Cách mạng công nghiệp 4.0 và những tác động tiềm tàng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIỀM TÀNG  
TS. Ho ng Chí Cƣơng  
Đại học Dân lập Hải Phòng  
1. GIỚI THIỆU  
“Chúng ta đang tiến tới một cuộc cách mạng công nghệ, công nghiệp làm thay đổi cơ bản  
lối sống, phong cách làm việc và cách thức giao tiếp. Xét về phạm vi, mức độ và tính phức tạp, sự  
dịch chuyển này không giống với bất kỳ điều gì mà con người từng trải qua”.1 Thời gian gần đây  
“cách mạng công nghiệp 4.0” (Industry 4.0) là một chủ đề nóng hổi và được đề cập nhiều tại các  
diễn đàn trên thế giới. Nó thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng từ chính phủ, các doanh  
nghiệp cho đến người dân. Sự thay đổi trong sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ do được áp  
dụng thành tựu của khoa học công nghệ đã tác động mạnh tới cuộc sống hàng ngày của con người.  
Loài người có thể bước sang một giai đoạn mới trong đó cách thức sản xuất, trao đổi, mua bán và  
tiêu dùng sẽ phải thay đổi để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của cái gọi là “điện toán đám  
mây”, “trí tuệ nhân tạo”, “kĩ thuật số”, “Internet”, “big data”,... Vậy “cách mạng công nghiệp 4.0”  
là gì? Nó có đặc điểm ra sao? Và, cách mạng công nghiệp 4.0 tác động thế nào tới các chính phủ,  
việc sản xuất của các doanh nghiệp, và người lao động? Bài báo này sẽ đi tìm câu trả lời cho các  
câu hỏi trên. Bài viết có cấu trúc như sau: Phần thứ 2 của bài viết sẽ trình bày sơ lược về “cách  
mạng công nghiệp 4.0”, Phần 3 nói qua về tác động của nó tới chính phủ các nước, cộng đồng  
doanh nghiệp và người lao động, Phần 4 là kết luận và một vài khuyến nghị.  
2. CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Các Mác đã nhận xét: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất  
ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào. Các tư liệu  
lao động không những là các thước đo sự phát triển lao động của con người, mà còn là một chỉ  
tiêu của những quan hệ xã hội, trong đó lao động được tiến hành. Trong bản thân các tư liệu lao  
động, thì những tư liệu lao động cơ khí lại cấu thành những dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một  
thời đại sản xuất xã hội nhất định.”  
Có thể nói, những dấu hiệu trên đặc trưng cho những giai đoạn khác nhau và phản ánh sự  
khác biệt căn bản giữa các cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN). “Cuộc cách mạng” ở đây dùng để  
chỉ một sự thay đổi mang tính đột biến và triệt để. Nhiều cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra  
trong suốt tiến trình lịch sử thế giới khi công nghệ mới, cách thức sản xuất và tư liệu sản xuất mới  
được tạo ra đã làm thay đổi sâu sắc các hệ thống kinh tế và kết cấu xã hội.2 Trước hết, ta hãy điểm  
qua các cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra trên thế giới mấy thế kỷqua:  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới  
hóa sản xuất. Cuộc cách mạng công nghiệp-hay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất này  
thực chất là một cuộc cách mạng về kỹ thuật. Cuộc cách mạng này diễn ra đầu tiên ở nước Anh từ  
những năm 60 của thế kỷ XVIII. Tiêu chí quan trọng nhất của cuộc cách mạng kỹ thuật lần này là  
máy móc thay thế công cụ thủ công. Cuộc cách mạng này diễn ra trước hết từ lĩnh vực công nghiệp  
nhẹ, trong ngành dệt sợi bông và nhanh chóng gặt hái được nhiều thành tựu. Cuộc CMCN lần thứ  
Nhất đã thay thế hệ thống kỹ thuật cũ có tính truyền thống của thời đại nông nghiệp (kéo dài 17 thế  
kỷ), chủ yếu dựa vào gỗ, sức mạnh cơ bắp (lao động thủ công), sức nước, sức gió và sức kéo động  
vật bằng một hệ thống kỹ thuật mới với nguồn động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên, nhiên  
vật liệu và năng lượng mới là sắt và than đá. Nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ và  
kéo theo sự phát triển vượt bậc của nền sản xuất công nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Đây là giai  
đoạn quá độ từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất cơ khí trên cơ sở khoa học. Tiền đề  
kinh tế chính của bước quá độ này là sự chiến thắng của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, còn  
tiền đề khoa học là việc tạo ra nền khoa học mới, có tính thực nghiệm nhờ cuộc cách mạng trong  
khoa học vào thế kỷXVII.  
72  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất sản  
phẩm mang tính công nghiệp hàng loạt. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 nổ ra vào cuối thế  
kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX. Cuộc cách mạng lần này được chuẩn bị bằng quá trình  
phát triển hàng trăm năm của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở của nền sản xuất đại cơ khí và bằng  
sự phát triển của khoa học gắn liền với kỹ thuật. Yếu tố quyết định của cuộc cách mạng này là  
chuyển nền sản xuất trên cơ sở cơ khí sang nền sản xuất điện-cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa  
cục bộ trong sản xuất. Nhờ đó, đã tạo ra những ngành mới có tính khoa học.  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 sử dụng kỹ thuật điện tử và công nghệ thông tin để  
tự động hóa sản xuất. Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 bắt đầu khoảng năm 1969, khi có các tiến  
bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và số hoá đã đạt được thành tựu và nó được xúc tác bởi sự phát  
triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970  
và 1980) và Internet (thập niên 1990). Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành  
nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao. Nếu các cuộc CMCN trước đây góp phần tiết kiệm  
lao động sống thì cuộc CMCN lần thứ 3 đã tạo điều kiện tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và các  
nguồn lực xã hội, nó cho phép chi phí tương đối thấp hơn trong việc sản xuất để tạo ra cùng một  
khối lượng hàng hoá tiêu dùng. Kết quả này đã kéo theo sự thay đổi cơ cấu của nền sản xuất xã hội  
cũng như những mối tương quan giữa các khu vực I (nông - lâm - thủy sản), II (công nghiệp và xây  
dựng) và III (dịch vụ) của nền sản xuất xã hội. Nó làm thay đổi tận gốc các lực lượng sản xuất,  
cuộc cách mạng này đã tác động tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người, nhất là ở các nước tư  
bản chủ nghĩa phát triển vì đây chính là nơi phát sinh của cuộc cách mạng này.  
Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang manh nha nảy nở từ cuộc cách mạng  
lần thứ 3. Nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh  
học. Cách mạng công nghiệp 4.0 (hay cách mạng công nghiệp lần thứ 4) xuất phát từ khái niệm  
“Industrie 4.0” trong một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013. “Industrie 4.0” kết nối các hệ  
thống và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh,  
chức năng và quy trình bên trong. Klaus Schwab, người sáng lập và là chủ tịch điều hành Diễn đàn  
Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) mang đến cái nhìn đơn giản hơn về cách mạng công  
nghiệp 4.0. Theo đó, nó là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại,  
trao đổi dữ liệu và chế tạo. Cuộc CMCN lần thứ 4 được định nghĩa là “một cụm thuật ngữ cho các  
công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các hệ thống vật lý trong  
không gian ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và Internet của các dịch vụ (IoS).  
