Chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
CHUỖI CUNG ỨNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM  
TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Lê Quốc Anh, Đại học Kinh tế Quốc dân  
Nguyễn Ngọc Lan, Học viện Tài chính  
Lê Thị Trâm Anh, Đại học New South Wales, Australia  
Tóm tắt:  
Trong thời đại kết nối, kỷ nguyên hội nhập, doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa (SME) muốn  
tồn tại và phát triển cần phải tham gia vào chuỗi cung ứng. Để phát triển SME nhanh và hiệu  
quả cần dựa vào cách thức quản trị chuỗi cung ứng (SCM) khoa học. Nay cách mạng công  
nghiệp (CMCN) 4.0 đang khuấy động, có tác động hỗ trợ, thậm chí chi phối tương lai của chuỗi  
cung ứng cho SME ở nước đang phát triển. Ở nước ta, nhiều chuỗi cung ứng đã khá phát triển,  
nhưng còn nhiều bất cập, với nhiều nguyên nhân, dù tham gia chuỗi là đòi hỏi sống còn. Do đó,  
cần hoàn thiện hệ thống ch nh sách, quy hoạch cơ cấu sản phẩm quốc gia, lấy đó làm hạt nhân  
để phát triển các chuỗi cung ứng. Khuyến khích SME đổi mới, sáng tạo, hợp tác với DN đầu tư  
trực tiếp nước ngoài (FDI). Tập hợp sức mạnh của hệ thống chính trị, sự góp sức của toàn dân,  
sự giúp đỡ quốc tế, để hỗ trợ đầu tư, tiêu thụ sản phẩm, giúp chuỗi cung ứng cho SME ngày  
càng phát triển...  
Từ khóa: Chuỗi cung ứng, FDI, SME.  
SUPPLY CHAIN FOR SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN VIETNAM  
IN THE CONTEXT OF THE FOURTH INDUSTRIAL REVOLUTION  
Abstract:  
In the age of interconnection and the era of integration, if small and medium-sized  
enterprises (SME) want to survive and grow, it must participate in the supply chain. For fast and  
effective SME development, it is necessary to base on scientific supply chain management  
(SCM). Now the stirring fourth industrial revolution 4.0 is having an impact to support and even  
govern the future of the supply chain for SMEs in developing countries. In our country, many  
supply chains have been quite developed, but there are many shortcomings for many reasons,  
although participating in the supply chains is vital. Therefore, it is necessary to perfect the  
national policy system and national product structure planning, taking it as a drive to develop  
supply chains. It is important to encourage SME to innovate, create and cooperate with foreign  
direct investment enterprises (FDI),to gather the power of the political system, the contribution  
421  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
of the entire population, the international help, to support investment, product consumption,  
helping supply chains of SMEs grow...  
Keywords: FDI, SME, supply chain.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Công cuộc Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, hơn 30 năm qua đã mang về  
những thành tựu to lớn và quan trọng, nhưng bức tranh khu vực SME ở Việt Nam chưa sáng sủa.  
Số lượng SME còn ít, bình quân trên 1000 dân còn thấp so với thế giới, có đến 98,1% là DN nhỏ  
theo quy mô lao động, mức khuếch trương các ưu thế về vốn, công nghệ và vốn con người thấp.  
SốSME thua lỗ còn lớn, trong giai đoạn 2011-2017, số DN ngừng hoạt động giao động ở mức  
47,7–90,6% so với số DN thành lập mới, số DN tồn tại thì đang ―li ti hóa‖ (Võ Trí Thành, dẫn  
theo Ngọc Khanh, 2018). Thực tế đó làm cho DN Việt bị bất lợi lớn trong các ―cuộc chơi‖ trước  
DN ngoại, trong các FTA, nhất là trong FTA Việt Nam – EU (EVFTA), và Hiệp định Đối tác  
toàn diện và Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Để số SME tăng nhanh, giảm ―chết  
yểu‖, hỗ trợ tốt hơn cho các DN dẫn dắt thị trường, đưa mức thành công trong hội nhập của nước  
ta lên cao – không gì thiết thực hơn là xây dựng, củng cố, kiện toàn và phát triển các chuỗi cung  
ứng cho SME. Để góp phần làm sáng tỏ lý luận, thực tiễn và có hành động phù hợp trong sự  
nghiệp này, trong bối cảnh CMCN 4.0, bài viết này tập trung nghiên cứu: (i) Chuỗi cung ứng cho  
SME trong bối cảnh CMCN 4.0 ở nước đang phát triển, (ii) Thực trạng các chuỗi cung ứng cho  
SME ở Việt Nam hiện nay, và (iii) Giải pháp để phát triển chuỗi cung ứng cho SME ở Việt Nam  
trong giai đoạn hiện nay.  
