Tác động của các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU
ISSN 1859-3666
MỤCꢀLỤC
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
1. Lê Thị Việt Nga, Doãn Nguyên Minh và Bùi Thị Thu - Tác động của các biện pháp kỹ thuật và
vệ sinh dịch tễ đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU. Mã số: 153.1IBMg.12
The Impacts of TBT and SPS Measures on Vietnam's Seafood Exports to Eu Market
2. Đỗ Thị Bình - Tinh thần đổi mới của doanh nghiệp trẻ: phân tích từ nguồn lực và năng lực động.
Mã số: 153.1IBAdm.11
3
11
Innovative Spirit of Young Enterprises: Analysis from Resources and Dynamic Capabilities
Approach
3. Trần Chí Thiện và Trần Nhuận Kiên - Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo ở
vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Mã số: 153.1ISMET.12
19
Intellectual property protection in supporting startups in ethnic minority and moutainous
areas
QUẢN TRỊ KINH DOANH
4. Nguyễn Phương Linh và Cao Tuấn Khanh - Mối quan hệ của năng lực hấp thụ, tích hợp đa kênh
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ. Mã số: 153.2BMkt.21
26
37
45
The relationship of absorption, multi - channel integration capability and firm performance
of retail enterprises.
5. Nguyễn Thị Ngọc Lan - Tác động của kế toán quản trị đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Việt Nam. Mã số: 153.2BAcc.21
Impact of management accounting on business results of Vietnamese enterprises
6. Bùi Thị Thu Loan và Nguyễn Xuân Thắng - Nhận diện vai trò của đòn bẩy tài chính trong mối
quan hệ giữa tinh thần doanh nhân và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa
bàn Hà Nội. Mã số: 153.2BAdm.21
Identifying the role of financial leverage in the relationship between the entrepreneurship and
business performance of small and medium enterprises in Hanoi
7. Lưu Thị Minh Ngọc, Nguyễn Phương Mai và Đặng Thị Hương - Ứng dụng thẻ điểm quản trị
công ty trong đánh giá công ty cổ phần có vốn nhà nước, nghiên cứu trường hợp tại công ty cổ phần
Quản lý Bảo trì Đường thủy Nội địa số 4. Mã số: 153.2BAdm.21
55
Applying Corporate Governance Scorecard in evaluating state-owned joint stock companies:
Case study of Inland Waterways Management and Maintenance Joint Stock Company No. 4
khoa học
1
thương mại
Số 153/2021
1
8. Trần Thị Kim Phương, Phạm Công Hậu, Nguyễn Thanh Trúc, Trần Trung Vĩnh và
Trương Bá Thanh - Ảnh hưởng của hành vi tương tác qua truyền thông mạng xã hội đến trung
thành thương hiệu: Trường hợp khách du lịch tại Đà Nẵng. Mã số: 153.2BMkt.21
The impact of customer engagement behaviours on social media on brand loyalty: a case
study of domestic tourists in Da Nang city, Vietnam
62
9. Nguyễn Thu Thủy, Lê Thanh Tâm, Đoàn Minh Ngọc và Lê Đức Hoàng - Các yếu tố ảnh
hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của một chi nhánh ngân hàng thương
mại - nghiên cứu trường hợp ACB Thăng Long. Mã số: 153.2FiBa.22
71
83
Factors Affecting Intention to Use Personal Loan Service of A Commercial Bank Branch
- ACB Thang Long Case Study
10. Nguyễn Thị Hiên - Các yếu tố ảnh hưởng đến bất cân xứng thông tin trên Sàn giao dịch chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Mã số: 153.2FiBa.21
The Factors Affecting Information Asymetry on Hochiminh City Stock Exchange (HOSE)
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
11. Phan Hữu Nghị - Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế: nghiên cứu tại Việt Nam.
Mã số: 153.3TrEM.32
91
96
Foreign Direct Investment and Economic Growth: Case Study in Vietnam
12. Lê Bá Phong - Tăng cường khả năng đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam:
Tác động điều tiết của văn hóa hợp tác và vai trò trung gian của năng lực quản trị tri thức.
Mã số: 153.3BAdm.31
Stimulating Vietnamese enterprises’ innovation capability: The moderating effect of col-
laborative culture and mediating role of knowledge management capability
13. Vũ Tuấn Dương và Nguyễn Thị Thanh Nhàn - Nghiên cứu tác động của chất lượng và giá
trị dịch vụ đến sự hài lòng của sinh viên tại một số trường đại học tư thục trên địa bàn Hà Nội.
Mã số: 153.3OMIs.31
105
Study on Impact of Service Quality and Value on Student Satisfaction at Several Private
Universities in Hanoi City
khoa học
thương mại
2
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT VÀ VỆ SINH DỊCH TỄ
ĐẾN XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU
Lê Thị Việt Nga
Email: Vietngale@tmu.edu.vn
Trường Đại học Thương mại
Doãn Nguyên Minh
Email: minhdn@tmu.edu.vn
Trường Đại học Thương mại
Bùi Thị Thu
Trường Đại học Thương mại
Email: thu.bt@tmu.edu.vn
Ngày nhận: 16/03/2021
Ngày nhận lại: 09/04/2021
Ngày duyệt đăng: 13/04/2021
im ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU trong 5 năm gần đây đạt mức tăng
trưởng trung bình hàng năm là -2,63%. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường này
K
trong những tháng cuối năm 2020 tăng dần, nhưng tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả năm
vẫn là -26,1%, đưa EU xuống vị trí thứ 4 về kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến việc suy giảm giá trị xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU trong những năm gần đây, trong
đó có nguyên nhân từ các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ. Bài viết này sử dụng mô hình trọng lực với
các số liệu cần thiết được thống kê bởi COMTRADE, WB, WTO trong giai đoạn 2000-2019 nhằm đánh giá
tác động của các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, từ đó có
thể đề xuất những giải pháp, kiến nghị để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU trong thời gian
tới. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp SPS của EU thực sự có tác động làm cản trở đối với xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam, trong khi các biện pháp TBT không có tác động cản trở đến xuất khẩu.