Hình 1: Lịch sử 4 cuộc cách mạng công nghiệp3  
Chúng ta đang ở giai đoạn đầu của cuộc CMCN lần thứ 4, đã bắt đầu vào thời điểm chuyển  
giao sang thế kỷ này và được xây dựng dựa trên cuộc cách mạng số, đặc trưng bởi Internet ngày  
càng phổ biến và di động, bởi các cảm biến nhỏ và mạnh hơn với giá thành rẻ hơn, bởi trí tuệ nhân  
tạo. Các công nghệ số với phần cứng máy tính, phần mềm và hệ thống mạng đang trở nên ngày càng  
73  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
phức tạp hơn, được tích hợp nhiều hơn và vì vậy đang làm biến đổi xã hội và nền kinh tế toàn cầu.  
Một số chuyên gia gọi đây là CMCN thế hệ 4.0. Đó là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống thực và  
ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và các hệ thống kết nối Internet của các dịch vụ (IoS). Nói một  
cách ngắn gọn thì viễn cảnh các nhà máy thông minh, trong đó các máy móc được kết nối Internet  
và liên kết với nhau qua một hệ thống có thể tự hình dung toàn bộ quy trình sản xuất rồi đưa ra  
quyết định, có vẻ sẽ không còn xa xôi nữa. Và đây, chính là lúc công việc của chúng ta trong tương  
lai sẽ thay đổi. GS. Klaus Schwab đã cho ra mắt cuốn sách “Cuộc CMCN lần thứ 4” trong đó ông  
mô tả những điểm khác biệt của cuộc cách mạng này so với ba cuộc cách mạng hầu hết dựa trên  
những tiến bộ công nghệ trước đó.10  
Cuộc CMCN lần thứ 4 không chỉ là về các máy móc, hệ thống thông minh và được kết nối,  
mà còn có phạm vi rộng lớn hơn nhiều. Đồng thời là các làn sóng của những đột phá xa hơn trong  
các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gen cho tới công nghệ nano, từ các năng lượng tái tạo tới  
tính toán lượng tử. Cuộc CMCN lần thứ 4 là sự dung hợp của các công nghệ này và sự tương tác của  
chúng trên các lĩnh vực vật lý, số và sinh học, làm cho Cuộc CMCN lần thứ tư về cơ bản khác với  
các cuộc cách mạng trước đó. Trong cuộc cách mạng này, các công nghệ mới nổi và sự đổi mới trên  
diện rộng được khuếch tán nhanh hơn và rộng rãi hơn so với những lần trước. Cuộc CMCN lần thứ  
hai chưa đến được với 17% dân số của thế giới, tức ước tính khoảng gần 1,3 tỷ người vẫn chưa tiếp  
cận với điện. Cuộc CMCN lần thứ ba vẫn chưa đến được với hơn nửa dân số thế giới, 4 tỷ người,  
phần lớn đang sống trong các nước đang phát triển, thiếu tiếp cận Internet.  
Đặc trưng của công nghiệp 4.0 là các hệ thống sản xuất thực - ảo (Cyber-Physical Systems-  
CPS) lần đầu tiên được TS. Jame Truchat, Giám đốc điều hành của National Instruments, giới thiệu  
vào năm 2006. Trong đó, các “sản phẩm thông minh” gắn đầy cảm biến báo cho máy móc biết chúng  
cần được xử lý như thế nào; các quy trình sẽ có quyền tự trị trong một hệ thống mô-đun phân cấp.  
Các thiết bị nhúng thông minh làm việc với nhau qua mạng không dây hoặc thông qua “đám mây”.  
Nhà máy số/nhà máy thông minh: Những đặc điểm cơ bản. Theo dòng thời gian, dễ nhận thấy rằng  
hoạt động sản xuất luôn gắn liền với các cuộc cách mạng công nghiệp: Công nghiệp 1.0 - dựa trên  
năng lượng hơi nước; Công nghiệp 2.0 - dựa trên năng lượng điện; Công nghiệp 3.0 - dựa vào công  
nghệ điện tử và CNTT.  
Cuối thời kì Công nghiệp 3.0, các nhà máy đã sử dụng một số lượng lớn các thiết bị thông  
minh trong các dây chuyền sản xuất tự động cùng với các hệ thống phần mềm quản lý để tối ưu quá  
trình sản xuất và đã thu được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, các thiết bị trường thông  
minh (smart field devices) chủ yếu sử dụng các hệ thống mạng cục bộ riêng lẻ để giao tiếp với các  
trạm điều khiển, mà chưa có khả năng như là một nút mạng trong hệ thống mạng liên kết toàn bộ  
nhà máy. Các thiết bị điều khiển thông minh như PLC, robot, CNC, máy tính chuyên dụng mặc dù  
có thể được coi như các nút mạng trong hệ thống mạng nhà máy, tuy nhiên do việc tổ chức thông tin  
nhà máy được phân cấp chặt chẽ nên sự tích hợp hệ thống chủ yếu diễn ra theo chiều ngang chứ  
không phải theo chiều dọc. Ở các tầng trên, chúng ta thấy hệ thống hoạch định nguồn lực doanh  
nghiệp ERP (enterprise resource planning), được lắp đặt trên các hệ thống kiểm soát phân xưởng  
nhà máy MES & NC/PLC và ở tầng thấp nhất (cấp trường) là hệ thống cảm biến và chấp hành.  
Cho đến lúc này, các quá trình sản xuất công nghiệp ngày càng tương thích với công nghệ  
thông tin hiện đại, tiến xa hơn nền sản xuất tự động hóa truyền thống của thời kì Công nghiệp 3.0.  
Việc áp dụng rộng rãi những tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông ICT, như IoT, điện  
toán đám mây, công nghệ thực tế - ảo… vào hoạt động sản xuất công nghiệp đã làm mờ đi ranh  
giới giữa thế giới thực và thế giới ảo, được gọi là hệ thống sản xuất thực - ảo/điều khiển - vật lý  
CPPS (cyber- physical production system). Đây là nền tảng cho việc xây dựng các nhà máy thông  
minh, nhà máy số ngày nay. CPPS là mạng lưới giao tiếp trực tuyến giữa các máy móc với nhau,  
được tổ chức như mạng xã hội. Đơn giản chỉ cần cấp địa chỉ mạng, chúng sẽ tạo liên kết IT với các  
10  
74  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
thành phần cơ - điện tử, sau đó giao tiếp với nhau thông qua hạ tầng mạng. Có lẽ đây là thời điểm  
khởi đầu cho cuộc CMCN lần thứ 4. Trong nhà máy số, các thiết bị máy móc thông minh giao tiếp  
với nhau bằng hệ thống mạng và liên tục chia sẻ thông tin về lượng hàng hiện tại, về sự cố hoặc lỗi,  
về những thay đổi trong đơn đặt hàng hoặc mức độ nhu cầu. Quá trình sản xuất và thời hạn sản  
xuất được phối hợp với mục tiêu tăng hiệu suất và tối ưu hóa thời gian sản xuất, công suất và chất  
lượng sản phẩm trong các khâu phát triển, sản xuất, tiếp thị và thu mua. Các cảm biến, chấp hành  
và điều khiển cho phép các máy móc liên kết đến nhà máy, các hệ thống mạng khác và giao tiếp  
với con người. Các mạng thông minh này là nền tảng của các nhà máy thông minh, nhà máy số  
ngàynay.  