2. TỔNG QUAN, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Chuỗi cung ứng gần như là thực tế hiển nhiên, không cần nghiên cứu ở các nước có văn  
hoá kinh doanh ―win-win‖ – hai bên cùng thắng, bởi ở đó các chủ SME vì lợi ích lâu dài đã liên  
kết thành các chuỗi cung ứng thiết thực. Nhưng việc nghiên cứu chuỗi cung ứng lại là vấn đề  
nóng ở các nước đang phát triển, nhất là ở nước kinh tế thị trường phát triển chưa cao. Tuy  
nhiên, số nghiên cứu về chuỗi cung ứng của SME ở các nước đang hội nhập sâu, theo FTA thế  
hệ mới, cùng bối cảnh CMCN 4.0 – còn rất hiếm, bởi đây là bối cảnh mới có trên thế giới. Việc  
nghiên cứu trên đặt vào bối cảnh giống Việt Nam càng hiếm, do định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ  
duy nhất có ở nước ta. Hơn nữa, sau thời kỳ 2007-2014 bất ổn vĩ mô dai dẳng, tới nay DN Việt  
mới bắt đầu chú tâm đến vấn đề này, nên để lại khoảng trống nghiên cứu lớn. Mặt khác, đây là  
chuyên đề phân tích trong lĩnh vực kinh tế, nên cơ sở lý thuyết chính được dùng là kinh tế học,  
trong đó dựa nhiều vào kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, kinh tế đầu tư, kinh tế phát triển, kinh tế  
ngành, tài chính DN, quản trị DN… Đồng thời, chuyên đề này tập trung vào phân tích ảnh  
hưởng của toàn cầu hóa tới kinh doanh, phát triển của SME ở Việt Nam trong bối cảnh CMCN  
4.0. Nên còn cần dựa vào các văn kiện, quan điểm chính thống của Đảng, Chính phủ về phát  
triển DN, về hội nhập kinh tế, về hành động trước CMCN 4.0. Cần thông tin, nhìn nhận, đánh  
giá về các vấn đề trên cùng diễn biến của chúng của các cơ quan chuyên ngành, người tham gia,  
chuyên gia, nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực đó. Từ tài liệu thu thập, tiến hành nghiên cứu định  
422  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
tính, thông qua các phương pháp, như: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương  
pháp chuyên gia, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu lịch  
sử… Trên quan điểm duy vật biện chứng: dùng phép diễn dịch để suy đoán hệ quả tất yếu, dùng  
phép so sánh để đưa ra nhận định trung gian, sử dụng phép quy nạp để đưa ra kết luận, tổng hợp  
lại để đề đạt kiến nghị, giải pháp...  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Chuỗi cung ứng cho SME trong bối cảnh CMCN 4.0 ở nƣớc đang phát triển  
3.1.1. Tổng quan về chuỗi cung  ng  
Chuỗi cung ứng một hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin, nguồn lực liên  
quan đến việc vận chuyển sản phẩm, dịch vụ, từ người cung cấp, nhà sản xuất, đến người tiêu  
dùng. Đó là quy trình cung ứng, sản xuất, phân phối một loại sản phẩm cụ thể của nhiều chủ thể  
kinh tế, thường là DN, có liên quan– từ thu mua nguyên vật liệu, sản xuất, đến phân phối, bán lẻ,  
người tiêu dùng. Chuỗi cung ứng điển hình thường khởi đầu bằng các quy định pháp luật để hình  
thành nguồn cung nguyên liệu; tiếp đó là nhiều liên kết sản xuất, trước khi được chuyển sang các  
lớp khác của cơ sở lưu trữ trong phân phối, bán lẻ, với quy mô nhỏ dần, tăng dần về khoảng cách  
địa lý, và cuối cùng tới tay người tiêu dùng.  
Dòng thông tin  
Cung cấp  
nguyên  
vật liệu  
Ngƣời  
tiêu  
dùng  
Sản  
xuất  
Phân  
phối  
Bán  
lẻ  
Hình 1: Sơ đồ khái quát về chuỗi cung ứng  
Tùy mức độ phức tạp của sản phẩm, quy mô của tổng lượng sản phẩm cần cung ứng, mà  
mỗi khâu của chuỗi cung ứng có sự tham gia của ít hay nhiều DN, nhưng nhìn chung đó thường  
là các SME. Về bản chất, chuỗi cung ứng là phạm trù rộng hơn so với logistics; cũng khác hẳn  
chuỗi giá trị, nhưng thường góp phần liên kết chuỗi giá trị của các chủ thể khác nhau. Mục tiêu  
của chuỗi cung ứng là thỏa mãn yêu cầu của khách hàng thông qua sử dụng hiệu quả tài nguyên,  
thực hiện khả năng dự trữ, sản xuất và phân phối, đối với một hàng hoá nhất định. Ưu điểm  
chính của chuỗi cung ứng là giúp cho cung gặp cầu, để hàng tồn kho là tối thiểu, thông qua mạng  
lưới và phương pháp quản trị riêng cho từng hàng hóa. Có bốn chuỗi cung ứng phổ biến trong 6  
chuỗi cung ứng nguyên mẫu là: nhanh, hiệu quả, dòng chảy liên tục, nhanh nhẹn, cấu hình tùy  
chỉnh và linh hoạt. Kết hợp chuỗi cung ứng thành công dẫn đến hình thành kiểu cạnh tranh mới  
trên thị trường, là chuyển dần từ cạnh tranh giữa DN với DN, sang cạnh tranh giữa chuỗi cung  
ứng với chuỗi cung ứng...  