Từ khóa: TBT, SPS, Xuất khẩu thủy sản, Việt Nam, EU
JEL Classifications: F13, F53, F68
1. Giới thiệu
thành thị trường xuất khẩu thủy sản đứng đầu của
Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,48
tỷ USD, tăng 21,43% so với năm 2016, chiếm
17,8% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào
thị trường EU từ năm 2017 đến năm 2020 liên tục
giảm, làm cho tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu thủy
sản vào thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam giảm nhẹ từ mức 17,8%
năm 2017 xuống mức 11,4% vào năm 2020 (Biểu
đồ 1). Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào
thị trường EU đạt khoảng 1,3 tỷ USD (giảm 11,86%
so với năm 2018) đưa EU xuống vị trí thứ 3 về kim
ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đứng sau
Hoa kỳ và Nhật Bản. Năm 2020, kim ngạch xuất
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan,
thủy sản là một trong những nhóm hàng xuất khẩu
chính của Việt Nam trong nhiều năm gần đây. Năm
2006, trước khi Việt Nam là thành viên chính thức
của WTO, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam đạt 3,36 tỷ USD, trong đó EU là thị trường
đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu thủy sản với giá
trị 728 triệu USD, chiếm 21,7%. Trong 10 năm tiếp
theo, mặc dù kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam tăng trưởng không ổn định qua các năm song
kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2016 đạt 7,05 tỷ
USD, trong đó xuất khẩu thủy sản sang EU đạt
khoảng 1,22 tỷ USD, chiếm khoảng 17,3%, đứng
thứ 2 sau Hoa kỳ. Năm 2017, EU đã vượt Hoa kỳ trở
khoa học
!
3
thương mại
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
khẩu thủy sản vào thị trường này (từ năm 2020 là thị 517,11 triệu USD vào năm 2020. Kim ngạch xuất
trường EU-27 quốc gia thành viên) tiếp tục giảm khẩu cá tra giảm mạnh trong các năm 2017 và 2020,
thêm 26,1% so với năm 2019, đạt khoảng 959 tỷ trong đó năm 2020 chỉ đạt khoảng 127,78 triệu
USD, đứng vị trí thứ 4 sau Hoa kỳ, Nhật Bản và USD. Cá ngừ, mực, bạch tuộc và nhuyễn thể 2 mảnh
Trung Quốc. Như vậy, kim ngạch xuất khẩu thủy vỏ cũng giảm dần về kim ngạch xuất khẩu trong các
sản của Việt Nam vào thị trường EU trong 5 năm năm 2017-2020 (Biểu đồ 2).
gần đây đạt mức tăng trưởng trung bình hàng năm là
Việt Nam và EU đã ký Hiệp định EVFTA (có
-2,63%, trong đó chỉ có 2 năm (2016,2017) đạt mức hiệu lực từ 1/8/2020), theo đó có khoảng 220 dòng
tăng trưởng dương lần lượt là 4% và 21,43%.
sản phẩm có thuế suất cơ sở từ 0-22% sẽ được giảm
về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực,
trong đó có nhiều sản phẩm cá, tôm,
mực, cua, ghẹ, nhuyễn thể…; một số sản
phẩm khác sẽ được giảm thuế trong 3-7
năm. Điều này mở ra nhiều cơ hội lớn
cho các mặt hàng thủy sản xuất khẩu
của Việt Nam vào thị trường EU. Thực
tế, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào
thị trường EU đã đạt mức tăng trưởng
âm trong Quý 1 và Quý 2 năm 2020, lần
lượt là -16% và -20% so với cùng kỳ
năm trước. Tuy nhiên, ngay sau khi
Hiệp định EVFTA có hiệu lực, kim
ngạch xuất khẩu thủy sản trong những
tháng cuối năm 2020 đều tăng dần,
Nguồn: VASEP (2020)
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
vào thị trường EU giai đoạn 2016-2020
trong đó kim ngạch xuất khẩu trong
tháng 12 đã tăng 8% so với cùng kỳ năm
Về cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang thị 2019. Mặc dù vậy, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
trường EU, tôm là sản phẩm có tỷ trọng kim ngạch thủy sản của cả năm vẫn là -26,1%.
xuất khẩu nhiều nhất trong nhóm hàng thủy sản, tiếp
Có nhiều nguyên nhân của việc kim ngạch xuất
đó là cá tra, cá ngừ, mực, bạch tuộc và động vật khẩu thủy sản vào thị trường EU giảm trong những
nhuyễn thể 2 mảnh vỏ. Vì vậy, khi kim ngạch xuất năm gần đây, đáng kể là mức sụt giảm trong năm
khẩu tôm giảm kéo theo kim ngạch xuất khẩu thủy 2019 và 2020, mặc dù thuế quan nhập khẩu của EU
sản của Việt Nam vào EU cũng giảm.
