Chia sẻ tri thức và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên trong ngành hàng không

38  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
Chia sẻ tri thức và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên trong  
ngành hàng không  
Knowledge sharing and innovative work behaviour  
in the aviation industry  
Đoàn Bảo Sơn1*  
1Học viện Hàng không Việt Nam, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: so[email protected]n  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
Dựa vào các lý thuyết hiện tại, nghiên cứu này phát triển mô  
hình về mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức và hành vi làm việc đổi  
mới (IWB) của nhân viên trong ngành hàng không với vai trò thúc  
đẩy của niềm tin (TRU), hệ thống phần thưởng của tổ chức (REW),  
sự hỗ trợ của quản lý (MAS). Tác giả kiểm chứng các giả thuyết  
nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), với số liệu  
điều tra từ 280 mẫu trả lời của các đáp viên là nhân viên đang làm  
việc tại Cảng Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất. Dữ liệu được thu  
thập bằng bảng hỏi và sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện.  
Kết quả thực nghiệm cho thấy TRU, REW và MAS có ảnh hưởng  
tích cực đến chia sẻ tri thức hiện (KNO) và chia sẻ tri thức ẩn  
(TKNO). Đồng thời, IWB được thúc đẩy bởi KNO và TKNO.  
Nghiên cứu này đề xuất với các nhà lãnh đạo trong ngành hàng  
không một số hàm ý quản trị khuyến khích nhân viên tăng cường  
chia sẻ tri thức và làm việc đổi mới.  
Ngày nhận: 04/05/2021  
Ngày nhận lại: 10/06/2021  
Duyệt đăng: 15/06/2021  
Từ khóa:  
chia sẻ tri thức; hành vi làm việc  
đổi mới; niềm tin; phần thưởng của  
tổ chức; sự hỗ trợ của quản lý  
ABSTRACT  
Adapted from current literatures, this study develops the  
model of the relationship between knowledge sharing and  
employees’ Innovative Work Behavior (IWB) in the aviation  
industry with the promoting of trust (TRU), Organizational  
Rewards system (REW), Management Support (MAS). The author  
tested the research hypotheses using a Structural Equation  
Modeling (SEM), with survey data from 280 respondents who  
were employees working at Tan Son Nhat International Airport.  
Structured questionnaires are designed to collect data using  
convenience sampling. The empirical studys demonstrated that  
TRU, REW and MAS positively impacting on explicit knowledge  
sharing (KNO) and tacit knowledge sharing (TKNO). At the same  
time, IWB is driven by KNO and TKNO. Research results  
contribute some practical implications to stimulate the strength of  
knowledge sharing and innovative work in the aviation industry.  
Keywords:  
knowledge sharing; innovative  
work behavior; trust; reward;  
management support  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
39  
1. Giới thiệu  
Tri thức là nguồn lực chủ yếu và tạo ra giá trị của tổ chức, là một chức năng của khả năng  
tích lũy và sử dụng tri thức (Hsu & Sabherwal, 2012; Zhou & Li, 2012). Chia sẻ và chuyển giao  
tri thức sẽ hình thành một nguồn tri thức liên quan đến năng lực, do đó góp phần tạo ra tài sản và  
nâng cao hiệu quả của tổ chức (Z. Wang, Wang, & Liang, 2014). Trong môi trường cạnh tranh  
cao, chia sẻ tri thức là nhân tố quan trọng mang đến sự thành công cho doanh nghiệp (Grant, 1996).  
Khuyến khích nhân viên chia sẻ tri thức hữu ích trong tổ chức có thể duy trì và làm tăng lợi thế  
cạnh tranh của tổ chức đó (Barney, 1991; Grant, 1996; Liu & Phillips, 2011). Đối với các công ty  
hàng không, tri thức của nhân viên là rất cần thiết để giữ chân và thu hút khách hàng mới, nhằm  
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và cải thiện các dịch vụ cung cấp cho họ. Để tạo ra trải nghiệm  
khách hàng mới và độc đáo, gần đây các nhà quản lý trong ngành hàng không đã bắt đầu quan tâm  
đến các thực hành chia sẻ tri thức (Hu, Horng, & Sun, 2009).  
Có thể thấy rằng, thách thức lớn trong việc thúc đẩy hành vi đổi mới trong công việc là sự  
sẵn sàng của cá nhân trong việc chia sẻ tri thức giữa các đồng nghiệp với nhau. Có hai vấn đề liên  
quan đến khía cạnh này. Một là nhận thức cá nhân, dựa trên năng lực bản thân và kỳ vọng kết quả  
(Hsu, Ju, Yen, & Chang, 2007; S. Wang & Noe, 2010). Hai là tác động xã hội dựa trên niềm tin  
và các tiêu chuẩn chủ quan (Bock, Zmud, Kim, & Lee, 2005; Hsu et al., 2007; S. Wang & Noe,  
2010). Điều tra các nhận thức cá nhân và tác động của môi trường xã hội đối với hành vi làm việc  
đổi mới thông qua chia sẻ tri thức sẽ giúp người quản lý thúc đẩy chia sẻ tri thức trong các đơn vị  
hoặc tổ chức nhằm thúc đẩy sự sáng tạo, đổi mới của nhân viên (Bock et al., 2005; Radaelli,  
Lettieri, Mura, & Spiller, 2014).  