Đối với nhà máy số, ngoài hạ tầng mạng máy móc thông minh còn có sự ghép nối với hạ tầng các  
mạng thông minh khác, như: mạng thiết bị di động thông minh, mạng lưới điện thông minh, mạng  
logicstic thông minh, mạng ngôi nhà thông minh hay mạng tòa nhà thông minh, và liên kết đến cả mạng  
thương mại điện tử, mạng xã hội (the business web and the social web). Tất cả các mạng này là xu thế của  
Công nghiệp 4.0, dựa trên những phát triển vượt trội của CNTT-TT và khoa học máy tính: IoT, IoS,  
Internet kết nối dữ liệu (Internet of data), Internet kết nối người dân (Internet of people).  
Các đ ng lực cho CMCN lần thứ 4  
Những động lực chính của cuộc cách mạng công nghiệp mới này là sự thay đổi trong kỳ  
vọng của người dùng (sản phẩm theo yêu cầu và giao hàng theo thời gian Internet), cùng với sự hội  
tụ của các công nghệ mới như IoT, robot cộng tác (cùng làm với người), in ấn 3D và điện toán đám  
mây, cùng sự xuất hiện các mô hình kinh doanh mới. Thế giới đang chứng kiến hàng loạt những đột  
phá khoa học và tiến bộ công nghệ, đây là những xu hướng và động lực dẫn dắt Cuộc CMCN lần  
thứ 4. Vô số tổ chức đã sử dụng các công nghệ khác nhau sẽ thúc đẩy CMCN lần thứ Tư. Những  
đột phá khoa học và công nghệ mới dường như là vô hạn, diễn ra trên rất nhiều mặt khác nhau và ở  
nhiều nơi khác nhau. Tất cả những phát triển mới và các công nghệ mới đều có đặc điểm chung:  
chúng tận dụng sức mạnh lan tỏa của số hóa và CNTT. Các xu thế lớn của công nghệ có thể được  
chia thành 3 nhóm: vật lý/hữu hình, kỹ thuật số và sinh học. Cả ba đều liên quan chặt chẽ với nhau  
và với các công nghệ khác để đem lại lợi ích cho nhau dựa vào những khám phá và tiến bộ của từng  
nhóm.  
Vật lý/hữu hình: Bốn đại diện chính của xu hướng lớn về phát triển công nghệ dễ nhận thấy  
nhất là:  
Xe tự lái: Sự xuất hiện của ô tô đã biến đổi xã hội hiện đại. Nó thay đổi nơi chúng ta sống,  
đồ chúng ta mua, cách chúng ta làm việc, và những người chúng ta gọi là bạn bè. Khi ô-tô đã trở  
nên phổ biến, chúng đã tạo ra các lớp công việc hoàn toàn mới và làm các ngành nghề khác trở  
thành lỗi thời. Chúng ta hiện đang ở trên đỉnh của một sự thay đổi công nghệ tương tự trong giao  
thông: từ những chiếc xe do người điều khiển sang các xe tự lái. Tác động lâu dài của xe tự lái đối  
với xã hội là khó dự đoán. Nhưng một điều chắc chắn là ở bất cứ nơi nào công nghệ này trở nên  
phổ biến, thì cuộc sống sẽ khác so với trước. Những xe ô tô này xử lý một lượng lớn dữ liệu cảm  
biến từ các radar, máy ảnh, máy đo khoảng cách bằng siêu âm, GPS và bản đồ được gắn trên xe để  
điều hướng các tuyến đường đi qua các tình huống giao thông phức tạp và thay đổi nhanh chóng  
hơn mà không cần bất kỳ sự tham gia nào của con người. Xe hơi tự lái đang chiếm ưu thế nhưng  
hiện nay còn có nhiều kiểu phương tiện tự lái khác bao gồm xe tải, thiết bị bay không người lái,  
máy bay và tàu thủy. Cùng với quá trình phát triển của cảm biến và trí tuệ nhân tạo (AI), khả năng  
của các phương tiện tự hành này cũng được cải thiện với tốc độ nhanh chóng.  
Công nghệ in 3D: Hay được gọi là chế tạo cộng, in 3D bao gồm việc tạo ra một đối tượng vật  
lý bằng cách in theo các lớp từ một bản vẽ hay một mô hình 3D có trước. Công nghệ này khác hoàn  
toàn so với chế tạo trừ, lấy đi các vật liệu thừa từ phôi ban đầu cho đến khi thu được hình dạng mong  
muốn. Ngược lại, công nghệ in 3D bắt đầu với vật liệu rời và sau đó tạo ra một sản phẩm ở dạng ba  
chiều từ mẫu kỹ thuật số. Ngày nay, một sản phẩm có thể được thiết kế trên máy tính và “in chụp” qua  
một máy in 3D, tạo nên hình hài vật thể bằng các lớp vỏ vật liệu chuyên dụng. Dễ dàng thực hiện một  
thiết kế được số hóa như thế này chỉ với vài thao tác click chuột. Máy in 3D có thể cho chạy tự do  
không cần người kiểm soát và có thể biến những thiết kế tưởng chừng quá phức tạp trở nên đơn giản  
75  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
và dễ xử lý cho các nhà máy truyền thống. Vào thời điểm hiện nay, những cỗ máy kì diệu này có thể  
tạo ra gần như mọi thứ. Những ứng dụng của kĩ thuật in 3D thực sự kì vĩ. Thậm chí, người ta đã có thể  
“in” ra cả dụng cụ trợ thính và nhiều bộ phận tinh vi của chiếc máy bay phản lực vũ trang dưới những  
hình dạng khác nhau. Mức giá rẻ nhất của một chiếc máy in 3D sẽ giảm từ mức 18.000 USD hiện nay  
xuống còn 400 USD trong vòng 10 năm. Trong cùng khoảng thời gian, tốc độ in sẽ tăng gấp 100 lần.  
Tất cả các công ty sản xuất giày lớn đã dùng công nghệ 3D để in giày. Phụ tùng máy bay đã được in  
3D ở những sân bay xa xôi. Trạm vũ trụ hiện đã có một chiếc máy in giúp xóa bỏ nhu cầu một lượng  
lớn phụ tùng như trước kia.  