đã giảm về 0% đối với hơn 200 mặt hàng thủy sản
theo EVFTA từ 1/8/2020. Trong đó có
những nguyên nhân cơ bản: Việt Nam bị
EU cảnh báo thẻ vàng IUU vào tháng
10/2017, nước Anh rút khỏi EU, đại
dịch Covid 19 bùng phát mạnh mẽ tại
các nước EU từ tháng 3/2020, thị trường
dân số già và trở nên bão hòa nhu cầu
đối với hàng thủy sản, những quy định
kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ đối với hàng
thủy sản…
Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu
thủy sản Việt Nam (VASEP), EU là một
thị trường có hệ thống tiêu chuẩn kỹ
thuật và an toàn vệ sinh thực phẩm
Nguồn: VASEP (2020)
Biểu đồ 2: Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
vào thị trường EU giai đoạn 2016-2020
Trong 5 năm gần đây, xuất khẩu tôm đã tăng từ nghiêm ngặt nhất thế giới. Hàng thuỷ sản của các
mức hơn 600 triệu USD vào năm 2016 lên 862,8 nước đang phát triển đưa vào EU phải tuân thủ theo
triệu USD vào năm 2017 nhưng đã giảm dần xuống các quy định cơ bản như:
khoa học
!
thương mại
4
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
+ Quy định về vệ sinh: các nước muốn đưa hàng bảo vệ đời sống của động/thực vật và bảo vệ môi
thuỷ sản vào EU phải nằm trong danh sách các nước trường. Tuy vậy, một vấn đề lớn được Irwin (2002)
được xuất vào EU. Từng lô hàng phải kèm theo giấy đưa ra là các biện pháp phi thuế thường bị biến
chứng nhận đáp ứng các yêu cầu của EU do cơ quan tướng và các quy định cụ thể thì quá khắt khe so với
chức năng của nước xuất khẩu cấp.
mục tiêu bảo hộ người tiêu dùng và môi trường,
+ Quy định về chất lượng và an toàn thực phẩm: dường như những biện pháp đó đang nhằm bảo hộ
theo các quy chế 91/492/EEC và 91/493/EEC, các thương mại nhiều hơn. Các nước phát triển có xu
sản phẩm phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể về vệ hướng sử dụng các biện pháp kỹ thuật khắt khe hơn,
sinh gồm độ tươi, độ sạch, mức nhiễm vi sinh tối đa với yêu cầu cao hơn so với các nước đang phát triển,
(bao gồm các vi sinh vật gây bệnh và các vi sinh vật vì vậy hàng nông sản được xuất khẩu từ nước đang
chỉ thị), dư lượng hoá chất (kim loại nặng, kháng phát triển tới nước phát triển gặp nhiều khó khăn,
sinh và thuốc trừ sâu), chất độc, độc tố sinh học biển trở ngại trong việc thâm nhập thị trường (Yinguo
và ký sinh trùng.
Dong & Yue Zhu, 2015).
+ Quy định về giám sát: Quyết định 94/356/EEC
Để đánh giá tác động của các biện pháp TBT và
yêu cầu nhà sản xuất có hàng thuỷ sản xuất khẩu SPS đến xuất khẩu hàng hóa, nhiều nghiên cứu đã
sang EU phải tổ chức giám sát hoạt động sản xuất và sử dụng mô hình trọng lực. Kết quả nghiên cứu cho
chế biến của mình phù hợp với HACCP. Tiêu chuẩn thấy các biện pháp TBT và SPS thường làm tăng chi
HACCP là điều kiện quan trọng của doanh nghiệp phí và giảm khối lượng, kim ngạch hàng xuất khẩu.
xuất khẩu thuỷ sản vào EU.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho thấy các biện
Ngoài ra, EU còn đưa ra các quy định về môi pháp này có tác động làm thúc đẩy xuất khẩu.
trường nước, quy trình nuôi và đánh bắt, khai thác, Nghiên cứu của Anders và Caswell (2006) sử dụng
quy định về lao động, quy định về bảo vệ môi mô hình trọng lực để đánh giá tác động của HACPP
trường…
lên kim ngạch xuất khẩu thủy sản của các nước phát
Chính vì vậy, để tận dụng những cơ hội từ Hiệp triển và đang phát triển. Theo kết quả nghiên cứu
định EVFTA cũng như để phát huy thế mạnh của này, HACCP có ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt lên kim
Việt Nam trong việc xuất khẩu thủy sản, ngoài việc ngạch xuất khẩu thủy sản của 33 nước đang phát
đáp ứng quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi về triển. Tuy vậy, HACPP lại có ảnh hưởng tích cực lên
thuế quan, những mặt hàng thủy sản xuất khẩu của thương mại thủy sản của các nước phát triển. Kết
Việt Nam cần phải đáp ứng những Quy định kỹ quả này góp phần làm rõ quan điểm “tiêu chuẩn
thuật và vệ sinh dịch tễ của EU đối với hàng thủy đóng vai trò rào cản” đối với các nước đang phát
sản, đây được coi là những yếu tố có tác động tới triển và “tiêu chuẩn đóng vai trò đòn bẩy” với các
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Bài viết này sử nước đang phát triển.
dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình
Nghiên cứu của Wilson, Norbert, Nguyen (2009)
trọng lực, để đánh giá tác động của các biện pháp kỹ sử dụng mô hình trọng lực, dữ liệu panel và phương
thuật và vệ sinh dịch tễ của EU đối với xuất khẩu pháp ảnh hưởng cố định (fixed effect) cho thấy khi
thủy sản của Việt Nam, từ đó đề xuất một số hàm ý Hoa Kỳ áp dụng HACPP, EU áp dụng giới hạn hiệu
chính sách để đáp ứng quy định của EU. Ngoài phần suất yêu cầu tối thiểu (Minimum required perform-
giới thiệu, nội dung bài viết được bố cục gồm tổng ance level) và Nhật áp dụng Luật an toàn thực phẩm
quan nghiên cứu về tác động của các biện pháp kỹ căn bản, kim ngạch xuất khẩu tôm đến các thị
thuật và vệ sinh dịch tễ trong thương mại quốc tế, trường này giảm lần lượt 90.45%, 99.47% và
phương pháp và dữ liệu đánh giá, kết quả đánh giá 99.97%; trong khi đó các ngành hàng liên quan đến
tác động của các biện pháp...
2. Tổng quan nghiên cứu về tác động của các
biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ
cá giảm 66.71%, 82.83% và 89.32%.