Các công ty hàng không muốn thành công thì cần cung cấp các dịch vụ mới, chất lượng  
cao và cải tiến để tạo ra trải nghiệm độc đáo cho khách hàng. Để đạt được mục tiêu này, các nhà  
quản lý cần có chính sách để đảm bảo rằng nhân viên của họ thường xuyên chia sẻ tri thức với  
những người khác để tạo ra các dịch vụ giá trị gia tăng. Bên cạnh việc học tập của tổ chức và hiệu  
quả đổi mới, việc chia sẻ kinh nghiệm của bản thân sẽ giúp mọi người trong tổ chức hiểu được  
nhu cầu, kỳ vọng, mong muốn và sở thích của hành khách để có thể đóng góp tích cực vào sự phát  
triển dịch vụ mới và hành vi làm việc đổi mới (Afsar, Safdar, Dost, & Ali, 2017).  
Trong thời gian vừa qua, các doanh nghiệp trong ngành hàng không Việt Nam đã triển khai  
nhiều chương trình, chính sách nhằm nâng cao năng lực đổi mới và tạo ra lợi thế cạnh tranh, góp  
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước cũng như nâng cao chất lượng  
phục vụ hành khách. Tuy nhiên, dự báo sắp tới hoạt động vận tải hàng không trong nước và quốc  
tế sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố thúc đẩy sự đổi mới và  
nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ nhân viên trong ngành hàng không là thật sự cần thiết.  
Hơn nữa, tác động của niềm tin, phần thưởng của tổ chức và sự hỗ trợ của quản lý đối với chia sẻ  
tri thức và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên trong ngành hàng không tại Việt Nam thông  
qua điều tra thực nghiệm và kiểm định bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) là một khoảng  
trống nghiên cứu. Nghiên cứu này sẽ lắp đầy khoảng trống đó bằng cách phân tích các tiền đề và  
kết quả của chia sẻ tri thức trong bối cảnh Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Kết quả của nghiên  
cứu này sẽ giúp các nhà lãnh đạo, quản lý trong ngành hàng không có các chính sách nhằm thúc  
đẩy hành vi chia sẻ tri thức và nâng cao chất lượng đổi mới.  
2. Cơ sở lý thuyết và phát triển các giả thuyết  
2.1. Các nhân tố thúc đẩy chia sẻ tri thức  
Niềm tin (Trust)  
Nhân tố làm cải thiện các mối quan hệ tương tác và thúc đẩy chia sẻ tri thức thành công  
40  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
giữa các nhân viên trong tổ chức là niềm tin (Chow & Chan, 2008). Các sáng kiến chia sẻ tri thức  
trong tổ chức phụ thuộc vào niềm tin. Khi niềm tin được thiết lập, nhân viên sẵn sàng cho phép  
người khác truy nhập các nguồn lực của họ (nghĩa là tài sản trí tuệ, vật chất và tình cảm của chính  
họ). Nói cách khác, những cá nhân tham gia vào các mối tương tác dựa trên niềm tin sẽ sẵn sàng  
chia sẻ nguồn lực hoặc tri thức chuyên môn của họ với nhau bởi vì cảm giác tin tưởng khiến họ  
giảm bớt sự lo sợ (Tsai & Ghoshal, 1998). Niềm tin sẽ góp phần nâng cao chất lượng chia sẻ tri  
thức (Zaqout & Abbas, 2012) và là nền tảng cho sự gắn kết quan hệ giữa các bên, ngăn chặn các  
hành vi cơ hội và góp phần trao đổi tri thức miễn phí (Inkpen & Tsang, 2005). Sự sẵn sàng chia sẻ  
tri thức với người khác sẽ tăng lên khi các nhân viên tin rằng điều đó sẽ tăng cường mối quan hệ,  
mở rộng phạm vi liên kết cũng như thúc đẩy hợp tác và cộng tác cho công việc trong tương lai  
(Javaid, Soroya, & Mahmood, 2020). Ngoài ra, Foos, Schum, và Rothenberg (2006) cho rằng niềm  
tin giữa các cá nhân sẽ thúc đẩy chia sẻ tri thức ẩn. Dụa trên các luận điểm này, nghiên cứu đề  
xuất các giả thuyết H1 và H2 như sau:  
H1: Niềm tin có tác động tích cực đến chia sẻ tri thức hiện  
H2: Niềm tin có tác động tích cực đến chia sẻ tri thức ẩn  
Phần thưởng (Reward)  
Phần thưởng có thể là tiền tệ và phi tiền tệ. Phần thưởng bằng tiền có thể là tiền thưởng, sự  
khuyến khích. Phần thưởng phi tiền tệ có thể là giấy chứng nhận, sự công nhận của công chúng,  
sự đánh giá cao. Nhiều học giả đã công nhận tầm quan trọng của phần thưởng trong chia sẻ tri thức  
(Javaid et al., 2020).  
Phần thưởng của tổ chức có ảnh hưởng tích cực trong việc thúc đẩy nhân viên thực hiện  
các hành vi công việc khác nhau và nếu nhân viên có được nhiều phần thưởng hơn đối với việc  
chia sẻ tri thức thì mức độ sẵn sàng chia sẻ tri thức của họ sẽ càng tăng lên (Cabrera, Collins, &  
Salgado, 2006; Huang, Davison, & Gu, 2011). Khi nhân viên nhận được phần thưởng kinh tế cho  
việc trao đổi tri thức của họ, họ cảm thấy có nhiều động lực hơn để chia sẻ tri thức (Hau, Kim,  
Lee, & Kim, 2013). Kết quả nghiên cứu của Cheng, Ho, và Lau (2009) đã cho thấy tầm quan trọng  
của việc xác lập các hệ thống khuyến khích đầy đủ và sự hiểu biết về kỳ vọng đối với việc chia sẻ  
tri thức của một cá nhân.  