3.1.2. Nhận th c chung về quản trị chuỗi cung  ng  
Trên thực tế, chuỗi cung ứng của mỗi loại hàng hóa thường phức tạp hơn, bởi nhiều sản  
phẩm sau khi tiêu thụ, còn có thể mua lại, sau khi tập hợp, phân loại, chọn lọc, tháo rời, lại có thể  
423  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
tái tham gia, tạo nên chuỗi cung ứng khép kín. Mặt khác ngày nay, rất ít hàng hóa có thể từ đầu  
vào đến khi tới người tiêu thụ cuối cùng, chỉ hoàn toàn thuộc về một chủ thể kinh tế, mà thường  
phải có sự liên kết, phối hợp kinh doanh giữa nhiều chủ thể. Để các chủ thể này kinh doanh  
thuận lợi, phát huy cao giá trị tích cực của chuỗi, người ta đã nghiên cứu và vận dụng phương  
thức quản trị chuỗi cung ứng (SCM) vào trong thực tiễn.  
Tiêu  
Nguồn  
Sản  
Phân  
Bán  
dùng  
cung  
phối  
lẻ  
xu
ấ
t  
TÍCH HỢP  
Tái sản xuất  
PH
Ụ
C H
Ồ
I  
MUA LẠI  
Tập hợp - Phân loại  
Chọn lọc - Tháo rời  
Tái sinh  
Tái sử  
dụng  
Sửa chữa  
Hình 2: Chuỗi cung ứng khép kín của một sản phẩm  
Nguồn: An Thị Thanh Nhàn (...)?  
Từ những năm 1980, SCM đã được nghiên cứu, phát triển để thống nhất quá trình kinh  
doanh, từ nhà cung cấp đầu tiên đến người sử dụng cuối cùng. Các DN tham gia trong chuỗi  
cung ứng qua trao đổi thông tin về năng lực sản xuất, biến đổi thị trường – sẽ giúp đối tác điều  
chỉnh để tối ưu hóa toàn bộ chuỗi, hơn là điều chỉnh theo khả năng, mùa vụ, địa phương... Liên  
kết dọc này giúp từng DN trong chuỗi tính toán, cân bằng chi phí nguyên liệu, vận chuyển, thời  
gian vận chuyển để tối ưu hóa dòng sản xuất. Từ đó, xác định vị trí của từng DN, kho lưu trữ, để  
chu trình sản xuất và tiêu thụ từng sản phẩm hợp lý hơn, đưa ra nhiều sản phẩm cuối cùng hấp  
dẫn hơn, mang lại hiệu quả kinh doanh tốt hơn cho toàn chuỗi, cũng như cho từng DN thành  
viên. Mặt khác, còn giúp đưa vào chuỗi cung ứng khép kín, các DN làm nhiệm vụ mua lại, phục  
hồi sản phẩm sau sử dụng, đưa chúng tái nhập vào chuỗi tại các điểm phù hợp, để khai thác các  
giá trị còn lại, tiếp tục giúp ích cho kinh doanh. Làm cho việc dựa vào SCM là giải pháp tối ưu  
cho việc quy hoạch và phát triển các DN, nhất là SME, trong việc cung ứng các loại sản phẩm...  
3.1.3. CMCN 4.0 đang khuấy động các chuỗi cung  ng  
Mới xuất hiện và phát triển mạnh từ năm 2012, nhưng CMCN 4.0 đang làm khuấy động  
các chuỗi cung ứng, bởi: (i)Với thực chất là quá trình tái tổ chức nền kinh tế - xã hội, thông qua  
việc tích hợp các công nghệ mới dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, làm thay đổi cơ bản cách  
thức kinh doanh của con người. Làm cho thành công trong kinh doanh thời 4.0 không còn là vốn,  
lao động giá rẻ, tài nguyên, mà là công nghệ, giúp nhà sản xuất tập hợp và tích hợp được nhiều  
ứng dụng, tiện ích. (ii)Kết nối thế giới thực với thế giới ảo, CMCN 4.0 giúp con người tham gia  
và điều khiển chuỗi giá trị,làm cho sản xuất trở nên thông minh, linh hoạt và thân thiện với môi  
trường. Các công đoạn máy móc, xơ cứng được tự động hóa, nhiều ứng dụng mới được giới  
thiệu, thay thế và phổ cập vào cuộc sống, bất chấp không gian, biên giới quốc gia. (iii) Chỉ cần  
một DN thành phần chưa đủ tầm, có thể đưa một sản phẩm vào scandal, nên việc nâng cấp, chấn  
chỉnh SCM đang thay thế dần việc quản trị DN đơn thuần. Nhờ khả năng kết nối và mạng  
424  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
logistics phát triển, nhiều chuỗi cung ứng xuyên quốc gia hình thành và phát triển, thay thế các  
chuỗi cung ứng truyền thống. (iv) Các chuỗi cung ứng trong CMCN 4.0 không còn bị ràng buộc  
nhiều như trước đây, mà chuyển dần sang chuỗi cung ứng hợp tác, tạo thành các chuỗi cung ứng  
―con‖ phục vụ chuỗi cung ứng lớn. Mỗi chuỗi cung ứng ―con‖có thể tham gia đồng thời nhiều  
chuỗi cung ứng lớn; nhiều chuỗi cung ứng ―cũ‖ được thay thế, hoặc loại bỏ bởi các công nghệ  
4.0 mới. (v) Cho phép nhiều quốc gia nhược tiểu, nhờ tiến bộ công nghệ, có thể vượt lên trong  
những lĩnh vực cụ thể, kể cả về công nghệ nguồn. Vì thế, không lạ khi trong các chuỗi cung ứng  
hàng đầu của các siêu cường, sẽ xuất hiện các thành tố quan trọng, có vị trí cao, xuất thân từ các  
nước yếu thế...  