Bài viết của Luiza Meneguelli Fassarellaa,
Maurício Jorge Pinto de Souza (2011) nghiên cứu về
Theo phân loại các biện pháp phi thuế của UNC- ảnh hưởng của những biện pháp kỹ thuật và những
TAD (2019), nhóm biện pháp kỹ thuật đối với hàng biện pháp vệ sinh dịch tễ đối với xuất khẩu thịt da
nhập khẩu bao gồm các biện pháp vệ sinh dịch tễ cầm của Brazil bằng mô hình trọng lực chỉ ra rằng
(SPS) và các rào cản kỹ thuật trong thương mại các biện pháp TBT và SPS có tác động cả ngược
(TBT). Các biện pháp TBT và SPS thường được đưa chiều và thuận chiều với kim ngạch xuất khẩu thịt
ra với mục tiêu là bảo vệ sức khỏe của con người, của Brazil. Nhóm tác giả nhận thấy rằng, các biện
khoa học
!
5
thương mại
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
pháp TBT và SPS liên quan đến yêu cầu nhãn mắc nông nghiệp cần phải được kiểm tra nhằm đảm bảo
của hàng hóa có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu, trong ngăn chặn việc sử dụng hóa chất độc hại trong sản
khi các quy định khác thường có xu hướng cản trở phẩm nông nghiệp) đã làm giảm đáng kể xuất khẩu
thương mại.
của Trung Quốc sang thị trường Nhật Bản. Tuy
Jiang Ling (2013) cũng sử dụng mô hình trọng nhiên, nếu kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng nhập
lực để xác định mức ảnh hưởng của rào cản kỹ thuật khẩu bằng các biện pháp kỹ thuật theo danh sách
của các thị trường Nhật Bản, Mỹ, EU đối với hoạt tích cực, chất lượng của trái cây xuất khẩu từ thị
động xuất khẩu rau của Trung Quốc. Kết quả nghiên trường Trung Quốc vào Nhật bản được cải thiện tốt
cứu cho thấy những tiêu chuẩn giới hạn thuốc trừ hơn, lượng tiêu dùng trái cây nhập khẩu từ Trung
sâu đối với sản phẩm rau của Nhật, Mỹ, EU đã làm Quốc của người Nhật bản tăng lên.
hạn chế kim ngạch xuất khẩu rau của Trung Quốc.
Ngoài ra, có một số nghiên cứu sử dụng phương
Dư lượng thuốc trừ sâu bị hạn chế thêm 10% thì làm pháp lượng hóa, hay thuế hóa các biện pháp phi thuế,
giảm 4,16% giá trị kim ngạch xuất khẩu rau của điển hình như nghiên cứu của Nimenya, de Frahan
nước này. Tuy nhiên, đó chỉ là tác động tiêu cực và Ndimira (2009) sử dụng dữ liệu nhập khẩu của
trong trước mắt. Về lâu dài, chính những tiêu chuẩn Liên Minh Châu Âu cho thấy các biện pháp phi thuế
nghiêm ngặt về giới hạn thuốc trừ sâu đối với rau được áp dụng bởi Liên Minh Châu Âu tương đương
cũng có tác động tích cực đối với xuất khẩu, buộc với mức thuế quan từ 12 đến 190% cho mặt hàng
nhà xuất khẩu phải tuân thủ, khi đáp ứng được các thủy sản (cụ thể là cá đông lạnh cắt miếng).
tiêu chuẩn này thì giá trị xuất khẩu được nâng lên,
chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nguyễn Thị Thu Thủy (2011), hàng thủy sản của
được nâng lên. Việt Nam khi được xuất khẩu tới thị trường của một
Ở Việt Nam, theo Lê Anh Tuấn (2008) và
Jacob Wood, Jie Wu, Jiling Li (2017) cũng số nước phải đối mặt với rào cản kỹ thuật, rào cản
nghiên cứu về những ảnh hưởng của biện pháp SPS về môi trường và những rủi ro về rào cản kỹ thuật.
đến xuất khẩu hàng nông sản của một số nước (New Vì vậy, Lê Anh Tuấn (2008) đã nghiên cứu về các
Zealand, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản) sang thị trường rủi ro kỹ thuật đối với hàng thủy sản xuất khẩu và đề
Trung Quốc bằng mô hình trọng lực. Theo kết bài xuất một số giải pháp nhằm hạn chế những rủi ro đó;
viết này, các biện pháp SPS của Trung quốc có tác còn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy (2011) đã
động tiêu cực, tuy nhiên không phải là đáng kể, đến đề xuất một số giải pháp cho Chính phủ Việt Nam
hàng nông sản được xuất khẩu vào thị trường Trung và các doanh nghiệp của Việt Nam để vượt rào cản
Quốc. Xét cụ thể ở từng quốc gia, trong khi các biện kỹ thuật và rào cản về môi trường đối với hàng thủy
pháp SPS của Trung Quốc có tác động tiêu cực, hạn sản xuất khẩu. Các nghiên cứu của Doãn Kế Bôn
chế xuất khẩu nông sản từ Nhật Bản và Mỹ thì (2006), Phạm Hưng (2008), hay Trần Thanh Hà
những biện pháp này lại có tác động tích cực, thúc (2008) đều có những phân tích cụ thể về các quy
đẩy xuất khẩu nông sản từ Hàn Quốc và New định kỹ thuật, các quy định về vệ sinh dịch tễ của thị
Zealand. Tuy nhiên, xuất khẩu nông sản của New trường Hoa Kỳ đối với hàng thủy sản và đề xuất
Zealand vào Trung Quốc kể từ khi FTA giữa hai những giải pháp để vượt rào cản kỹ thuật và các biện
nước này có hiệu lực lại chịu tác động tiêu cực bởi pháp vệ sinh dịch tễ nhằm thúc đẩy xuất khẩu thủy
những biện pháp SPS của Trung Quốc. Điều đó cho sản của Việt Nam vào thị trường Hoa kỳ. Tuy nhiên,
thấy chủ nghĩa bảo hộ sử dụng các biện pháp SPS để những nghiên cứu này chỉ sử dụng phương pháp
hạn chế hàng nhập khẩu, giảm áp lực cạnh tranh bởi nghiên cứu định tính. Có một số nghiên cứu sử dụng
hàng nhập khẩu từ Mỹ và Nhật Bản gây ra.