Dựa vào các lập luận trên, nghiên cứu này đề xuất các giả thuyết H3 và H4 như sau:  
H3: Phần thưởng của tổ chức có tác động tích cực đến chia sẻ tri thức hiện  
H4: Phần thưởng của tổ chức có tác động tích cực đến chia sẻ tri ẩn  
Sự hỗ trợ của quản lý (Management support)  
Sự hỗ trợ của quản lý đóng một vai trò quan trọng đối với việc khuyến khích các hành vi  
chia sẻ tri thức (Chen & Cheng, 2012; S. Wang & Noe, 2010). Hỗ trợ quản lý đề cập đến sự hỗ trợ  
mà quản lý cấp cao và cấp trung có các biện pháp để tăng cường các hành vi và quy trình chia sẻ  
tri thức trong toàn tổ chức. Hỗ trợ quản lý được định nghĩa là cách mà các nhà quản lý truyền cảm  
hứng cho nhân viên chia sẻ tri thức và hỗ trợ các hoạt động khuyến khích chia sẻ tri thức (J. C.  
Lee, Shiue, & Chen, 2016; Z. Wang & Wang, 2012). Mishra và Pandey (2019) cho rằng các phong  
cách lãnh đạo khác nhau có ảnh hưởng tích cực đến việc chia sẻ tri thức. Lãnh đạo hiệu quả có  
tiềm năng mạnh mẽ để nâng cao mức độ và chất lượng của việc chia sẻ tri thức bằng cách tạo ra  
văn hóa thân thiện với tri thức, cung cấp các mục tiêu chung và tầm nhìn rõ ràng, cải thiện các mối  
quan hệ dựa trên lòng tin, sử dụng các động cơ thúc đẩy và loại bỏ các rào cản như thiếu giao tiếp  
hoặc hiểu lầm lẫn nhau (Amayah, 2013).  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
41  
Anantatmula (2008) cho rằng lãnh đạo, quản lý đóng một vai trò quan trọng đối với văn  
hóa chia sẻ tri thức trong một tổ chức, bởi vì trong việc chia sẻ tri thức, trách nhiệm không chỉ  
thuộc về nhân viên mà còn là của các nhà quản lý cấp cao, những người cần thiết lập một môi  
trường thúc đẩy sự chia sẻ tri thức. Sự hỗ trợ của quản lý là tiền đề cho việc chia sẻ tri thức trong  
các bối cảnh nghiên cứu khác nhau, vì sự hỗ trợ của quản lý có khả năng ảnh hưởng đến cam kết  
của nhân viên, từ đó cải thiện chất lượng và mức độ thực tiễn chia sẻ tri thức (Ali, Paris, &  
Gunasekaran, 2019).  
Dựa vào các lý thuyết hiện tại, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết H5 và H6 như sau:  
H5: Sự hỗ trợ của quản lý có tác động tích cực đến chia sẻ tri thức hiện  
H6: Sự hỗ trợ của quản lý có tác động tích cực đến chia sẻ tri thức ẩn  
2.2. Chia sẻ tri thức và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên  
Đổi mới là quá trình mà qua đó giá trị kinh tế hoặc xã hội tạo ra từ tri thức - thông qua việc  
sáng tạo, phổ biến và chuyển đổi tri thức để tạo ra các sản phẩm, quy trình cải tiến mới hoặc được  
cải thiện đáng kể được xã hội sử dụng (Raykov, 2014). Do đó, đổi mới là một chiến lược cạnh  
tranh thiết yếu và lợi thế cho bất kỳ sự tồn tại của tổ chức nào và làm cho tổ chức đó có sự khác  
biệt. Hơn nữa, nó thu hút nhiều khách hàng hơn do thực tế là những điều mới luôn hấp dẫn. Đặc  
biệt ngành dịch vụ cần đổi mới liên tục để giữ chân khách hàng (Akram, Lei, Haider, & Hussain,  
2018).  
Tri thức là nguồn lực tổ chức quan trọng nhất, cho phép tạo ra các kết quả tổ chức mới bao  
gồm cả sự đổi mới (Kamasak & Bulutlar, 2010). Hơn nữa, chia sẻ tri thức giúp mọi người nhanh  
chóng mở rộng phạm vi tri thức cá nhân và tăng khả năng giải quyết vấn đề và khối lượng công  
việc (Hu et al., 2009). Các lý thuyết hiện tại hỗ trợ cho mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức và đổi  
mới (Akram et al., 2018). Alhady, Idris, Sawal, Azmi, và Zakaria (2011) cho rằng tổ chức hỗ trợ  
nhân viên của mình đóng góp tri thức với mong muốn sẽ tạo ra những ý tưởng mới, tốt hơn và  
thúc đẩy các cơ hội mới, từ đó cho phép các hoạt động đổi mới tổ chức. Khi cá nhân thu thập tri  
thức từ người khác, họ cải thiện năng lực đổi mới của mình (Radaelli et al., 2014). Nhân viên có  
thể giải quyết được những vấn đề một cách hiệu quả thông qua những những ý tưởng sáng tạo, đổi  
mới nhờ vào việc chia sẻ tri thức với đồng nghiệp (K. J. Lee, 2016; Nonaka, 1994). Tiền đề cho  
sự kết hợp và chuyển từ tri thức hiện có sang tri thức mới là chia sẻ tri thức, kết quả sẽ thúc đẩy  
thực hiện các ý tưởng sáng tạo, tác động tích cực đến hiệu quả làm việc (Yun & Lee, 2017). Chia  
sẻ tri thức hiện sẽ nâng cao hiệu quả học tập, làm thay đổi cấu trúc tri thức của nhân viên. Bên  
cạnh đó, các nhân viên trong tổ chức có thể có được và sử dụng các kỹ năng, kinh nghiệm và  
phương pháp đặc biệt để làm việc tốt hơn nhờ vào đổi mới nhận thức và chia sẻ tri thức ẩn (Z.  