3.1.4. CMCN 4.0 hỗ trợ phát triển chuỗi cung  ng cho SME ở nước đang phát triển  
Trong cuộc đua kinh tế hiện tại, CMCN 4.0 đang làm tăng thêm ưu thế vốn đã vượt trội  
cho nước phát triển, trước nước đang phát triển, do họ có nhiều yếu tố sản xuất cao cấp hơn.  
Song, nước đang phát triển cũng có thể vươn lên cạnh tranh với nước phát triển, nếu biết tận  
dụng CMCN 4.0 để phát triển các chuỗi cung ứng. Làm tốt việc khai thác các công nghệ 4.0, tận  
dụng khả năng kết nối, triển khai thực tế ảo, thương mại điện tử sẽ giúp họ: (i) Khắc phục được  
điểm yếu chí tử nơi sản phẩm của họ là chưa khẳng định được vị trí, dù đủ sức thay thế, nhưng  
dễ bị bỏ qua, bởi chưa thể làm marketing và xúc tiến thương mại được như các thương hiệu tầm  
cỡ. (ii) Phát hiện các đối tác có thể hợp tác, hỗ trợ, cần kết nối để vừa nâng cấp chuỗi giá trị của  
các SME, vừa phối hợp để từ từ xây dựng, phát triển, điều chỉnh, nâng cấp các chuỗi cung ứng.  
(iii) Cho phép các SME vượt không gian, tận dụng tối đa thời gian, cung cấp các thông tin đa  
chiều cho mọi bạn hàng, phát huy lợi thế, khả năng chuyên sâu, hướng tới việc hình thành các  
chuỗi cung ứng 4.0 theo các FTA. (iv) Giúp nhà đầu tư hiểu sâu hơn về giá trị của các khoáng  
sản, nguyên liệu thô mà nước họ đang xuất khẩu có được khi chế biến, để tiến hành đầu tư các  
khâu còn thiếu, làm hình thành các chuỗi cung ứng mới, thu về nhiều giá trị gia tăng. (v) Kết hợp  
với các DN chuyên về xuất khẩu, hoặc với các DN FDI, chỉ ra các SME nên đầu tư nhằm nâng  
cấp các ngành hỗ trợ, hoặc tạo thành vệ tinh phụ trợ, góp phần nâng cao tỷ lệ xuất xứ, hình thành  
các chuỗi cung ứng hiện đại... Bên cạnh đó, CMCN 4.0 còn là tác nhân giúp sàng lọc và thải loại  
các SME tự phát, định vị lại các SME trong nền kinh tế; phục hồi các chuỗi cung ứng bị đứt gẫy.  
Khuyến khích và hỗ trợ các SME hiệu quả thấp, chuyển hướng kinh doanh, giảm thiểu tình trạng  
cạnh tranh ―ngược‖, khuyến khích SME mở rộng sự phối hợp làm tăng hiệu quả theo quy mô...  
3.1.5. CMCN 4.0 với tương lai phát triển của chuỗi cung  ng cho SME  
CMCN 4.0 đang phát triển như vũ bão, ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện đến toàn cầu  
hóa, khiến mọi nước muốn hội nhập thành công phải có sản phẩm cạnh tranh được trên  
trường quốc tế. Mặt khác,sản phẩm xã hội ngày càng đa dạng, để hấp dẫn khách hàng cần  
tích hợp nhiều tiện ích, công khai chi tiết về nguồn gốc, chất lượng, độ an toàn, thân thiện  
hơn với môi trường. Vì thế, trong tương lai, không chỉ cần có nhiều chuỗi cung ứng hơn, mà  
còn cần nhiều chuỗi cung ứng linh hoạt, được tổ chức và quản trị khoa học, thông minh,  
nhanh nhạy. Với các tính năng như: khả năng kiểm tra, tính bất biến, hợp đồng thông minh,  
không có trung gian, công nghệ blockchain đang trở thành lựa chọn hấp dẫn cho nhiều ngành  
và lĩnh vực, trong đó có chuỗi cung ứng.  
425  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Hình 3: Ứng dụng blockchain trong chuỗi cung ứng  
Công nghêl blockchain có thể giúp: giải quyết nhiều vấn đề, mà các nhà xuất khẩu trên thế  
giới đang phải đối mặt, nhất là vấn đề tài trợ thương mại. Nếu được áp dụng rộng rãi, blockchain  
có thể giúp thế giới có thêm 1.000-1.500 tỷ USD giá trị thương mại, bù đắp cho lỗ hổng tài trợ  
thương mại đang gia tăng chóng mặt, dự kiến lên tới 2.400 tỷ USD vào năm 2025, trong đó 40%  
là ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương. Khi SME dùng các hợp đồng thông minh, bản ghi số  
hóa trong thông quan, sẽ giúp giảm nguy cơ về tín dụng, giảm phí và xóa bỏ các rào cản thương  
mại... Tuy không thích hợp với mọi chuỗi cung ứng, nhưng sự thông minh, nhanh nhạy và chính  
xác hơn, công nghệ blockchain đang khuấy động chuỗi cung ứng, ngày càng được nhiều DN ứng  
dụng và phát triển thành công (H. Tú, 2018). Điều này dẫn đến, việc ứng dụng CMCN 4.0 vào  
hoạt động của SME, vào SCM vừa là đòi hỏi tất yếu, vừa góp phần đảm bảo thành công, nếu làm  
càng chậm, càng muộn sẽ càng thiệt thòi cho SME...  