mô hình trọng lực để đánh giá tác động của một số
Qianhui Gao, Shoichi Ito, Hisamitsu Saito yếu tố đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam,
(2018), cũng sử dụng mô hình trọng lực để phân tích điển hình như tác giả Đỗ Thị Hòa Nhã (2011) tập
và đánh giá về những ảnh hưởng của rào cản kỹ trung nghiên cứu theo cách tiếp cận của mô hình
thuật của thị trường Nhật Bản đối với hoạt động trọng lực, với 3 nhóm yếu tố tác động (các yếu tố
xuất khẩu trái cây của Trung Quốc Cụ thể, kết quả tác động đến cung, tác động đến cầu và các yếu tố
nghiên cứu cho thấy những biện pháp kỹ thuật của hấp dẫn, cản trở) để đo lường ảnh hưởng của các yếu
Nhật bản (đặc biệt việc sử dụng “hệ thống danh sách tố đó tới xuất khẩu một số mặt hàng nông sản điển
tích cực” (tiếng Anh là “the positive list system”, là hình (cà phê, hồ tiêu, trái cây). Năm 2016, tác giả
danh mục những hóa chất nông nghiệp và sản phẩm Ngô Thị Mỹ đã hệ thống hóa và bổ sung nhân tố mới
khoa học
!
thương mại
6
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
là diện tích đất nông nghiệp vào mô hình nghiên cứu
NTMVNj,t = TBTVNjt + SPSVNj,t + CVVNj,t +
nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản Việt QRVNj,t + SGVNj,t + ADVNj,t +ESVnj,t
Nam thông qua xây dựng khung phân tích định Với TBT là các hàng rào kỹ thuật, SPS là các biện
lượng, ứng dụng mô hình trọng lực. Ngoài ra, theo pháp vệ sinh dịch tễ, CV (Countervailing) là các biện
tác giả Vũ Bạch Diệp và các cộng sự (2018), Đỗ Thị pháp chống trợ cấp, QR (Quantitative Restriction) là
Hòa Nhã và cộng sự (2019), kết quả nghiên cứu các biện pháp hạn chế định lượng, SG (Safeguard) là
bằng mô hình trọng lực cho thấy các yếu tố: GDP, các biện pháp phòng vệ, AD (Anti-dumping) là các
dân số, chất lượng thể chế và việc gia nhập WTO có biện pháp chống bán phá giá, ES (Export Subsidy) là
tác động cùng chiều; các yếu tố: Khoảng cách địa lý, các biện pháp trợ cấp xuất khẩu).
khoảng cách công nghệ có tác động ngược chiều tới
kim ngạch xuất khẩu nông sản.
Bài viết tập trung vào nghiên cứu thương mại
thủy sản song phương giữa Việt Nam và Châu Âu,
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các do đó các biến thông thường xuất hiện thể hiện chi
phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích và phí như khoảng cách, ngôn ngữ, biên giới sẽ được
đánh giá về tác động của TBT, SPP đến xuất khẩu loại bỏ do sự cố định về giá trị trong khoảng thời
nông sản, thủy sản, trong đó có những nghiên cứu sử gian nghiên cứu.
dụng mô hình trọng lực để đánh giá về tác động của
một số yếu tố bao gồm biện pháp TBT và SPS đến
3.2. Phương pháp ước lượng
Bài viết kết hợp phương pháp ước lượng PPML
xuất khẩu nông sản và thủy sản song chưa có nghiên (Poison Psuedo Maximum Likelihood) cùng với
cứu nào ở trong nước và ở ngoài nước sử dụng mô phương pháp ước lượng Pooled OLS nhằm tạo tham
hình trọng lực để đánh giá tác động của các biện chiếu và so sánh kết quả của hai phương pháp.
pháp TBT và SPS đến xuất khẩu thủy sản của Việt Ngoài ra, bài nghiên cứu đồng thời sử dụng tác động
Nam sang thị trường EU. Vì vậy, bài viết này được cố định (fixed efect) nhằm tính đến các tác động của
coi là một nghiên cứu bổ sung và lấp vào khoảng thời gian đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt
trống đó.
3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
3.1. Mô hình sử dụng
Nam sang thị trường EU.
Phương pháp ước lượng PPML cho phép biến phụ
thuộc của mô hình ở dạng tuyến tính. Cụ thể phương
Với mục tiêu đánh giá tác động của các biện trình trọng lực dưới ước lượng PPML sẽ ở dạng:
pháp phi thuế lên xuất khẩu thủy sản của Việt Nam XVN,j;t = lnGDPj,t + lnGDPVN,t + (1 - σ)lntVN,j;t
sang thị trường Châu Âu, nhóm tác giả lựa chọn sử – (1 – σ)lnп(VN,t) – (1 – σ)lnP(j,t) + εVNj,t
dụng mô hình trọng lực cấu trúc (structural gravity).