Khoa học robot cao cấp: Ngày nay, các robot đang được sử dụng nhiều hơn ở tất cả các  
lĩnh vực từ nông nghiệp chính xác cho đến chăm sóc người bệnh. Sự phát triển nhanh công nghệ  
robot làm cho sự hợp tác giữa người và máy móc sớm trở thành hiện thực. Hơn nữa, do các tiến bộ  
công nghệ khác, robot đang trở nên thích nghi và linh hoạt hơn, với thiết kế cấu trúc và chức năng  
của nó được lấy cảm hứng từ các cấu trúc sinh học phức tạp (mở rộng của quá trình mô phỏng sinh  
học, trong đó mô hình và các chiến lược của tự nhiên được bắt chước lại).  
Siêu tự động hóa cộng với trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ khiến việc tự động hóa phát triển mạnh  
hơn, thậm chí với những kỹ năng trước đây chỉ có con người sở hữu. AI sẽ phát huy thế mạnh tốt  
nhất trong việc xử lý dữ liệu lớn, có thể bao gồm việc xử lý ngôn ngữ và hình ảnh, vốn vẫn là giới  
hạn của máy tính cho đến nay. Siêu tự động hóa cực cao có thể cho phép sự tham gia của robot và  
các cỗ máy có trí thông minh nhân tạo phân tích kết quả, đưa ra các quyết định phức tạp và ứng  
dụng những kết luận vào hoạt động sản xuất.  
Vật liệu mới: Với thuộc tính mà chỉ cách đây vài năm vẫn còn được coi là viễn tưởng, những vật  
liệu mới đang được đưa ra thị trường. Về tổng thể, chúng nhẹ hơn, bền hơn, có thể tái chế và dễ thích  
ứng. Hiện nay có các ứng dụng cho các vật liệu thông minh tự phục hồi hoặc tự làm sạch, các kim loại có  
khả năng khôi phục lại hình dạng ban đầu, gốm sứ và pha lê biến áp lực thành năng lượng và nhiều vật  
liệu khác nữa.  
Kỹ thuật số  
Từ Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, sự hội tụ giữa ứng dụng vật lý và ứng dụng kỹ  
thuật số là sự xuất hiện IoT. Mô tả đơn giản nhất, có thể coi IoT là mối quan hệ giữa vạn vật (các  
sản phẩm, dịch vụ, địa điểm,…) và con người thông qua các công nghệ kết nối và các nền tảng khác  
nhau.  
Cảm biến và các giải pháp kết nối thế giới thực vào mạng không gian ảo đang phát triển với  
tốc độ đáng kinh ngạc. Các cảm biến nhỏ hơn, rẻ hơn và thông minh hơn đang được lắp đặt trong  
nhà, quần áo, phụ kiện, các thành phố, mạng lưới giao thông và năng lượng cũng như các quy trình  
sản xuất. Ngày nay, có hàng tỷ thiết bị trên toàn thế giới như điện thoại thông minh, máy tính bảng  
và máy tính được kết nối internet. Số lượng thiết bị được dự kiến sẽ tăng đáng kể trong vài năm tới,  
ước tính vài tỷ đến hơn một nghìn tỷ thiết bị. Điều này sẽ thay đổi hoàn toàn cách thức mà chúng ta  
quản lý chuỗi cung ứng bằng cách cho phép chúng ta giám sát và tối ưu hóa tài sản và các hoạt động  
đến một mức rất chi tiết. Trong quá trình này, IoT sẽ tác động làm biến đổi tất cả các ngành công  
nghiệp, từ sản xuất đến cơ sở hạ tầng đến chăm sóc sức khỏe.  
Theo các chuyên gia, IoT có thể tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp mới, khiến cả nền  
kinh tế thế giới và đời sống nhân loại phải chuyển mình theo. Cuộc cách mạng công nghiệp mới gắn  
với IoT được khởi xướng đầu tiên tại Đức vào năm 2010 với Kế hoạch hành động cho chiến lược  
công nghệ cao đến năm 2020, sau đó lan sang các nước thành viên của Liên minh châu Âu như  
Italia, Pháp, Anh. Hiện việc đầu tư cho IoT như là nền tảng cho cuộc cách mạng công nghiệp mới đã  
trở thành làn sóng trên thế giới. Không giống như các cuộc cách mạng trước - thường diễn ra theo  
xu hướng phát minh mới làm mờ đi phát minh cũ, IoT được tin là sẽ tạo cơ hội cho tất cả các ngành  
nghề đều được hưởng lợi. IoT gia tăng cũng có nghĩa là việc truyền tải dữ liệu và giao tiếp qua  
Internet tăng lên. Chính vì thế mà tất cả các công ty, ngành nghề đều có thể sử dụng các dữ liệu đó  
để phân tích và quyết định chiến lược cạnh tranh giành lấy thành công cho mình trong tươnglai.  
76  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Sinh học  
Những đổi mới trong lĩnh vực sinh học nói chung và di truyền nói riêng thật sự đáng kinh  
ngạc. Trong những năm gần đây, chúng ta đã và đang thành công trong việc giảm chi phí và dễ  
dàng hơn trong việc giải trình bộ gen và mới đây là việc kích hoạt hay chỉnh sửa gen. Phải mất hơn  
10 năm, với chi phí 2,7 tỉ USD để hoàn thành Dự án Hệ gen người. Hiện nay, một gen có thể được  
giải mã trong vài giờ với chi phí không tới một ngàn USD. Với sức mạnh của máy tính, các nhà  
khoa học không còn phải dùng phương pháp thử, sai và thử lại. Thay vào đó họ thử nghiệm cách  
thức mà các biến dị gen gây ra các bệnh lý đặc thù.  
Bước tiếp theo sẽ là sinh học tổng hợp. Công nghệ này sẽ giúp chúng ta có khả năng tùy  
biến cơ thể bằng cách sửa lại ADN. Đặt những vấn đề đạo đức qua một bên, sinh học tổng hợp sẽ  
phát triển hơn nữa, những tiến bộ này sẽ không chỉ tác động sâu và ngay tức thì về y học mà còn về  
nông nghiệp và sản xuất nhiên liệu sinh học.  
Cơ h i và thách thức  
Cuộc CMCN lần thứ 4 này được đánh giá sẽ vượt ra khỏi quy mô công xưởng, doanh nghiệp  
khi vạn vật được kết nối bởi internet. Cụ thể, không những tất cả máy móc thiết bị trong công xưởng  
được kết nối với nhau thông qua internet, rất nhiều cảm biến cũng đồng thời được lắp đặt để thu  
thập dữ liệu. Cách làm này giúp máy móc có thể “giao tiếp” với nhau mà không cần sự có mặt của  
con người, hay dây chuyền sản xuất sẽ được vận hành tự động một cách thích hợp ứng với lượng tồn  
kho. Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất chi tiết cũng sẽ được kết nối với doanh nghiệp lắp ráp,  
doanh nghiệp vận chuyển, cửa hàng phân phối và tiêu thụ để thành một thể thống nhất. Điều này  
cũng có nghĩa là cuộc cách mạng lần này không chỉ hướng tới tăng năng suất và giảm lao động. Khi  
lượng thông tin trao đổi sẽ tăng lên gấp hàng trăm tới hàng nghìn lần, đồng thời nảy sinh ra 3 sự  
thay đổi lớn.  