3.2. Thực trạng các chuỗi cung ứng cho SME ở Việt Nam hiện nay  
3.2.1. Nhiều chuỗi cung  ng cho SME ở Việt Nam đã khá phát triển  
Tình hình phát triển của chuỗi cung ứng ởViệt Nam được thể hiện qua năm đặc trưng  
chính: (i) Được nhà nước đứng ra tổ chức ngay từ giữa thế kỷ XX, khi xây dựng và phát triển  
nền kinh tế tập trung, bao cấp ở miền Bắc sau kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Sau năm  
1975, các chuỗi cung ứng kiểu hành chính, đặc quyền này được duy trì, mở rộng đối với các sản  
phẩm chính trên quy mô cả nước, thống trị nền kinh tế trong giai đoạn 1979-1986, khi nhà nước  
chỉ chấp nhận duy nhất DN nhà nước (DNNN). (ii) Từ ngày Đổi mới 1986, chuyển sang phát  
triển kinh tế nhiều thành phần, nhưng do việc sắp xếp, cổ phần hóa không thực chất, DNNN vẫn  
chi phối ở hầu hết mọi lĩnh vực. Nên về cơ bản, các chuỗi cung ứng do nhà nước thiết lập vẫn là  
―huyết mạch‖của nền kinh tế, tuy mức độ chi phối đã giảm dần theo đà phát triển của kinh tế thị  
trường. (iii) Hiện đã có nhiều chuỗi cung ứng phát triển cao, như các chuỗi cung ứng của Điện  
thoại Samsung, Xe máy Honda, Nước giải khát Coca Cola, Sữa Vinamilk, Cà phê Trung  
Nguyên... Nhiều SME đã tham gia vào các chuỗi cung ứng, góp phần tập hợp từ các hộ nuôi  
trồng để tạo ra 10 loại nông sản xuất khẩu ―tỷ USD‖, giúp ngành logistics phát triển, giúp nhiều  
sản phẩm Việt đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng lợi về thuế trong các FTA... (iv) Việc xuất hiện  
nhiều DN FDI lớn, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, đã biến Việt Nam từ ―nhà nước sản xuất‖ điển  
hình, thành nền kinh tế hội nhập với nhiều chuỗi cung ứng mới. Nhờ đó, nền kinh tế mới chủ yếu  
426  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
ở công nghệ 2.0, tới năm 2018 đã có kim ngạch xuất khẩu 244,7 tỷ USD, với 29 mặt hàng đạt  
kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó có 9 mặt hàng đạt trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng đạt  
trên 10 tỷ USD...  
Hàng dệt may  
Giầy dép  
Điện thoại và linh kiện  
Gỗ và sản phẩm gỗ  
Máy móc, thiết bị  
Thủy sản  
Túi xách, ba lô, mũ, ví  
Hạt điều  
Hàng hóa khác  
Hình 3: Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam  
Nguồn: Tổng cục Hải quan  
(v) Nhà nước đang có nhiều chính sách hỗ trợ DN tổ chức chuỗi cung ứng, chỉ riêng các  
năm 2013-2017, đã đề xuất xây dựng 1.025 đề án với tổng kinh phí 511,5 tỷ đồng (PV, 2017).  
Việc xây dựng các chuỗi cung ứng cho SME ngày càng thuận lợi, sau khi Luật Hỗ trợ SME 2017  
được thông qua, Nghị quyết số 10/NQ-TW về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành, và có sự  
hưởng ứng cao từ các bộ ngành, địa phương...  
3.2.2. Đa phần các chuỗi cung  ng ở Việt Nam còn nhiều bất cập  
Các chuỗi cung ứng ở nước ta còn nhiều bất cập, điển hình là: (i) Hàng chục năm trước,  
các chuỗi cung ứng được thiết lập dựa trên mệnh lệnh hành chính, theo cơ chế bao cấp, DN được  
giao nhiệm vụ thì hoạt động bê trễ, DN làm tốt lại không được tham gia. Nhiều khâu trong chuỗi  
cung ứng hoạt động không theo quy cách DN, nên nhiều chuỗi cung ứng đứt gẫy khi tự do hóa  
thị trường, gây thiệt cho DN sản xuất. (ii) Việt Nam có ít sản phẩm đủ tầm vươn ra thế giới, các  
mặt hàng xuất khẩu đúng chuẩn―made in Vietnam‖ chủ yếu là khoáng sản, nông sản sơ chế, đồ  
gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ với chuỗi cung ứng đơn giản. Ba nhóm hàng chủ lực: dệt may, giầy  
dép, điện thoại di động – nước ta chủ yếu chỉ gia công, lắp ráp ở các công đoạn có giá trị gia tăng  
thấp,như là ―xuất khẩu hộ‖ cho các đối tác...  