Cụ thể, mô hình nghiên cứu trong bài sẽ ở dạng log
tuyến tính như sau
3.3. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu sử dụng trong mô hình bao gồm: kim
ngạch xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam sang thị
Ln XVN,j;t = lnGDPj,t + lnGDPVN,t + (1 - trường EU theo mã HS 4 số trong giai đoạn 19 năm
σ)lntVN,j;t – (1 – σ)lnп(VN,t) – (1 – σ)lnP(j,t) + εVNj,t từ 2000 đến 2019 được thu thập từ cơ sở dữ liệu của
Với Xij,t là kim ngạch xuất khẩu thủy sang của COMTRADE. Các mã HS thủy sản được thu thập
Việt Nam (quốc gia i) sang các Châu Âu (quốc gia j) bao gồm các mã từ HS 0301 đến 0308. Dữ liệu liên
trong khoảng thời gian t; GDPi,t và GDPj,t là tổng sản quan đến GDP Việt Nam và GDP Châu Âu được thu
phẩm nội địa của Việt Nam và Châu Âu trong thập từ nguồn dữ liệu Chỉ Số phát triển thế giới
khoảng thời gian t; п(VN,t) và P(j,t) đại diện cho chỉ số (World Development Indicators-WDI) của Ngân
cản trở thương mại đa phương của Việt Nam và quốc hàng thế giới World Bank. Dữ liệu về thuế quan và
gia nhập khẩu; tVN,j;t đại diện cho chi phí thương các biện pháp phi thuế quan được thu thập từ nguồn
mại và cụ thể hơn trong trường hợp này là chi phí dữ liệu Thuế Quan -Tariff dowload facility và ITIP
xuất khẩu của Việt Nam sang các quốc gia nhập khẩu thuộc WTO.
và được thể hiện qua phương trình cụ thể là
(1-σ)lntVN,j;t = β1TVNj, t +β2 NTMVNj,t
4. Kết quả nghiên cứu về tác động của hàng
rào kỹ thuật đến xuất khẩu thủy sản của Việt
TVNj,t là mức thuế quan nhập khẩu áp dụng mà Nam vào thị trường EU
quốc gia j áp dụng lên mặt hàng thủy sản của Việt
Kết quả nghiên cứu mô hình trọng lực theo
Nam sang EU trong khoảng thời gian t; NTMVNj,t là phương pháp ước lượng PPML và Pooled OLS được
vector bao gồm các biện pháp phi thuế được áp dụng thể hiện tại bảng 1.
lên thủy sản Việt Nam của quốc gia nhập khẩu j, cụ thể
khoa học
!
7
thương mại
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
không tính đến tác động cố định
(fixed effect), nếu thuế quan tăng
thêm 1%, kim ngạch xuất khẩu thủy
sản sẽ giảm 312%, khi tính đến tác
động cố định, mức ảnh hưởng tăng
lên 322%. Kết quả này một lần nữa
khẳng định mức độ tin cậy, cũng như
tính nhất quán đối với lý thuyết
thương mại của mô hình.
Bảng 1: Kết quả nghiên cứu mô hình trọng lực về tác động của hàng
rào kỹ thuật đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU
Xét đến các biến chính của mô
hình bao gồm SPS và TBT. Có thể
thấy, tham số của biến SPS cho thấy
ảnh hưởng ngược chiều và có ý nghĩa
thống kê giữa các biện pháp SPS và
kim ngạch xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam sang EU trong tất cả các
phương pháp ước lượng. Cụ thể, với
phương pháp ước lượng PPML, khi
tác động cố định không được tính đến
kết quả cho thấy, trung bình nếu tăng
thêm 1 biện pháp SPS, kim ngạch
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ
Chú thích: Cột (1) và (2) của bảng 3.1 thể hiện kết quả của phương
pháp ước lượng PPML, cột (3) và (4) thể hiện kết quả của phương
pháp ước lượng Pooled OLS. Các phương pháp ước lượng lần lượt
được kết hợp với mô hình tác động cố định (fixed effect). P-value của
các kết quả được thể hiện trong ngoặc đơn.
Theo kết quả của hai phương pháp ước lượng,
giảm 20%, nếu tác động cố định được tính đến, ảnh
hưởng này tăng lên 94%, sự khác biệt này là kết quả
của việc các tác động cố định đã đại diện cho sự khác
nhau giữa các mặt hàng thủy sản, khiến cho tác động
của các biện pháp SPS và kim ngạch thương mại
được thể hiện rõ ràng hơn. Kết quả của cột (2) có sự
tương đồng với kết quả của cột (3) và (4) sử dụng
phương pháp ước lượng OLS. Theo kết quả của ước
lượng mô hình OLS, trung bình, nếu tăng thêm 1 biện
pháp SPS, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam giảm lần lượt là 72.7% và 135% trong trường
hợp tác động cố định không được tính đến và tính
đến. Tuy nhiên, tham số của biến số TBT không có ý
nghĩa thống kê tuy rằng có dấu âm, cho thấy các biện
pháp TBT không thực sự có tác động đến kim ngạch
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn
2000 đến 2019. Kết quả cho thấy các biện pháp phi
thuế như TBT và SPS đối với hàng thủy sản của Việt
Nam sang EU có mức cản trở thương mại nhỏ hơn rất
nhiều so với các biện pháp thuế quan. Ngoài ra, kết
quả còn cho thấy, các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS)
gây cản trở thương mại thủy sản giữa Việt Nam và
EU, trong khi đó các biện pháp hàng rào kỹ thuật
(TBT) không có tác động nào lên xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam sang thị trường EU. Hiện tượng này có
thể là kết quả và được phần nào giải thích bởi cơ cấu
sử dụng các biện pháp phi thuế, cụ thể là các biện
pháp TBT và SPS của EU lên mặt hàng thủy sản của
tham số của các biến liên quan đến GDP (GDPvn
GDPEU) thể hiện mối quan hệ thuận chiều giữa độ
lớn của nền kinh tế của nước xuất khẩu và nhập
khẩu với kim ngạch thương mại giữa hai quốc gia,
kết quả thuận chiều này phần nào thể hiện độ tin cậy
và chính xác của mô hình trọng lực cũng như dữ liệu
được sử dụng. Tuy nhiên chỉ số P-value của cả 4
phương pháp ước lượng đều cho thấy các tham số
này không có ý nghĩa thống kê tại độ tin cậy 95%.
Hay nói cách khác, trong thời gian 19 năm, từ 2000
đến 2019, sự biến đổi của GDP Việt Nam và EU
không ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản
từ Việt Nam sang EU. Kết quả này có thể được giải
thích bởi đặc điểm của dữ liệu giữa Việt Nam và EU
trong khoảng thời gian nghiên cứu, thể hiện sự tách
biệt giữa nhu cầu về thủy sản của người dân Châu
Âu và thu nhập.