Thứ nhất là thời đại sản xuất một sản phẩm với số lượng lớn sẽ dần kết thúc. Thay vào đó là  
khả năng tiếp nhận nhu cầu của khách hàng và truyền tới công xưởng sản xuất ngay trong thời gian  
thực. Các dây chuyền sản xuất sẽ tự động kết hợp với nhau để sản xuất đơn chiếc với mức giá thấp  
như hiện nay. Đây gọi là thời đại sản xuất hàng loạt sản phẩm đơn chiếc theo nhu cầu của khách  
hàng. Đi tiên phong trong lĩnh vực này là nước Đức.  
Thứ hai là sự thay đổi trong khái niệm thay đổi thiết kế mới của sản phẩm như ô tô, xe  
máy… Hiện nay, giá trị gia tăng của ngành sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào việc gia công vật liệu  
như kim loại thành sản phẩm, đưa vào đó phần mềm hoặc hệ thống điều khiển. Tuy nhiên trong  
tương lai hệ thống kết nối internet sẽ thu thập nhu cầu của khách hàng, dựa trên cở sở đó nhà sản  
xuất sẽ chỉ cập nhật phần mềm để lên đời sản phẩm như những chiếc điện thoại thông minh hiện  
nay. Không những sản phẩm, mà thiết bị sử dụng trong sản xuất cũng chỉ cần cập nhật phần mềm để  
thêm tính năng mới mà không cần phải thay mới chi tiết hay bộ phận. Nắm đầu xu thế này đang là  
các công ty của Mỹ.  
Thứ ba, thế giới sẽ chứng kiến một cuộc lật đổ ngoạn mục của các doanh nghiệp CNTT, khi họ  
biến các doanh nghiệp sản xuất trở thành “tay sai” cho mình. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp sản  
xuất đang chủ động phát triển sản phẩm cho riêng mình, và vai trò của các doanh nghiệp công nghệ  
thông tin chỉ là hỗ trợ. Tuy nhiên, với khả năng thu thập và phân tích dữ liệu các doanh nghiệp công  
nghệ thông tin sẽ nắm được nhu cầu của khách hàng và tự đưa ra được sản phẩm tương ứng. Sau đó họ  
sẽ thuê doanh nghiệp sản xuất làm sản phẩm giúp mình. Vì thế thời đại của một “cuộc đảo chính” trong  
nền sản xuất đang tới gần.  
Vào thời điểm này, chúng ta không thể lường trước được kịch bản nào có khả năng sẽ diễn  
ra, và lịch sử cho thấy rằng đó có thể sẽ là một sự kết hợp của cả hai kịch bản. Tuy nhiên, một điều  
chắc chắn là trong tương lai là tài năng, chứ không phải là vốn, sẽ là yếu tố quan trọng bậc nhất,  
cốt lõi của sản xuất. Điều này sẽ làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng phân hóa theo  
hai nhóm: "kỹ năng thấp/lương thấp" và "kỹ năng cao/lương cao", viễn cảnh này sẽ góp phần làm  
gia tăng những mâu thuẫn trong xã hội.  
77  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Ngoài mối quan tâm kinh tế, sự bất bình đẳng là mối quan tâm xã hội lớn nhất gắn liền với  
Cuộc CMCN lần thứ 4. Những người hưởng lợi lớn nhất của sự đổi mới có xu hướng là các nhà  
cung cấp vốn trí tuệ và vật chất - những nhà sáng tạo, các cổ đông và nhà đầu tư - điều này giải thích  
chênh lệch tăng lên về sự giàu có giữa những người phụ thuộc vào vốn và với lao động. Do đó công  
nghệ là một trong những lý do chính giải thích tại sao thu nhập đã chững lại, hoặc thậm chí giảm,  
đối với phần lớn dân số ở các nước có thu nhập cao: nhu cầu lao động có tay nghề cao đã tăng trong  
khi nhu cầu đối với người lao động ít được đào tạo và kỹ năng thấp đã giảm. Kết quả là một thị  
trường việc làm với nhu cầu cao ở hai đầu cao và thấp, nhưng trống rỗng ở khúc giữa.  
Điều này giúp giải thích tại sao rất nhiều người lao động đang thất vọng và sợ rằng thu nhập  
thực tế của họ và của con cái họ sẽ tiếp tục bị đình trệ hoặc bị cắt giảm. Nó cũng giúp giải thích tại  
sao tầng lớp trung lưu trên thế giới đang ngày càng phổ biến cảm giác bất mãn và bất công. Một nền  
kinh tế "người chiến thắng có tất cả" (winner-takes-all economy) chỉ mở ra sự tiếp cận hạn chế cho  
tầng lớp trung lưu dẫn tới tình trạng bất ổn dân chủ và lớp trung lưu bị bỏ rơi.  
Sự bất bình cũng có thể được thúc đẩy bởi sự thâm nhập của các công nghệ kỹ thuật số và  
các động lực của việc chia sẻ thông tin tiêu biểu của truyền thông xã hội. Hơn 30% dân số thế giới  
hiện nay sử dụng các nền tảng truyền thông xã hội để kết nối, học hỏi và chia sẻ thông tin. Trong  
một thế giới lý tưởng, những tương tác này sẽ cung cấp cơ hội cho sự hiểu biết và liên kết liên văn  
hóa.  
Sản xuất công nghiệp phát triển với tốc độ chóng mặt phải đối mặt với những thách thức rất  
lớn. Những nhà sản xuất phải liên tục nâng cao hiệu quả, đáp ứng ngay lập tức đến sự thay đổi của  
thị trường, và đáp ứng nhu cầu cho tùy chỉnh sản phẩm hơn bao giờ hết. Các nhà máy trong tương  
lai phải linh hoạt hơn và thông minh hơn. Chìa khóa để làm chủ những thách thức này nằm trong tự  
động hóa.  
Thời đại IoT cũng tạo ra những thách thức nhất định mà các quốc gia cần phải có sự chuẩn  
bị trước. Chẳng hạn như việc gia tăng sử dụng hệ sinh thái IoT sẽ làm tăng nguy cơ xâm phạm đời  
tư, an ninh mạng và những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của con người trong sử dụng các sản  
phẩm kết nối không dây hay các phương tiện không người lái.  
Các vấn đề bảo mật sẽ trở nên quan trọng hơn rất nhiều. Độ tin cậy và ổn định là rất cần  
thiết cho giao tiếp giữa những máy móc (M2M), bao gồm cả thời gian trễ rất ngắn và ổn định.  
Ngoài ra cần phải duy trì tính toàn vẹn của quá trình sản xuất, cần phải tránh bất kỳ rủi ro nào về  
CNTT, những yếu tố sẽ gây hậu quả cho sản xuất, cần bảo vệ bí quyết công nghiệp (được chứa  
trong các tập tin điều khiển cho các thiết bị tự động hóa công nghiệp).  
3. TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP 4.0  
3.1. Tác đ ng đối với chính phủ  
Khi thế giới vật lý, số và sinh học đang tiếp tục xích lại gần nhau hơn thì công nghệ và thiết  
bị sẽ ngày càng cho phép người dân tiếp cận gần hơn tới chính phủ để nêu ý kiến, cùng phối hợp  
hoạt động. Đồng thời, các chính phủ cũng sở hữu sức mạnh về công nghệ để tăng cường sự lãnh đạo  
của mình đối với người dân dựa trên những hệ thống giám sát rộng rãi và khả năng điểu khiển hạ  
tầng số. Tuy nhiên, xét về tổng thể, các chính phủ sẽ ngày càng phải đối mặt với áp lực phải thay đổi  
cách thức tiếp cận hiện nay của họ đối với sự tham gia của công chúng và quy trình đưa ra quyết  
định khi vai trò trung tâm của họ trong việc thực thi chính sách suy giảm trước sự xuất hiện của các  
nguồn cạnh tranh mới, sự phân phối lại và phân bổ quyền lực dưới sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ.  
Xét cho cùng, khả năng các cơ quan chính phủ và tổ chức xã hội có thể thích ứng sẽ quyết  
định sự tồn tại của họ. Nếu chứng minh được khả năng có thể bắt kịp một thế giới với những thay  
đổi đột phá, cải thiện cơ cấu để đạt mức minh bạch và hiệu quả để cho phép họ duy trì được lợi thế  
cạnh tranh của mình, họ sẽ tồn tại. Ngược lại, nếu không thể cải thiện, họ sẽ phải đối mặt với ngày  
càng nhiều vấn đề.  
Điều này đặc biệt đúng trong hệ thống điều hành. Các hệ thống chính sách công và quy trình  
ra quyết định hiện nay được phát triển cùng với cuộc CMCN lần thứ 2 khi các nhà hoạch định chính  
sách có thời gian để nghiên cứu một vấn đề cụ thể và đưa ra cách ứng phó cần thiết hoặc khuôn khổ  
78  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
quy định phù hợp. Toàn bộ quá trình này được vận hành trơn tru và có hệ thống, theo mô hình chặt  
chẽ từ cao xuống thấp. Tuy nhiên, một cách thức như vậy hiện nay không còn khả thi. Trước tốc độ  
thay đổi nhanh chóng và tác động sâu rộng của cuộc CMCN lần thứ 4, các nhà lập pháp và điều  
hành đang bị thử thách ở một mức độ chưa từng có tiền lệ và phần lớn trong số đó chưa cho thấy  
khả năng ứng phó tốt.  
Vậy làm thế nào họ có thể vừa bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và công chúng nói chung  
lại vừa tiếp tục hỗ trợ cho sáng tạo và phát triển công nghệ? Câu trả lời là: Họ có thể xây dựng một  
quy trình quản lý “năng động” giống như việc khu vực tư nhân đang ngày càng có ứng phó linh  
hoạt trước sự phát triển của phần mềm và hoạt động của các doanh nghiệp nói chung. Điều này có  
nghĩa là các nhà lập pháp phải không ngừng thích nghi với môi trường mới và biến đổi nhanh  
chóng, đồng thời phải trau dồi bản thân để thực sự hiểu rõ họ đang điều hành cái gì. Để làm được  
vậy, các chính phủ và cơ quan lập pháp cần có sự hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp và công  
dân củamình.  
Cuộc CMCN lần thứ 4 cũng sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới vấn đề an ninh quốc gia và quốc tế, tác  
động tới cả bản chất và khả năng xảy ra xung đột. Lịch sử chiến tranh và an ninh quốc tế là lịch sử  
của sự sáng tạo về công nghệ, và ngày nay cũng không phải ngoại lệ.  
3.2. Tác đ ng đối với do nh nghiệp/kinh doanh  
Cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp/kinh doanh. Một số lĩnh vực tác  
động quan trọng nổi lên: kỳ vọng của người tiêu dùng, dữ liệu/thông tin sản phẩm, hợp tác đổi mới  
và các mô hình hoạt động mới, các dịch vụ và mô hình kinh doanh, độ tin cậy và năng suất, an toàn  
công nghệ thông tin, an toàn trong hoạt động của cơ khí, vòng đời sản phẩm, chuỗi giá trị công  
nghiệp, giáo dục và kỹ năng lao động cho công nhân.  
Về phía cung, nhiều ngành công nghiệp đang thấy sự ra đời của các công nghệ mới tạo ra  
những phương thức hoàn toàn mới đáp ứng các nhu cầu hiện tại và phá vỡ đáng kể các chuỗi giá  
trị công nghiệp hiện có. Sự phá hủy cũng xuất hiện từ những đối thủ cạnh tranh sáng tạo, nhanh  
nhạy, những người nhờ tiếp cận với các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu cho nghiên cứu, triển khai,  
tiếp thị, bán hàng và phân phối, có thể lật đổ những người đương nhiệm nhanh hơn bao giờ hết  
bằng cách cải thiện chất lượng, tốc độ, hay giá cả đối với giá trị cung cấp.  
Những thay đổi lớn về phía cầu cũng đang xảy ra, như minh bạch ngày càng tăng, sự tham  
gia của người tiêu dùng, và các hình mẫu mới về hành vi của người tiêu dùng (ngày càng được xây  
dựng dựa trên sự truy cập vào các mạng di động và dữ liệu) buộc các công ty thích nghi với cách  
họ thiết kế, tiếp thị và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ.  
Một xu hướng chính là sự phát triển của các nền tảng công nghệ tạo khả năng, cho phép kết  
hợp cả cung và cầu để phá vỡ cấu trúc ngành công nghiệp hiện có, chẳng hạn như những nền tảng  
mà chúng ta thấy trong nền kinh tế "chia sẻ" hoặc "theo yêu cầu". Những nền tảng công nghệ, dễ  
dàng sử dụng với các điện thoại thông minh, tập hợp con người, tài sản, và dữ liệu - do đó tạo ra  
những cách thức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn mới trong quá trình này.  
Cuộc CMCN thứ 4 có bốn tác động chính đối với doanh nghiệp: 1) những kỳ vọng của  
khách hàng, 2) nâng cao sản phẩm, 3) đổi mới hợp tác và 4) các hình thức tổ chức. Cho dù là người  
tiêu dùng hay doanh nghiệp, thì khách hàng đang ngày càng trở thành trung tâm của nền kinh tế, tất  
cả đều nhằm làm thế nào cải thiện cách thức phục vụ khách hàng. Hơn nữa, các sản phẩm vật chất  
và dịch vụ giờ đây có thể được tăng cường với khả năng số làm tăng giá trị của chúng. Các công  
nghệ mới làm cho tài sản bền và linh hoạt hơn. Và cuối cùng, sự xuất hiện của các nền tảng toàn  
cầu và các mô hình kinh doanh mới có nghĩa là tài năng, văn hóa và hình thức tổ chức sẽ phải được  
xem xét lại.  
Nhìn chung, sự thay đổi không tránh khỏi từ số hóa đơn giản (CMCN lần thứ 3) sang đổi  
mới dựa trên sự kết hợp của các công nghệ (CMCN lần thứ 4) đang buộc các công ty phải xem xét  
lại cách thức kinh doanh. Tuy nhiên, điểm mấu chốt là như nhau: các nhà lãnh đạo kinh doanh và  
điều hành cấp cao cần phải hiểu môi trường thay đổi của họ, thách thức các giả định của nhóm điều  
hành của họ, đổi mới không ngừng và liên tục.  