Hình 4: Đường cong nụ cười ứng dụng trong ngành dệt may  
Nguồn: Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2016)  
427  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
(iii) SME Việt gặp khó khi tham gia vào chuỗi, bởi bên cạnh việc thiếu vốn, còn thiếu cả  
chiến lược phát triển và sự minh bạch, nên khó tiếp cận các nguồn hỗ trợ. Chưa nhạy bén trước  
xu hướng tiêu dùng, chưa am hiểu tiêu chuẩn kỹ thuật tại thị trường xuất khẩu; đặc biệt thiếu đổi  
mới sáng tạo về công nghệ: năm 2016, tỷ lệ này tại các quốc gia trung bình trên 30%, còn ở Việt  
Nam chưa đến 5% (Hải Yến, 2016). (iv) Khó tham gia vào các mạng sản xuất tương đối ổn định,  
vì chưa đủ chất lượng để thành nhà cung cấp trong nước cho DN FDI tầm cỡ. Mức đáp ứng nhu  
cầu phụ trợ cho DN FDI ở Việt Nam mới đạt 67,6%; trong khi ở Trung Quốc và Thái Lan đều  
trên 95%; ở Malaysia đạt gần 100% (Hồng Loan, 2018). (v) Sau 3 lần kết nối với khoảng 500  
SMEcủa Việt Nam, các DN FDI chỉ tìm được 2 DN đủ tiêu chuẩn tham gia vào chuỗi cung ứng  
của mình (Quỳnh Chi, 2018). Bởi sản xuất tùy tiện, sản phẩm không đồng đều, không theo quy  
chuẩn, yếu về văn hóa kinh doanh ―win-win‖, chất lượng nhân lực; hay so đo về lợi ích, đạo đức  
công vụ thấp, kỷ cương lỏng lẻo...  
3.2.3.Nguyên nhân gây khó cho SME Việt khi tham gia vào chuỗi cung  ng  
Có khá nhiều nguyên nhân gây khó cho SME Việt khi tham gia vào chuỗi cung ứng,  
trong đó các nguyên nhân chính là: (i) Chính sách phát triển công nghiệp lạc hậu (Kenechi Ohno,  
dẫn theo Bích Ngọc, 2014), quá trình cổ phần hóa DNNN dây dưa, làm các chuỗi cung ứng mới  
không có ―đất‖ hoạt động, phát triển khó khăn. Định hướng để DNNN giữ vai trò chủ đạo, làm  
SME bị phân biệt đối xử (Lưu Ngọc Trịnh, 2012), đường hướng chính sách không cổ vũ SME đi  
vào các ngành công nghiệp, khó tham gia hỗ trợ cho DNNN theo chuỗi cung ứng. (ii) Cơ quan  
nhà nước chưa hành động quyết liệt trong việc giảm thủ tục hành chính, chưa có cơ chế phù hợp  
để khuyến khích, thúc đẩy SME tham gia vào chuỗi cung ứng… Chưa có cơ chế riêng về tín  
dụng hoặc bảo lãnh để giúp các SME tham gia chuỗi có điều kiện tiếp cận và chủ động nguồn  
vốn trong kinh doanh, cũng như xây dựng cơ chế liên kết bền vững trong chuỗi cung ứng. (iii)  
Sự mù mờ về thời kỳ quá độ, khiến SME khó xác định vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn  
cầu, gây ra sự thiếu hụt nhà cung cấp trong nước về nguyên liệu đầu vào phù hợp cho DN FDI.  
Trần trên về lao động của SME ở Việt Nam cao, tới 2018 mới điều chỉnh xuống 200 lao động,  
làm cho việc hỗ trợ cho SME thành quá sức đối với nhà nước, hiệu quả hỗ trợ mờ nhạt. (iv)  
Quản lý kinh doanh vẫn nặng theo quản trị hành chính, với địa bàn cấp tỉnh nhỏ hẹp, không đủ  
không gian và nguồn lực để tạo thành chuỗi cung ứng cho các sản phẩm đủ tầm xuất khẩu. Các  
hiệp hội DN không đủ sức hướng đạo cho nhà đầu tư trong thành lập DN mới, cho các chủ SME  
khi cần chuyển hướng kinh doanh, hoặc trong kêu gọi đầu tư. (v) Bản thân SME còn hạn chế  
nhiều mặt, từ vốn, công nghệ, quản trị, hướng phát triển; đến năng lực tư duy, nền tảng công  
nghệ và khả năng thực thi sứ mệnh kinh tế. Nhiều SME chưa định hướng rõ về chuyên môn sâu,  
không biết lựa chọn sản phẩm nào, có thể tham gia vào đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu...  