Wang et al., 2014). Do đó, tác giả đề xuất rằng có mối quan hệ tích cực giữa chia sẻ tri thức hiện  
và chia sẻ tri thức ẩn với hành vi làm việc đổi mới của các cá nhân bằng các giả thuyết H7 và H8  
như sau:  
H7: Chia sẻ tri thức hiện có ảnh hưởng tích cực đến hành vi làm việc đổi mới  
H8: Chia sẻ tri thức ẩn có ảnh hưởng tích cực đến hành vi làm việc đổi mới  
42  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nguồn: Tác giả  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu  
Nghiên cứu này sử dụng bảng câu hỏi được thiết kế sẵn và phương pháp chọn mẫu thuận  
tiện để thu thập dữ liệu. Các đáp viên của khảo sát là nhân viên của Tổng Công ty Hàng không  
Việt Nam (Vietnam Airlines) đang công tác tại Cảng Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất. Đối với  
mô hình SEM, để đạt được độ tin cậy cần thiết thì cỡ mẫu càng lớn càng tốt, nhưng tối thiểu phải  
bằng 05 lần số biến quan sát (Hair, Black, Babin, & Anderson, 2014; Kline, 2015). Trong mô hình  
nghiên cứu này có 06 biến tiềm ẩn với 33 biến quan sát, do đó số lượng mẫu ít nhất phải bằng 200.  
Tác giả đã tiến hành khảo sát trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 02 năm 2021 bằng cách gửi  
trực tiếp và trực tuyến 350 bảng câu hỏi đến nhân viên của Vietnam Airlines. Sau khi loại bỏ các  
trả lời không đầy đủ, tác giả thu được 328 phiếu (đạt tỷ lệ hồi đáp 93.7 %), trong đó có 280 mẫu  
là chuẩn để tiến hành phân tích dữ liệu.  
3.2. Thang đo  
Các biến quan sát trong bài nghiên cứu này được đo lường theo thang đo Likert 5 mức độ,  
trong đó “1” là “hoàn toàn không đồng ý” và “5” là “hoàn toàn đồng ý.” Tác giả phát triển các  
thang đo dựa vào các công trình nghiên cứu trước trong cùng lĩnh vực. Thang đo niềm tin (ký hiệu  
là TRU) gồm 03 biến được tham khảo từ Javaid và cộng sự (2020). Phần thưởng của tổ chức (ký  
hiệu là REW) gồm 04 biến quan sát được phát triển theo Bock và Kim (2002). Dựa theo kết quả  
nghiên cứu của Ali và cộng sự (2019), sự hỗ trợ của quản lý (ký hiệu là MAS) được đo lường bởi  
04 biến. Đối với các cấu trúc chia sẻ tri thức, chia sẻ tri thức hiện (ký hiệu là KNO) gồm 06 biến  
và chia sẻ tri thức ẩn (ký hiệu là TKNO) gồm 07 biến được tham khảo từ Reychav và Weisberg  
(2010) và Z. Wang và Wang (2012). Cuối cùng, nghiên cứu sử dụng 09 biến để đo lường hành vi  
làm việc đổi mới (IWB) (Akram et al., 2018; Janssen, 2000). Các kết quả trong Bảng 1 cho thấy hệ  
số Cronbach’s Alpha của tất cả các biến tiềm ẩn đều lớn hơn 0.8 nên thang đo có độ tin cậy là rất tốt  
(Kline, 2015). Cùng với đó là hệ số tương quan biến tổng của tất cả các biến quan sát đều lớn hơn  
0.6. Vì vậy, tất cả các biến quan sát đều được chấp nhận và sẽ được sử dụng trong phân tích nhân tố.  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
43  
Bảng 1  
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha  
Hệ số  
Cronbach’s Alpha  
Tương quan  
biến tổng  
Nhân tố  
1. Niềm tin (TRU)  
0.934  
TRU-1  
0.869  
0.857  
0.881  
TRU-2  
TRU-3  
2. Phần thưởng của tổ chức (REW)  
0.874  
REW-1  
0.761  
0.766  
0.674  
0.728  
REW-2  
REW-3  
REW-4  
3. Hỗ trợ của quản lý (MAS)  
0.897  
0.923  
MAS-1  
0.800  
0.805  
0.790  
0.689  
MAS-2  
MAS-3  
MAS-4  
4. Chia sẻ tri thức hiện (KNO)  
KNO-1  
0.784  
0.808  
0.770  
0.787  
0.779  
0.743  
KNO-2  
KNO-3  
KNO-4  
KNO-5  
KNO-6  
5. Chia sẻ tri thức ẩn (TKNO)  
0.945  
TKNO-1  
0.748  
0.837  
0.865  
0.810  
0.817  
0.795  
0.831  
TKNO-2  
TKNO-3  
TKNO-4  
TKNO-5  
TKNO-6  
TKNO-7  
6. Hành vi làm việc đổi mới (IWB)  
0.938  
IWB-1  
IWB-2  
IWB-3  
IWB-4  
IWB-5  
IWB-6  
0.771  
0.725  
0.774  
0.782  
0.703  
0.790  
44  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
Hệ số  
Cronbach’s Alpha  
Tương quan  
biến tổng  
Nhân tố  
IWB-7  
IWB-8  
IWB-9  
0.804  
0.791  
0.739  
Nguồn: Tác giả  
3.3. Phân tích dữ liệu  
Theo khuyến nghị của Anderson và Gerbing (1988), nghiên cứu này phân tích dữ liệu theo  
phương pháp hai bước bằng phần mềm thống kê SPSS 22 và AMOS 24. Đầu tiên, mô hình đo  
lường được thiết lập bằng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm định tính giá trị hội tụ và  
tính giá trị phân biệt. Tiếp theo, tác giả phân tích đường dẫn và ước lượng các hệ số tương quan  
đường dẫn bằng mô hình SEM.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Đặc điểm nhân hẩu học của mẫu nghiên cứu  
Đặc điểm nhân khẩu học về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và vị trí công tác của 280  
đáp viên được mô tả cụ thể trong Bảng 2.  
