Thống kê, xét theo ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp cho thấy
doanh thu được tạo ra nhiều nhất ở các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; bán buôn và bán lẻ;
sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; xây dựng; Sản xuất và phân phối điện, khí
đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí… điều này phù hợp với tỷ trọng đầu tư vào
những ngành này của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, do khó khăn của nền kinh tế, công với chủ
trương siết chặt tín dụng thị trường bất động sản, cho nên ngành này có doanh thu không cao
trong khi lượng vốn đầu tư lại tăng mạnh. Dẫn đến nợ xấu và tồn kho bất động sản gia tăng.
III. Giải pháp hoàn thiện chính sách huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài
chính - tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Để tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp, phấn đấu đến năm 2020 cả nước
có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận cũng
như phân phối, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính - tín dụng đối với DNNVV thì cần những
giải pháp tháo gỡ về mặt chính sách cũng như hỗ trợ các DNNVV, bao gồm:
1. TCTD vẫn là nơi cung cấp nguồn vốn chính cho DNNVV, trong khi các DNNVV lại
đang khó tiếp cận vốn vay như đã phân tích. Do vậy, cần đánh giá thực hiện tình hình cho vay
đối với DNNVV theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016, trong đó bao gồm cả
cho vay theo các lĩnh vực ưu tiên để có những tháo gỡ kịp thời, đảm bảo một mặt giúp ổn định
hệ thống ngân hàng nhưng vẫn tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận vốn vay để phục vụ sản xuất -
kinh doanh. Đơn cử như cần tháo gỡ vướng mắc trong việc việc cho vay đối với doanh nghiệp tư
nhân vì về nguyên tắc, doanh nghiệp tư nhân (tổ chức không có tư cách pháp nhân) không thể tự
mình tham gia quan hệ dân sự, nên không thể vay theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, trong
khi nhu cầu vay của khối doanh nghiệp này là lớn...; tháo gỡ vướng mắc về tài sản đảm bảo; tháo
gỡ về lãi suất cho vay…
2. để phát triển thị trường TPDN nhằm cung cấp vốn cho DNNVV trong trung và dài
hạn, cần tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi. Trong đó, nên quy định cụ thể
phát hành trái phiếu riêng lẻ theo hướng chỉ dành cho nhà đầu tư chuyên nghiệp có năng lực
phân tích tài chính và khả năng đánh giá rủi ro. Đối với việc phát hành phát hành trái phiếu ra
công chúng, cần sửa đổi các quy định để rút ngắn quy trình phát hành, thúc đẩy doanh nghiệp
huy động vốn theo phương thức này, gắn phát hành ra công chúng bắt buộc với xếp hạng tín
nhiệm. Đồng thời, cần nghiên cứu thể chế chính sách để phát triển dịch vụ xếp hạng tín nhiệm
trong phát hành trái phiếu bởi hiện thị trường này vẫn còn khá trầm nắng. Bên cạnh đó, cần phân
định ngưỡng yêu cầu để các nhà đầu tư có thể tham gia mua trong đợt phát hành riêng lẻ. Dự
thảo Luật Chứng khoán sửa đổi cần xác định rõ ràng ngưỡng nào mà một nhà đầu tư đủ điều
kiện tham gia mua trong đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ. Nghị định số 163/2018/NĐ-CP hiện
vẫn cho phép nhà đầu tư không chuyên nghiệp được mua trái phiếu riêng lẻ dù đã thắt chặt điều
kiện hơn trước và cần sửa đổi theo khi Luật Chứng khoán sửa đổi được Quốc hội thông qua.
587
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
3. Tiếp tục thực hiện giải pháp hỗ trợ về tài chính chính cho DNNVV bởi DNNVV đánh
giá khá tốt về các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước trong thời gian qua. Do đó, để triển khai Luật
Hỗ trợ DNNVV, Nhà nước cần thực hiện giảm thuế TNDN37 cho DNNVV như sau: Doanh
nghiệp nhỏ áp dụng thuế suất 17%; Doanh nghiệp siêu nhỏ áp dụng thuế suất 15%. Trong đó tiêu
chí để xác định DNNVV cụ thể là: Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có tổng doanh thu
năm dưới ba tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10
người; doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân
năm không quá 100 người, đồng thời đáp ứng điều kiện có tổng doanh thu năm từ 3 - 50 tỷ đồng.
Doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được áp dụng thuế suất 15% và
17% nêu trên là tổng doanh thu của năm trước liền kề. Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập,
Chính phủ quy định cụ thể tổng doanh thu làm căn cứ áp dụng.