3.2.4. Tham gia chuỗi cung  ng là đòi hỏi sống còn của SME ở nước ta  
Hệ thống DN và các chuỗi cung ứng ở Việt Nam mang đậm mầu sắc của nền kinh tế đang  
phát triển, bên các thành tựu chưa lớn, còn nhiều hạn chế, yếu kém. Song, đóng góp là không  
nhỏ, chỉ với thời gian ngắn từ năm 2008 đến nay, đã đưa Việt Nam từ vị trí gia nhập thành nước  
đứng thứ 8/47 trong nhóm nước có thu nhập trung bình thấp. Tuy nhiên, trong bối cảnh đang hội  
nhập nhanh và sâu vào kinh tế thế giới, các cam kết rộng và cao với trên 50 đối tác lớn; đồng  
428  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
thời hội nhập vào cuộc CMCN 4.0 trên tư cách ―chiếu dưới‖. Thì, các SME Việt với các hạn chế  
cố hữu, không có giải pháp nào tốt hơn là phải nhanh chóng tham gia vào chuỗi cung ứng, chỉ  
như vậy mới có thể: (i) Tiết giảm chi phí, bù đắp phần giá vốn còn cao, chi phí ngoài luồng lớn,  
giảm cạnh tranh ngược, làm tăng khả năng cạnh tranh, giúp tăng hiệu quả kinh doanh, giảm số  
SME phải ngừng hoạt động. Làm tăng thế và lực cho từng DN cũng như cho hệ thống DN Việt  
trong hội nhập, nếu không 7-8 năm nữa khi các FTA đi vào ổn định,sẽ vuột mất cơ hội vươn ra  
thế giới. (ii) Tăng quy mô sản phẩm lên mức tham gia được hệ thống tiêu thụ dạng chuỗi ở các  
thị trường Âu-Mỹ, Nhật Bản, bởi năm 2016 còn có 74,04% số DN có dưới 10 lao động. Làm  
đồng đều về chất lượng, tăng mức đáp ứng quy tắc xuất xứ cho sản phẩm để hưởng ưu đãi thuế  
trong các FTA, đảm bảo chỉ dẫn địa lý theo cam kết. (iii) Làm tăng lợi nhuận để tăng sinh khí  
cho phong trào khởi nghiệp, để tăng nhanh số DN hoạt động, hướng tới các mục tiêu phát triển  
DN theo Nghị quyết số 10/NQ-TW. Góp phần thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu  
nền kinh tế, thực hiện ―tăng trưởng bắt kịp‖ các nước tiên tiến, làm tăng khả năng cạnh tranh  
bằng chuỗi cung ứng. (iv) Hỗ trợ DN lớn, dẫn dắt thị trường cạnh tranh thắng lợi, hội nhập thành  
công, trở thành thương hiệu mạnh trong các FTA. Tăng sức hấp dẫn cho Việt Nam khi mời gọi  
các dự án FDI tầm cỡ, nhất là trước top 50 thương hiệu hàng đầu thế giới, để có nhiều DN có  
công nghệ hiện đại, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng, trở thành nước công nghiệp hiện đại.  
(v) Tạo lợi thế và vị thế mới cho Việt Nam trong thu hút các dòng FDI phải chuyển dịch liên  
quan tới các bất ổn trên thế giới, nhất là chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Giúp Việt Nam tiến  
nhanh, mạnh, vững chắc trên con đường phát triển, mau chóng trở thành khâu quan trọng trong  
các chuỗi cung ứng toàn cầu, đóng góp lớn cho các chuỗi giá trị...  
4. GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG CHO SME Ở VIỆT NAM TRONG  
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY  
Như vậy, các chuỗi cung ứng, dù là áp đặt vẫn là nhân tố quan trọng giúp hệ thống DN  
Việt còn non yếu, nhưng vẫn đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển của đất nước. Song,  
nếu các chuỗi này không được cải thiện sẽ không chỉ cản trở khu vực SME ở nước ta phát triển,  
mà còn đe dọa cả tương lai nước Việt. Bởi vì thế, Việt Nam khó hội nhập thành công, mà còn  
phụ thuộc sâu hơn vào nước ngoài, nhất là khi CMCN 4.0 đang khoét sâu sự cách biệt, thậm chí  
bị thất thế ngay tại Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Nhưng để phát triển chuỗi cung ứng cho  
SME ở nước ta không dễ, bởi cần phải triển khai một hệ thống giải pháp đồng bộ, với nhiều đột  
phá. Trong đó các giải pháp chính cần có là: (i) Tiếp tục ban hành và hoàn thiện hệ thống chính  
sách khuyến khích phát triển SME, hỗ trợ chúng tham gia các chuỗi cung ứng, trong đó tập trung  
vào việc hoàn thiện chính sách đã ban hành để bảo đảm tính hệ thống và khả thi. Đồng thời, thực  
thi thông suốt chính sách nhất quán, đi sâu vào cuộc sống, sáp nhập các trung tâm hỗ trợ để SME  
được tiếp cận dễ hơn, được tư vấn sâu hơn, thụ hưởng nhiều hơn. Hướng SME vào việc kinh  
doanh các sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn, tạo nên giá trị gia tăng cao, để  
tham gia và có vị trí cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.(ii) Quy hoạch lại cơ cấu sản phẩm quốc  
gia, nhất là sản phẩm xuất khẩu, để các vùng, ngành lấy đó làm hạt nhân chiến lược xây dựng  
các chuỗi cung ứng. Dựa vào đó, các ngân hàng, quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ xác định các DN đầu  
429  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
mối cho các chuỗi cung ứng cần có, triển khai các chương trình đầu tư, tài trợ, giúp những DN  
lớn làm tốt vai trò xâu chuỗi các công đoạn khác nhau trong chuỗi. Thuyết phục các DN lớn như  
Heineken, Vinamilk, Coca-Cola… đứng ra chủ trì tổ chức các chuỗi cung ứng, với ưu tiên dành  
cho SME Việt, bởi các DN dẫn dắt thường quyết định đến 50% khả năng thành công của chuỗi.  