Bảng 2  
Bảng mô tả mẫu nghiên cứu  
Đặc điểm  
Số lượng  
Tỉ lệ phần trăm (%)  
Tuổi:  
- Nhỏ nhất: 23  
- Lớn nhất: 59  
- Trung bình: 36.84  
Giới tính:  
- Nữ  
- Nam  
135  
145  
48.2  
51.8  
Trình độ học vấn:  
- Cao đẳng  
- Đại học  
23  
194  
63  
8.2  
69.3  
22.5  
- Thạc sĩ  
Vị trí công tác:  
- Nhân viên  
- Lãnh đạo  
242  
38  
86.4  
13.6  
Số mẫu N = 280  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ EVIEWS  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
45  
4.2. Phân tích mô hình đo lường  
4.2.1. Sự phù hợp của mô hình đo lường (Model Fit)  
Sau khi phân tích nhân tố khám phá (EFA), 04 biến quan sát (IWB-6, IWB-7, IWB-8 và  
IWB-9) trong cấu trúc hành vi làm việc đổi mới (IWB) đã bị loại bỏ do chúng có tải chéo (Hair et  
al., 2014). Như vậy, từ 06 biến tiềm ẩn và 33 biến quan sát ban đầu, mô hình còn 29 biến quan sát.  
Trong bài báo này, tác giả tham chiếu theo các khuyến nghị của Hair và cộng sự (2014, p.  
584) để đánh giá độ phù hợp của mô hình đo lường, với trường hợp cụ thể số quan sát trong mỗi  
nhóm N > 250 và số biến quan sát 12 < m < 30. Dựa vào các kết quả thống kê, mô hình đo lường  
này có chỉ số CMIN/df = 1.902 nhỏ hơn 3 và giá trị P-value = 0.000 không lớn hơn 0.05 (Hair et  
al., 2014). Ngoài ra, chỉ số phù hợp so sánh (CFI) bằng 0.951, chỉ số Tucker-Lewis (TLI) bằng  
0.945 đều vượt mức ngưỡng 0.92; cùng với sai số ước lượng căn quân phương (RMSEA) bằng  
0.057 nhỏ hơn 0.07 và chỉ số thống kê phần dư chuẩn hóa căn quân phương (SRMR) bằng 0.049  
nhỏ hơn giá trị cho phép 0.080 (Hair et al., 2014). Các bằng chứng này dẫn đến kết luận mô hình  
đo lường là hoàn toàn phù hợp (Hair et al., 2014).  
4.2.2. Tính giá trꢀ (Validity) của mô hình  
Tính giá trị của mô hình đo lường được tác giả đánh giá bằng hai kiểm định, đó là tính giá  
trị hội tụ và tính giá trị phân biệt (Anderson & Gerbing, 1988). Trong đó, tính giá trị hội tụ được  
kiểm tra bằng cách đánh giá độ tin cậy tổng hợp (CR) của các cấu trúc trong mô hình và phương  
sai trích trungg bình (AVE) của các cấu trúc đó. Các số liệu thực nghiệm trong Bảng 3 cho thấy  
độ tin cậy CR của tất cả 06 biến tiềm ẩn nằm trong khoảng từ 0.877 (REW) đến 0.945 (TKNO),  
nghĩa là đều đạt trên giá trị cắt 0.7 (Hair et al., 2014) và giá trị AVE của cả 06 biến tiềm ẩn này  
cũng đều vượt mức ngưỡng 0.5 (Hair et al., 2014), chúng nằm trong khoảng từ 0.642 (REW) đến  
0.831 (TRU). Do đó, có thể kết luận mô hình đo lường đạt yêu cầu về sự hội tụ. Đồng thời, bình  
phương hệ số tương quan lớn nhất (MSV) của các cấu trúc đều nhỏ hơn phương sai trích (AVE).  