Xét đến các biến về rào cản thương mại, tham số
của biến đại diện cho hàng rào thuế quan-Tariff cho
thấy ảnh hưởng ngược chiều và có ý nghĩa thống kê
với kim ngạch thương mại thủy sản. Cụ thể, kết quả
tại cột (1) và (2) sử dụng ước lượng PPML cho thấy,
trung bình nếu thuế quan tăng lên thêm 1%, thì kim
ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU sẽ
giảm lần lượt là 204% và 211%. Khi sử dụng
phương pháp Pooled OLS, kết quả cho thấy ảnh
hưởng ngược chiều lớn hơn giữa thuế quan và kim
ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, cụ thể, khi
khoa học
!
thương mại
8
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
Việt Nam. Thứ nhất, tuy rằng số lượng các biện pháp
- Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng
TBT được EU áp dụng lên mặt hàng thủy sản của Việt chuỗi cung ứng thủy sản xuất khẩu đảm bảo những
Nam nhiều hơn so với số lượng các biện pháp SPS, quy định về TBT và SPS của thị trường EU.
nhưng các biện pháp TBT được áp dụng có nội dung
- Cập nhật đầy đủ và kịp thời tới doanh nghiệp các
đơn giản, hợp lý, không gây khó khăn cho dòng thông tin về quy định kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ liên
thương mại giữa hai quốc gia. Thứ hai, doanh nghiệp quan hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường EU.
Việt Nam có khả năng và kinh nghiệm đáp ứng tốt
- Hợp tác và hỗ trợ doanh nghiệp, người nuôi
các biện pháp TBT hơn các biện pháp SPS. Trong trồng thực hiện các kỹ thuật nuôi, đánh bắt, khai thác,
khoảng thời gian nghiên cứu (2009 đến 2019), số chế biến… phù hợp quy định của thị trường EU.
lượng các biện pháp TBT và SPS cùng tăng, tuy
- Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc kết nối với các
nhiên tốc độ tăng về số lượng các biện pháp SPS lớn cơ quan chức năng của thị trường nhập khẩu để đăng
hơn rất nhiều so với TBT, đặc biệt là tại một vài mặt ký danh sách doanh nghiệp và sản phẩm thủy sản
hàng đặc biệt như gạo (HS 1006), xu hướng này được xuất khẩu vào thị trường EU.
khiến cho doanh nghiệp Việt Nam khó nắm bắt các
- Thực hiện các chương trình hỗ trợ nghiên cứu
biện pháp SPS hơn, do đó khiến cho kim ngạch xuất và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong
khẩu thủy sản bị sang EU bị giảm sút.
5. Một số giải pháp và kiến nghị
quy trình nuôi trồng, khai thác, đánh bắt và chế biến
thủy sản nhằm đáp ứng các quy định về chất lượng
Để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thủy sản.
Việt Nam vào thị trường EU, đặc biệt để tận dụng cơ
hội từ Hiệp định EVFTA khi thuế quan dần được đưa
Kết luận
Áp dụng mô hình trọng lực cấu trúc và phương
về 0%, cần thực hiện các biện pháp để đảm bảo các pháp ước lượng PPML (Poison Psuedo Maximum
mặt hàng này đáp ứng các yêu cầu, quy định về nguồn Likelihood), nhóm tác giả đã đánh giá tác động của
gốc xuất xứ, quy định về kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ. Vì các biện pháp TBT và SPS đối với xuất khẩu hàng
vậy, rất cần những giải pháp từ phía các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam sang thị trường EU. Ngoài ra,
và giài pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nước.
nhóm tác giả cũng đánh giá trực quan dữ liệu nhằm
5.1. Giải pháp đối với doanh nghiệp sản xuất, đưa ra giải thích cho kết quả của các phương pháp
xuất khẩu thủy sản
ước lượng.
Nhìn chung, các kết quả ban đầu của mô hình
- Tích cực và chủ động tìm hiểu các quy định của
thị trường EU đối với các sản phẩm thủy sản xuất liên quan đến các biến GDP và thuế quan cho thấy
khẩu; áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế được EU thừa độ tin cậy của mô hình được sử dụng cũng như
nhận trong việc quản lý chất lượng và vệ sinh an phương pháp ước lượng PPML, kết quả của các biến
toàn sản phẩm, bảo vệ môi trường, thực hiện trách này là phù hợp với lý thuyết mô hình trọng lực.
nhiệm xã hội của doanh nghiệp…
Ngoài ra, kết quả của mô hình cho thấy, trong khi
- Xây dựng chuỗi cung ứng thủy sản xuất khẩu các biện pháp TBT không có ảnh hưởng lên xuất
bền vững đảm bảo từ nguyên liệu đến sản phẩm thủy khẩu thủy sản Việt Nam, các biện pháp SPS được
sản xuất khẩu, quy trình nuôi trồng - đánh bắt - chế EU áp dụng có tác dụng như một rào cản thương
biến, bảo quản, đóng gói, vận chuyển đáp ứng yêu mại. Cụ thể, nếu EU tăng thêm 1 biện pháp SPS,
cầu kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ của thị trường EU.
kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị
- Hợp tác chặt chẽ với người nuôi trồng và cơ trường này sẽ giảm 72.5%. Sử dụng dữ liệu thu thập,
quan chức năng để giám sát quy trình nuôi trồng, sử nhóm tác giả đưa ra hai giải thích cho kết quả này,
dụng thức ăn và các loại thuốc cho thủy sản nhằm đáp thứ nhất là do cơ cấu sử dụng các biện pháp phi thuế
ứng các quy định về TBT, SPS của thị trường EU.
của EU, thứ hai là do kinh nghiệm và khả năng vượt
- Đầu tư máy móc, công nghệ hiện đại cho nhà rào cản của các doanh nghiệp Việt Nam.
máy, hệ thống kho và các thiết bị bảo quản để đảm
bảo quy trình chế biến vệ sinh, an toàn, hiệu quả.