(iii) Tập hợp các đầu mối liên quan để phác thảo, xây dựng và kiện toàn các chuỗi cung ứng,  
theo hướng phục vụ kế hoạch của nhà nước, phát huy thế mạnh của DN dẫn dắt và hài hòa lợi  
ích cho các SME thành viên. Dựa vào đó triển khai chiến lược phát triển khu vực DN tư nhân,  
thu hút FDI phù hợp và khoa học, theo hướng ưu tiên cho DN có chất lượng được thế giới công  
nhận và có liên kết. Chú trọng ứng dụng công nghệ mới, nhất là 4.0, kể cả blokchain để SCM  
nhằm tăng tính minh bạch, công bằng, kỷ cương trong chuỗi, đòi hỏi mọi SME tham gia phải  
thay đổi lề lối kinh doanh để thích ứng. (iv) Đổi mới tiêu chuẩn ưu đãi để khuyến khích và ép  
buộc các SME phải nỗ lực đổi mới, sáng tạo, lấy việc tham gia chuỗi cung ứng, thiết lập quan hệ  
hợp tác tin cậy với các DN FDI làm định hướng. Tăng cường khảo sát thị trường, lấy đánh giá  
của khách hàng sau sử dụng làm thước đo trình độ của SME, để ưu tiên đầu tư, đánh giá năng  
lực và thành tích. Mở các lớp đào tạo và bồi dưỡng nhân lực trình độ cao theo lộ trình; minh  
bạch thông tin để thu hút tài trợ vốn, đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng của chuỗi cung  
ứng. (v) Tập hợp sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, sự góp sức của toàn dân, để khắc phục  
các rào cản đang ngăn sự phát triển của SME, như khó tiếp cận tín dụng, bị nhũng nhiễu, làm  
khó bởi thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh... Kêu gọi sự hợp tác của giới khoa học, các  
đoàn thể, tôn giáo, cộng đồng trong hỗ trợ đầu tư, lẫn trong tiêu thụ sản phẩm, phát hiện và xử lý  
các sai phạm. Tận dụng sự hỗ trợ, giúp đỡ quốc tế, nhất là của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ  
Quốc tế, AmCham, EuroCham; của doanh nhân và kiều bào yêu nước, của các tổ chức phi lợi  
nhuận... Thực hiện tốt các giải pháp này không chỉ giúp các chuỗi cung ứng trong nước ngày  
càng phát triển, mà còn giúp nước ta khai thác tốt hơn các FTA vừa ký, hòa nhập tốt hơn vào  
CMCN 4.0, mà khu vực SME, lẫn hệ thống DN Việt đều có bước phát triển vượt bậc, đưa nền  
kinh tế tiến lên tầm cao phát triển mới...  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. An Thị Thanh Nhàn (…), Chuỗi cung ứng khép kín với phát triển bền vững, công bố ngày  
2. Đỗ Thị Thảo Hiền (2018), Ứng dụng của công nghệ chuỗi khối blockchain trong quản trị  
chuỗi cung ứng, công bố ngày 24/12/2018, nguồn: <http://aita.gov.vn/ung-dung-cua-cong-  
3. H. Tú (2018), Không ch  là tiền ảo, công nghệ này sẽ tạo ra 1.000 tỷ USD,công bố ngày  
430  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
4. Hải Yến (2016), Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, công bố ngày  
5. Hồng Loan (2018), Doanh nghiệp Việt loay hoay trong chuỗi cung ứng toàn cầu, vì  
sao?Công bố ngày 11/7/2018, nguồn: <http://cafebiz.vn/doanh-nghiep-viet-loay-hoay-trong-  
6. Linh Nguyên (2019), Chuyển đổi số là cuộc chơi sống còn, công bố ngày 17/8/2019,  
7. Lưu Ngọc Trịnh (2012), Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học xã  
hội Việt Nam - 10/2012, trang 38-45.  
8. Ngọc Khanh (2018), Lo doanh nghiệp “li ti hóa” quy mô, công bố ngày 26/01/2018, nguồn:  
9. PV (2019), Xây dựng chuỗi cung ứng hiệu quả, DN cần nhất chính sách minh bạch và thuận  
lợi, công bố ngày 08/10/2017, nguồn: <https://laodong.vn/kinh-te/xay-dung-chuoi-cung-  
10. Quỳnh Chi (2018), Việt Nam có 600 nghìn DN nhưng ch  có 0,4% số đó vào được chuỗi giá  
trị toàn cầu, công bố ngày 22/05/2018, nguồn: <https://theleader.vn/viet-nam-co-600-nghin-  
431  
pdf 11 trang Thùy Anh 14180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchuoi_cung_ung_cho_doanh_nghiep_nho_va_vua_o_viet_nam_trong.pdf