Tuy nhiên, mức thuế suất 15% và 17% không được áp dụng đối với các trường hợp: Thu
nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất
động sản (trừ nhà ở xã hội quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp), thu nhập từ chuyển
nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm
dò, khai thác khoáng sản; thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất - kinh doanh ở ngoài Việt
Nam; Thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu, khí, tài nguyên quý hiếm khác và
thu nhập từ hoạt động khai thác khoáng sản; thu nhập từ sản xuất - kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
thuộc diện chịu thuế TTĐB theo quy định của Luật Thuế TTĐB; Công ty con hoặc công ty có
quan hệ liên kết mà doanh nghiệp trong quan hệ liên kết không phải là doanh nghiệp nhỏ, siêu
nhỏ thuộc các đối tượng quy định tại Nghị quyết này. Bởi đây là những lĩnh vực mà Nhà nước
chưa cần thiết phải hỗ trợ mà cần phải siết chặt.
Để tránh việc tận dụng kẽ hở trong việc ưu đãi thuế của DNNVV, việc kiểm tra của cơ
quan thuế đối với các DNNVV thuộc diện ưu đãi là cần thiết. Theo đó, Nhà nước cần thực hiện
kiểm tra, đánh giá trước, trong và sau quá trình DNNVV nhận các ưu đãi về thuế, đảm bảo ưu
đãi đúng đối tượng, đồng thời đảm bảo cho việc đánh giá được hiệu quả của những giải pháp hỗ
trợ này.
Do Quỹ bảo lãnh doanh nghiệp, Quỹ Phát triển doanh nghiệp có vốn điều lệ không
4.
lớn, trong khi nhu cầu cần hộ trợ cho vay bảo lãnh đối với DNNVV, do vậy Nhà nước cần có cơ
chế tài chính khuyến khích các tổ chức tài chính tham gia góp vốn vào Quỹ để nâng cao khả
năng cho vay của quỹ đối với DNNVV.
Nhà nước cần tiếp tục cụ thể hóa Luật Hỗ trợ DNNVV, cũng như đẩy mạnh thực hiện
5.
Nghị quyết số 35/NQ-CP… trong đó đặc biệt chú trọng triển khai các giải pháp về mặt tài chính
để tăng cường nguồn lực cho DNNVV phát triển ổn định, bền vững./.
Kết luận
Chính sách huy động, phân phối và sử dụng nguồn vốn tài chính - tín dụng đối với
DNNVV là một trong những chính sách có tính quyết định đến sự tồn tại, phát triển của
DNNVV. Việc nghiên cứu, đánh giá những thực trạng trong việc huy động, phân phối và sử
37 Nguồn: Dự thảo Nghị quyết về một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa.
588
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
dụng nguồn vốn tài chính - tín dụng trên nền tảng các chính sách sách hiện hành đã giúp đề ra
những giải pháp tháo gỡ về mặt chính sách đang cản đường DNNVV, giúp cho DNNVV tiếp cận
được nguồn vốn không chỉ trung mà còn cả dài hạn để phục vụ cho sản xuất - kinh doanh trong
môi trường đầy biến động.
Việc nghiên cứu giúp cho việc nhận diện đâu là tài chính, đâu là tín dụng, chính sách nào
còn dư địa, tạo thuận lợi cho DNNVV để các DNNVV có cách tiếp cận phù hợp nhất khi huy
động nguồn vốn. Quá trình đánh giá tính hiệu quả của việc phân phối và sử dụng nguồn vốn
cũng cho thấy được hiệu quả sử dụng vốn của DNNVV ở Việt Nam là chưa cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chính phủ (2019), Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ một số chính sách thuế thu nhập
doanh nghiệp hỗ trợ, phát triển DNNVV, năm 2019.
2. Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng DNNVV 2017,
NXB Thống kê.
3. Tổng cục Thống kê (2019), Doanh nghiệp Việt Nam 15 năm đầu thế kỷ, NXB Thống kê.
4. Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê 2018, NXB Thống kê.
5. Tổng cục Thống kê (2018), Kết quả tổng điều tra kinh tế 2017, NXB Thống kê (tập 1, 2).
6. Nghiêm Xuân Thành (2019), Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho khu vực
DNNVV, Tạp chí Ngân hàng (chuyên đề đặc biệt).
7. Phan Thị Linh, Giải pháp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng cho DNNVV, Tạp chí Tài chính kỳ
2 tháng 11/2015.
8. Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2018), Đổi
mới phương thức hỗ trợ tín dụng cho DNNVV: Kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị cho
Việt Nam, Chuyên đề số 15.
9. Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (2013), Kết quả khảo sát đánh giá tác động của
các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong thời gian qua.
10. Vietnam survey và HCM survey (10/5/2018), Tiếp cận tài chính của DNNVV”,
cefr.uel.edu.vn.
11. Weebsite:
hsx.vn;
12. ERIA Discussion Paper Series (2010), Firm Characteristic Determinants of SME
Participation in Production Networks.
589
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách huy động, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính - tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chinh_sach_huy_dong_phan_phoi_va_su_dung_nguon_luc_tai_chinh.pdf