Vì thế, có thể kết luận mô hình đo lường cũng đạt yêu cầu về sự phân biệt (Hair et al., 2014). Như  
vậy, tính giá trị hội tụ và tính giá trị phân biệt của mô hình đo lường đã được kiểm định bằng các  
số liệu điều tra thực nghiệm.  
Bảng 3  
Độ tin cậy và tính giá trị của mô hình CFA  
CR  
AVE  
MSV  
TKNO  
KNO  
IWB  
MAS  
REW  
TRU  
0.945 0.711 0.561  
0.923 0.667 0.561  
0.904 0.657 0.258  
0.897 0.687 0.396  
0.877 0.642 0.307  
0.937 0.831 0.515  
TKNO  
KNO  
IWB  
0.843  
0.749***  
0.488***  
0.550***  
0.476***  
0.718***  
0.817  
0.486***  
0.528***  
0.523***  
0.700***  
0.811  
0.348***  
0.321***  
0.508***  
MAS  
REW  
TRU  
0.829  
0.335***  
0.629***  
0.801  
0.554***  
0.912  
Nguồn: Tác giả  
4.3. Phân tích mô hình đường dẫn  
4.3.1. Kiểm đꢀnh sự phù hợp của mô hình cấu trúc  
46  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
Trong nghiên cứu này, sự phù hợp của mô hình cấu trúc cũng được đánh giá dựa trên đề  
xuất của Hair và cộng sự (2014), với các chỉ số đánh giá tương tự như mô hình đo lường. Các kết  
quả phân tích cho thấy rằng chỉ số CMIN/df = 2.032 nhỏ hơn 3; P-value = 0.000 không lớn hơn  
0.05; CFI = 0.944 lớn hơn 0.92; TLI = 0.937 lớn hơn 0.92; RMSEA = 0.061 nhỏ hơn 0.07 và  
SRMR = 0.0721 nhỏ hơn 0.08. Do đó, có thể kết luận rằng mô hình cấu trúc là phù hợp (Hair et  
al., 2014).  
4.3.2. Kiểm đꢀnh các giả thuyết nghiên cứu  
Bảng 4 trình bày tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất. Kết  
quả phân tích đường dẫn cung cấp bằng chứng rằng tất cả các giả thuyết H1, H2, H3, H7 và H8  
đều được chấp nhận ở mức ý nghĩa thống kê p < 0.001; giả thuyết H4 và H5 được hỗ trợ ở mức ý  
nghĩa p < 0.05 và giả thuyết H6 cũng được chấp nhận với p = 0.01.  
Bảng 4  
Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu  
Trọng số  
chuẩn hóa  
Giả thuyết  
Kỳ vọng  
P-value  
Kết quả  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
***  
(p < 0.001)  
Niềm tin có tác động tích  
cực đến chia sẻ tri thức hiện  
H1  
H2  
+
+
0.522  
***  
(p < 0.001)  
Niềm tin có tác động tích  
cực đến chia sẻ tri thức ẩn  
0.568  
0.194  
Phần thưởng của tổ chức có  
tác động tích cực đến chia  
sẻ tri thức hiện  
0.001  
(p = 0.001)  
H3  
H4  
H5  
H6  
H7  
+
+
+
+
+
+
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Phần thưởng của tổ chức có  
tác động tích cực đến chia  
sẻ tri thức ẩn  
0.041  
(p < 0.05)  
0.118  
0.143  
0.159  
0.287  
0.291  
Sự hỗ trợ của quản lý có tác  
động tích cực đến chia sẻ tri  
thức hiện  
0.024  
(p < 0.05)  
Sự hỗ trợ của quản lý có tác  
động tích cực đến chia sẻ tri  
thức ẩn  
0.010  
(p = 0.01)  
Chia sẻ tri thức hiện có ảnh  
hưởng tích cực đến hành vi  
làm việc đổi mới  
***  
(p < 0.001)  
Chia sẻ tri thức ẩn có ảnh  
hưởng tích cực đến hành vi  
làm việc đổi mới  
***  
(p < 0.001)  
H8  
Nguồn: Tác giả  
5. Thảo luận kết quả và hàm ý quản trị  
5.1. Thảo luận kết quả  
Tác động của chia sẻ tri thức đối với hành vi đổi mới trong công việc đã được đề cập trong  
lý thuyết và một số nghiên cứu đã minh chứng mối quan hệ đó trong thực tiễn. Trong bối cảnh  
ngành hàng không Việt Nam, bài báo này đã xác định các tiền đề của chia sẻ tri thức để thúc đẩy  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
47  
nhân viên làm việc đổi mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các giả thuyết về ảnh hưởng của  
03 nhân tố niềm tin, phần thưởng của tổ chức và sự hỗ trợ quản lý đến hành vi chia sẻ tri thức hiện  
và tri thức ẩn đều được chấp nhận và có ý nghĩa thống kê, trong đó tác động mạnh nhất thuộc về  
niềm tin giữa các nhân viên. Niềm tin là nhân tố thúc đẩy chia sẻ tri thức hiện và chia sẻ tri thức  
ẩn. Amayah (2013), Ali và cộng sự (2019) và Javaid và cộng sự (2020) cũng phát hiện ra rằng  
niềm tin giữa các nhân viên sẽ làm tăng hành vi chia sẻ tri thức. Phần thưởng của tổ chức có ảnh  
hưởng tích cực đến chia sẻ tri thức (hiện và ẩn). Điều này chứng minh rằng sự mong đợi của cá  
nhân về phần thưởng có vai trò thúc đẩy chia sẻ tri thức. Bằng nghiên cứu thực nghiệm, Hau và  
cộng sự (2013) chứng minh phần thưởng có tác động tích cực đến chia sẻ tri thức ẩn, còn Amayah  
(2013), Ali và cộng sự (2019), Javaid và cộng sự (2020) cũng chỉ ra rằng phần thưởng có vai trò  
quan trọng trong thúc đẩy chia sẻ tri thức. Ngoài ra, chia sẻ tri thức hiện và tri thức ẩn còn được  
tăng cường bởi sự hỗ trợ của quản lý trong tổ chức. Phát hiện này tương đồng với Chen và Cheng  
(2012) và Ali và cộng sự (2019) chứng minh vai trò tinh thần của sự hỗ trợ quản lý là cần thiết để  
khuyến khích nhân viên chia sẻ tri thức với nhau.  