79  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Các chuyên gia cho rằng, trong tương lai không xa, sản phẩm, con người và máy móc sẽ  
giao tiếp với nhau như trên mạng xã hội. Để duy trì tính cạnh tranh, các nhà máy sẽ phải cung cấp  
các thiết kế tùy chỉnh và có khả năng thay đổi sản phẩm nhanh chóng; sử dụng IoT và các công  
nghệ khác để số hóa toàn bộ qui trình, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường; hợp nhất  
mạng lưới sản xuất dùng giải pháp quản lý vòng đời sản phẩm (PLM) dựa trên Internet để nhân  
viên có thể làm việc thông qua mạng; dùng robot bán tự động làm việc bên cạnh con người để tăng  
năng suất và vẫn đảm bảo chất lượng; phân tích dữ liệu thu thập được về khách hàng để cung cấp  
các dịch vụ kỹ thuật số mới.  
Như vậy, các công ty có cơ hội đưa sản xuất về lại nước mình, giành lại công việc từ các  
nước có giá nhân công thấp, như Trung Quốc (vốn được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”).  
Đó là lý do tại sao Công nghiệp 4.0 đang được chính phủ các nước phương Tây quan tâm.  
3.3. Tác đ ng đối với người tiêu dùng/người dân  
Cuối cùng, cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ thay đổi không chỉ những gì chúng ta làm mà ngay cả  
chính con người chúng ta. Nó sẽ làm thay đổi bản sắc của chúng ta và tất cả những vấn đề liên  
quan tới bản sắc đó, bao gồm: Sự riêng tư, ý thức về sự sở hữu, phương thức tiêu dùng, thời gian  
chúng ta dành cho công việc và giải trí, và cách thức chúng ta phát triển sự nghiệp, trau dồi kỹ  
năng, gặp gỡ mọi người và củng cố các mối quan hệ.  
Điều đó sẽ đặt ra câu hỏi liệu sự hội nhập tất yếu của công nghệ trong cuộc sống có thể làm  
suy giảm một số bản năng tinh túy của con người, chẳng hạn như lòng thương cảm và sự hợp tác.  
Mối quan hệ của chúng ta với điện thoại di động là một trường hợp như vậy. Sự kết nối thường  
xuyên liên tục với điện thoại di động có thể cô lập chúng ta khỏi một trong những tài sản quan trọng  
nhất của cuộc sống, đó là thời gian để ngừng nghỉ, suy ngẫm hay đơn giản là tham gia vào một cuộc  
hội thoại có ý nghĩa.  
Một trong những thách thức mang tính cá nhân lớn nhất mà các công nghệ thông tin mang  
lại là sự riêng tư. Thông tin về cá nhân sẽ dễ dàng để tra cứu và tìm kiếm vì chúng ta buộc phải kết  
nối với các hệ thống điện tử. Tương tự, các cuộc cách mạng diễn ra trong lĩnh vực công nghệ sinh  
học và trí thông minh nhân tạo giúp định nghĩa lại con người là gì bằng cách hạ thấp những giới  
hạn hiện tại về tuổi thọ, sức khỏe, nhận thức và năng lực. Chúng buộc chúng ta phải định hình lại  
những ranh giới về đạo đức và phẩm hạnh.  
Nói tóm lại, tất cả đều quy về con người và giá trị. Chúng ta cần hình thành nên một tương  
lai phục vụ cho tất cả chúng ta, trong đó, vị trí của người dân là trên hết và họ được tăng thêm quyền  
lực. Trong viễn cảnh bi quan và phi nhân đạo nhất, cuộc CMCN lần thứ 4 có thể robot hóa con  
người và từ đó tước bỏ tâm hồn và trái tim của chúng ta. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tốt đẹp  
nhất trong bản chất của con người, đó là sự sáng tạo, lòng cảm thông và khả năng quản lý, cuộc  
CMCN này cũng có thể đưa con người tới một sự nhận thức về đạo đức mang tính tập thể, dựa trên  
một vận mệnh chung. Trách nhiệm của tất cả chúng ta là đảm bảo rằng điều thứ hai sẽ xảy ra.  
3.4. Tác đ ng đối với việc làm và phân cực lực lượng l o đ ng  
Như các nhà kinh tế Erik Brynjolfsson và Andrew McAfee đã chỉ ra, cuộc cách mạng này  
cũng có thể tạo ra sự bất công lớn hơn, đặc biệt là gây ra nguy cơ phá vỡ thị trường lao động. Khi  
tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và điều đó  
làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so với sức lao động.  
Mặt khác, xét về tổng thể, các công việc an toàn và thu nhập cao hơn có thể sẽ gia tăng sau khi  
công nghệ thay thế dần con người.  
Cho tới nay, chúng ta chưa thể dự đoán được khả năng nào sẽ xảy ra, nhưng lịch sử đã cho thấy  
kết quả thường là sự kết hợp của cả hai viễn cảnh đó. Tuy nhiên, trong tương lai, năng lực, chứ không  
phải nguồn vốn, sẽ trở thành nhân tố cốt lõi của nền sản xuất. Điều đó sẽ tạo nên một sự gia tăng trong  
thị trường việc làm và ngày càng phân hóa theo hai nhóm: Nhóm kỹ năng thấp/trả lương thấp và nhóm  
kỹ năng cao/trả lương cao. Viễn cảnh này sẽ góp phần làm gia tăng những mâu thuẫn trong xã hội.  
80  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Dù các cuộc cách mạng công nghệ thường thổi bùng những lo ngại về thất nghiệp khi máy  
móc làm tất cả mọi việc, nhưng các nhà nghiên cứu của Ngân hàng UBS tin rằng việc giảm tổng số  
việc làm là không thể. Bởi siêu tự động hóa và siêu kết nối có thể nâng cao năng suất những công  
việc hiện tại hoặc tạo ra nhu cầu về những công việc hoàn toàn mới. Có thể hiện nay chúng ta khó  
hình dung công việc trong tương lai sẽ như thế nào, nhưng các nhà nghiên cứu của UBS tin rằng tự  
động hóa cực cao và khả năng siêu kết nối trong ngắn hạn chắc chắn sẽ có tác động đối với lực  
lượng lao động. Theo đó, một phần lực lượng lao động kỹ năng thấp (chẳng hạn các công nhân  
trong dây chuyền lắp ráp) vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi tự động hóa cơ bản trong cuộc CMCN  
lần thứ 3, nay có thể bị ảnh hưởng hơn nữa. Sự ra đời của “cobots” - robot hợp tác có khả năng di  
chuyển và tương tác, sẽ giúp các công việc kỹ năng thấp đạt năng suất nhảy vọt. Tuy nhiên, những  
người bị ảnh hưởng nặng nhất có thể là lực lượng lao động có kỹ năng trung bình. Bởi lẽ sự phát  
triển của siêu tự động hóa và siêu kết nối, cộng với trí tuệ nhân tạo sẽ tác động đáng kể đến bản  
chất của các công việc tri thức.  