Dựa vào kết quả của mô hình, nhóm tác giả
cũng đồng thời đưa ra các giải pháp cho doanh
- Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại để nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam và một vài
có cơ hội giới thiệu về sản phẩm và thúc đẩy xuất khẩu. kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc
5.2. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước đẩy kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang
- Quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản đảm bảo thị trường EU. !
đáp ứng quy định xuất khẩu vào thị trường EU.
khoa học
!
9
thương mại
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
Tài liệu tham khảo:
Qianhui Gao, Shoichi Ito, Hisamitsu Saito (2018),
Measuring Japan’s technical barriers to trade based
on the China’s fruit exports to Japan, Agri&Econ
14. Lê Anh Tuấn (2008), Một số giải pháp nhằm
hạn chế rủi ro kỹ thuật trong các cam kết định chế
rào cản kỹ thuật của hàng thủy sản xuất khẩu trong
thương mại quốc tế đối với doanh nghiệp Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Thương mại.
15. Nguyễn Thị Thu Thủy (2011), Biện pháp
vượt rào cản kỹ thuật và môi trường đối với mặt
hàng thủy sản xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất
khẩu thủy sản Việt nam - thực trạng và giải pháp.
Luận văn thạc sĩ kinh tế tại Đại học Thương mại.
16. Silva, J.S. and Tenreyro, S., 2006. The log of
gravity. The Review of Economics and statistics,
88(4), pp.641-658.
1. Anderson, J.E., 1979. A theoretical foundation
for the gravity equation. The American Economic
Review, 69(1), pp.106-116
2. Anders, S.M. and Caswell, J.A., 2006.
Assessing the impact of stricter food safety stan-
dards on trade: HACCP in US seafood trade with
the developing world (No. 379-2016-21701).
3. Doãn Kế Bôn (2006), Một số giải pháp vượt
rào cản kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ trong xuất khẩu
hàng thủy sản nước ta vào thị trường Hoa kỳ, Báo
cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ.
4. Vũ Bạch Diệp, Nguyễn Thị Phương Thảo,
Ngô Hoài Thu (2018), Phân tích các yếu tố tác động
đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị
trường EU bằng mô hình trọng lực, Tạp chí kinh tế
và quản trị kinh doanh số 07/2018
17. UNCTAD (2019), International classifica-
tioin of nontariff measures
5. Trần Thanh Hà (2008), Giải pháp vượt rào
cản kỹ thuật cho thủy sản Việt Nam khi thâm nhập
thị trường Hoa Kỳ, Luận văn thạc sĩ kinh tế Đại học
Ngoại Thương.
6. Jacob Wood, Jie Wu, Jiling Li (2017), The
Economic Impact of SPS Measures on Agricultural
Exports to China: An Empirical Analysis Using the
PPML Method.
7. Jiang Ling (2013), Measurement of the
Impacts of the Technical Barriers to Trade on
Vegetable Export of China: An Empirical Study
Based on the Gravity Model, International Business
and management
18. VASEP (2020), Báo cáo thị trường EU và
thương mại thủy sản với Việt Nam 2015-2019
19. Wilson, N.L., Nguyen, A.V.T. and, 2009.
Effects of food safety standards on seafood exports
to US, EU and Japan (No. 1369-2016-108664).
20. Yinguo Dong & Yue Zhu (2015), Impacts
of SPS measures imposed by developed countries on
china’s tea export – a perspective of difference in
standards, Economics and finance.
Summary
Vietnam’s seafood export value to the EU market
in the last 5 years reached an average annual growth
rate of -2.63%. Although seafood export value to
this market in the last months of 2020 has gradually
increased, but the seafood export value growth of
the whole year is still -26.1%, bringing the EU down
to the 4th position in terms of turnover. There are
many reasons leading to the decline of seafood
export value to EU market in recent years, including
the application of technical and sanitary measures in
imported countries. This paper uses a gravity model
with necessary data compiled by COMTRADE,
WB, WTO in the period 2000-2019 to assess the
impact of technical and sanitary measures on
exports. Based on the findings, it is possible to pro-
pose solutions and recommendations to promote
seafood exports to the EU market in the coming
years. The study results show that the EU’s SPS
measures actually have a deterrent effect on
Vietnam's seafood exports, while the TBT measures
do not have a deterrent effect on exports.
8. Phạm Thế Hưng (2020), “Nghiên cứu các giải
pháp đồng bộ để phát triển thị truờng xuất khẩu các
sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp chủ lực”, Ðề
tài khoa học cấp nhà nước – Bộ KHCN
9. Luiza Meneguelli Fassarellaa, Maurício Jorge
Pinto de Souza (2011), Impact of Sanitary and Technical
Measures on Brazilian Exports of Poultry Meat
10. Ngô Thị Mỹ (2016) Nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến xuất khẩu một số nông sản của Việt
Nam, Luận án tiến sỹ.
11. Đỗ Thị Hòa Nhã (2011), Các yếu tố tác động
đến xuất khẩu nông sản Việt Nam vào thị trường
EU, Luận án Tiến sĩ.
12. Đỗ Thị Hòa Nhã, Nguyễn Thị Thu Hà
(2019), Phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu
nông sản của Việt Nam sang thị trường EU, Tạp chí
khoa học và công nghệ, số 196 (03)
13. Nimenya, N., de Frahan, B. and Ndimira,
P.F., 2009. A tariff equivalent of non-tariff barriers
on European horticultural and fish imports from
African countries. Fort Meyers, Florida, USA.
khoa học
thương mại
10
Số 153/2021
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tac_dong_cua_cac_bien_phap_ky_thuat_va_ve_sinh_dich_te_den_x.pdf