Các kết quả thực nghiệm của nghiên cứu này cũng hỗ trợ cho quan hệ tích cực giữa thực  
hành chia sẻ tri thức hiện và tri thức ẩn đến hành vi làm việc đổi mới của nhân viên trong ngành  
hàng không tại Việt Nam. Kết quả của tác giả củng cố thêm bằng chứng cho nghiên cứu của Yun  
và Lee (2017) cho rằng khi nhân viên tích cực chia sẻ tri thức tích cực thì họ có thêm thông tin và  
sẵn sàng đổi mới. Hu và cộng sự (2009), Radaelli và cộng sự (2014) cũng phát hiện ra sự tương  
quan giữa kết quả hành vi làm việc đổi mới và chia sẻ tri thức. Còn Afsar và cộng sự (2017) đã  
kiểm định vai trò của chia sẻ tri thức trong việc thúc đẩy nhân viên trong ngành hàng không làm  
việc đổi mới.  
Hình 2. Mô hình kết quả nghiên cứu  
Ghi chú: *: p < 0.05; **: p < 0.01; ***: p < 0.001  
Nguồn: Tác giả  
5.2. Hàm ý quản trị  
Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng các nhà quản lý của các công ty hàng không cần phải quan tâm  
đến các thực hành chia sẻ tri thức và xem nó như một công cụ quan trọng để đạt được kết quả đổi  
mới. Dựa vào kết quả thực nghiệm của bài báo này, tác giả đề xuất một số hàm ý để khuyến khích  
nhân viên chia sẻ tri thức tại nơi làm việc.  
48  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
Tài liệu tham khảo  
Afsar, B., Safdar, U., Dost, M., & Ali, Z. (2017). Flight attendant’s knowledge sharing, innovative  
work behaviour, and new service development. International Journal of Work  
Innovation, 2(2/3), 193-215.  
Akram, T., Lei, S., Haider, M. J., & Hussain, S. T. (2018). Exploring the impact of knowledge  
sharing on the innovative work behavior of employees: A study in China. International  
Business Research, 11(3), 186-194.  
Alhady, M., Idris, A., Sawal, M., Azmi, N., & Zakaria, Z. (2011). Knowledge sharing behavior  
and individual factors: A relationship study in the i-Class environment. Proceeding of the  
International Conference on Management and Artificial Intelligence, 6(2011), 137-141.  
Ali, A. A., Paris, L., & Gunasekaran, A. (2019). Key factors influencing knowledge sharing  
practices and its relationship with organizational performance within the oil and gas  
industry. Journal of Knowledge Management, 23(9), 1806-1837.  
Amayah, A. T. (2013). Determinants of knowledge sharing in a public sector organization. Journal  
of Knowledge Management, 17(3), 454-471.  
Anantatmula, V. S. (2008). Leadership role in making effective use of KM. The Journal of  
Information and Knowledge Management Systems, 38(4), 445-460.  
Anderson, J. C., & Gerbing, D. W. (1988). Structural equation modeling in practice: A review and  
recommended two-step approach. Psychological Bulletin, 103(3), 411-423.  
Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of  
Management, 17(1), 99-120.  
Bock, G. W., & Kim, Y. G. (2002). Breaking the myths of rewards: An exploratory study of attitudes  
about knowledge sharing. Information Resources Management Journal, 15(2), 14-21.  
Bock, G. W., Zmud, R. W., Kim, Y. G., & Lee, J. N. (2005). Behavioral intention formation in  
knowledge sharing: Examining the roles of extrinsic motivators, social-psychological forces,  
and organizational climate. MIS Quarterly, 29(1), 87-111.  
Cabrera, A., Collins, W. C., & Salgado, J. F. (2006). Determinants of individual engagement in  
knowledge sharing. The International Journal of Human Resource Management, 17(2), 245-  
264.  
Chen, W. J., & Cheng, H. Y. (2012). Factors affecting the knowledge sharing attitude of hotel  
service personnel. International Journal of Hospitality Management, 31(2), 468-476.  
Cheng, M. Y., Ho, J. S. Y., & Lau, P. M. (2009). Knowledge sharing in academic institutions: A  
study of multimedia university Malaysia. Electronic Journal of Knowledge  
Management, 7(3), 313-324.  
Chow, W. S., & Chan, L. S. (2008). Social network, social trust and shared goals in organizational  
knowledge sharing. Information & Management, 45(7), 458-465.  
Foos, T., Schum, G., & Rothenberg, S. (2006). Tacit knowledge transfer and the knowledge  
disconnect. Journal of Knowledge Management, 10(1), 6-18.  