Tự động hóa ban đầu sẽ ảnh hưởng đến công việc văn phòng, bán hàng, dịch vụ khách  
hàng, và các ngành hỗ trợ. Quá trình robot tự động hóa, báo cáo tự động và trợ lý ảo sẽ trở nên phổ  
biến. Trong ngành bảo hiểm có thể không cần sự can thiệp của con người, hầu hết truy vấn khách  
hàng được trả lời tự động... Trong tài chính, “robot tư vấn” đã có trên thị trường. Trong ngành tư  
pháp, máy tính có thể nhanh chóng “đọc” hàng triệu email và cắt giảm chi phí điều tra.  
Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn là  
những việc làm mất đi do có cuộc cách mạng này. Về lịch sử cho thấy, cuộc CMCN lần thứ 1 đã tạo  
ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi (lao động chân tay); cuộc CMCN lần thứ 2 - cuộc cách  
mạng xe hơi của những năm 1890 đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi (thay thế xe  
ngựa thồ hàng); và cuộc CMCN lần thứ 3 - cuộc cách mạng silicon của những năm 1960 và 1970  
cũng đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi (chủ yếu là trong công tác văn thư hành  
chính và lao động đơn giản).  
Vì sao cuộc CMCN lần thứ 4 sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn là những việc làm mất đi do có  
cuộc cách mạng này? Các chuyên gia đưa ra các lý do sau:  
Thứ nhất, tốc độ thay đổi công nghệ nhanh hơn bao giờ hết. Nếu như trước đây Phải mất 10  
năm cho Thomas Newcomen cải tiến động cơ của mình trước khi công bố với thế giới vào năm  
1712 và nó tác động vào các ngành công nghiệp lao động chân tay trong nhiều chục năm sau đó.  
Ngày nay, việc cải tiến có thể đến trong 10 tháng, 10 tuần và thậm chí 10 ngày - một điện thoại  
iPhone sau 3 năm đã lỗi thời. Do vậy, nhân lực cho NC&PT và các dịch vụ liên quan sẽ gia tăng.  
Tốc độ thay đổi trong giáo dục cũng đang gia tăng. Người ta ước tính rằng gần 50% kiến  
thức môn học trong năm đầu tiên của 4 năm học kỹ thuật của một sinh viên sẽ trở nên lỗi thời khi  
ra trường.  
Thứ hai, thời đại của cuộc cách mạng kỹ thuật số đang bùng nổ với hàng loạt công nghệ  
mới: Trí tuệ nhân tạo; Dữ liệu lớn; Internet di động; Công nghệ điện toán đám mây; robot trong  
công nghiệp và gia đình; IoT; xe không người lái; thiết bị bay không người lái; máy in 3D; công  
nghệ nano; thực tế ảo, phương pháp điều trị kỹ thuật số và máy học. Trong thời gian tới danh  
sách này có thể sẽ được nới dài và làn sóng công nghệ mới ra đời sẽ tạo ra những làn sóng kinh  
doanh mới và việc làm mới.  
Thứ ba, hàng triệu người trên khắp thế giới có thể truy cập vào những cơ sở dữ liệu rất lớn  
và vì vậy những thử nghiệm và đổi mới sáng tạo sẽ không chỉ được thực hiện tại các trung tâm  
nghiên cứu, mà có thể ở mọi nơi và cơ hội khởi nghiệp rộng mở. Những thay đổi đáng kể có thể  
được thực hiện bởi các cá nhân tài năng trong nhà, văn phòng của họ và nhà máy. Khả năng của các  
nhóm nhỏ khởi nghiệp với các sản phẩm và dịch vụ mới là thuận lợi chưa từng có.  
81  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
KẾT LUẬN  
Mất 17 thế kỷ để con người có được cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Mất gần 3  
thế kỷ để con người có được cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2. Và, 2/3 thế kỷ để có được  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3. Mất 1/3 thế kỷ con người đang tiếp cập với cuộc cách mạng  
công nghiệp lần thứ 4. Cách mạng công nghiệp 4.0 thực sự đang nảy nở, nó đã và đang có tác động  
toàn diện tới các chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động do tiến bộ về khoa học-kỹ  
thuật trong các ngành như vật lý, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, thực tế ảo, trí tuệ nhân  
tạo, v.v… Thành tựu này làm thay đổi tư liệu và cách thức sản xuất, quản trị công, và tác động tới  
thị trường lao động. Cách mạng công nghiệp 4.0 cho phép xây dựng các nhà máy thông minh  
(smart factory) sản xuất dựa trên sự tương tác, thu thập thông tin thị trường, và tự động hóa cao độ.  
Nó mang cả thời cơ lẫn thách thức cho các chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp, và người lao động.  
Do đó các nghiên cứu về tác động của công nghiệp 4.0 lên các lĩnh vực là rất cần thiết và các bên  
liên quan nên có nhận thức đầy đủ để sẵn sàng và chủ động hơn trong việc thích ứng với những  
thay đổi có thể xảy ra trong tươnglai.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Bài Tổng luận “Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4”, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia,  
[2]. Bài “Định nghĩa về công nghiệp 4.0”, website: http://news.zing.vn/cach-mang-cong-nghiep-40-  
la-gi-post750267.html, truy cập ngày 7/8/2017.  
[3]. Bài “What is Industry 4.0?”, website: http://english.bdi.eu/article/news/what-is-industry-40/,  
truy cập ngày 7/8/2017.  
[4]. Bài “Industry 4.0: Definition, Design Principles, Challenges, and the Future of Employment”,  
website: https://www.cleverism.com/industry-4-0/, truy cập ngày 7/8/2017.  
Abstract  
“Industry 4.0” is a term often used to refer to the developmental process in the management  
of manufacturing and chain production. It refers to the fourth industrial revolution. After  
mechanisation (Industry 1.0), mass production (Industry 2.0) and automation (Industry 3.0), now  
the Internet of Things and Services (IoT, IoS), Artificial Intelligence (AI), Robot, 3D, Big data…  
are becoming integral parts of the manufacturing process. This is definitely a revolutionary  
approach to manufacturing techniques. The concept will push global manufacturers to a new level  
of optimization and productivity. The economic rewards are also immense. However, there are still  
many challenges that need to be tackled systematically to ensure a smooth transition. This needs to  
be the focus of large corporations and governments alike. Pushing research and experimentation in  
such fields are essential. While speculations regarding privacy, security, and employment need  
more study, the overall picture is promising. Such approach to manufacturing industries is truly  
revolutionary. This paper will sketch out the so-called “Industry 4.0” and its potential impacts on  
governments, enterprises, and labour markets. The methodologies used in this paper are a  
combination of qualitative research tool and descriptive analysis.  
Key words: industry 4.0, opportunities, challenges, governments, enterprises, labours  
82  
pdf 11 trang Thùy Anh 21480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cách mạng công nghiệp 4.0 và những tác động tiềm tàng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcach_mang_cong_nghiep_4_0_va_nhung_tac_dong_tiem_tang.pdf