Grant, R. M. (1996). Toward a knowledge‐based theory of the firm. Strategic Management  
Journal, 17(S2), 109-122.  
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2014). Multivariate data analysis.  
London, UK: Pearson.  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
49  
Hau, Y. S., Kim, B., Lee, H., & Kim, Y. G. (2013). The effects of individual motivations and  
social capital on employees’ tacit and explicit knowledge sharing intentions. International  
Journal of Information Management, 33(2), 356-366.  
Hsu, I. C., & Sabherwal, R. (2012). Relationship between intellectual capital and knowledge  
management: An empirical investigation. Decision Sciences, 43(3), 489-524.  
Hsu, M. H., Ju, T. L., Yen, C. H., & Chang, C. M. (2007). Knowledge sharing behavior in virtual  
communities: The relationship between trust, self-efficacy, and outcome  
expectations. International Journal of Human-Computer Studies, 65(2), 153-169.  
Hu, M. L. M., Horng, J. S., & Sun, Y. H. C. (2009). Hospitality teams: Knowledge sharing and  
service innovation performance. Tourism Management, 30(1), 41-50.  
Huang, Q., Davison, R. M., & Gu, J. (2011). The impact of trust, guanxi orientation and face on  
the intention of Chinese employees and managers to engage in peer‐to‐peer tacit and explicit  
knowledge sharing. Information Systems Journal, 21(6), 557-577.  
Inkpen, A. C., & Tsang, E. W. (2005). Social capital, networks, and knowledge transfer. Academy  
of Management Review, 30(1), 146-165.  
Janssen, O. (2000). Job demands, perceptions of effort‐reward fairness and innovative work  
behaviour. Journal of Occupational and Organizational Psychology, 73(3), 287-302.  
Javaid, J., Soroya, S., & Mahmood, K. (2020). Impact of personal and organizational factors on  
knowledge sharing attitude of university teachers in Pakistan. The Electronic Library, 38(2),  
317-336.  
Kamaşak, R., & Bulutlar, F. (2010). The influence of knowledge sharing on innovation. European  
Business Review, 22(3), 306-317.  
Kline, R. B. (2015). Principles and practice of structural equation modeling. New York, NY:  
Guilford.  
Lee, J. C., Shiue, Y. C., & Chen, C. Y. (2016). Examining the impacts of organizational culture  
and top management support of knowledge sharing on the success of software process  
improvement. Computers in Human Behavior, 54(1), 462-474.  
Lee, K. J. (2016). Sense of calling and career satisfaction of hotel frontline employees: Mediation  
through knowledge sharing with organizational members. International Journal of  
Contemporary Hospitality Management, 28(2), 346-365.  
Liu, Y., & Phillips, J. S. (2011). Examining the antecedents of knowledge sharing in facilitating  
team innovativeness from a multilevel perspective. International Journal of Information  
Management, 31(1), 44-52.  
Mishra, M., & Pandey, A. (2019). The impact of leadership styles on knowledge-sharing behavior:  
A review of literature. Development and Learning in Organizations: An International  
Journal, 33(1), 16-19.  
Nonaka, I. (1994). A dynamic theory of organizational knowledge creation. Organization  
Science, 5(1), 14-37.  
Radaelli, G., Lettieri, E., Mura, M., & Spiller, N. (2014). Knowledge sharing and innovative work  
behaviour in healthcare: A micro‐level investigation of direct and indirect effects. Creativity  
and Innovation Management, 23(4), 400-414.  
50  
Đoàn Bảo Sơn. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 38-50  
Raykov, M. (2014). Employer support for innovative work and employees’ job satisfaction and  
job-related stress. Journal of Occupational Health, 56(4), 244-251.  
Reychav, I., & Weisberg, J. (2010). Bridging intention and behavior of knowledge  
sharing. Journal of Knowledge Management, 14(2), 285-300.  
Tsai, W., & Ghoshal, S. (1998). Social capital and value creation: The role of intrafirm  
networks. The Academy of Management Journal, 41(4), 464-476.  
Wang, S., & Noe, R. A. (2010). Knowledge sharing: A review and directions for future  
research. Human Resource Management Review, 20(2), 115-131.  
Wang, Z., & Wang, N. (2012). Knowledge sharing, innovation and firm performance. Expert  
Systems with Applications, 39(10), 8899-8908.  
Wang, Z., Wang, N., & Liang, H. (2014). Knowledge sharing, intellectual capital and firm  
performance. Management Decision, 52(2), 230-258.  
Yun, Y. J., & Lee, K. J. (2017). Social skills as a moderator between R&D personnel’s knowledge  
sharing and job performance. Journal of Managerial Psychology, 32(5), 387-400.  
Zaqout, F., & Abbas, M. (2012). Towards a model for understanding the influence of the factors  
that stimulate university students’ engagement and performance in knowledge  
sharing. Library Review, 61(5), 345-361.  
Zhou, K. Z., & Li, C. B. (2012). How knowledge affects radical innovation: Knowledge base,  
market knowledge acquisition, and internal knowledge sharing. Strategic Management  
Journal, 33(9), 1090-1102.  
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.  
pdf 13 trang Thùy Anh 9140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chia sẻ tri thức và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên trong ngành hàng không", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchia_se_tri_thuc_va_hanh_vi_lam_viec_doi_moi_cua_nhan_vien_t.pdf